1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Con người trong văn xuôi về miền núi của các tác giả trẻ đương đại cao duy sơn đỗ bích thuý và phạm duy nghĩa

102 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 672,43 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Có thể thấy trong vòng chưa đầy một thế kỉ hình thành và phát triển, với sự tham gia đông đảo của các tác giả bao gồm cả người Kinh và người dân tộc thiểu số, văn học miền núi đã có nhữn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

CAO THỊ HỒNG VÂN

CON NGƯỜI TRONG VĂN XUÔI VỀ MIỀN NÚI

CỦA CÁC TÁC GIẢ TRẺ ĐƯƠNG ĐẠI (CAO DUY SƠN, ĐỖ BÍCH THUÝ VÀ PHẠM DUY NGHĨA)

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi Các nội dung nêu trong luận văn là kết quả làm việc của tôi và chưa được công bố trong bất cứ một công trình nào khác

Tác giả luận văn

Cao Thị Hồng Vân

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo, cán bộ Khoa Ngữ văn, phòng Quản lý và Đào tạo sau Đại học trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên đã tạo điều kiện cho tôi được học tập trong suốt thời gian qua

Đặc biệt, tôi xin trân trọng cảm ơn PGS.TS Trịnh Bá Đĩnh, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Lời cuối cùng tôi xin cảm ơn những người thân và bạn bè đã động viên, khuyến khích tôi hoàn thành tốt khoá học Thạc sĩ này

Tác giả luận văn

Cao Thị Hồng Vân

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Lời cảm ơn

Mục lục i

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5

3.1 Đối tượng nghiên cứu 5

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 6

5 Đóng góp của luận văn 6

PHẦN NỘI DUNG .7

Chương 1: QUAN NIỆM VÀ SỰ THỂ HIỆN CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI 7

1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học 7

1.2 Quan niệm và sự thể hiện con người miền núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại 10

1.2.1 “Người rừng” trong văn xuôi trước 1945 10

1.2.2 Người thay đổi số phận trong văn xuôi từ 1945 đến trước “Đổi mới” 16

1.2.3 Con người đa diện, đa chiều từ “Đổi mới” đến nay 23

Chương 2: CÁC KIỂU NHÂN VẬT NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI CAO DUY SƠN, ĐỖ BÍCH THUÝ, PHẠM DUY NGHĨA 31

2.1 Con người tha hoá 31

Trang 5

2.2 Con người tâm linh 38

2.3 Nhân vật cô đơn 47

Chương 3: NHỮNG ĐẶC SẮC VỀ NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN CON NGƯỜI MIỀN NÚI TRONG VĂN XUÔI CAO DUY SƠN, ĐỖ BÍCH THUÝ, PHẠM DUY NGHĨA 57

3.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 57

3.2 Nghệ thuật miêu tả nội tâm nhân vật 62

3.3 Tổ chức cốt truyện thể hiện số phận nhân vật 71

3.4 Thiên nhiên như phương tiện thể hiện nhân vật 79

3.5 Ngôn ngữ thể hiện tính cách nhân vật 84

KẾT LUẬN 90

TÀI LIỆU THAM KHẢO 93

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong ngôi nhà văn học hiện đại Việt Nam, văn xuôi miền núi chiếm một vị thế đặc biệt mà theo nhà văn Ma Văn Kháng thì đây là “đề tài đầy tính nhân văn” mà mỗi lần “đọc những trang viết thành công về đề tài này của mình và bạn bè tôi vẫn mê đắm cái hồn cốt nhân ái của nó” Cái hồn cốt

ấy làm nên một hương vị riêng, một thứ “đặc sản” của núi rừng và do đó “văn xuôi miền núi chiếm lĩnh được một vẻ đẹp riêng không thay thế được, không

ai bắt chước được” (Phong Lê) Ngoài một số truyện đường rừng ra đời trước năm 1945, đề tài dân tộc và miền núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại chủ yếu được hình thành và phát triển sau Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Dưới ánh sáng của thời đại mới, xứ sở vùng cao quanh năm mây trắng đã trở thành mối duyên nợ với nhiều cây bút văn chương Nhiều nghệ sĩ tên tuổi như Nam Cao, Tô Hoài, Ma Văn Kháng, Nguyễn Tuân đã có những khoảng thời gian nhất định được chung sống gắn bó để rồi thấu hiểu, từ đó viết nên những trang văn sinh động về cuộc sống con người miền núi trong thời đại cách mạng, kháng chiến và công cuộc xây dựng đất nước Từ sau năm 1975 đặc biệt là sau những năm Đổi mới, bên cạnh các cây bút tên tuổi, văn xuôi miền núi còn thu hút sự tham gia của nhiều cây bút trẻ và đã gặt hái được những thành công nhất định Có thể thấy trong vòng chưa đầy một thế kỉ hình thành

và phát triển, với sự tham gia đông đảo của các tác giả bao gồm cả người Kinh và người dân tộc thiểu số, văn học miền núi đã có những đóng góp quan trọng cho sự vận động phát triển của văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.2 Trong đội ngũ đông đảo các nhà văn viết về miền núi, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa được coi là những cây bút tuy còn trẻ nhưng đã có nhiều tìm tòi khám phá và sớm khẳng định được chỗ đứng

Trang 7

của mình trên văn đàn Họ khá tiêu biểu cho các cây bút văn xuôi đương đại viết về miền núi

Từ mảnh đất Lào Cai xa xôi, Phạm Duy Nghĩa chính thức bước vào

làng văn với Cơn mưa hoa mận trắng (truyện đoạt giải nhất cuộc thi truyện

ngắn 2003-2004 do Tuần báo Văn nghệ và Hội Nhà văn Việt Nam phối hợp

tổ chức) Cả Ban sơ khảo và chung khảo đều thống nhất cho rằng “đây là một truyện ngắn vững chãi và cổ điển, đào xới và tôn vinh tính người trong con người” Chỉ trong vòng chưa đầy mười năm, Phạm Duy Nghĩa đã lần lượt cho

ra đời bốn tập truyện ngắn có giá trị Và cùng với luận án tiến sĩ “Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi” được tác giả bảo vệ thành công năm 2010, Phạm Duy Nghĩa đã trở thành đứa con cưng của nền văn học đương đại viết về dân tộc và miền núi

Là nhà văn nữ có nhiều duyên nợ với văn chương, đặc biệt là văn chương miền núi, Đỗ Bích Thúy sớm trở thành cái tên quen thuộc và được nhiều người yêu mến Hai lăm tuổi chị đã đoạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn

do Tạp chí Văn Nghệ Quân đội tổ chức với chùm truyện Sau những mùa

trăng, Đêm cá nổi và Ngải đắng ở trên núi Tiếp đến là tiểu thuyết Bóng của cây sồi đoạt giải C cuộc thi Sáng tác văn học cho tuổi trẻ 2003-2004 của Nhà

xuất bản Thanh niên và Tuần báo Văn nghệ Năm 2005, Tiếng đàn môi sau

bờ rào đá của chị đã được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành công

thành tác phẩm điện ảnh Chuyện của Pao, tác phẩm đoạt giải Cánh diều vàng

của Hội điện ảnh Việt Nam Với những khởi đầu thành công này, Đỗ Bích Thúy đã bước đầu định hình là cây bút chuyên tâm với đề tài miền núi - một

đề tài không phải người cầm bút trẻ nào cũng dám lựa chọn

Trong số những nhà văn là người dân tộc thiểu số Việt Nam, Cao Duy Sơn được độc giả biết đến với một chất giọng riêng Tuy mới xuất hiện trên văn đàn nhưng tác phẩm của anh đã nhanh chóng chiếm được cảm tình của

Trang 8

bạn đọc và đạt được nhiều giải thưởng lớn trong đó phải kể đến tập truyện

ngắn Ngôi nhà xưa bên suối đã giành giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam

năm 2008 và giải thưởng Văn học Đông Nam Á năm 2009 Với quan niệm “ Viết văn là một cuộc viễn du về cội nguồn”, Cao Duy Sơn đã tự hào khi “gọi được tên quê hương” qua những trang văn của mình

1.3 Là một giáo viên trẻ làm công tác giảng dạy tại trường Dự bị Đại học Dân tộc Trung ương - ngôi trường giành cho các con em dân tộc thiểu số ở 19 tỉnh thành phía Bắc, việc tìm hiểu đề tài này còn có ý nghĩa thiết thực lâu dài đối với bản thân chúng tôi Giúp chúng tôi hiểu thêm về cuộc sống con người và nền văn hóa nơi đây, biết gần gũi và gắn bó với học trò miền núi, để những bài giảng trong cuộc đời đứng lớp của chúng tôi trở nên thật sự có ý nghĩa

2 Lịch sử vấn đề

- Văn xuôi miền núi vốn là một đề tài hấp dẫn, thu hút được sự quan tâm lớn của giới văn học, nhất là trong những năm trở lại đây Điều này được thể hiện ở đội ngũ sáng tác ngày một đông đảo, số lượng tác phẩm phong phú, nhiều tác phẩm có giá trị nhất định Nhiều công trình phê bình nghiên cứu ra đời, trong đó phải kể đến công trình nhiều tập “Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” của Lâm Tiến Ở công trình này tác giả đã đặt ra nhiều vấn đề như: mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, nghệ thuật văn xuôi, thành công và cả những hạn chế của văn học dân tộc thiểu số Việt Nam Công trình này đã được Nguyên Ngọc đánh giá “là công trình đầu tiên cố gắng phác một cái nhìn khái quát, toàn diện về toàn bộ nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” Con đường phát triển của văn xuôi miền núi hôm nay lại

là vấn đề được Dương Thuấn quan tâm và đặt ra trong nhiều bài viết như:

“Nét mới của văn học dân tộc và miền núi”; “Nâng cao chất lượng văn học viết về dân tộc và miền núi là nhiệm vụ quan trọng hiện nay” Ngoài ra còn

có một số bài viết với cái nhìn sắc diện của các nhà nghiên cứu như bài “Văn

Trang 9

xuôi miền núi một thắng lợi mới trong văn học các dân tộc thiểu số” (1972) của Vũ Minh Tâm, “Sự hình thành văn xuôi” của Giáo sư Phong Lê trong sách “40 năm văn hoá nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam 1945 - 1985”,

“Về một vài đặc điểm dân tộc qua một số tiểu thuyết miền núi” của tác giả Đinh Văn Định Đặc biệt năm 1988 Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc cho in cuốn “ Nhà văn các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại” gồm các bài viết về

16 nhà văn, nhà thơ dân tộc thiểu số trong đó có 8 cây bút văn xuôi (Triều Ân,

Vi Thị Kim Bình, Nông Minh Châu, Y Điêng, Hoàng Hạc, Vi Hồng, Mã A Lềnh và Nông Viết Toại) đã cho thấy sự quan tâm của các nhà nghiên cứu đối với sự phát triển của nền văn xuôi miền núi trong giai đoạn hiện nay

- Văn xuôi miền núi đương đại cũng được đề cập đến trong nhiều luận văn nghiên cứu Năm 2010 nhà văn Phạm Duy Nghĩa đã bảo vệ thành công luận án tiến sĩ “Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi” Đây là công trình đầu tiên đã nghiên cứu toàn diện và hệ thống về văn xuôi dân tộc

và miền núi bao gồm cả tác phẩm của người Kinh và người dân tộc thiểu số từ khi ra đời đến nay, đem lại cái nhìn bao quát, toàn cảnh về một đề tài lớn trong nền văn học hiện đại Việt Nam Khu biệt hơn, tác giả Mai Thị Kim Oanh với luận văn “Đề tài dân tộc và miền núi trong sáng tác của Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa” đã chỉ ra cách tiếp cận hiện thực đời sống và con người miền núi trong sáng tác của những nhà văn trẻ mà tiêu biểu là Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa Nguyễn Minh Trường trong luận văn thạc sĩ Ngữ văn “Truyện ngắn về đề tài dân tộc miền núi phía Bắc (qua các tác phẩm của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thuý và Nguyễn Huy Thiệp)” đã đi sâu tìm hiểu hình tượng cuộc sống và con người miền núi trong truyện ngắn Cao Duy Sơn và

Đỗ Bích Thuý Ngoài ra còn có một số luận văn nghiên cứu về những cây bút trẻ viết về miền núi song chủ yếu ở phương diện nghệ thuật, như: “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Đỗ Bích Thúy” (Ngô Thị Yên), “Đặc điểm truyện

Trang 10

ngắn Cao Duy Sơn” (Đinh Thị Minh Hảo), “Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Cao Duy Sơn (Lý Thị Thu Phương), “Nghệ thuật truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa” (Đoàn Thị Hải Yến)

Qua khảo sát sơ bộ chúng tôi nhận thấy: xung quanh vấn đề dân tộc và miền núi đã có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu và gặt hái được những thành công nhất định Văn xuôi miền núi qua cái nhìn của một số tác giả trẻ như Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa bước đầu cũng đang được đặt ra Tuy nhiên chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên biệt về hình tượng những con người trên vùng rẻo cao trong văn học đương đại Vì vậy chúng tôi lựa chọn đề tài “Con người trong văn xuôi về miền núi của các tác giả trẻ đương đại (Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa)”

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài khảo sát toàn bộ các sáng tác viết về con người miền núi của ba nhà văn Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa trong đó tập trung chủ yếu vào một số tác phẩm tiêu biểu sau:

- Tập truyện ngắn Những đám mây hình người - Cao Duy Sơn, Nxb

Văn hóa Dân tộc, 2002

- Tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối - Cao Duy Sơn, Nxb Văn hóa

Dân tộc, 2007

- Tập truyện ngắn Tiếng đàn môi sau bờ rào đá - Đỗ Bích Thúy, Nxb

Công an Nhân dân, 2005

- Tập truyện ngắn Cơn mưa hoa mận trắng - Phạm Duy Nghĩa, Nxb

Thanh niên, 2007

-Tập truyện ngắn Đường về xa lắm - Phạm Duy Nghĩa, Nxb Công an

Nhân dân, 2007

Trang 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu những phương pháp sau:

4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê

4.2 Phương pháp phân tích văn bản văn học

4.3 Phương pháp so sánh

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn góp phần khám phá và lí giải những sáng tạo độc đáo, mới

mẻ trong việc xây dựng hình tượng con người miền núi phía Bắc ở các sáng tác của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy và Phạm Duy Nghĩa Từ đó thấy được vị trí của các nhà văn trẻ viết về miền núi trong nền văn học đương đại

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung được chia làm ba chương:

Chương 1: Quan niệm và sự thể hiện con người miền núi trong văn

xuôi Việt Nam hiện đại

Chương 2: Các kiểu nhân vật người miền núi trong văn xuôi Cao Duy

Sơn, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa

Chương 3: Những đặc sắc về nghệ thuật thể hiện con người trong văn

xuôi Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy, Phạm Duy Nghĩa

Trang 12

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

QUAN NIỆM VÀ SỰ THỂ HIỆN CON NGƯỜI MIỀN NÚI

TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM HIỆN ĐẠI

1.1 Quan niệm nghệ thuật về con người trong văn học

Trong nghệ thuật nói chung và trong văn học nói riêng, con người là đối tượng nhận thức trung tâm, là thước đo cho sự tiến bộ nghệ thuật từ xưa đến nay, là cái đích để văn học hướng tới Con người là “hệ quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật” và đóng một vai trò quan trọng trong văn học Khi đánh giá thành tựu của một nền văn học hay một xu hướng, một tác giả, một giai đoạn văn học không thể không quan tâm đến quan niệm nghệ thuật về con người của nền văn học ấy, giai đoạn ấy, nhà văn ấy

Quan niệm nghệ thuật về con người là yếu tố cơ bản nhất, then chốt nhất của một chỉnh thể nghệ thuật chi phối toàn bộ tính độc đáo và hệ thống nghệ thuật của chỉnh thể ấy Quan niệm nghệ thuật về con người giúp ta thâm nhập vào cơ chế tư duy của văn học, khám phá quy luật vận động, phát triển của hình thức văn học Đó chính là nội dung ẩn chứa bên trong mỗi tác phẩm biểu hiện

Theo Từ điển thuật ngữ văn học do Lê Bá Hán,Trần Đình Sử,

Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên, thì khái niệm quan niệm nghệ thuật về con người được quan niệm "là nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người vốn có của hình thức nghệ thuật, đảm bảo cho nó khả năng thể hiện đời sống với một chiều sâu nào đó

Là sự miêu tả hữu hạn của thế giới vô hạn là cuộc đời, hình tượng văn học phải được mở đầu và kết thúc ở đâu đó, con người và cảnh vật phải được nhìn ở giác độ nào đó Để tái hiện cuộc sống con người, tác giả phải hiểu cách họ giao tiếp với nhau, với thế giới và với bản thân, cách họ sống, hành động và suy nghĩ, điều họ quan tâm và không quan tâm trong cuộc đời Tổng hợp tất cả mọi điều đó tạo thành cái mô hình

Trang 13

nghệ thuật về thế giới và con người bao quát mà tác giả xuất phát để khắc họa hình tượng của những con người và số phận cụ thể, tổ chức quan hệ của các nhân vật, giải quyết xung đột, xây dựng kết cấu tác phẩm Quan niệm nghệ thuật thể hiện cái giới hạn tối đa trong cách hiểu thế giới và con người của một hệ thống nghệ thuật, thể hiện khả năng,

phạm vi, mức độ chiếm lĩnh đời sống của nó" [12]

Tiếp thu những quan niệm của lý luận văn học về quan niệm nghệ thuật, thi pháp học cho rằng quan niệm nghệ thuật về con người “là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy của con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp hình thức thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hình tượng nhân vật trong đó”

Xuất phát từ hai góc nhìn: Văn học là nhân học (tức là cách hiểu

về con người, khẳng định con người là đối tượng trung tâm của văn học; con người có vị trí, vai trò, ý nghĩa đặc biệt trong sáng tạo văn học); Và con người được xây dựng như thế nào trong văn học, khác biệt gì với con người tôn giáo, triết học, khoa học, Trần Đình Sử đi đến nhiều nhận

xét quan trọng: "Nghiên cứu quan niệm về con người trong văn học

không giống với việc tìm hiểu con người trong các học thuyết triết học Con người trong văn học là sự ý thức về con người, là cách hiểu về con người và cuộc đời làm cơ sở cho việc sáng tạo ra các hình tượng nghệ thuật hòa tan trong sự miêu tả các hình tượng sống động Nhiệm vụ của người nghiên cứu là vạch ra quan niệm ấy như là các lý bên trong của hình tượng".Trên tinh thần này, Trần Đình Sử chứng minh trong lịch sử

văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nay, quan niệm về con người là yếu tố quan trọng tạo ra tính khu biệt của từng thời đại văn học và của từng tác giả: Quan niệm nghệ thuật về con người ở thời trung đại là khác biệt với thời hiện đại; giữa Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ cũng

là khác biệt; giữa Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao không thể

có khuôn khổ thống nhất về con người Cũng là con người cá nhân, cá

Trang 14

thể, nhưng thời trung đại tính cá nhân, cá thể được khẳng định trong các

lý tưởng lớn; còn ở thời hiện đại, cá nhân, cá thể của con người được soi chiếu tương quan của các mối quan hệ của hoàn cảnh xã hội Phương diện này, Trần Đình Sử lý giải ở hai góc độ: Thứ nhất, xuất phát từ các biểu hiện lặp đi lặp lại của nhiều nhân vật, thông qua các yếu tố bền vững, được tô đậm để tạo nên chúng; thông qua công thức giới thiệu nhân vật; chân dung nhân vật, ngoại hình, trang phục, hành động, tâm lý, nội dung Và tính cách nếu hiểu là lôgic của hình tượng con người thì nó

là yếu tố mang tính quan niệm; Thứ hai "quan niệm nghệ thuật về con người của nhà văn không phải là bất cứ cách cắt nghĩa có tính phổ quát, tột cùng mang ý vị triết học, nó thể hiện cái giới hạn tối đa trong việc miêu tả con người Mà chỉ trong giới hạn đó mới có khác biệt với các quan niệm thông thường và mới có tính sáng tạo”

Quan niệm nghệ thuật về con người tất nhiên cũng mang dấu ấn sáng tạo của người nghệ sĩ, gắn với cái nhìn đầy tính phát hiện độc đáo của nhà nghệ sĩ Và ở mỗi thể loại văn học khác nhau, mỗi thời kì lịch sử khác nhau lại có những quan niệm khác nhau Quan niệm nghệ thuật về con người là hình thức bên trong của sự chiếm lĩnh đời sống, là quy chiếu ẩn chìm trong hình thức nghệ thuật, nó gắn với phạm trù phương pháp sáng tác, phong cách nghệ thuật, là thước đo của hình thức văn học và là cơ sở của tư duy nghệ thuật, tạo nên cá tính sáng tạo của nhà văn

Quan niệm nghệ thuật luôn hướng vào con người trong mọi chiều sâu của nó, cho nên đây là tiêu chuẩn quan trọng nhất để đánh giá giá trị nhân văn vốn có của văn học Nhà văn là người suy nghĩ về con người, cho con người,

do đó càng khám phá sâu quan niệm nghệ thuật về con người thì càng đi sâu vào thực chất sáng tạo và đánh giá đúng thành tựu của nhà văn ấy

L Tônxtôi từng ví con người như dòng sông mà “Nước trong mọi con sông như nhau và ở đâu cũng thế cả nhưng mỗi con sông khi thì hẹp, khi chảy

Trang 15

xiết, khi thì rộng, khi thì êm, khi thì trong veo, khi thì lạnh, khi thì đục, khi thì

ấm Con người cũng như vậy Mỗi con người mang trong mình những mầm mống của mọi tính chất con người và khi thể hiện tính chất này, khi thể hiện những tính chất khác và thường là hoàn toàn không giống bản thân mình tuy vẫn cứ là chính mình”.Ý kiến này vừa chỉ ra tính chất phong phú, phức tạp của con người với tư cách cá nhân, vừa cho thấy cả tính nhân loại với tư cách

“giống”, “loài” mà tự nhiên nhào nặn Con người vốn phức tạp như thế cho nên đòi hỏi quan niệm nghệ thuật về con người luôn có sự thay đổi Khi quan niệm nghệ thuật về con người thay đổi thì nó sẽ kéo theo sự thay đổi của toàn

bộ chỉnh thể nghệ thuật Cho nên khi nghiên cứu tác phẩm văn học chúng ta phải nghiên cứu quan niệm nghệ thuật về con người trong tác phẩm đó để đi sâu khám phá, chiếm lĩnh thế giới nghệ thuật mà nhà văn đó đã thể hiện ở tác phẩm của mình

1.2 Quan niệm và sự thể hiện con người miền núi trong văn xuôi Việt Nam hiện đại

1.2.1 “Người rừng” trong văn xuôi trước 1945

Đầu thế kỷ XX, cùng với quá trình hiện đại hoá nền văn học Việt Nam, văn học dân tộc và miền núi chính thức ra đời Với sức hút của một “miền đất lạ”, một“món lạ” với bao điều kì thú, bí ẩn về một miền đất “ma thiêng nước độc”, văn học về cuộc sống và con người miền núi đã bắt đầu được các nhà văn và độc giả quan tâm Tuy nhiên trước năm 1945 văn xuôi viết về miền núi mới chỉ có tác phẩm của các văn sĩ người Kinh mà giới nghiên cứu quen gọi những tác phẩm này là “truyện đường rừng” Mảng hiện thực mới mẻ, phong phú và hấp dẫn này đã thu hút sự chú ý của nhiều cây bút với những tác phẩm

gây ấn tượng như của Lan Khai với Truyện đường rừng, Suối đàn, Hồng thầu,

Đỉnh non thần; Thế Lữ với Vàng và máu, Bên đường thiên lôi; Tchya với Thần hổ, Ai hát giữa rừng khuya; Lưu Trọng Lư với Người sơn nhân; Nhất

Trang 16

Linh với Lan rừng; Khái Hưng với Tiếng khèn; Nguyễn Tuân có Đỉnh non

Tản; Vũ Bằng với Cô gái Thổ quang khăn đỏ; Vũ Trọng Phụng có Đi săn khỉ… Những sáng tác của họ đã thực sự mở ra một thời kỳ mới cho “giai

đoạn văn chương rừng núi” (Thế Phong)

Với bút danh “Lâm tuyền khách”, Lan Khai được biết đến với tư cách

là “người mở đường vào thế giới sơn lâm”, là “nhà văn đường rừng chuyên viết về mạn ngược”, nơi mà anh đã sinh ra, lớn lên và gắn bó máu thịt với tiếng gọi của rừng thẳm Thế Lữ vừa là cây bút tiên phong trong phong trào

Thơ mới vừa là nhà văn đường rừng có tên tuổi Với tác phẩm Vàng và máu,

Thế Lữ đã được nhà nghiên cứu Phan Trọng Thưởng đánh giá là “tác giả đạt đến đỉnh cao nghệ thuật của loại truyện li kì rùng rợn” Cùng viết về đề tài này, Lý Văn Sâm thể hiện rất rõ chất “đường rừng” của vùng núi phía Nam của Tổ quốc Vũ Tùng cho rằng “Nếu tính từ tác phẩm truyện đường rừng đầu

tiên là Kon Trô đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy vào tháng 6 năm 1942 đến truyện vừa Một truyện oan cừu viết vào năm 1954, Lý Văn Sâm có khoảng 12

năm viết truyện đường rừng Điểm đặc biệt là ông viết truyện đường rừng vào giai đoạn cuối của thể tài này, khi trên toàn quốc gần như không còn ai viết truyện đường rừng nữa nhưng vẫn được độc giả hoan nghênh” Như vậy có thể thấy đề tài miền núi đã thu hút các cây bút văn xuôi từ cực Bắc đến mảnh đất phía Nam của Tổ quốc và chỉ trong khoảng non nửa đầu của thế kỷ XX, truyện đường rừng đã đóng góp cho văn xuôi dân tộc hàng loạt những cây bút với những tác phẩm tiêu biểu, bước đầu phản ánh sinh động và rõ nét cuộc sống của những con người vùng cao

Đi sâu khám phá cuộc sống con người miền núi từ nhiều góc nhìn khác nhau, các nhà văn giai đoạn này đã cho bạn đọc hiểu thêm về đời sống hết sức phong phú của đồng bào trong thế giới sơn lâm Đó là những nếp sinh hoạt của cộng đồng các dân tộc được truyền từ đời này sang đời khác, từ người

Trang 17

Mông trên đỉnh núi cao trong tác phẩm Mọi rợ đến người Tày ở thung lũng

Suối đàn, người Dao trong động Hồng thầu… đều có thói quen làm nương,

phát rẫy, săn bắn, dùng ngựa làm phương tiện giao thông đi lại Mỗi tác phẩm còn là một khám phá nghệ thuật về đời sống tâm tư tình cảm của người miền núi Đó là câu chuyện tình giữa chàng trai Mai Kham và cô gái Dua, họ yêu nhau thắm thiết nhưng lại bị tên quan lang phá hoại Để bảo toàn giá trị của

tình yêu hai người lần lượt kết thúc đời mình bằng lưỡi dao oan nghiệt (Rừng

khuya - Lan Khai) Trong tác phẩm Suối đàn, Lan Khai để cho cô gái Tày

phải tìm đến cái chết vì rơi vào mâu thuẫn vừa không nỡ phụ tình người xưa tàn tật vừa không dám bội bạc với người đang yêu mình Người phụ nữ trong

Hồng thầu, Đỉnh non thần (Lan Khai) là những con người yêu đến đau đớn và

tuyệt vọng, chờ đợi người thương cho đến chết như “hòn đá vọng phu”

Sống giữa một thiên nhiên hoang vu, ghê rợn và đầy rẫy nguy hiểm, con người càng cảm thấy nhỏ bé và đơn độc hơn bao giờ hết Thiên nhiên với sức mạnh kì bí mà con người không thể khám phá và chế ngự được Trong ấn tượng của người miền núi, thiên nhiên trở nên vô cùng đáng sợ “Chung quanh cái thung lũng ấy có một dãy núi đá cao vây kín bốn mặt, y như một bức tường thành vậy…lối vào thung lũng không có, người ta phải nhân một khúc suối mà lội ngược dòng mới vào được Nhưng con đường duy nhất ấy, phải người nào quen lắm mới vào được Và chính nó là một cái biểu hiện về sự độc

lập của bọn người trong động” (Hồng thầu - Lan Khai ) Trước một Văn Dú

“hoang vu”, “hiện ra với một vẻ riêng oai linh và màu nhiệm” khiến những con người sống quanh đó phải “sợ hãi” và “kính nể” như “một vật có tri giác,

có quyền phép làm hại con người” và “Ai nói tới Văn Dú là nói tới một sự gở lạ” bởi nơi đó “là nơi ẩn chứa những tai hoạ ghê gớm”, “là cái nguồn những

sự khủng khiếp và những chuyện kinh hoàng” (Vàng và máu - Thế Lữ) Tin

rằng có thế giới thần thánh ma quỷ với một sức mạnh khủng khiếp có thể

Trang 18

quyết định mạng sống con người “Thần núi Văn Dú linh thiêng lắm, lại rất độc ác và hay nghi ngờ…người nào hoặc vô tình, hoặc cả gan đến thần núi là

bị thần bắt và giết đi”.Thậm chí có một thời người ta còn đặt lệ tế thần bằng một cô gái trẻ đẹp Cái chết của tên cướp Nùng Khai, của người khách và vô

số người trong hang Văn Dú thực chất là do lòng tham vô đáy của con người chứ không phải do thần núi gây ra Không chỉ sợ thần núi, con người còn tin rằng có thần hổ Được coi là chúa sơn lâm của rừng thẳm, con hổ luôn là nỗi ghê sợ của con người Môtip hổ, thần hổ, hổ hoá người, người hoá hổ xuất

hiện khá nhiều trong các tác phẩm thời kì này.Trong truyện Người hoá hổ,

anh Mèo đen người Hmông có mẹ già tự nhiên hoá hổ, xé xác cháu ăn thịt rồi chốn vào rừng sâu “mất hết quần áo, toàn thân lông lá mọc đầy” Đặc biệt

trong tác phẩm Thần hổ, Tchya miêu tả cuộc đấu tranh sinh tồn một mất một

còn giữa một bên là con cháu họ Đèo với một bên là thần hổ qua nhiều thế hệ Xưa kia ông tổ của họ Đèo dám phạm đến một con hổ già, làm hắn chột một mắt và tuyệt đường sinh dục Sau này thần hổ tìm người họ Đèo để báo thù

Sự báo thù thật là ghê gớm: tất cả con cháu họ Đèo khi đã sa vào nanh vuốt

hổ, người nào cũng bị móc mất một mắt và bị cắn xé mất hạ bộ Trong quan niệm thời đó, con người sống với tự nhiên làm sao thì sẽ được tự nhiên đáp

trả vậy Thần hổ là câu chuyện về nhân quả và cách ứng xử của con người trước tự nhiên còn đầy bí hiểm Trong Ai hát giữa rừng khuya (Tchuya) thế giới của ma quỷ hiện lên thật ghê rợn trước mắt tôi: “hai con ma, hai cái hồn

uất ức của hai kẻ chịu tử hình, lâu ngày không tiêu đi được tụ lại thành bóng, hấp thụ mãi khí thiêng của trời đất”

Có thể thấy trong nhận thức của các nhà văn thời đó, con người miền núi không tách rời với thế giới tự nhiên hoang sơ, kì bí Con người là một bộ phận và chịu lệ thuộc vào tự nhiên Thế giới người - ma, người - vật, cõi âm - cõi dương đan cài Con người chấp nhận chung sống với vùng đất còn vô số

Trang 19

những điều kì lạ “Đằng sau câu chuyện li kì, bí hiểm và sự ghê rợn về mối quan hệ người - mãnh thú, người - ma là dấu vết của một thế giới quan thơ mộng còn lưu lại, là môtip chủ đề quen thuộc về ân oán, thù hận, về số kiếp tiền định”

Sống giữa thiên nhiên hoang sơ, huyền bí, tính cách con người miền núi cũng mang nét kì dị và đáng sợ :“Trong các giống người mạn ngược, bọn Hồng thầu này tính đa nghi hơn cả… Mỗi khi đứng trước người lạ, họ thường

có vẻ ngờ vực, lấm lét và sẵn sàng có những cử chỉ bài ngoại một cách gần như một con thỏ khi thấy người lại gần Cái thói đa nghi ấy rất nguy hiểm cho

những ai không may lạc vào trong giang sơn của họ” (Hồng thầu) Sự dã man

trong tính cách ấy có khi còn biến thành thú tính khi người vợ Mán của Khôi

đã phẫn uất bóp chết đứa con, vùi xác rồi tự treo cổ lên một cành khế giữa

rừng vì không thấy chồng trở về (Hồng thầu) Một cô gái Thổ vì trả thù cho

người yêu mà dám giết người, dám tới nơi hoang vắng thuyết phục một người con trai không quen biết ra tận giữa dòng thác vớt xác kẻ thù, quăng cái xác rồi lao mình vào giữa dòng thác để giữ trọn tình yêu “Trông con mắt lóng lánh của người con gái, cùng với cái mặt đanh thép kia, tôi tưởng chừng thấy

cái khí chất của núi rừng, của cái tâm hồn Thổ Mán hiện ra” (Đêm trăng)

Đánh giá về một số cây bút tiêu biểu của truyện đường rừng, các nhà nghiên cứu đã có nhiều ý kiến xung quanh việc mô tả và khắc hoạ tính cách con người miền núi Lâm Tiến cho rằng trong truyện đường rừng của Thế Lữ

và Lan Khai người miền núi “chỉ được xuất hiện với dáng hình méo mó, xa lạ,

bí hiểm và kì quái, ngô nghê và man dại” Vũ Ngọc Phan thì cho rằng “đọc Lan Khai ta mới thấy nhà tiểu thuyết đưa người ta vào tận rừng thẳm, dắt người ta một cách thân mật vào các gia đình Thổ, Mán và cho người ta được thấy những tâm tính kì dị” Hay Nguyễn Long cho rằng “những nhà văn đó thường mô tả rừng núi là nơi âm u rùng rợn đầy chết chóc, nơi ma thiêng

Trang 20

nước độc Con người ở đây thường chỉ được sống theo bản năng Hành động của họ thường được mô tả là táo bạo, rùng rợn Ngay cả những phong tục tập quán của người dân tộc cũng được mô tả như một cái gì hết sức kì quái hoặc

là khủng khiếp hoặc là mông muội” Những ý kiến trên tuy còn thiếu khách quan và toàn diện trong việc nhìn nhận và đánh giá vai trò của các nhà văn đường rừng cũng như khả năng phản ánh con người trong tác phẩm của họ, song cũng đã chỉ ra những nét tính cách chung của con người miền núi giữa một thiên nhiên hoang dại và kì bí

Làm nên sức hấp dẫn của loại truyện đường rừng giai đoạn này không thể không nhắc đến vai trò của các nhân tố kì ảo Tràn ngập trong các câu chuyện là những yếu tố mang đầy màu sắc ma quái và kinh dị Các nhà văn viết về miền núi giai đoạn này đã rất giỏi trong việc tạo không khí truyện, làm

cho loại truyện đường rừng có một phong cách rất riêng biệt.Trong Ma

thuồng luồng, Lan Khai gợi ra một hình trạng khủng khiếp khi con vật mang

hình hài kì dị từ hang sâu chui lên cưỡng hiếp một anh phù thuỷ người Dao

Hay trong truyện Đôi vịt con, tác giả miêu tả một chàng trai người Kinh cưới

một cô gái Thổ làm vợ nhưng lại bạc tình bỏ về xuôi, bị gia đình người vợ dùng thuật chài làm cho tiêu mòn sinh lực, thổ ra huyết rồi chết Khi vừa tắt thở thì có “đôi vịt con từ bụng trôi qua cuống họng ra ngoài rồi biến mất”.Viết

về con người miền núi, các tác giả thường quan tâm nhiều đến miêu tả hành động mà ít chú ý đến nội tâm nhân vật, nếu có cũng chỉ đôi nét về tâm hồn người phụ nữ Người miền núi sống sơ giản nên tính cách, ngoại hình và hành động thống nhất với nhau, ít có nét tâm lí phức tạp như trong các tác phẩm giai đoạn sau Ở giai đoạn này các tác giả văn xuôi đường rừng vẫn chịu nhiều ảnh hưởng của lối tư duy truyện truyền kì Trung đại nên ước lệ là biện pháp chủ yếu được sử dụng trong miêu tả, đặc biệt là trong miêu tả ngoại hình nhân vật, chẳng hạn như việc mô tả nhân vật sau đây của Lan Khai: “Dua

Trang 21

Phăn nồng thắm như một bông hoa hải đường, dịu dàng như mùi hoa liếp li,

bí mật như một liềm trăng hạ tuần và xa xôi như một cái bóng trong

mộng…”(Rừng khuya).Với những hạn chế nhất định về tư duy văn học, về

quan niệm và cái nhìn nên những sáng tác về miền núi ở giai đoạn này mới chỉ được coi là sự tiếp bước của truyện truyền kì Trung đại hoặc được xếp vào loại “tiểu thuyết truyền kì” (Vũ Ngọc Phan), một số tác phẩm nhất là của Tchya khá gần với truyện cổ tích

Với sức hấp dẫn riêng ở một vùng hiện thực mới được khai phá, cùng với biệt tài của các nhà văn đã đưa một số truyện kinh dị đường rừng vào danh sách “Những tác phẩm vượt thời gian” của Nhà xuất bản Văn học Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Thiện đã đề cao vai trò tiên phong mở đường của Thế Lữ, Lan Khai, Lý Văn Sâm trong đề tài miền núi của văn học dân tộc

“Qua sáng tác, các ông cho thấy mảng đề tài này đã bổ sung cho nhận thức hướng tới sự chân thật và đúng đắn về cái nhìn đối với cuộc sống và con người ở miền núi nước ta ngay từ trước Cách mạng Tháng 8 năm 1945 Cảnh sắc thiên nhiên hùng vĩ còn nhiều hoang dã của Tây Bắc và Tây Nam Bộ, những con người của các dân tộc sống cực khổ, tăm tối nhưng tính cách thật thà, hồn nhiên, bộc trực qua dáng điệu, hành động, nói năng…dưới ngòi bút

ấm áp, tình cảm của các ông, đã vạch lên những đường cày đầu tiên xới lật một trong những nguồn mạch phong phú của đời sống hiện thực, chứa đựng những nét đặc sắc của văn học dân tộc” Sự xuất hiện và thành công của những nhà văn viết truyện đường rừng trên đã góp phần làm mới, làm phong phú và hoàn chỉnh diện mạo của nền văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX

1.2.2 Người thay đổi số phận trong văn xuôi từ 1945 đến trước “Đổi mới”

Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công đã mở ra một thời kì mới trong lịch sử dân tộc: thời kì độc lập tự do Đây cũng là thời kì phải đấu tranh cam go, khốc liệt với hai kẻ thù Pháp và Mĩ để bảo vệ nền hoà bình, giải

Trang 22

phóng và thống nhất đất nước Dưới ánh sáng của thời đại mới, nhân dân miền núi trở thành một bộ phận không thể thiếu trong cuộc cách mạng dân tộc

và con người miền núi cũng trở thành một đối tượng thẩm mĩ vô cùng quan trọng cho nền văn học cách mạng Có thể nói, sự phát triển của văn học miền núi giai đoạn này là sự kế thừa, phát triển của thể loại truyện đường rừng giai đoạn trước 1945 và được kết tinh ở những cây bút xuất sắc như Nam Cao, Tô Hoài, Nguyên Ngọc… những nhà văn đã có công “góp phần khai phá, mở đường cho văn xuôi dân tộc miền núi hình thành và phát triển” (Lâm Tiến)

Nếu như văn xuôi đường rừng trước năm 1945 hình dung con người miền núi là những “giống người”, “bọn người”, “người mọi” mà sự dã man từ thời mông muội của loài người dường như vẫn còn rơi rớt lại thì sau năm

1945 cái nhìn đối với con người miền núi đã có sự thay đổi Từ cái nhìn phiến diện của “con mắt người Hà Nội” lúc ban đầu về sau Nam Cao đã nhận ra rằng “Người Mán chẳng có gì đáng sợ…Họ chẳng giết ai và cũng chẳng có gì

là quái gở” Hơn nữa tác giả nhận ra rằng người Mán tốt và cũng tràn đầy tinh

thần cách mạng “Họ nhịn ăn, giấu cơm đem cho người cách mạng ăn” (Nhật

kí ở rừng) Nhà phê bình Lâm Tiến cho rằng “Với Nhật kí ở rừng, Nam Cao

đã vẽ nên một bức tranh tuy còn đơn giản nhưng rất chân thực, mới mẻ về con người, cuộc sống của các dân tộc miền núi”

Là người mở đường xuất sắc của văn xuôi cách mạng về miền núi, sau Cách mạng Tháng 8 Tô Hoài đến với đồng bào Tây Bắc và đắm mình trong cuộc sống của các dân tộc miền núi Ông cùng ăn ở, cùng sinh hoạt với họ, cùng “ăn thịt ngựa, thịt chó nhạt, ăn rêu đá nướng và bọ hung xào như bà con, cùng vác củi, thổi sáo, bắt chuột, bắt con rúi và đêm trăng sáng theo thanh niên Hmông đi “cướp vợ” Sống với người miền núi, ông thật sự quý họ Ông tâm sự: “Tôi thích những người ấy lắm Cô thì nhận là em Cô thì nhận là con Qua họ, mình biết được người thật, việc thật, người bình thường việc bình

Trang 23

thường Vì thế trước kia tôi có biết tí gì về miền núi đâu Nhưng bây giờ tôi dám viết về miền núi.Tôi đã viết say sưa về miền núi Tôi đã để công phu vào việc học tiếng miền núi và đã tha thiết yêu người miền núi, coi miền núi như

quê hương mình vậy” Tác phẩm Núi cứu quốc được tác giả viết năm 1948 đã

thể hiện được cảnh sống vất vả, thiếu thốn nhưng giàu ý nghĩa đối với cách mạng cũng như ý chí quyết tâm chiến đấu của đồng bào miền núi Tuy nhiên tác phẩm còn nhiều hạn chế như còn nặng về thể hiện, miêu tả các tài liệu, bề mặt của hiện thực mà ít đi vào khám phá chiều sâu, bản chất của nó để rồi

“chết chìm trong tài liệu” như nhà văn đã tâm sự Năm 1960 tập Truyện Tây

Bắc ra đời với ba truyện ngắn là Cứu đất cứu mường, Mường Giơn và Vợ chồng A Phủ trong đó Vợ chồng A Phủ được đánh giá là “tác phẩm thành

công xuất sắc đầu tiên về miền núi trong văn xuôi cách mạng hiện đại”(Nguyễn Văn Long) Tập truyện có một vị trí chắc chắn trong văn học đương đại Việt Nam Nó mở rộng đề tài sang những vùng núi hẻo lánh còn ít được nhà văn đào xới Ở đấy “cảnh và người Tây Bắc hiện ra hài hoà đường nét, ấm màu sắc, êm ái âm thanh” và tác giả đã thành công trong việc “miêu

tả con người chuyển biến ý thức từ tự phát đến tự giác là một đặc trưng của ngòi bút Tô Hoài” Đóng góp của tác giả ở chỗ ông đã nhận thức và đi sâu vào cuộc đời, thân phận khổ cực của con người miền núi tựa như một trái núi

đè nặng con người từ khi sinh ra cho đến lúc chết, từ kiếp này sang kiếp khác, trùng điệp nỗi khổ như kiếp trâu ngựa tôi đòi “đời con, đời cháu bao giờ hết

nợ thì thôi” (Vợ chồng A Phủ), để rồi tác giả đi tới cái nhận thức thật đau đớn

và khó hiểu là làm sao con người có thể kéo dài kiếp sống lay lắt và mù mịt như thế và ý nghĩa cuộc đời con người khi sinh ra là gì? Trăn trở với những kiếp sống tôi đòi của con người vùng cao, nhất là thân phận của người phụ nữ miền núi dưới chế độ xưa, Tô Hoài đã thâu tóm cuộc đời người đàn bà miền núi trong những câu văn ám ảnh “Tết xong thì lên núi hái thuốc phiện, giữa

Trang 24

năm thì giặt đay, xe đay, đến mùa thì đi nương bẻ bắp và dù lúc đi hái củi, lúc xay ngô, lúc nào cũng gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi Bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế Con ngựa, con trâu làm vẫn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào làm việc cả đêm cả ngày” Dưới sức mạnh của cường quyền và thần quyền, cuộc đời của con người vùng cao trở nên bi thảm hơn bao giờ hết Đó

là cô Ảng “mười bảy tuổi phải đem thân đi nâng giấc ông lão sáu mươi” Một

cô Mị có chồng mà không biết đến hạnh phúc lứa đôi “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” Đi đến tận cùng của cái khổ nhưng nhân vật của Tô Hoài không gục ngã Khi ánh sáng cách mạng chiếu sáng khắp các bản làng miền Tây, cuộc đời mỗi con người đã thay đổi Bà lão Ảng xúc động

“một đời không biết mặt cái ruộng, cái nương Bây giờ sắp chết mới được biết

ở lều canh nương thế này” Mị tìm được hạnh phúc khi đến Phiềng Sa “từ

những hôm ấy Mị mới thật thấy được có chồng” Ở tiểu thuyết Miền Tây tác

giả đặt ra những vấn đề thiết thực trong buổi đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội

và củng cố chính quyền cách mạng ở vùng cao, qua hệ thống ngôn ngữ diễn tả được nếp cảm nghĩ của người miền núi - một thứ ngôn ngữ quần chúng được nâng lên ở một trình độ nghệ thuật mới chứ không lạm dụng tiếng địa phương Tuy nhiên theo đánh giá của các nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ, Hà Minh Đức thì tác phẩm vẫn còn những hạn chế trong việc xây dựng nhân vật còn nhẹ về đời sống nội tâm, yếu về chiều sâu tính cách Tác giả mới nêu lên được những biến đổi về kinh tế và cương vị xã hội chứ chưa đi thật sâu vào những biến đổi bên trong tâm hồn mỗi con người Ngoài ra những tác phẩm

Tuổi trẻ Hoàng Văn Thụ, Họ Giàng ở Phìn Sa, Nhớ Mai Châu… của Tô Hoài

tiếp tục ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người miền núi qua những con người thực như Hoàng Văn Thụ, Kim Đồng, Vừ A Dính…

Trang 25

Xuất hiện ở thập kỷ 60 của thế kỉ XX, Ma Văn Kháng là người tiếp nối

tài năng trong văn xuôi miền núi hiện đại Các tập truyện như Xa Phủ, Người

con trai họ Hạng, Gió rừng đã được các nhà nghiên cứu đánh giá cao Ở

những tác phẩm này nhân vật nhìn chung đã mang những nét cá tính sinh động với mâu thuẫn bao hàm trong tính cách Liên tục từ những năm 1960

xuất hiện các tác phẩm Rẻo cao (1962) của Nguyên Ngọc; Miền Tây của Tô Hoài; Mùa mận hậu (1972), Cái móng ngựa (1973) và Bài ca trăng sáng (1974) của Ma Văn Kháng; Lặng lẽ Sa Pa và Núi đỗ quyên của Nguyễn

Thành Long… Hầu hết các tác phẩm đều viết về sự đổi thay trong suy nghĩ, nhận thức và hành động của con người miền núi Họ đã tích cực, chủ động chuyển mình để trở thành những con người mới làm chủ cuộc đời trong dòng chảy chung của đất nước và làm nên sự đổi thay mạnh mẽ của làng bản quê

hương mình Chị San Mẩy (Hương thảo quả) - tổ trưởng tổ đổi công, chủ nhiệm hợp tác xã; cô Vàng Mỷ (Đường xa) - chiến sĩ thi đua dân quân La Pan Tẩn; chị Hạng A Cơ (Một khoảng cách) - chủ tịch xã Hồng Ngài; cô giáo Giàng Thị Xoá (Mùa mận hậu)… là hình ảnh những người phụ nữ Dao,

Hmông hoàn toàn đổi khác Họ không dễ dàng đầu hàng số phận, không chịu

để cho những định kiến, hủ tục hay những khó khăn trói buộc mình để vươn lên trong cuộc sống mới Đảng, cách mạng đã dẫn đường chỉ lối, đã tiếp thêm sức mạnh để con người miền núi hôm nay thoát khỏi mọi trói buộc của kiếp sống nô lệ để trở thành con người mới tự do, để cảm nhận được “cuộc đời mới thật đẹp”, “cuộc đời mới dài rộng quá”, cuộc đời đã cho con người

“những con đường mới, quan hệ mới, những người bạn thân yêu, những đồng

chí thân thiết” (Đường xa)

Bên cạnh các sáng tác về miền núi của người Kinh thì giai đoạn này cũng đã đánh dấu sự ra đời của nền văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam Năm 1958 xuất hiện tác phẩm văn xuôi đầu tiên của văn học dân tộc thiểu số

Trang 26

mới Ché mèn đi họp của nhà văn dân tộc Tày Nông Minh Châu Sự ra đời của

tác phẩm được coi là cột mốc đánh dấu sự có mặt của văn xuôi dân tộc thiểu

số như một thể tài, một mảng sáng tác độc đáo và mới lạ Nhân vật chính của tác phẩm, cô gái người Tày theo lời kêu gọi của đoàn Thanh niên, đã rất tích cực học chữ, tích cực thay đổi những thói quen lạc hậu lâu năm của đồng bào mình để có ngày cô có cơ hội bước ra khỏi bản làng - điều mà nhiều người phụ nữ dân tộc trong đó có cả mẹ cô chưa bao giờ có được, làm được để đi tới

“phía sáng” Sau tác phẩm này hàng loạt cây bút là người dân tộc đã tự tin lao động và sáng tạo cày xới trên chính mảnh đất văn chương quê mình, cho ra

đời nhiều tác phẩm có giá trị như Cuộn chỉ màu hột đỗ của Lâm Ngọc Thụ;

Đêm giao thừa, Đặt tên của Vi Thị Kim Bình; Mường Nà Pàng của Nông

Viết Toại; Về nhiệm vụ của Huy Hùng; Ké Nàm của Hoàng Hạc; Đoạn đường

ngoặt của Nông Viết Toại… Đặc biệt có sự đóng góp của nhà văn, nhà giáo

Vi Hồng người dân tộc Tày với một loạt các tác phẩm như Ngôi sao đỏ trên

đỉnh núi Phja Hoàng, Cây su su noọng Ỷ, Nước suối tiên đào… Các tác phẩm

của ông tập trung viết về cuộc sống kháng chiến và con người vùng cao với tình cảm trìu mến, ngợi ca Nhà văn dân tộc Tày Triều Ân cũng đóng góp cho mảng đề tài này một nét riêng khi tập trung tái hiện cuộc sống quê hương ông

trên những trang văn với nhiều tác phẩm như Chặt cổ rồng (1962), Bên bờ

suối tiên (1962) Từ khoảng những năm 60 trở đi bên cạnh thể loại truyện

ngắn, đã xuất hiện cuốn tiểu thuyết đầu tiên của văn học thiểu số, đó là tác

phẩm Muối lên rừng của Nông Minh Châu năm 1964 Và phải mất một

khoảng thời gian khá dài sau đó (14 năm), thể loại này mới tiếp tục xuất hiện

và khẳng định được vị trí cũng như giá trị của mình qua ngòi bút sung sức của

Vi Hồng

Trong bầu không khí sử thi bao trùm thời đại, việc xây dựng nhân vật trong văn xuôi miền núi giai đoạn này không tránh khỏi sự thiên lệch Các

Trang 27

nhân vật trong tác phẩm chủ yếu vẫn liên hệ với nhau theo kiểu đơn tuyến, phân cực rạch ròi giữa thiện - ác, xấu - tốt, cũ - mới và thường mang một môtip chung là số phận con người vận động từ cuộc đời cũ tăm tối, đau khổ sang cuộc đời mới tươi sáng và tự do Bên cạnh những hạn chế ấy thì văn học

30 năm chiến tranh (1945 – 1975) đã chứng kiến sự phát triển vượt bậc của văn xuôi miền núi với sự đóng góp của cả các tác giả người Kinh và các tác giả là người dân tộc thiểu số Cuộc đổi đời vĩ đại của nhân dân các dân tộc miền núi với quá trình phát triển cách mạng từ tự phát đến tự giác, sức mạnh của niềm tin, lòng trung thành và tinh thần đoàn kết dân tộc, những khó khăn

và bước chuyển mình trong cách mạng dân tộc …đã được văn xuôi nắm bắt, tái hiện một cách chân thực qua nhiều tác phẩm Nó hứa hẹn một sự phát triển hơn nữa, sâu sắc và toàn diện của nền văn xuôi miền núi trong những giai đoạn tiếp theo

Năm 1975 đất nước ta hoàn toàn giải phóng và thống nhất, văn học bước ra khỏi chiến tranh và bắt đầu quá trình đổi mới đầy cam go, phức tạp

Và khoảng thời gian mười năm đầu (1976- 1986) được coi là chặng đường khởi động chuẩn bị cho cao trào đổi mới Văn xuôi miền núi cũng đã có những đóng góp tích cực cho chặng đường này

Điều dễ nhận thấy trong văn học sau 1975 ở nước ta là dư âm của cuộc chiến tranh vẫn còn đọng lại trên nhiều trang viết, nhiều tác phẩm vẫn mang đậm chất sử thi với ý thức cộng đồng và cảm hứng anh hùng, cảm hứng ngợi

ca Hình tượng những anh hùng cách mạng, những con người mới, những chiến sĩ trên mặt trận văn hoá đang cùng đồng bào miền núi xây dựng cuộc

sống mới là trung tâm của nhiều tác phẩm Những tiểu thuyết Đồng bạc trắng

hoa xoè (1979), Trăng non (1982), Vùng biên ải (1983) của Ma Văn Kháng; Rừng động của Mạc Phi tiếp tục mở rộng và hoàn thiện bức tranh hiện thực

miền núi với sự tái hiện trên quy mô lớn quá trình cách mạng, những giai

Trang 28

đoạn lịch sử hào hùng của các dân tộc ít người vùng địa đầu của Tổ quốc Nghệ thuật xây dựng nhân vật miền núi trong văn xuôi giai đoạn này vẫn ghi nhận sự thành công của nghệ thuật điển hình hoá cao độ và vẫn chịu sự chi phối khá lớn của khuynh hướng sử thi Con người mới, con người tập thể vẫn

là nhân vật trung tâm của văn học và có sự thống nhất cao giữa ngoại hình và tính cách Cũng ở giai đoạn này, đội ngũ các nhà văn dân tộc thiểu số đã tăng lên đáng kể và trưởng thành nhanh chóng Nhà văn Vi Hồng tiếp tục đóng

góp hàng loạt các tác phẩm có giá trị như Đất bằng (1980), Vãi Đàng (1980),

Núi cỏ yêu thương (1984), Thung lũng đá rơi (1985)… Bao trùm các sáng tác

của ông là cảm hứng ngợi ca cái tốt, cái đẹp và lên án những tội ác mà bọn

quan lại phong kiến đã gây ra cho người dân Bên cạnh đó còn có Tiếng chim

gô (1979) của Nông Minh Châu, Niềm vui (1979) của Vi Thị Kim Bình, Tiếng kèn A Pá (1980) của Triều Ân, Hạt giống mới (1983) và Sông gọi (1986) của

Hoàng Hạc Mỗi nhà văn phản ánh hiện thực và con người miền núi theo cách riêng nhưng tựu chung lại họ đều tập trung phản ánh sự đổi mới của cuộc sống và con người miền núi nhờ ánh sáng cách mạng Những thành quả từ hai nguồn tác phẩm của nhà văn dân tộc Kinh và nhà văn dân tộc thiểu số cho thấy mười năm sau chiến tranh tuy không dài nhưng là giai đoạn phát triển đồng bộ và phong phú của văn xuôi viết về miền núi

1.2.3 Con người đa diện, đa chiều từ “Đổi mới” đến nay

Sự đổi mới trong văn học đã có ngay từ cuối thập kỉ 70, đầu thập kỉ 80 nhưng phải đến năm 1986 sự thay đổi mới thực sự thành phong trào rộng lớn, sâu sắc, làm xuất hiện loại hình nhân vật mới trong văn học Văn xuôi miền núi cũng có những bước chuyển biến tích cực và đạt được nhiều thành tựu mới Các cây bút người Kinh một thời nay vẫn cần mẫn cắm bản Tô Hoài

đánh dấu sự trở lại mảng đề tài miền núi bằng tiểu thuyết Nhớ Mai Châu (1988) Ma Văn Kháng với nhiều truyện ngắn đặc sắc về vùng cao như Vệ sĩ

Trang 29

của quan châu (1988), Bài ca trăng sáng (1992), Móng vuốt thời gian (2003)

đã cho thấy những cách nhìn mới, sâu hơn về hiện thực và con người miền núi.Trong lời giới thiệu bộ ba tiểu thuyết về đề tài dân tộc và miền núi của Ma Văn Kháng do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2003, Nguyễn

Ngọc Thiện đã khái quát giá trị các tiểu thuyết Đồng bạc trắng hoa xoè (1978), Vùng biên ải (1983), Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (1999) ở vai trò “một

cuốn sử biên niên” với những tri thức quý báu về lịch sử, xã hội, phong tục, tâm lí, ngôn ngữ… của cộng đồng dân tộc Tây Bắc

Sau đổi mới, lớp nhà văn là người dân tộc thiểu số đã khẳng định được sức sáng tạo của mình ở thời kì trước vẫn dai dẳng sức viết Vi Hồng cho ra

đời hàng loạt tiểu thuyết như Vào hang (1990), Người trong ống (1990), Gã

ngược đời (1990), Người làm mồi bẫy hổ (1993), Dòng sông nước mắt

(1993), Phụ tình (1994), Đường về với mẹ chữ (1997) Cùng thế hệ với Vi Hồng là Triều Ân với truyện ngắn Như cánh chim trời (1988), Xứ sương mù

(1988) Hoàng Hạc vẫn tiếp tục cống hiến cho văn chương nghệ thuật với sự

ra đời của tiểu thuyết Sông gọi (1986), Xứ lạ mường trên (1988) Từ thập niên

90 đến nay, văn xuôi các dân tộc thiểu số xuất hiện một đội ngũ các cây bút văn xuôi mới, trẻ tuổi tài năng và đầy tâm huyết Đó là Ma Trường Nguyên

với Mũi tên ám khói (1991), Gió hoang (1992); Hoàng Thị Cành với Làm dâu (1992), Cướp chồng (1992); La Quán Miên với tập truyện ngắn Hai người trở

về bản (1996); Mã Kim Nhất với các tập truyện Động rừng (1999), Hồn ma núi (2002), Ma Thị Thường với tập truyện Lũ núi (2003)…Bên cạnh đó là

một loạt các cây bút như Đoàn Hữu Sang, Đoàn Lư, Hà Trung Nghĩa, Hữu Tiến, Đinh Ngọc Lân, Hoàng Quảng Yên Những sáng tác của họ đã đưa mảnh đất miền núi đi vào văn chương với hình ảnh những bản, những làng nằm bên ngọn núi, hình ảnh những con người thật thà, chất phác, chăm chỉ song cũng rất mạnh mẽ trong tình yêu, trong cuộc sống Hai thế hệ nhà văn,

Trang 30

một đã trưởng thành trong cách mạng và một trưởng thành sau cách mạng, đa

số viết bằng bút pháp của chủ nghĩa hiện thực mới, đứng trên lập trường tư tưởng yêu nước tiến bộ đã “cố gắng tái hiện bức tranh nhiều mặt về đời sống của đồng bào các dân tộc quá khứ cũng như hiện tại trong đó khắc hoạ những

số phận được đổi đời từ chế độ cũ sang chế độ mới, từ “thung lũng đau thương ra cánh đồng vui”, từ “chân trời một người đến chân trời tất cả” Nhiều tác phẩm xuất sắc trong số đó có được bản sắc dân tộc riêng về dựng cảnh, dựng người, thể hiện ngôn ngữ nghệ thuật và tư duy nghệ thuật độc đáo

Và đã hình thành những phong cách riêng, đa dạng, nhiều vẻ, nhiều giọng điệu với bút pháp văn xuôi hiện đại góp phần làm phong phú bức tranh của đời sống văn học hiện đại nước ta”[64]

Để có được một bức tranh văn xuôi về miền núi thực sự hoàn chỉnh thì cần phải có một đội ngũ sáng tác giàu nhiệt huyết, tài năng, chuyên tâm và thực sự am hiểu Trong giai đoạn hiện nay Cao Duy Sơn, Phạm Duy Nghĩa và

Đỗ Bích Thuý là những cái tên đang được đông đảo bạn đọc và giới nghiên cứu quan tâm Với những trang viết tài hoa và tâm huyết về đất và người chốn vùng cao, các tác giả trên được đánh giá là những khuôn mặt tiêu biểu của nền văn học miền núi Việt Nam đương đại

Nhà văn Cao Duy Sơn tên thật là Nguyễn Cao Sơn sinh ra trong một gia đình cha người Kinh, mẹ người Tày, Cao Duy Sơn được thừa hưởng sự tác động của nền văn học của cả hai dân tộc Không chỉ vậy anh còn tự hào được sinh ra trên đất Cô Sầu, vùng đất được coi là “nơi dồi dào sự sống bền lâu, nơi chất chứa bao trầm tích lịch sử” Có lẽ vì thế mà cái mảnh đất Cô Sầu

đã trở thành một phần máu thịt trong đời người và đời văn Cao Duy Sơn Tác giả từng thừa nhận anh “không bao giờ tách rời mình khỏi mảnh đất ấy được”

Từ sâu thẳm trong tâm thức nhà văn, cái tên Cô Sầu “đã mang một sứ mệnh văn chương nào đó không thể lí giải” Với tác giả “viết văn là một cuộc viễn

Trang 31

du trở về cội nguồn” và niềm hạnh phúc nhất của anh qua những trang văn là anh đã “gọi được tên quê hương”, đã “trả nợ quê hương, trả nợ những người sinh ra mình, bạn bè, xóm giềng”[14] Để làm nên một Cao Duy Sơn trong lòng độc giả yêu văn chương không chỉ bởi tài năng mà còn bởi tác giả am hiểu sâu sắc về con người vùng đất Cô Sầu Cao Duy Sơn từng quan niệm

“muốn viết thành công về đề tài miền núi phải thật sự hiểu biết, phải “thuộc” vùng văn hoá ấy”[21] và “Thoát thai từ dòng giống Tày để rồi mọc mầm, cắm

rễ trên đất quê hương”[22] Bước vào làng văn từ năm 1984 với đứa con đầu

lòng mang tên Dưới chân núi Nục Vèn cho đến nay Cao Duy Sơn đã có 9 đầu

sách (5 tiểu thuyết, 4 tập truyện ngắn) Tất cả các tác phẩm của anh đều tập trung vào khai thác đề tài miền núi với những cảnh sắc và con người nơi

mảnh đất chôn rau cắt rốn của nhà văn Năm 1992 cuốn tiểu thuyết Người

lang thang ra đời đã gây được sự chú ý và liên tiếp nhận được hai giải

thưởng: giải A của Hội đồng Văn học Dân tộc và miền núi - Hội nhà văn Việt Nam và giải nhì của Hội hữu nghị Việt - Nhật Hai năm sau, tác giả trình làng

văn với cuốn tiểu thuyết Cực lạc Năm 1996 Cao Duy Sơn cho ra đời tập

Những người ở Lũng Cô Sầu, tập truyện ngắn đã nhận được tặng thưởng của

Hội nhà văn Việt Nam năm 1999 Cuốn sách này đã “ Mang một hương vị riêng biệt của vùng rừng xanh núi đỏ với những số phận vừa bi thương vừa hào hùng nhưng lại thấm đẫm chất nhân văn cao cả” Trong vài năm sau đó, liên tiếp tác giả chinh phục độc giả bằng hàng loạt các tác phẩm: Tiểu thuyết

Hoa mận đỏ (1999), tập truyện ngắn Những đám mây hình người (2002, giải

B của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam), tiểu thuyết Đàn

trời (năm 2006, giải A của Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt

Nam) Đặc biệt với tập truyện ngắn Ngôi nhà xưa bên suối (2007) được nhà

văn sáng tạo miệt mài trong 4 năm (từ năm 2002 đến năm 2006), tác phẩm được giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam năm 2008, giải thưởng Đông

Trang 32

Nam Á năm 2009 Chủ tịch Hội nhà văn Hữu Thỉnh đã đánh giá cao tập

truyện này “ Ngôi nhà xưa bên suối của tác giả Cao Duy Sơn đem đến cho

người đọc mảng sống đậm đặc, tươi ròng về những con người miền núi, vừa

cổ kính vừa hiện đại, mộc mạc, chân chất, không để đánh mất mình trong những hoàn cảnh éo le, đau đớn” Đặc biệt hiện thực cuộc sống và con người miền núi hiện ra trong truyện của anh đa diện, nhiều chiều, đem đến cho người đọc sự hiểu biết về đất và người vùng cao, vun đắp niềm tin yêu tha thiết với những miền xa xôi của Tổ quốc Trong sáng tác của Cao Duy Sơn

“hình tượng con người miền núi cao lớn mạnh mẽ, khoẻ khoắn” được thể hiện

“một cách cụ thể, sinh động, tinh tế như nó vốn có” Nhân vật Cao Duy Sơn

“thường có nội tâm phong phú, phức tạp, mạnh mẽ, dữ dội nhưng lại lặng lẽ, kín đáo” (Lâm Tiến).Với sự cần mẫn và bền bỉ trên từng trang viết, với tấm lòng thuỷ chung như nhất với đề tài miền núi, Cao Duy Sơn vẫn đang miệt mài “tích luỹ, khám phá để mã hoá những vỉa tầng văn hoá nguyên bản, nét hồn nhiên của người dân tộc đưa vào những trang văn” Người con của “lũng

Cô Sầu” cho dù trong hoàn cảnh nào vẫn một lòng hướng về miền quê cổ kính ấy Bởi vậy “mỗi tác phẩm của Cao Duy Sơn là một sự tìm tòi, khám phá, phát hiện mới, độc đáo về con người miền núi, giúp người đọc ngày càng tiếp cận sâu sắc, đầy đủ, rõ ràng hơn cuộc sống dân tộc đậm đà bản sắc văn hoá này”[58]

Nhà văn Phạm Duy Nghĩa sinh năm 1973 tại Yên Bái song cuộc đời anh gắn bó nhiều với mảnh đất Lào Cai quanh năm mây trắng Được đánh giá

là “một trong những nhà văn nam viết hay hiện nay” (Sương Nguyệt Minh), Phạm Duy Nghĩa đến với văn chương như một mối duyên kỳ ngộ Năm 1999, khi còn đang đứng trên bục giảng, trong một lần đưa giáo sinh đi xoá mù chữ

ở vùng cao, cuộc sống con người và thiên nhiên đã ám ảnh, thôi thúc anh cầm bút viết Ngay lần đầu tiên xuất hiện trên “chiếu” văn nghệ với truyện ngắn

Trang 33

Cô gái xuống ga Vĩnh Yên anh đã thực sự khiến cho những độc giả yêu mến

văn học đương đại phải tò mò về tác giả của nó Lặng lẽ và bền bỉ như loài ong, anh chăm chỉ “nhặt nhạnh” từng cái chữ từ cuộc đời và vì thế hiện thực cuộc sống ngồn ngộn và sinh động cứ lần lượt gọi nhau về trên những trang văn của anh Là nhà văn khá nghiêm túc trong lao động nghệ thuật, anh bước vào làng văn với một quan niệm đúng mực về văn chương Trong tác phẩm

Vệt sáng nơi ban công tác giả phát biểu “Văn chương mà làm gì khi người

viết ra nó quay lưng lại với nỗi khổ đau của con người” Hiện lên trong trang viết của anh là cuộc sống của những con người miền núi lam lũ, những gương mặt lầm lụi, vất vả, là tâm tư của những cô gái cắm bản vùng cao sống cô đơn giữa núi rừng tĩnh mịch, là trăn trở của những nhà giáo, nhà văn, nhà báo về ý nghĩa đích thực của cuộc đời và nghệ thuật Cứ thế cuộc sống với bao nỗi niềm nhân văn khiến nhà văn phải dằn lòng mình mà viết Năm 2008 anh rời Lào Cao về Hà Nội, hiện nay anh là Trưởng ban lý luận phê bình Tạp chí Văn nghệ Quân đội Năm 2010 anh bảo vệ thành công luận án tiến sỹ về “Văn xuôi Việt Nam hiện đại về dân tộc và miền núi”, là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam và hội nhà văn Việt Nam Sống giữa thủ đô nhưng dường như duyên nợ của anh với rừng núi còn chưa dứt Cứ “ngoi ra” khỏi cái không gian xanh rờn, tươi mát

ấy nhà văn lại cảm thấy như chính mình và câu chữ bị ngột ngạt và thiếu sinh khí Miệt mài hơn 10 năm trong nghề viết, bạn đọc đã có trong tay các tập

truyện: Tiếng gọi lưng chừng dốc, Cơn mưa hoa mận trắng, Đường về xa

lắm và 12 truyện ngắn Phạm Duy Nghĩa Đặc biệt với giải nhất cuộc thi

truyện ngắn Báo văn nghệ 2003 - 2004 (với tác phẩm Cơn mưa hoa mận

trắng), Phạm Duy Nghĩa đã gia nhập làng văn với một cốt cách văn xuôi

“trang trọng”, “vững chãi”, “cổ điển” và anh ngày càng khẳng định được vị

trí của mình Với Cơn mưa hoa mận trắng nhà văn Sương Nguyệt Minh đã

không ngần ngại khẳng định “chỉ bằng tập truyện ngắn này, thậm chí bằng

Trang 34

một truyện Cơn mưa hoa mận trắng, Phạm Duy Nghĩa đã là một tác giả, một

nhà văn đích thực” Viết về miền núi, Phạm Duy Nghĩa chọn cho mình một lối đi riêng, không “đơn giản, thật thà đến ngớ ngẩn như một số người đã và đang viết mà là thế giới miền núi lung linh, kỳ ảo và gợi cảm” (Sương Nguyệt Minh) Một miền núi trong cái nhìn của người miền xuôi, những người Kinh từ lạ lẫm, ngỡ ngàng đến yêu mến và gắn bó thuỷ chung, một miền núi có sức mời gọi và ám ảnh với bất cứ ai đã một lần đặt chân lên đó

Là một trong những tác giả thuộc thế hệ thứ tư trong “bốn thế hệ đang cùng chung sức tôn tạo nên một nền truyện ngắn Việt Nam hiện đại”, Phạm Duy Nghĩa đã và đang góp sức mình làm nên một nền văn xuôi đương đại, khoẻ khoắn và đa màu sắc

Đỗ Bích Thuý sinh năm 1975, trên thực tế là người gốc Nam Định, song chị sinh ra và lớn lên ở vùng đất Hà Giang - vùng đất cực Bắc của Tổ quốc Từng theo học lớp Tài chính - kế toán và làm phóng viên báo Hà Giang

4 năm, Đỗ Bích Thuý bén duyên văn chương bằng truyện ngắn đầu tiên Chuỗi

hạt cườm màu xám năm 19 tuổi và từ đây văn chương trở nên một phần đời

của chị Năm 2000 tập truyện ngắn Sau những mùa trăng được trao giải nhất của Tạp chí Văn nghệ Quân đội Tập truyện Tiếng đàn môi sau bờ rào đá

được giải B Hội văn học nghệ thuật các Dân tộc thiểu số Việt Nam năm 2006

và được đạo diễn Ngô Quang Hải chuyển thể thành phim Chuyện của Pao - phim đạt giải Cánh diều vàng cho thể loại phim truyện nhựa trong liên hoan

phim lần thứ V (2006 – 2007) Sau những bước thành công ở thể loại truyện ngắn, Đỗ Bích Thuý đi vào một thử thách mới dài hơi hơn là tiểu thuyết và ngay ở lần đầu thử nghiệm, tác giả đã thành công ở Cuộc thi sáng tác văn học cho tuổi trẻ lần thứ 2 do Nhà xuất bản Thanh niên và Báo Việt Nam phối hợp

tổ chức (2002 – 2004) với cuốn tiểu thuyết Bóng của cây sồi Là một phụ nữ

sâu sắc và đa cảm, lại sống với mảnh đất vùng cao từ tấm bé, “lớn lên với những dòng sữa của những bà mẹ Hmông”, chứng kiến cuộc sống đầy vất vả,

Trang 35

nhọc nhằn của người phụ nữ miền núi, Đỗ Bích Thuý đã giành cho người phụ

nữ một ưu ái đặc biệt trong những trang văn của mình Nhà văn từng tâm sự

“Trong những tháng ngày tôi đã sống và viết về vùng đất xa tít tắp của mình, điều làm tôi day dứt nhất, ám ảnh nhất là thân phận của người đàn bà Người đàn bà miền núi, dậy trước gà gáy, ngủ sau trăng sao, cõng trên lưng sự tồn vong của cả một gia đình, với một đàn con lít nhít, đứa lớn hơn đứa bé cái chỏm tóc Tôi rất nhớ hình ảnh những người đàn bà gùi trên lưng một cái gùi rất nặng ngô, lúa, mật ong, lợn con, rượu, củi….xuống chợ lại gùi một cái gùi nặng mắm muối, vật dụng trở về khi chiều tàn, chợ tan nhưng nhớ là phía trước, ngay dưới những gương mặt cúi gằm vì mải nhìn đường, vì thói quen,

vì giữ ý… là những chiếc bướu rất nặng nề, xấu xí” Đọc văn chị ta còn gặp hình ảnh “những đứa con của núi” tuy rời bản làng ra thành phố nhưng vẫn không nguôi day dứt và trăn trở về miền đất đã nuôi lớn mình Những đứa con

ấy vì cuộc sống mưu sinh xứ người bị cơn gió của thời đại cuốn đi nhưng sâu thẳm trong tâm hồn, những lúc yếu lòng nhất, mệt mỏi nhất vẫn luôn khao khát được trở về với không gian rộng lớn của núi non Cũng như Cao Duy Sơn và Phạm Duy Nghĩa, mảnh đất vùng cao nơi Đỗ Bích Thuý đã sinh ra cứ trở đi trở lại, ám ảnh và da diết trên từng trang văn của chị Mảnh đất ấy đã cho chị sự trưởng thành, sự từng trải qua từng con chữ và cho chị cả tình yêu mến nồng nhiệt của độc giả nhiều thế hệ Trung Trung Đỉnh đã không ngần ngại khi khẳng định Đỗ Bích Thuý là “một trong số ít những tác giả trẻ viết hay và thành công về đề tài miền núi hiện nay”

Ba tâm hồn, ba cuộc đời, ba phong cách nghệ thuật gắn với ba mảnh đất khác nhau song cả Cao Duy Sơn, Phạm Duy Nghĩa và Đỗ Bích Thuý đều

có chung một tấm lòng thuỷ chung với đất và người nơi vùng cao Những gì

họ đã trải lòng trên trang viết đủ để bạn đọc tin rằng họ sẽ còn viết nhiều, viết hay hơn nữa về mảng đề tài vốn được ưu ái nhiều trong suốt một thế kỷ qua

Trang 36

Đỗ Bích Thuý, Phạm Duy Nghĩa và cả một số nét khác nhau giữa họ.Trong các tác phẩm viết về miền núi, có những nhân vật con người miền núi dân tộc chiếm đa phần, ngoài ra có một số nhân vật người Kinh miền núi (chủ yếu là trong tác phẩm Phạm Duy Nghĩa) Luận văn tập trung đề cập đến nhân vật con người miền núi - dân tộc Trong một chừng mực nào đó cũng sẽ đề cập đến nhân vật người Kinh miền núi Tựu chung đều là sự thể hiện những quan niệm nghệ thuật về con người của các nhà văn viết về miền núi này

2.1 Con người tha hoá

Khám phá con người miền núi trong cái nhìn nhân bản và đa diện, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thuý và Phạm Duy Nghĩa đã khắc hoạ chân thực hình ảnh con người miền núi với đủ mọi vui - buồn, tốt - xấu, hạnh phúc và khổ đau Bên cạnh những tính cách miền núi “thật thà đến ngớ ngẩn”, bên cạnh niềm tin “chẳng có con người nào xấu” thì vẫn còn đâu đó những nhân vật phản ánh phần khuất lấp, tăm tối và biến chất trong con người Ở đây gọi chung là những nhân vật tha hoá

Tha hoá là bị biến đổi thành cái khác làm cho khác đi so với cái ban đầu của mình, của cộng đồng, nguồn gốc đã sinh ra mình.Trong cách hiểu thông thường có hàm nghĩa tiêu cực, làm tha hoá là làm cho kém đi, xấu đi Nó thể hiện sự xuống cấp của con người mà nguyên nhân sâu xa nằm ở phía xã hội Mác nói “con người là tổng hoà mọi quan hệ xã hội” cho nên sự thay đổi của

Trang 37

xã hội tất yếu sẽ ảnh hưởng đến từng cá nhân Sự tác động này diễn ra theo hướng tích cực hay tiêu cực, tốt hay xấu còn phụ thuộc vào bản lĩnh con người,

có thể nắm bắt, thích nghi và làm chủ hoàn cảnh hay trở thành nạn nhân xấu số của hoàn cảnh Tìm hiểu sự vận động, phát triển của tính cách con người miền núi trong giai đoạn mới, các tác giả miền núi đã có cái nhìn sâu sắc về bản chất sâu xa của sự tha hoá trong đời sống xã hội hiện đại hôm nay

Có nhiều nguyên nhân tiềm ẩn trong cuộc sống dẫn đến tha hóa Vì

thiếu hiểu biết lại thêm sự ương bướng, thói gia trưởng và ích kỉ, Pẩu (Mưa

phố - Cao Duy Sơn) không chịu nghe vợ thực hiện các biện pháp đình sản,

đến khi biết vợ tự ý đi triệt sản, dù đã có đủ hai mặt con, gã không những không thông cảm cho vợ lại còn nổi cơn thịnh nộ Dù được y tá Niền giải thích, gã vẫn một mực “muốn có con nhiều như bầu như bí” Gã không chịu chia sẻ với vợ nỗi lo về cái đói, cái nghèo đeo bám nếu còn sinh thêm con Cho rằng vợ không chung thuỷ, Pẩu lấy trộm toàn bộ số tiền dành dụm nhiều năm qua, lấy cả số tiền bán hai con lợn trên bảy chục kí để lao vào rượu chè,

cờ bạc và chơi gái Gã “tưởng tượng mình lấy được một con vợ mới, ăn mặc diêm dúa như tiên, má đỏ môi hồng, mông cong như đáy đàn bầu” Cho đến khi tiêu cạn tiền, đứa con gái bị sốt cao mà trong nhà không còn tiền mua thuốc, hắn mới tỉnh ngộ và hối hận về những sai trái của mình

Nhân vật Đới Bạt Kinh trong tác phẩm Chuyện ở Ô Cán Hồ của Phạm

Duy Nghĩa cũng là một đại diện cho những con người miền núi tăm tối và thiếu hiểu biết Con đẻ ra, ông không cho đứa nào đi học Sách kỹ thuật nông nghiệp bị ông khinh rẻ và đốt cháy Trong khi mùa màng thất bát thì ông cho

là tại ma quỉ Sống tách biệt với cuộc sống bên ngoài, giam mình giữa núi non trùng điệp, lại thiếu ánh sáng văn hoá và tri thức, con người ấy ngày càng trở nên tăm tối và tàn ác Lòng tham và sức hút của tiền bạc đã làm mờ mắt ông Trong một lần đi chợ xuân gặp một đứa trẻ bị lạc, ông đã mang về nuôi với hy

Trang 38

vọng sẽ có được “món tiền chuộc lớn” Đợi mãi không có ông hắt hủi đứa bé,

mù quáng tin rằng đứa bé là con ma đến hãm hại gia đình ông nên càng đối

xử tệ bạc với nó Ông phao tin em đã chết và lừa em phải sống một mình trên rừng, mỗi bữa chỉ được ăn một bát cơm với rau Độc ác hơn, ông bán đứa bé cho một bọn người hung ác mà không cần quan tâm đến sự sống chết của em

Sự ích kỷ, ngu dốt và tham lam của người đàn ông đó đã gây ra tội ác Nhưng

sự im lặng, cam chịu của bà mẹ, sự đồng loã vào hùa của người con cả và cả

sự nhu nhược, hèn yếu của Tần đã vô tình tiếp tay cho tội ác ấy Khi sự u tối, thiếu hiểu biết còn ngự trị, con người dễ đánh mất mình và trở thành nạn nhân của sự u tối đó

Trong cuộc đời mỗi con người, có những thời điểm mà mọi suy nghĩ và hành động của mình có thể quyết định và làm thay đổi cả cuộc đời Có những khó khăn buộc con người phải dũng cảm đối mặt và nếu né tránh nó sẽ không

bao giờ có cơ hội làm lại Ban (Âm vang vong hồn - Cao Duy Sơn) đã yêu và

tin Khuề Đã bất chấp sự giận dữ điên cuồng của hai ân nhân - hai người tình

hờ, dũng cảm và dứt khoát một lần muốn cùng Khuề đối mặt để thay đổi cuộc đời, để bảo vệ tình yêu của hai người Nhưng tiếc thay ở cái giây phút cô cần Khuề nhất thì người đàn ông cô yêu, người đàn ông có trái tim chuột nhắt ấy, trong giây phút sợ hãi và hoảng loạn, để bảo vệ mạng sống của mình đã quay lưng phủ nhận tất cả “tôi không nhận lời yêu cô ấy” Chỉ một lời ấy thôi đã đủ bóp vụn mọi hy vọng của cô về “cái thời cơ duy nhất để vượt qua sự ràng buộc bấy lâu” Chỉ một lời ấy thôi đã làm cho tình cảm của cô, niềm tin của

cô, lẽ sống của cô vĩnh viễn sụp đổ Cho đến mấy chục năm sau, khi người Khuề yêu đã thành thiên cổ, lão Khuề mới hiểu hết sự ngu dại và đớn hèn của mình đã giết chết một tình yêu Lão ân hận, tự sỉ vả mình “trời ơi giá như ngày đó tay lão cứ nắm lấy hai hòn đá thế này, giáng thẳng vào đầu lão thợ rèn và phó cối, thì đời lão giờ đâu đến nỗi này hèn quá, ngu quá Khuề ơi!”

Trang 39

Con người trở nên tha hoá còn bởi những ham muốn nhỏ nhen, dục

vọng thấp hèn như Làn Dì (Thằng Hoán), Sìu (Song sinh) Tha hoá do lòng

ích kỷ, tự mình hạ bệ mình, tự mình biến mình thành người khác như thầy

Dũng (Thông trên đá) Vì sợ hãi và “do dự bởi cái nghèo” mà nhân vật “tôi” (Chuyện ở Ô Cán Hồ) đã không quay lại cứu cô bé Linh để rồi ân hận và xót

xa nhận ra rằng “tội ác được gây ra bởi sự tăm tối và lòng tham, nhưng cái nghèo đôi khi cũng đồng tình với nó” Tha hoá do cái nhìn phiến diện, cực

đoan và áp đặt của cả đám đông sinh viên (Hoa trúc đào) Tha hoá do sự xô đẩy của hoàn cảnh, con người không kiểm soát được bản thân như Dồ (Hòn bi

đá màu trắng), Bường (Mùa én gọi bầy)… Tha hoá không dừng lại ở một

người nào Bất cứ ai cũng có thể trở nên tha hoá nhưng đáng buồn nhất, đáng

sợ nhất khi sự tha hoá ấy lại thường thấy ở những người có tri thức, có hiểu

biết hơn đời Đó là nhà khảo cổ học, hoạ sĩ trong Lá bạch đàn, là những nhà báo như Đan Lẫm, Lâm Hà, Bế Linh Lan trong Đường về xa lắm Là những cán bộ nhà nước như ông Sướng (Trên đồi lập loè ánh lửa), ông Luân (Những

người trong gia đình ông Luân), ông Sếp (Người đổi mặt) Là những người

làm trong ngành giáo dục như trưởng phòng Quảng và Doanh (Đồi hoa lạnh), trưởng phòng giáo dục huyện (Ngưỡng cửa cao), hiệu trưởng Tân (Hai con

đường)… Trăn trở với con chữ nơi vùng cao, trong khi biết bao nhiêu giáo

viên “âm thầm ném từng vốc tuổi xuân” của mình để tưới bón cho nền giáo dục thì cũng có không ít những giáo viên hờ hững, vô trách nhiệm với sự nghiệp trồng người Là cô giáo dạy văn trẻ nhưng Huyền chẳng bao giờ đọc sách để trau dồi kiến thức Vì “thờ ơ với chữ nghĩa” nên “cô giáo dạy văn này sau hai năm ra thường vẫn tưởng Marx, Engel, Lenin đều là “người Liên Xô” Hơn thế Lenin cũng mang họ Lê như người Việt Lên lớp cô nói choang

choang với học sinh rằng Tô Hoài họ Tô, còn tác giả Rừng xà nu không phải

Nguyên Ngọc như em nào nói đâu, mà là nhà văn Nguyễn Trung Thành đó”

Trang 40

Ngu dốt, hèn kém trong chuyên môn, lại không có ý thức trau dồi con chữ, Huyền chỉ biết toan tính đến những thứ nhỏ nhen, tầm thường hàng ngày Thậm chí để được đánh giá chuyên môn tốt, Huyền sẵn sàng ngã lòng với hiệu

trưởng Tân đã có vợ Cũng giống như Huyền, cô Thanh (Những người trong

gia đình ông Luân) chẳng bao giờ đọc sách Cô trở thành giáo viên dạy giỏi uy

tín chỉ vì cô là giáo viên lâu năm, là tổ trưởng chuyên môn và trên hết vì cô là

“Vợ chủ tịch thành phố” là “Đại biểu hội đồng nhân dân” Dạy văn vốn đòi hỏi

sự lao động nhọc nhằn của người thầy thì với cô Thanh “dạy văn chẳng khó gì,

na ná như mổ lợn, thao tác chính là lọc hết phần thịt, để trơ ra phần cốt, cái nội dung xã hội của tác phẩm” Sự nông cạn về tri thức, trình độ chuyên môn bắt gặp lối sống thực dụng, vô trách nhiệm đã làm cho những người vốn mang sứ mệnh “trồng người” cho xã hội trở nên hèn kém và tha hoá

Cùng thể hiện sự tha hoá của con người nhưng với mỗi nhà văn với phong cách riêng, nhân vật “người tha hoá” lại có những nét khác biệt Nếu như trong truyện ngắn của Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thuý sự tha hoá của con người mới xuất hiện như những hiện tượng cá nhân, thì đến ngòi bút Phạm Duy Nghĩa đã“bắt đầu sự sắc sảo gai ngạnh khi đề cập đến tình trạng tha hoá của một bộ phận giới chức hiện thời”, một tiếng nói cảnh báo cho sự xuống cấp ngày một mang tính phổ biến.Từ thằng cu Tũn cởi truồng chăn ngựa năm

nào, nay đã đàng hoàng là một ông sếp “lên xe xuống ngựa” (Người đổi mặt)

Với phương châm “tất cả chỉ nhờ một chữ tốt”, ông đã từng bước leo lên nấc thang của quyền lực và danh vọng Ở trên đỉnh cao của hư danh, mọi thứ thật

- giả, mọi chân giá trị của cuộc đời đều trở nên vô nghĩa Ngay cả cái khuôn mặt thật của mình đến một ngày cũng đã bị đồng tiền làm cho biến dạng Vậy

mà không ai nhận ra điều ấy Vợ ông thì “dửng dưng”, cô hàng xóm cũng

“không hề sửng sốt”, còn đám đông cử toạ nghe ông phát biểu kia cũng

“không ai ngạc nhiên” “Thiên hạ mù cả” hay tại con người “Sống với cái giả

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w