1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm truyện ngắn võ thị hảo

112 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với trái tim nhạy cảm của người cùng giới, trong bài viết Võ Thị Hảo giữa những trang viết trang đời tác giả Lương Thị Bích Ngọc nhận xét khá đầy đủ và toàn diện về truyện ngắn của Võ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ VĂN SƠN

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ HẢO

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Thái Nguyên - năm 2011

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

LÊ VĂN SƠN

ĐẶC ĐIỂM TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ HẢO

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60 22 34

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: TS Mai Thị Nhung

Thái Nguyên - năm 2011

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng kính trọng sâu sắc và tình cảm chân thành, tác giả xin chân trọng cảm ơn: Khoa Ngữ văn, Khoa Sau đại học - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Thái Nguyên cùng các thầy cô giáo đã trực tiếp giảng dạy và góp ý kiến cho tác giả trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đối với

TS Mai Thị Nhung, người đã nhiệt tình trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tác giả

nghiên cứu hoàn thành luận văn

Mặc dù tác giả đã có nhiều cố gắng, nhưng luận văn không tránh khỏi

những thiếu sót Rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và bạn bè

đồng nghiệp quan tâm đến luận văn này

Thái Nguyên, tháng 10 năm 2011

Tác giả

Lê Văn Sơn

Trang 4

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 6

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 6

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Cấu trúc của luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1: TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNHSÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO 8

1.1 Truyện ngắn Việt Nam đương đại 8

1.1.1 Sự chuyển biến của hoàn cảnh lịch sử - xã hội 8

1.1.2 Sự chuyển biến của văn học 10

1.1.3 Diện mạo của truyện ngắn 10

1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thụât của nhà văn Võ Thị Hảo 32

1.2.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn 32

1.2.2 Quá trình sáng tác và quan niệm viết văn của Võ Thị Hảo 32

Chương 2: HIỆN THỰC CUỘC SỐNG VÀ CON NGƯỜI TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ HẢO 37

2.1 Cuộc sống đa chiều và số phận con người trong truyện ngắn thế sự của Võ Thị Hảo 37

2.1.1 Cuộc sống đa chiều trong cái nhìn đậm thiên tính nữ của Võ Thị Hảo 37

2.1.2 Số phận con người và vấn đề đạo đức nhân sinh trong truyện ngắn thế sự đời tư của Võ Thị Hảo 45

2.2 Giá trị nhân sinh sâu sắc thời hiện đại qua màu sắc huyền thoại trong truyện ngắn kì ảo của Võ Thị Hảo 58

2.2.1 Truyện ngắn kì ảo của Võ Thị Hảo 58

2.2.2 Giá trị nhân sinh sâu sắc thời hiện đại trong truyện ngắn kì ảo của Võ Thị Hảo 60

2.3 Truyện ngắn giả lịch sử và khát vọng nhân bản về cuộc sống con người của Võ Thị Hảo 64

Trang 5

2.3.1.Truyện ngắn giả lịch sử của Võ Thị Hảo 64

2.3.2 Khát vọng nhân bản về cuộc sống con người trong truyện ngắn giả lịch sử của Võ Thị Hảo 66

Chương 3: NHỮNG ĐẶC SẮC NGHỆ THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ HẢO 70

3.1 Nghệ thuật sử dụng yếu tố kỳ ảo 70

3.1.1 Cốt truyện kỳ ảo 70

3.1.2 Nhân vật mang yếu tố kỳ ảo 73

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 78

3.2.1 Nghệ thuật miêu tả ngoại hình 78

3.2.2 Nghệ thuật miêu tả tâm lý 84

3.3 Nghệ thuật sử dụng ngôn từ 89

3.3.1 Nghệ thuật sử dụng động từ mạnh tạo ấn tượng đặc biệt 89

3.3.2 Nghệ thuật sử dụng tính từ với những gam màu nóng, lạnh 95

3.3.3 Nghệ thuật sử dụng các phó từ mang tính chất đột biến 98

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Sau năm 1975, đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), đời sống xã hội Việt Nam có nhiều thay đổi, đặc biệt là trong lĩnh vực văn học Sự chuyển đổi từ thời chiến sang thời bình, với những quy luật của cuộc sống thế sự đời tư đòi hỏi phải có sự nhìn nhận lại văn học và vai trò của văn học Bên cạnh đó, do nhu cầu của thời đại, văn học phải có sự thay đổi cho phù hợp với nhiệm vụ mới, thị hiếu mới của công chúng Từ đó các phương diện của đời sống văn học như tác giả, tác phẩm, các hoạt động sáng tác, lí luận, phê bình… đều có sự chuyển biến tích cực

Từ sự chuyển biến tích cực ấy, văn học Việt Nam thời kỳ này đã gặt hái được những thành công trên nhiều lĩnh vực, thể loại, đặc biệt là truyện ngắn Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình đã nhận ra xu hướng tìm tòi sáng tạo, những lối viết hoàn toàn mới mẻ của những nhà văn trẻ đầy tâm huyết với những tên tuổi không thể không kể đến như Tạ Duy Anh, Nguyễn Việt Hà,

Hồ Anh Thái, Nguyễn Xuân Khánh, Nguyễn Bình Phương, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh Hoà chung vào dòng chảy đó, nhà văn

Võ Thị Hảo xuất hiện với tư cách là một nhà văn nữ có cá tính độc đáo với cách viết mới lạ

1.2 Võ Thị Hảo một cái tên rất đỗi bình thường, nhưng chị đã từng gây những ấn tượng mạnh trên văn đàn những năm 90 của thập kỷ trước với

những truyện ngắn Biển cứu rỗi, Vườn yêu, Chuông vọng cuối chiều và mấy

năm trở lại đây, chị lại làm cho độc giả sửng sốt và kinh ngạc với các tập

truyện ngắn Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Goá phụ đen, hồn

trinh nữ …trong đó Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm đã đạt được

giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội

Trang 7

Với những tập truyện ngắn đặc sắc của mình, nhà văn Võ Thị Hảo đã góp phần cách tân nền văn xuôi đương đại Việt Nam, thổi vào đó hơi thở của cuộc sống và con người với không ít những bộn bề phức tạp Để làm được điều này, nhà văn phải có quan niệm mới mẻ về hiện thực cuộc sống con người, cũng như phải táo bạo trong cách viết, cách xử lý vấn đề Đây là những yếu tố quyết định làm nên những đặc sắc về nội dung và nghệ thuật trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo

1.3 Nghiên cứu truyện ngắn của Võ Thị Hảo lâu nay đã có không ít những công trình, nhưng đi sâu tìm hiểu truyện ngắn của chị để chỉ ra những đặc điểm nhằm nhận diện một phong cách mới mẻ đa dạng thì vẫn còn là một khoảng trống Chính vì vậy, chúng tôi lựa chọn đề tài “Đặc điểm truyện ngắn của nhà văn Võ Thị Hảo” Hy vọng đề tài sẽ góp phần nhận diện một gương mặt văn xuôi tiêu biểu và có thể làm tư liệu cho những ai nghiên cứu, yêu thích văn chương của chị

2 Lịch sử vấn đề

Võ Thị Hảo đã từng làm thơ từ rất sớm và chị từng nghĩ mình sẽ trở thành nhà thơ, tuy nhiên chị lại xuất hiện đều đặn trên văn đàn thập kỉ 90 của thế kỷ XX ở lĩnh vực văn xuôi Với 10 tập truyện ngắn, hai tiểu thuyết và ba kịch bản phim, các sáng tác của Võ Thị Hảo đã và đang là mối quan tâm của nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu phê bình và độc giả Sự xuất hiện một gương mặt nữ độc đáo trên văn đàn còn có rất nhiều bài phỏng vấn trực tiếp nhà văn Với thời gian có hạn, trong khuôn khổ của một luận văn, chúng tôi chỉ đi vào một số khía cạnh có liên quan trực tiếp đến đề tài

2.1 Về nội dung

Nguyễn Lương trong bài viết Gương mặt Võ Thị Hảo đã nêu những ấn

tượng tổng quát về truyện ngắn của Võ Thị Hảo Theo tác giả, truyện của chị

“Mỏng manh đến điệu đà, nhạy cảm đến mức khắt khe, đó là cảm giác ban

Trang 8

đầu về nữ văn sĩ xứ nghệ này khi mới đọc, mới tiếp xúc với chị Còn ẩn sau những câu chữ trau chuốt là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái Đọc truyện Võ Thị Hảo, người ta thường buồn Một nỗi buồn có lẫn sự ngọt ngào và cay đắng” [12]

Với sự phát hiện tinh tế, Phùng Hữu Hải trong bài viết Yếu tồ kì ảo trong

truyện ngắn Việt Nam hiện đại từ sau 1975 đã nhìn nhận những sáng tác của

Võ Thị Hảo ở khía cạnh cảm hứng triết luận về người phụ nữ: “Võ Thị Hảo

qua chùm truyện Tim vỡ, Nàng tiên xanh xao, Hành trang của người đàn bà

Âu lạc tỏ ra đặc biệt hứng thú với đề tài này Dựa vào cảnh ngộ của những

người phụ nữ mang nỗi đau của cả thế giới đàn bà, Võ Thị Hảo tìm ra những quy luật nghiệt ngã của đời người phụ nữ”…

Bùi Thanh Truyền trong luận án tiến sỹ của mình đã chỉ ra những thông

điệp mà Võ Thị Hảo muốn gửi gắm qua các tác phẩm: “Người chăn bò thần thánh với những chi tiết về giống bò tập thể kì lạ: Chúng không cần ăn cỏ, không cần bài tiết, chỉ cần “nhúm môi, phồng má thổi phù một cái, thế là cả đàn bò cứ ngoan ngoãn lừ lừ ra như một đàn bóng khổng lồ” đây chính là cái nhìn phê phán một thời kì hợp tác không ít những non nớt, tiêu cực…người viết phần nào lộ ra cái thế giới bí ẩn, phức tạp của tâm hồn con người hôm nay”[ 55]

Với trái tim nhạy cảm của người cùng giới, trong bài viết Võ Thị Hảo

giữa những trang viết trang đời tác giả Lương Thị Bích Ngọc nhận xét khá

đầy đủ và toàn diện về truyện ngắn của Võ Thi Hảo: “Truyện ngắn của Võ Thị Hảo phản ánh hiện thực một cách nghiệt ngã nhưng người đọc lại không nhìn thấy sự cay nghiệt của một người viết Lan toả trên những trang viết, một tấm lòng nhân ái của một người đàn bà cầm bút hết lòng yêu cuộc sống và con người” Lương Thị Bích Ngọc còn nhận xét: Trong truyện Võ Thị Hảo, cái tôi của tác giả dường chỉ thấp thoáng đâu đó, để rồi người đọc thấy được cái tôi hiện hữu [14]

Trang 9

Nhìn chung, về phương diện nội dung, các nhà nghiên cứu đều nhận thấy những đặc sắc trong truyện ngắn Võ Thị Hảo đó là “những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái”; là “cảnh ngộ của những người phụ nữ mang nỗi đau của cả thế giới đàn bà”; là “hiện thực nghiệt ngã” nhưng “lan toả trên những trang viết là một tấm lòng nhân

ái của một người đàn bà cầm bút hết lòng yêu cuộc sống và con người” Tuy nhiên đó mới chỉ là những nhận định khái quát nhưng vô cùng qúy báu để chúng tôi thực hiện luận văn của mình

2.2 Về nghệ thuật

Trên báo Thể thao văn hoá, trong bài viết Võ Thị Hảo giữa những trang

viết trang đời, tác giả Lương Thị Bích Ngọc rất tinh tế nhận xét: “Đọc truyện

chị, thấy cuốn hút cứ tưởng mình bị mê hoặc bởi lối kể truyện cuốn hút, có duyên và lối văn vừa cũ, vừa mới, vừa quen, vừa lạ”, “một hiện thực nghiệt ngã được chở đi trên lối văn phong ảo - thực và câu chữ ngột ngào, dịu nhẹ”

Tác giả Quang Hải trong Nhà văn Võ Thị Hảo và những cố gắng giải

thiêng huyền sử lại dẫn dắt người đọc vào thế giới của tập truyện Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm Theo tác giả, Đêm bướm ma là câu

chuyện “mang không khí huyền hoặc pha mùi cổ sử thi đọng lại rất lâu Có

hơi hướng của Liêu trai chí dị, của Truyền kì mạn lục và dĩ nhiên nó được

cảm nhận bởi con người hiện đại…”

Cùng với nó, người viết cũng chỉ ra sự khác biệt về nghệ thuật qua giọng

điệu của hai truyện ngắn Dệt cỏ và Người chăn bò thần thánh Ở Dệt cỏ là giọng văn thương cảm, xót xa Còn Người chăn bò thần thánh là giọng giễu

nhại, phê phán

Tác giả Đoàn Minh Tuấn đi sâu nhận xét từng tập truyện của nhà văn, trong

bài giới thiệu tập truyện Biển cứu rỗi của Võ Thị Hảo có nhận xét về đặc trưng

thể loại và nội dung truyện ngắn của chị: “Võ Thị Hảo đã tận dụng được đặc

Trang 10

trưng lớn nhất, tiêu biểu nhất của thể loại truyện nhỏ này Mỗi truyện của chị là một tia nắng chiếu vào tầm rộng và chiều sâu biển cả cuộc đời”

Và theo Đoàn Minh Tuấn, ở tập truyện Biển cứu rỗi, chị còn tập trung

vào hai khía cạnh “Cái nhìn thứ nhất vào mặt trái của vầng trăng chiến tranh Cái nhìn thứ hai vào những con người nhỏ bé (số đông nhân loại) tồn tại trong

im lặng” Qua nhận định, tác giả đã đánh giá chiều rộng, cũng như chiều sâu phạm vi phản ánh truyện ngắn Võ Thị Hảo Tác giả còn nhận xét “Truyện ngắn của Võ Thị Hảo còn bộc lộ cái nhìn dung dị, bẩm sinh của những cây bút nữ nhưng ở chị còn sâu sắc hơn bởi khi chấm dứt câu chuyện, chị đã gióng lên trong lòng người đọc âm vang của sự lo lắng, mơ hồ về cuộc đời biển cả”

Đi sâu vào phương diện nghệ thuật, Đoàn Minh Tuấn nhận xét lối viết của nhà văn nữ tài hoa này: “Lối viết trữ tình để đạt hiệu quả nhận thức- một trong những đặc điểm của thể loại truyện ngắn hiện đại”, còn về bút pháp trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo có những nét riêng “Cốt truyện vững chắc với những xung đột được đẩy tới cao trào”

Bài viết Võ Thị Hảo, vầng trăng mồ côi trên trang web http:// chim

viet.free\ tacpham1\stt1\ vothihao.html đã đặt sáng tác của Võ Thị Hảo trong

sự so sánh với các nhà văn khác: “Người đọc có thể tìm thấy trong văn phong của Võ Thị Hảo cái tàn nhẫn, chất huyền thoại phảng phất cơn mưa Nguyễn Huy Thiệp, bóng mây Phạm Thu Hoài” Người viết còn cho rằng “Cay độc và

ẩn dụ trở thành phong trào, thành phong cách thời đại, dấu ấn của thế hệ này” Trên đây là những bài viết, những ý kiến, nhận xét, đánh giá tiêu biểu về đặc điểm truyện ngắn của Võ Thị Hảo trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật Như đã trình bày, đây mới là những nhận xét đánh giá mang tính khái quát ở những khía cạnh khác nhau của các nhà nghiên cứu phê bình Cho đến nay, chưa có đề tài nào nghiên cứu chuyên biệt đặc điểm truyện ngắn của Võ

Trang 11

Thị Hảo Chọn đề tài này, chúng tôi sẽ tham khảo những ý kiến, nhận định của các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của nhà văn, từ đó triển khai vấn đề để làm nổi bật đặc điểm truyện ngắn Võ Thị Hảo

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn đi vào nghiên cứu, khảo sát, phân tích lý giải đặc điểm truyện ngắn của Võ Thị Hảo trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trên cơ sở

so sánh với một số nhà văn đương đại để khẳng định những nét riêng trong sáng tác của nhà văn Từ đó khẳng định những đóng góp quý báu của chị cho nền văn xuôi đương đại Việt Nam

4 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm của truyện ngắn của Võ Thị Hảo trên hai phương diện nội dung và nghệ thuật

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu vấn đề trong 10 tập truyện ngắn của Võ Thị Hảo:

Biển cứu rỗi - tập truyện ngắn, Nxb Hà Nội, 1991

Chuông vọng cuối chiều - tập truyện ngắn, Nxb Lao động, 1993

101 cái dại của đàn ông (phóng tác),Nxb Văn hoá dân tộc, 1994

Truyện ngắn chọn lọcVõ Thị Hảo, Nxb Hội nhà văn, 1995

Trang 12

Do thời gian có hạn, chúng tôi tập trung nhiều hơn vào một số truyện ngắn đặc sắc để khái quát, phân tích

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đặt ra, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu cơ bản sau:

5.1 Phương pháp thống kê, hệ thống

5.2 Phương pháp phân tích tác phẩm

5.3 Phương pháp nghiên cứu tác giả văn học

5.4 Phương pháp khái quát tổng hợp

5.5 Phương pháp so sánh

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn được triển khai trên 3 chương:

Chương 1: Truyện ngắn Việt Nam đương đại và hành trình sáng tạo nghệ

thuật của nhà văn Võ Thị Hảo

Chương 2: Hiện thực cuộc sống và con người trong truyện ngắn Võ Thị Hảo Chương 3: Những đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo

Trang 13

NỘI DUNG

Chương 1 TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO NGHỆ THUẬT CỦA NHÀ VĂN VÕ THỊ HẢO

1.1 Truyện ngắn Việt Nam đương đại

1.1.1 Sự chuyển biến của hoàn cảnh lịch sử - xã hội

Mùa xuân 1975- dấu son lịch sử của dân tộc Việt Nam, đất nước hoàn toàn độc lập, Bắc- Nam sum họp một nhà, cả dân tộc bước vào thời kỳ xây dựng cuộc sống mới Chiến tranh qua đi, cả dân tộc hào hứng, tự hào với tư cách là người làm chủ đất nước, hăm hở bước vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Tuy nhiên sau niềm vui chiến thắng, dân tộc Việt Nam phải đối mặt với hàng loạt những khó khăn chồng chất Đó là sự khủng hoảng sâu sắc

về kinh tế, xã hội Cơ chế quản lý cũ bộc lộ nhiều bất cập, không phù hợp với điều kiện mới, đòi hỏi cần phải có sự thay đổi cho phù hợp

Nhưng sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của một dân tộc đã có lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước lại một lần nữa được thể hiện để đưa đất nước khỏi tình thế hiểm nghèo Đường lối đổi mới đã hình thành từ trong thực tiễn, từ những biện pháp cụ thể để “tự cởi trói” của nhiều cơ quan công sở và một số địa phương, đến đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986) đã trở thành cương lĩnh để đưa đất nước ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế và bước vào thời kỳ phát triển mới Từ đây sự suy thoái kinh tế đã được chặn đứng, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngày một cao và dần dần nền kinh tế thị trường được hình thành Đổi mới cũng có nghĩa là mở cửa, tăng cường giao lưu và hội nhập quốc tế trên mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hoá Từ

đó, trên đất nước ta đã diễn ra nhiều sự thay đổi theo hướng tích cực, làm biến đổi sâu sắc, toàn diện hình ảnh của đất nước Tuy còn nhiều nguy cơ tiềm ẩn,

Trang 14

phải tiếp tục đối mặt với nhiều thách thức, khó khăn nhưng con đường đi lên xây dựng cuộc sống mới tốt đẹp đã rõ ràng và không thể đảo ngược

Đường lối đổi mới của Đảng được thực hiện từ năm 1986 Cùng với

sự đổi mới về cơ cấu quản lý, trong đại hội VI Đảng đã có sự nhìn nhận và đổi mới về văn hoá, văn nghệ, cần phải có cái nhìn đúng đắn đối với văn hoá, văn nghệ - “cởi trói tư tưởng” cho các văn nghệ sỹ Mở đầu là lời kêu gọi của đồng chí Nguyễn Văn Linh với lời kêu gọi các nhà văn ủng hộ cuộc cải cách kinh tế của nhà nước bằng cách viết về sự thật Tháng 12 – 1986, Bộ chính trị thông qua nghị quyết của ban văn hoá, cho phép các nhà văn được dân chủ trong sáng tạo Từ đây văn hoá văn nghệ đã có sự chuyển mình rõ rệt, từ nội dung tư tưởng cho đến hình thức nghệ thuật Các nhà văn có thể thoả sức sáng tạo theo năng lực và sở trường ý tưởng của mình trên cơ sở của định hướng tư tưởng xã hội chủ nghĩa

Như vậy từ 1986 tới nay, bối cảnh lịch sử của Việt Nam có nhiều sự thay đổi Mặc dù còn có nhiều những hạn chế, tiêu cực, nhưng về cơ bản đất nước đã gặt hái được nhiều thành công, không chỉ phát triển kinh tế đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mà đời sống nhân dân ngày một nâng cao ngang tầm với các nước trong khu vực và thế giới Văn hoá, văn nghệ cũng có

sự nhìn nhận, phát triển đúng đắn hoà nhập với khu vực và thế giới

Nói tóm lại, bối cảnh lịch sử Việt Nam sau 1975 cho tới nay có nhiều diễn biến phức tạp Đất nước ta phải đối mặt với nhiều khó khăn, thử thách nhưng cũng gặt hái được không ít thành công Tất cả những yếu tố đó đã ảnh hưởng lớn tới đời sống văn học, đúng như nhận định của nhà văn Nguyễn

Khải: Chiến tranh ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó Hoà

bình yên tĩnh, thanh bình mà lại chứa chứa chấp những sóng ngầm, những gió xoáy bên trong Nhiều người không chết trong nhà tù, trên trận địa trong

Trang 15

chiến tranh mà lại chết trong ao tù trưởng giả khi cả nước đã giành được tự

do và độc lập.[59]

1.1.2 Sự chuyển biến của văn học

Văn học Việt Nam trong 30 năm, từ 1945 đến 1975 đã làm trong sứ mệnh lịch sử cao cả của một nền văn học phục vụ cách mạng, phục vụ nhiệm

vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Khi đất nước bước sang thời bình, nhu cầu đổi

mới văn học đã dần trở thành đòi hỏi chung của giới sáng tác lẫn công chúng Văn học đã hình thành từng bước một tư duy nghệ thuật mới, trên cơ

sở đổi mới toàn diện các quan niệm về văn chương, về hiện thực, về con người Nhiều vấn đề cốt lõi cơ bản của văn học trước đây vốn được xem là những chân lý hiển nhiên, thì giờ đây cũng được xem xét lại, và trở thành những vấn đề được tranh cãi, bàn thảo khá sôi nổi Bên cạnh đó đường lối mở cửa, hội nhập quốc tế đã tạo cơ hội mở rộng giao lưu văn hoá, văn học giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là phương Tây Nhờ thế mà nhiều trào lưu, nhiều khuynh hướng hiện đại của thế giới đã ảnh hưởng sâu sắc tại Việt Nam, tác động đến sự tìm tòi, sáng tạo của nhà văn và làm biến đổi cả thị hiếu tiếp cận của công chúng

Cuộc đổi mới văn học vừa là hệ quả, lại vừa là một động lực thúc đẩy công cuộc đổi mới toàn diện của đất nước Đó là những tiền đề quan trọng để văn học thấy cần phải đổi mới chính mình

1.1.3 Diện mạo của truyện ngắn

1.1.3.1 Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về hiện thực

Hiện thực là tất cả những gì đang diễn ra xung quanh con người Nó tồn tại và phát triển theo quy luật riêng của nó Mỗi con người có sự nhìn nhận, đánh giá riêng đối với hiện thực, tuỳ thuộc vào sự nhận biết cũng như khả năng quan sát, mục đích tiếp nhận mà có những đánh giá khác nhau về cuộc sống hiện thực Với những người sáng tác, hiện thực được nhận thức,

Trang 16

đánh giá theo quan niệm thẩm mĩ riêng Theo Trần Đình Sử, quan niệm trong

nghệ thuật là một khái niệm về chủ thể, khái niệm về hệ quy chiếu, thể hiện

tầm lí giải, tầm hiểu biết, tầm đánh giá, tầm trí tuệ, tầm nhìn, tầm cảm, nói tổng quát là tầm hoạt động của chủ thể Quan niệm cung cấp một mặt bằng

để trên cơ sở đó diễn ra sự lựa chọn, khái quát , nhào nặn, tạo ra hình tượng nghệ thuật, thậm chí có thể biến đổi hình dạng sự vật hoặc miêu tả không chính xác về đời sống.[41 ]

Như vậy, quan niệm về hiện thực thuộc về chủ thể sáng tạo nên mỗi nhà văn có quan niệm riêng về hiện thực Đó là sự nhận thức, đánh giá về hiện thực đời sống theo một quan điểm thẩm mĩ nhất định Như thế quan niệm nghệ thuật của nhà văn về hiện thực không chỉ là nhận thức trừu tượng,

lí thuyết, chung chung Ngược lại, đó là cách nhìn, cách cảm nhận về hiện thực được nâng lên tầm khái quát nhưng vẫn mang hơi thở của cuộc sống và gắn bó máu thịt với hiện thực Quan niệm về hiện thực thể hiện sự khám phá,

lí giải, trình độ chiếm lĩnh hiện thực của nhà văn Mỗi nhà văn khi khám phá hiện thực thường có một vùng đối tượng thẩm mĩ riêng mà ở đó ghi đậm dấu

hi vọng, ước mơ

Sau 1975, khi hiện thực cuộc sống thay đổi, thì tư duy nghệ thuật cũng thay đổi cho phù hợp với hiện thực và dường như biên độ phản ánh ngày càng được mở rộng Đó không chỉ là hiện thực về chiến tranh và công cuộc đấu

Trang 17

tranh giành lại độc lập của dân tộc, mà còn là cuộc sống của thời bình với

muôn màu muôn vẻ của nó Cuộc sống được phản ánh vào trong tác phẩm

không chỉ là cái phần anh hùng cao cả mà còn thấm thía nỗi buồn đau của con người phần hậu chiến, là cuộc sống với tất cả cái sôi động quyết liệt của cuộc đấu tranh cũng như cái đời thường vừa nhân hậu ấm áp , vừa nhếch nhác lấm lem.[57 ]

Sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực là một điều tất yếu Nó phù hợp với quy luật và giúp nhà văn phản ánh cuộc sống một cách khái quát, toàn vẹn, chân thực Văn xuôi sau 1975 đã vượt qua sự lệ thuộc vào đề tài, vào một sự định hướng trước để mở ra khả năng phong phú vô tận trong việc khám phá và thể hiện đời sống con người Nhà văn có thể thoả sức sáng tạo,

đi vào những góc khuất của cuộc sống con người, nơi mà trước đây họ ít có điều kiện để khai phá Đó là những ham muốn, những khát vọng, dục vọng cao cả hay tầm thường của con người, trong chiều sâu của tâm tưởng, những

mặt trái của cuộc sống

Các sáng tác văn học trước 1975, phần lớn là những sáng tác gắn liền với cuộc chiến tranh anh dũng của dân tộc Điểm nổi bật của các sáng tác thời

kì này là tính thời sự, và mang sức động viên cổ vũ lớn với đối với dân tộc Tuy nhiên sau 1975, do hiện thực cuộc sống thay đổi, văn học phải thay đổi

cho phù hợp với hiện thực, yêu cầu tái hiện lịch sử phải gắn liền với đòi hỏi

đi sâu vào số phận và diễn biến của con người; viết về cuộc chiến tranh hôm qua phải đặt trong tương quan với những yêu cầu của cuộc sống hôm nay.[58]

Do đặc trưng thể loại và yêu cầu của hiện thực, truyện ngắn sau 1975 vẫn tiếp tục sáng tác về đề tài chiến tranh Viết về đề tài chiến tranh, nhưng thời kì này cách khai thác không hoàn toàn giống trước Mặc dù các sự kiện

về chiến tranh vẫn là trục chính để các tác giả triển khai vấn đề, nhưng sự

Trang 18

kiện lúc này chỉ là nền để nhân vật bộc lộ tính cách của mình và nhà văn bộc

lộ một tư duy nghệ thuật mới Hoàn cảnh ngặt nghèo, bi thương của chiến

tranh vẫn được khắc hoạ đậm nét trong nhiều tác phẩm như Hai người trở lại

trung đoàn của Thái Bá Lợi, Chuyến xe đêm của Ma Văn Kháng… Trong đó

hình ảnh về người lính anh hùng vẫn được ca ngợi, nhưng chiến tranh là một cuộc kiểm nghiệm vô cùng khắc nghiệt với con người, sàng lọc mọi giá trị con người Trong đó có những anh hùng hy sinh về nghĩa lớn, cũng có những

kẻ hèn nhát sợ chết, phản bội hay rũ bỏ tất cả để tiến lên những bậc thang danh vọng Nhân vật trong thời kì này đã bắt đầu được nhìn nhận một cách khái quát, toàn diện

Nhân vật còn được đặt vào hoàn cảnh của chiến tranh, để từ đó nhà văn thể hiện số phận không đơn giản của con người khi viết về chiến tranh

Âm hưởng chung của các tác phẩm này vẫn thiên về ca ngợi những con người anh hùng, nhưng đằng sau đó còn là hình ảnh của cả dân tộc, anh dũng kiên

cường Truyện ngắn Chuyến xe đêm của Ma Văn Kháng, kể về hai vợ chồng

người phóng viên phương Tây được một người lính lái xe người Việt Nam đưa qua biên giới Campuchia Hành trình không dài nhưng họ phải đối diện với nhiều nguy hiểm của tàn quân Pônpốt Chiếc xe đi qua nhiều chạm gác nhưng tới chạm gác cuối cùng thì bị tấn công Người lính lái xe trúng đạn, trước lúc kẻ thù bắn quả B41 để huỷ diệt cả xe thì người lính vẫn giữ chặt tay lái cho xe vượt qua cõi chết để cứu sống vợ chồng người phóng viên Hành động của anh lính khiến họ hiểu rằng một dân tộc vị tha, sống chết vì người khác, điều đó đã trở thành một đạo lí, một nguồn năng lượng vô tận , một nguồn sức mạnh diệu kì để vượt qua mọi gian khổ Điều mà nhà văn hướng tới không phải là sự mô tả chiến tranh thông thường mà là sự cắt nghĩa cội nguồn đã làm nên chiến thắng

Trang 19

Bên cạnh đó, chiến tranh còn được nhìn ở nhiều góc cạnh khác nhau Nhiều truyện ngắn thời kì này lấy chiến tranh làm tấm gương để con người

soi ngắm chính mình và những người xung quanh Trong truyện ngắn Cơn

giông của Nguyễn Minh Châu, nhà văn đã lí giải vì sao nhân vật Quang lại

chiêu hồi kẻ thù Đó là một con người luôn luôn thèm khát dục vọng cá nhân, khi cách mạng gặp khó khăn, y thành kẻ chiêu hồi Nhân vật Quang đã được nhà văn miêu tả một cách nhất quán trong việc làm và hành động của y suốt cuộc đời Chiến tranh lúc này là lúc y bộc lộ rõ nhất bản chất của mình

Trong truyện ngắn Những năm tháng đi qua của Nguyễn Thị Như

Trang, kể về một nữ phóng viên đến với những người lính ở mặt trận Tây Nam, chính ở đây chị đã nhận ra ý nghĩa đích thực của cuộc sống Là một phóng viên, chị luôn khao khát tìm kiếm sự mới mẻ, hoà chung vào những số phận để tạo lên những trang viết riêng cho mình Đến với chiến trường Tây Nam, chứng kiến những người lính hi sinh mà trong lòng chị luôn day dứt với câu hỏi sống như thế tôi sẽ có ích gì cho cuộc đời này? Như vậy, chiến tranh không chỉ là thước đo giá trị con người, đồng thời cũng giúp con người nhận thức về cuộc sống và sống có ý nghĩa hơn Chiến tranh được nhìn từ tiêu điểm con người với số phận cá nhân, ở đó con người vừa chịu sự chi phối của hoàn cảnh, vừa tác động lên hoàn cảnh Hiện thực của chiến tranh có nhiều thay đổi

so với thời kì trước Nhà văn không chỉ giúp người đọc hiểu về chiến tranh

mà còn nhận thức sâu sắc cái giá của chiến thắng

Song song với hiện thực chiến tranh là hiện thực về cuộc sống đời thường sau cuộc chiến Sau 1975, hiện thực về thế sự đời tư ngày càng chiếm một vị trí quan trọng trong văn xuôi, nhất là thể loại truyện ngắn Mở đầu là

nhà văn Nguyễn Minh Châu với hai tập truyện ngắn Người đàn bà trên

chuyến tàu tốc hành và Bến quê nhà văn đã khám phá những hình ảnh bình

thường của cuộc sống đời thường vô cùng phức tạp nhưng cũng không kém

Trang 20

phần đẹp đẽ và thơ mộng Nguyễn Minh Châu đã tìm ra những khía cạnh của cuộc sống từ những gì nhỏ nhặt, bình thường của nhân tình thế thái, của những số phận nhỏ bé nhưng lại là số phận chung của nhiều con người Đúng

là ông có khả năng nhìn đâu cũng ra truyện ngắn (Lê Lựu) Mới chỉ sống ở

thời kì đầu của những năm đổi mới, nhưng Nguyễn Minh Châu đã nhìn thấy những vấn đề khá phức tạp của thời buổi kinh tế thị trường, với sự phân hoá

của các thế hệ trong mỗi gia đình (Giao thừa), là ý chí khát vọng làm giàu của những người nông dân (Khách ở quê ra), là lối sống phương Tây đã du nhập vào các gia đình truyền thống (Sắm vai)…Đúng là Nguyễn Minh Châu như

một người đi biển lành nghề đã nghe thấy trong hơi gió và tiếng sóng những điểm báo về cơn lốc mới mà ảnh hưởng của nó đến các mặt sẽ trở thành phổ biến trong đời sống xã hội vào những năm chín mươi [57]

Cũng tiếp cận ở khía cạnh thế sự, đời tư, nhà văn Ma Văn Kháng đã nhìn thấy những khía cạnh của cuộc sống đời thường vào những năm 80, là một hiện thực vô cùng phức tạp, không thể biết trước, không thể biết hết, con người vẫn đang là những điều bí ẩn cần tìm tòi khám phá Hơn ai hết Ma văn Kháng đã tìm thấy từ trong hiện thực ấy vẻ đẹp nhân sinh có sức lan toả, có khả năng thuyết phục lòng người Đó là vẻ đẹp của chú bé Kiểm, trong truyện

ngắn Kiểm- chú bé- con người Dẫu bị thiếu thốn, vùi dập, đầy đoạ nhưng chú

bé vẫn tràn đầy lòng yêu thương nhân hậu và vị tha Đó còn là giọt nước mắt muộn màng, giọt nước mắt của sự chiến thắng cái trì trệ, thờ ơ, vô trách

nhiệm của con người trước cuộc sống của nhân vật ông Luyến (Mất điện) Qua đó nhà văn đã gửi một thông điệp quý giá tới con người: Yêu thương

những kẻ ngoài huyết thống, yêu thương con người với tính cách đồng loại, một tình yêu ấy mới thật hiếm hoi và rất cần vun đắp[56]

Sau 1975, hiện thực thay đổi với những mặt tốt và mặt trái của cuộc sống thời bình, nhiều nhà văn như Lê Minh Khuê, Dương Thu Hương,

Trang 21

Nguyễn Thị Minh Huệ đã khai thác sâu sắc khía cạnh này Trong tập truyện

ngắn Một chiều xa thành phố Lê Minh Khuê đã phản ánh những cơn lũ của

đời sống tiện nghi, của tâm lí tiêu dùng, của thói lãnh cảm với quá khứ, với đồng loại của những con người thời đại Cũng theo hướng khai thác này

Dương Thu Hương trong Ban mai yên ả, đã thể hiện một cách rõ nét hơn Nhà

văn đã nhìn thẳng vào những mặt trái của cuộc sống, phần lẩn khuất của cuộc sống con người mà đưa lên trang sách

1.1.3.2 Chuyển đổi trong quan niệm nghệ thuật về con người

Quan niệm về con người trong văn học là quan niệm nghệ thuật được nhà văn nhận thức và phản ánh trên cơ sở của hiện thực Có nhiều cách quan niệm nghệ thuật về con người được nhìn nhận và xem xét ở nhiều góc cạnh

khác nhau Theo thi pháp học Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lí giải,

cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hoá thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp, hình thức để thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mỹ cho các hiện tượng nhân vật trong đó [40]

Như vậy, tìm hiểu nghệ thuật về con người tức là tìm hiểu cách nhìn,

sự khám phá, lí giải, trình độ chiếm lĩnh của nhà văn về con người Quan niệm nghệ thuật về con người là cốt lõi tinh thần, là phương tiện hàng đầu để xác định những đặc trưng cơ bản, xác định trình độ, tài năng, sự đóng góp của nhà văn cho văn học và đời sống Quan niệm về con người liên quan đến toàn

bộ quá trình sáng tác của nhà văn, đến tất cả các yếu tố nội dung và hình thức của tác phẩm Nó đánh dấu sự thay đổi đáng kể của hệ tư duy trong sáng tác của nhà văn Tuy nhiên không thể quy nó vào tinh thần đạo đức, chính trị, nhận thức cảm tính hay tư duy lí luận của họ Tiến trình lịch sử văn học cũng cho thấy, sự đổi mới văn học thường gắn liền với sự đổi mới quan niệm nghệ

thuật về con người Theo Trần Đình Sử chừng nào chưa có sự đổi mới trong

Trang 22

quan niệm nghệ thuật về con người, thì sự tái các hiện đời sống khác nhau chỉ

có ý nghĩa mở rộng về lượng trên cùng một chiều sâu [41]

Văn học thời kỳ trước 1975, chủ yếu nhấn mạnh tính tư tưởng của con người và gia tăng các yếu tố xã hội Với mỗi tác phẩm đòi hỏi phải là hiện thực của đời sống và phải mang nội dung chính trị, xã hội, lịch sử của thời đại Con người trong văn học giai đoạn này được nhận thức đánh giá, khám phá chủ yếu là góc độ chính trị, trong quan hệ giữa ta và địch Niềm vui, nỗi buồn của con người hoà chung trong niềm vui, nỗi lo của dân tộc, giai cấp Các nhà văn thường tập trung ca ngợi chiến công của cá nhân và tập thể trong chiến đấu và sản xuất, qua đó là khẳng định tầm vóc lịch sử của con người, của những chiến công Hình tượng trung tâm trong văn học giai đoạn này là những người chiến sĩ- những người xả thân vì lí tưởng, gắn bó hết mình với

sự nghiệp cách mạng, với quê hương đất nước

Sau 1975 khi chiến tranh kết thúc, bao khó khăn, thử thách mới đặt ra trong đời sống hoà bình Sự phức tạp cuộc sống thời hậu chiến đang diễn ra nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau, thực tế đòi hỏi phải có nhiều tiếng nói thể hiện nhu cầu phong phú đa dạng, phức tạp trong đời sống tinh của con người Từ tâm lí tình cảm, đời sống riêng tư của từng cá nhân đến những khát vọng đời thường của con người trong thời bình Tất cả những biểu hiện của con người trong đời sống từ đời sống kinh tế, chính trị , đạo đức xã hội phong tục tập quán đến tình yêu hạnh phúc, đời sống tâm linh đều được các nhà văn quan tâm thể hiện Con người được khám phá ở nhiều chiều, nhiều hướng khác nhau, từ các mối quan hệ cho đến thế giới nội tâm, trong đó chiều hướng

đi vào khám phá thế giới nội tâm của con người được thể hiện nội bật Các tác phẩm truyện ngắn sau 1975 đã phát huy được khả năng tiếp cận và phản ánh hiện thực con người trong giai đoạn mới một cách nhanh nhậy, sắc bén hơn các thể loại khác

Trang 23

Từ một nền văn học có tính chất phản ánh con ngưòi trong quan hệ cộng đồng, con người thường mang những phẩm chất cao đẹp, có ý chí và sức mạnh phi thường, kết tinh của những vẻ đẹp tinh thần, lí tưởng cao cả của dân tộc, văn học sau 1975 chuyển sang phản ánh con người cá nhân Con người được miêu tả trong văn học không đơn thuần là con người đại diện cho cái chung mà là con người cá nhân trong mối quan hệ đa chiều phức tạp Con người được trở về với ý nghĩa nhân bản vốn có Từ nhiều góc nhìn khác nhau, con người được nhà văn đi sâu vào nội tâm khám phá chiều sâu của tâm tưởng với những khát vọng cao cả cũng như tầm thường của con người, được thể hiện sâu sắc và sinh động

Trong truyện ngắn Việt Nam từ 1975 quan niệm về con người được nhìn nhận một cách tổng thể và ngày càng có cái nhìn sâu sắc và mang tầm khái quát cao Số phận cá nhân với những bi kịch được thể hiện một cách sâu đậm, mạnh mẽ Con người cá nhân trong văn học giai đoạn này được giải quyết thoả đáng mối quan hệ với cộng đồng Con người cá nhân không phải là

sự cô lập cá nhân với cộng đồng xã hội mà đằng sau mỗi số phận cá nhân vẫn

là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của cuộc sống hôm nay

Đi qua chiến tranh, đất nước Việt Nam, con người Việt Nam không chỉ mang trên mình những vết thương về thể xác, mà lớn hơn là vết thương về tinh thần Sự mất mát này được nhiều nhà văn đề cập trong nhiều truyện ngắn,

từ nhiều góc nhìn mới mang ý nghĩa nhân bản đã được đề cập Truyện ngắn

Gió từ miền cát của tác giả Xuân Thiều đã đề cập tới mối tình tay ba giữa

Dương, Nụ và Thắm Nhân vật Dương là một cán bộ, một đảng viên đã có vợ

là Nụ Trong quá trình hoạt động cách mạng, Dương đã yêu Thắm, một cô gái mới lớn năng nổ, dũng cảm Hai người đã có con với nhau, nhưng Thắm đã chịu kỉ luật để bảo vệ Dương và đứa con của hai người Sau khi Dương hy sinh, Thắm đã tìm gặp Nụ nói rõ sự thật mà bấy lâu nay đã giữ trong lòng, để

Trang 24

đứa con có thể trở về với gia đình thực sự của mình Tưởng mọi chuyện trở lên phức tạp, rắc rối nhưng với nhìn mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc, nhà văn

đã xử lí một cách thấu đáo Nụ đã giải toả được nỗi hoài nghi, vượt qua nỗi đau về tinh thần để tha thứ cho Thắm và nhận đứa trẻ là con Thay đổi cách nhìn giáo điều, khắt khe, tác giả đã đưa ra cách nhìn nhận xử lí mới, qua đó

đã thể hiện tính nhân bản vốn có trong truyền thống dân tộc

Khám phá con người, các nhà văn hướng vào quá trình tự nhận thức

của con người Theo Bakhtine : Trong con người bao giờ cũng có một cái gì

mà chỉ có bản thân người đó là có thể phát hiện bằng tự nhận thức tự do, bằng hành vi ngôn ngữ, là cái mà người ta không thể xác định theo bề ngoài

và sau lưng được [34] Như vậy chỉ có tự nhận thức, con người mới tự phát

hiện ra chính mình Con người tự nhận thức là con người được nhìn bên trong, con người trầm tư, nghiền ngẫm, nhận diện chính mình Con người tự nhận thức cũng là con người có năng lực tự ý thức về mình

Nguyễn Minh Châu là nhà văn có một số lượng lớn viết về quá trình tự nhận thức Nhân vật tự ý thức xuất hiện với tần số lớn, tập trung ở hai tập

truyện Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành và Bến quê Trong nhiều

truyện ngắn các nhân vật đã tự nhận thức lại chính mình Bắt đầu bằng truyện

ngắn Bức tranh, nhà văn đã khai thác cuộc đấu tranh nội tâm của nhân vật với

khát vọng tìm tòi và phát hiện ánh sáng nhân tính trong khả năng tự thức tỉnh của con người Một hoạ sỹ đã từ chối vẽ bức chân dung anh bộ đội để gửi cho

mẹ chứng tỏ mình vẫn còn sống Sau đó chính anh chiến sỹ này lại được giao nhiệm vụ mang tranh giúp hoạ sỹ và anh đã cứu ông ta khỏi lũ cuốn Hoạ sỹ

đã vẽ chân dung của anh nhưng không đem đến cho bà mẹ anh như đã hứa Bức tranh vẽ người chiến sỹ sau này được gửi đi dự triển lãm ở nước ngoài và giành được giải thưởng cao Tình cờ, người hoạ sỹ gặp lại anh chiến sỹ, bây giờ là thợ cắt tóc và biết được bà mẹ anh đã bị loà vì không nhận được tin tức

Trang 25

của con Nhà văn đã miêu tả sự giằng co giai giẳng giữ dội trong nhân vật hoạ

sỹ, nhà văn đã thể hiện phép thử đối với nhân vật Các phép thử đó có giá trị giả định về khả năng lựa chọn và phân định rạch ròi giữa các thái cực hèn nhát và dũng cảm, cao thượng và thấp hèn Tất cả chỉ nhằm mục đích để cho đối tượng tự nhận thức, tự làm sáng tỏ bản chất con người

Cả trong sự khám phá giữa con người với thế giới tự nhiên đầy bí ẩn,

tác giả cũng đã có những lý giải riêng Truyện ngắn Một lần đối chứng là

khát vọng của nhà văn trong hành trình nhận thức và khám phá các quy luật

tồn tại của con người Nhà văn viết: Mọi người từng thử một lần làm một sự

đối chứng với loài vật- một cuộc đối chứng giữa thiện và ác, giữa lý trí, trí tuệ và bản năng mù quáng Cũng là một cuộc đối chứng về mặt nhân cách và phi nhân cách giữa cái hoàn thiện và chưa hoàn thiện, giữa ánh sáng và khoảng bóng tối vẫn còn rơi rớt bên trong tâm hồn của mỗi miếng đất nương náu và gieo mầm của lỗi lầm và tội ác [7]

Sau chiến tranh, hướng tìm tòi khai thác của nhà văn Nguyễn Minh Châu là những con người thường nhật Hầu hết các truyện ngắn thời kì này của ông là những con người nhỏ bé, bình thường Mối quan tâm của họ chỉ là những chuyện vụn vặt trong cuộc sống đời thường, nhưng đằng sau đó lại là một nhân cách đạo lí, một thế giới riêng biệt đầy bí ẩn về triết lí cuộc sống

Trong truyện ngắn Bến quê, nhân vật Nhĩ- một con người đã từng đi rất nhiều nơi trên trái đất lại chưa hề bao giờ đến cái bờ bên kia sông Hồng ngay trước

cửa sổ nhà mình[7], nhà văn muốn đối chứng lại quan niệm về con người

luôn luôn vượt lên mọi hoàn cảnh, chiến thắng mọi hoàn cảnh và thử thách Bến quê vì thế vẫn là sự trải nghiệm về cái vô hạn và cái hữu hạn khả năng của con người

Cũng trên nền tảng của những suy tư nghiền ngẫm có chiều sâu, nhiều truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu còn đem đến cho người đọc nhiều góc

Trang 26

nhìn khác về con người Đó là người đàn bà làng chài (Chiếc thuyền ngoài xa) thường xuyên bị chồng đánh đập tàn nhẫn nhưng vẫn dứt khoát lạy xin toà

đừng bắt con bỏ nó Đi tìm cho những lí giải khó hiểu đó, nhà văn hướng

người đọc đến sự thật: Đám đàn bà làng chài ở thuyền chúng tôi cần phải có

một người đàn ông để chèo chống khi phong ba, để cùng làm ăn nuôi nấng một sắp con nhà nào cũng trên dưới chục đứa Ông trời sinh ra người đàn bà

để đẻ con, rồi nuôi con đến khi chúng khôn lớn cho nên phải gánh lấy cái khổ Đàn bà ở trên thuyền chúng tôi phải sống cho con chứ không thể sống cho mình như ở trên đất được [7] Người đàn bà ấy thực ra đã không hề cam

chịu một cách vô lí, nông nổi, ngờ nghệch mà ngược lại chị là người sâu sắc thấu hiểu lẽ đời Người phụ nữ ấy có một cuộc đời lam lũ, nhưng biết chắt chiu những hạnh phúc đời thường Một phụ nữ có ngoại hình xấu xí, thô kệch nhưng tâm hồn đẹp đẽ vì chồng vì con Ở chị thể hiện bóng dáng của người phụ nữ Việt Nam đảm đang, bao dung, nhân hậu, giàu đức hy sinh và lòng vị tha Nguyễn Minh Châu dường như đã chạm vào chiều sâu lòng nhân bản ở con người

Truyện ngắn sau 1975, con người cá nhân được khám phá nhiều ở khía cạnh tinh thần, đời sống nội tâm Với nhiều cách khai thác tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã đi vào thế giới nội cảm, khám phá chiều sâu của tâm trạng, thấy được đằng sau mỗi số phận là những cung bậc tình cảm phong phú đa dạng của con người Ở đó có niềm vui, niềm hạnh phúc và cả nỗi khổ đau của

kiếp người Con người xuất hiện trong các truyện ngắn là con người trần thế

ở cõi nhân gian với tất cả chất người tự nhiên của nó : tốt đẹp- xấu xa, thiện – ác, yêu- ghét, ánh sáng – bóng tối, cao thượng- thấp hèn…ở đó con người đứng trên đường phân giới mỏng manh giữa hai cực vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau [46]

Trang 27

Như vậy, truyện ngắn sau 1975 chủ yếu đi vào từng cá thể, từng mảnh đời, lúc trầm lắng, khi sôi động, lúc khổ đau, khi hạnh phúc…tất cả tạo nên một thế giới nhân vật đa dạng, phong phú, phức tạp Bằng nhiều cách tiếp cận

và cách thể hiện độc đáo, truyện ngắn đã bộc lộ những quan niệm mới mẻ về con người Mỗi nhà văn đều tìm cách đi sâu vào tâm hồn con người để thấy được những cung bậc, những cảm xúc với tất cả bản chất người của nó Các nhà văn hướng tới hiện thực về con người thông qua những số phận cá nhân,

từ đó mà lật xới lên những vấn đề nhức nhối, bức xúc của con người mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại Trong truyện ngắn sau 1975, nhà văn- chủ thể của sáng tạo không còn vị trí lấn át, chi phối tất cả quá trình vận động, phát triển của nhân vật mà bình đẳng, khách quan trước sự vận động tự thân của

họ Trên địa hạt của truyện ngắn, nhà văn đã khắc hoạ chân dung những con

người vừa đẹp đẽ, cao thượng, vừa đời thường, trần thế, luôn khao khát cái đẹp và hướng tới cái thiện Đó là con người cá nhân được quan niệm như một nhân cách, một nhân cách mới[46]

1.1.3.3 Thay đổi về đề tài và cảm hứng sáng tác

Cùng với các loại hình nghệ thuật khác, văn học có khả năng phản ánh cuộc sống đa dạng và phong phú Đối tượng của văn học là toàn bộ thế giới tự nhiên, đời sống xã hội, và cuộc sống của con người Tuy nhiên hiện thực thì

vô hạn mà khả năng của con người thì hữu hạn Vì thế trong hoàn cảnh sống của con người, với những yêu cầu của hiện tại, vốn sống vốn văn hoá, vốn chính trị, cùng tài năng nghệ thuật của mình, nhà văn chỉ có thể khai thác một lĩnh vực cụ thể, xác định trong hiện thực khách quan Phạm vi của hiện thực phản ánh trong tác phẩm gọi là đề tài của tác phẩm đó

Như vậy, đề tài là một phương diện nội dung của tác phẩm, nó chỉ

phạm vi hiện thực cụ thể đã được nhà văn nhận thức, lựa chọn và phản ánh trong tác phẩm Bất kỳ một tác phẩm văn học nào cũng có một đề tài nhất

Trang 28

định, nó xem như một nhân tố tương ứng với đối tượng phản ánh riêng của tác phẩm[9]

Văn học luôn song hành cùng lịch sử Mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc đều có những đề tài trung tâm Trong văn học trước 1975, Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội là đề tài cao đẹp Hoà bình lập lại, khi mà chiến tranh không còn tác động sâu sắc tới việc lựa chọn đề tài, thì phạm vi hiện thực của nhà văn đã được mở rộng Trong khoảng những năm đầu khi đất nước mới hoà bình, nhưng vẫn còn chiến tranh biên giới, thì đề tài chiến tranh vẫn có một vị trí quan trọng, nhưng mang những dấu hiệu mới, hiện thực chiến tranh được soi chiếu một cách thấu đáo, toàn diện hơn ở cả phía ta và phía kẻ thù Bên cạnh

đề tài về chiến tranh, đề tài về cuộc sống đời thường ngày càng trở thành đề tài trung tâm Mảng đề tài thế sự đời tư ngày càng có vị trí quan trọng khi con người trở về và đối diện với những lo âu của cuộc sống thường nhật Như vậy, văn học sau 1975 chủ yếu tập trung vào hai mảng đề tài, đó là sự tiếp nối của mảng đề tài chiến tranh và đề tài thế sự đời tư

Trong chiến tranh, người cầm bút chủ yếu là những người chiến sĩ, họ

tự nguyện tham gia vào công cuộc cổ vũ, tuyên truyền cho chiến đấu Qua các tác phẩm của mình nhà văn muốn tham gia vào các sự kiện to lớn của dân tộc Chính vì thế mà các tác phẩm thời kì này giàu tính thời sự, phản ánh những vấn đề cấp bách của đời sống chiến trận

Sau 1975 khi mà chiến thắng đã thuộc về ta thì yếu tố cổ vũ không còn đóng vai trò chủ chốt, nhà văn lúc này có thời gian để đào sâu vào hiện thực của cuộc chiến đấu.Văn học viết về chiến tranh thời kỳ này đi vào khám phá chiều sâu phức tạp và những điều chưa kịp khám phá trong hoàn cảnh có chiến tranh Nhà văn nhìn thấy ở đó có cả cao cả- thấp hèn, chiến thắng - thất bại, anh hùng – hèn nhát, niềm vui - nỗi buồn… tất cả được các nhà văn nhìn nhận và khai thác một cách triệt để Trong cái nhìn của các nhà văn hôm nay,

Trang 29

con người không phải lúc nào cũng anh hùng cao cả Người chiến sĩ khi đối

diện với bom đạn, chết chóc, đói khát cũng bộc lộ bản năng rất người: Tôi

không sao nói được và đột nhiên, bất ngờ với cả chính mình, tôi ngồi thụp xuống, hai tay bưng lấy mặt, bật lên tiếng khóc Nào mưa gió, nào chết chóc, nào đói, nào khổ, nào con đường vô vọng phía trước mà lòng tôi âm thầm, dồn nén mãi, đến bây giờ tự nhiên oà ra, tan vỡ trong một niềm thương thân cay đắng, tủi hờn [54] Mặc dù khai thác mặt lẩn khuất của con người trong

chiến tranh bằng cảm hứng sự thực nhưng cuối cùng thì tác giả vẫn khẳng định lý tưởng cao đẹp của người lính

Nhiều truyện ngắn còn đề cập tới cái giá phải trả cho chiến thắng Những cái giá ấy không chỉ trả ngay trong chiến tranh mà phải tiếp tục trả nhiều năm dài sau cuộc chiến Chiến tranh không chỉ làm cho cha mất con, vợ mất chồng, anh mất em mà cuộc chiến còn để lại những vết hằn, những nỗi

đau, những âm vang của quá khứ Truyện ngắn Mai của Thanh Quế đã để lại

nỗi xúc động trong lòng độc giả khi đi khai thác theo hướng này Một cán bộ

đi tập kết nay được nghỉ hưu trở về thì vợ đã mất, cô con gái duy nhất đã hy sinh Toàn bộ câu chuyện là quá trình đi tìm hài cốt của người cha đối với con mình Trong cuộc tìm kiếm đó ông đã gặp biết bao người đã hy sinh anh dũng Qua đó nhà văn muốn nói lên tinh thần yêu nước, ý chí kiên cường bất khuất, sự hy sinh anh dũng của những cô gái miền Nam, trong đó cô Mai là một đại diện Đó là nỗi đau sẽ mãi không xoá được cho dù chiến tranh đã đi qua xa rồi

Trên nền tảng của cuộc chiến, thời kỳ này nhiều tác giả còn hướng vào vấn đề đạo đức, quan niệm mới và nhân cách con người trong thời kỳ mới Đi vào đề tài đạo đức, các truyện ngắn sau 1975 các nhà văn đã đi vào những mặt lẩn khuất sâu kín, các chuẩn mực đạo đức, hành vi cho cuộc sống

lao động hoà bình trong chế độ mới Trong truyện ngắn Bức tranh, Nguyễn

Trang 30

Minh Châu đã thể hiện cách nhìn thông thường về chuẩn mực đạo đức đối với con người sau chiến tranh Một hoạ sỹ đã thành danh với bức chân dung chiến

sỹ giải phóng, sau một lần đến quán cắt tóc anh đã nhận ra tội lỗi không thể tha thứ của mình Do sự thất hứa của mình mà mẹ người chiến sỹ đã khóc mù

cả mắt vì tưởng con mình đã hi sinh Bắt đầu từ đó anh sống trong sự dằn vặt của lương tâm Người lính năm xưa, nay là anh thợ cắt tóc đã không một lần

“tính sổ” với anh Nhưng cũng chính vì thái độ cao thượng và tấm lòng nhân hậu ấy đã làm cho người hoạ sỹ càng mặc cảm về tội lỗi Ở đây nhà văn đã đặt ra vấn đề lương tâm trách nhiệm của cá nhân một cách khá rạch ròi Dưới góc độ là một con người có đạo đức liệu anh có thể tự cho phép mình vô ơn không với người đã từng cưu mang mình? Và khi biết hậu quả liệu mình có dám đứng ra nhận trách nhiệm hay không?

Hoà bình lập lại, mảng văn học thế sự đời tư nhanh chóng trở về đúng

vị trí của nó và ngày càng có vai trò chủ đạo trên văn đàn Với nhiều cây bút

đã xuất hiện từ trước như Nguyễn Minh Châu, Xuân Thiều, Ma Văn Kháng

và các cây bút mới xuất hiện ở lớp sau như Dương Thu Huơng, Thái bá Lợi,

Lê Minh Khuê cho dù lúc mới xuất hiện các tác giả chưa có sự thống nhất trong quá trình nhìn nhận, đánh giá nhưng về cơ bản sự xuất hiện của mảng văn học thế sự đời tư phần nào đã đáp ứng được hiện thực của cuộc sống thời bình

Đất nước đi qua chiến tranh, cuộc sống của nhân dân đã trở lại thời bình, tâm trạng và cuộc sống của nhân dân có nhiều sự thay đổi Chính vì vậy

mà cách nhìn của nhà văn về mảng hiện thực cuộc sống cũng có nhiều thay đổi Trong xu hướng chung của văn học, các truyện ngắn thời kì này đã thể hiện sự nhạy bén, gắn bó với cuộc sống của các nhà văn đương đại Các vấn

đề của cuộc sống con người được nhiều nhà văn đề cập, nhiều vấn đề tưởng chừng như nhỏ nhặt cũng được phản ánh vào các tác phẩm Nguyễn khải sau

Trang 31

thời kì viết về chiến tranh, nay tiếp nối với các tác phẩm đi vào tâm lí con người, với những trăn trở trước số phận con người trong cuộc sống thường nhật Ma Văn Kháng, Dương Thu Huơng, Lê Minh Khuê lại đi sâu vào những bi kịch gia đình và xã hội trước nguy cơ sụp đổ của những chuẩn mực đạo đức bởi sự tác động của nền kinh tế thị trường Các nhân vật được đặt trong nhiều mối quan hệ phức tạp của cuộc sống đời thường, từ đó con người

cá nhân được nhìn nhận nhiều chiều khác nhau, vừa cao cả, vừa phi thường, nhưng cũng có những thói hư tật xâú những khiếm khuyết Dù là nông dân hay tri thức, người trẻ tuổi hay người lớn tuổi, dù là người vợ hay người chồng tất cả đều được thể hiện phong phú, phức tạp ở đời sống tâm hồn, tư cách sống Các vấn đề thường chạm tới ở những tác phẩm thể loại đời tư thế

sự thường là nỗi niềm, băn khoăn về hạnh phúc cá nhân, về nhân phẩm, về cuộc đời được thể hiện ở từng số phận riêng cá thể

Đi sâu vào nắm bắt những mảnh đời, tâm trạng, tình huống tiêu biểu, truyện ngắn đã tạo ra được hiệu quả cao về nhận thức Các cảnh ngộ, những tình huống giàu tình người đã gợi nhiều suy nghĩ cảm thương hay căn giận phẫn uất ở người đọc Song trong hoàn cảnh nào, cái xấu, cái ác, những tiêu cực, mặt trái thì cuối cùng các nhà văn vẫn khẳng định những mặt cao đẹp của con người

Đi vào cuộc sống đời thường, nhiều truyện ngắn sau 1975 còn khai thác nhu cầu hạnh phúc của con người cá nhân Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, khi mà vận mệnh đất nước, sự tồn vong của dân tộc còn

bị đe doạ thì từng cá nhân sẽ không có hạnh phúc thực sự Hoà bình trở lại cũng chính là lúc con người trở về với cuộc sống bình thường, tình yêu hạnh phúc cá nhân là mảng đề tài đáng quan tâm Tình yêu hạnh phúc của con người là một trạng thái tình cảm vô cùng phức tạp, thú vị mà không ít cây bút quan tâm Trong truyện ngắn của mình Dương Thu Hương đã cho người đọc

Trang 32

thấy tình yêu chỉ thật sự đẹp khi người ta sống trọn vẹn, trung thực với nó

Truyện ngắn Tháng ba chua chát, nhà văn đã cho nhân vật Toàn đánh đổi tình

yêu của mình để lấy một cô vợ có thể đem đến cho mình một cuộc sống đầy

đủ về vật chất, nhưng cuối cùng Toàn cũng không có hạnh phúc thực sự Hơn thế nữa bằng trái tim đồng điệu của người phụ nữ, nhà văn đã phát hiện ra sự nhạy cảm của trái tim người phụ nữ trước những biến động về tình cảm trong cuộc sống

Viết về tình yêu hạnh phúc cá nhân là một đòi hỏi chính đáng của con người, cũng là vấn đề bức thiết của đời sống văn học sau 1975 Trước những biến đổi của cuộc sống hiện đại, nhiều giá trị tinh thần bị lung lay thì tiếng nói

ca ngợi tình cảm trong sáng lành mạnh như một sự thức tỉnh con người

Chiến tranh đi qua, đất nước ta bước vào quá trình xây dựng theo con đường xã hội chủ nghĩa Trong cuộc sống thời bình khá nhiều vấn đề nảy sinh Bằng sự nhạy cảm của người nghệ sỹ, nhiều nhà văn đã phát hiện và mổ

xẻ cái xấu, cái ác và sự tha hoá về đạo đức con người để qua đó cảnh báo những hành vi không thể chấp nhận trong cuộc sống mới

Trong tập truyện Một chiều xa thành phố, Lê Minh Khuê đã đặt nhân

vật vào nhiều mối quan hệ đời thường để thấy được sự thay đổi của luân lí

đạo đức Cô Kim trong Dòng sông, cô Tân trong Một chiều xa thành phố đã

thay đổi tâm tính một cách nhanh chóng Nếu như cô Kim chạy theo đồng tiền với một nỗi đam mê kì lạ đến nỗi chính cô bị đồng tiền đánh ngã, thì cô Tân lại chạy theo những người có tiếng tăm, những chuyến đi nước ngoài mà quên

đi những lời hứa, kỉ niệm đẹp đẽ với người bạn thân thiết để cuộc đời phải đánh đổi một cái giá quá đắt

Truyện ngắn sau 1975 đã góp tiếng nói để người đọc có một thái độ nhìn nhận đánh giá những hiện tượng khách quan về quá khứ và cuộc sống hiện tại

1.1.2.4 Sự chuyển đổi cảm hứng nghệ tthuật trong sáng tác

Trang 33

Cảm hứng nghệ thuật là một trạng thái của tình cảm mãnh liệt và say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây tác động lớn đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm Nó là thứ tình cảm mạnh mẽ chân thành, một tình cảm xã hội đã được nhà văn ý thức

Chiến tranh kết thúc, đất nước ta trở lại với cuộc sống thời bình với nhiều mối quan hệ đa chỉều, phức tạp của cuộc sống con người Cảm hứng nghệ thuật trong các sáng tác cũng phải thay đổi cho phù hợp với thực tế cuộc sống

Nếu trước năm 1975 cảm hứng chủ đạo trong các sáng tác văn học chủ yếu là cảm hứng sử thi Tính sử thi thể hiện ở chỗ thiên về miêu tả và ngợi ca những con người và dân tộc Việt Nam anh hùng Cảm hứng sử thi không chỉ

bó hẹp trong một số tác phẩm mà xuyên suốt trong hầu hết các tác phẩm văn học trong chiến tranh, trong đó nổi bật là cảm hứng yêu nước và cảm hứng anh hùng Bằng nguồn cảm hứng này văn học đã phản ánh, ca ngợi cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc Nguồn cảm hứng này là dòng mạch chính xuyên suốt nửa thế kỉ, tạo nên diện mạo của văn học ở thời điểm lịch sử đặc biệt này

Sau 1975, sự chuyển dịch này ngày càng rõ rệt, cảm hứng thế sự đời tư dần thay thế cho cảm hứng sử thi Với sự ra đời hàng loạt các truyện ngắn như

Những bông bần li (1981), Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành (1983), Bến quê (1985), Ngày đẹp trời (1986)….cảm hứng thế sự đời tư thực sự đã

tạo nên những trang viết mang màu sắc hoàn toàn mới so với giai đoạn trước Khuynh hướng sử thi lí giải mọi vấn đề trong hệ quy chiếu là lịch sử xã hội, mang lợi ích chung của giai cấp, cộng đồng Khuynh hướng thế sự đời tư lại hướng về con người cá nhân, cá thể trong mối quan hệ phong phú đa dạng phức tạp thường ngày Khi cảm hứng thế sự trở thành mạch cảm hứng chủ

Trang 34

đạo thì đời sống riêng tư của mỗi cá nhân trở thành đối tượng nghiên cứu chính của nhà văn, trong đó cảm hứng đạo đức thế sự giữ một vị trí quan trọng Có thể thấy rất nhiều các truyện ngắn của Nguyến Minh Châu, Ma văn Kháng, Dương Thu Hương, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban… in đậm dấu ấn ấy Đọc truyện Nguyễn Minh Châu thời gian này dễ nhận thấy các hiện tượng đời sống trong chiều sâu của triết học, trong nhu cầu chiêm nghiệm, tự đối thoại

với chính mình Bến quê, Dấu vết nghề nghiệp là những chiêm nghiệm có tính chất tổng quát về đời người Nhân vật Nhĩ trong Bến quê đã đi tới không xót một só xỉnh nào trên trái đất phải tới khi sắp gần đất xa trời mới nhận ra: Con

người ta trên đường đời thật khó tránh khỏi những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình[7] Và những cái gì rất gần gũi ngay cạnh ta nhiều khi cũng chưa

khám phá được hết vẻ đẹp của nó Trong Chiếc thuyền ngoài xa và Một lần

đối chứng lại là những suy nghĩ da diết về chân lí cuộc sống của con người

cũng như nghệ thuật Cuộc sống mỗi con người đều có những vẻ đẹp riêng nhưng không dễ nhận biết được nếu không đặt nó trong mối quan hệ nhiều chiều Người nghệ sĩ trong sáng tạo nghệ thuật không đơn giản là nhìn nhận cuộc sống ở bề ngoài mà phải thâm nhập vào những mạch ngầm của nó để thấy hết vẻ đẹp bên trong Thông qua mối quan hệ giữa con người và con vật

nhà văn lại thấy do nhu cầu tồn tại tưởng chừng có thể quên đi những quy luật

tồn tại của sinh vật hỗn mang đã sa vào cả quy luật giữa người với người[7]

Với Dương Thu Hương cảm hứng đạo đức sinh hoạt đã đem lại nhiều

sự mới mẻ trong truyện ngắn của chị Đó là những giá trị tinh thần, đạo đức

được thể hiện thông qua tình yêu hạnh phúc gia đình.Trong truyện Những

bông bần li nhà văn đã thể hiện sự nhạy bén trong tâm hồn người phụ nữ Một

khao khát cháy bỏng về tình yêu, hạnh phúc say đắm trong cuộc sống gia đình Ngân đã thật sự thất vọng khi nhận ra Khang - chồng chị là một người chồng thật ích kỉ nhỏ nhen Anh ta hờ hững với tất cả cuộc sống bên ngoài chỉ

Trang 35

lao vào những ham muốn của riêng mình Mọi biến cố của xã hội, thậm chí cả những mất mát của gia đình Khang đều không để tâm Và chính tình yêu đẹp

đẽ buổi ban đầu cùng với sự hi sinh anh hùng của người yêu cũ đã đưa Ngân vượt lên phía trước, đẩy cuộc sống tầm thường về phía sau

Trong Ngày đẹp trời của Ma Văn Kháng lại là tiếng nói của tác giả

trước hiện thực của cuộc sống, một hiện thực với nhiều biến đổi bất ngờ với tất cả sự phong phú và phức tap vốn có của nó Đó là tiếng nói khẩn thiết có tính chất thời đại trong việc giải quyết mối quan hệ giữa cá nhân gia đình và

xã hội của mỗi người với cuộc sống Nhà văn đã nhận thức được hoàn cảnh thay đổi thì gia đình cũng thay đổi theo Gia đình được xây dựng trên nền tảng của những truyền thống tốt đẹp của xã hội mà mục đích cuối cùng vấn là hạnh phúc của mỗi con người

Trong quá trình vận động từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự đời

tư, văn học sau 1975 cũng đã từng bước rút ngắn khoảng cách sử thi sang trọng, thành kính đem lại sự chân thực đời thường cho các tác phẩm văn học

Sự chân thực của các tác phẩm càng rõ nét hơn bởi đằng sau nó là những tiếng nói của nhà văn, những suy nghĩ của bạn đọc về cuộc sống

Tuỳ theo sở trường mà mỗi nhà văn đi vào những phương diện khác nhau của cuộc sống đa dạng, phức tạp Ở đó có biết bao mảnh đời, cảnh ngộ khác nhau, và hơn bao giờ hết họ thấu hiểu và cảm thông với từng số phận của nhân vật Bởi mỗi tác phẩm là tình yêu, lương tâm trách nhiệm của người cầm bút trước con người và cuộc đời

Như vậy, cùng với sự đổi thay của đề tài thì sự phong phú trong cảm hứng sáng tác đã đem lại cho truyện ngắn sau 1975 có một diện mạo mới Với

sự đan cài của nhiều mạch cảm xúc khác nhau tạo lên sức hấp dẫn cho thể loại này trong văn học thời kỳ đổi mới

1.1.2.5 Thành tựu nổi bật của truyện ngắn thời kỳ đổi mới

Trang 36

Truyện ngắn là thể loại có dung lượng ngắn gọn, nó gần với thể loại báo chí và có mặt kịp thời trước những chuyển biến của đời sống con người

Là thể loại truyện ít quay về với quá khứ, dù có lấy đề tài quá khứ thì cũng là cách để tiếp cận với vấn đề của cuộc sống hôm nay

Tiếp nối những thành công trong giai đoạn kháng chiến, sau 1975 truyện ngắn vẫn tiếp tục phát triển Và thật khó có thể thống kê một cách chính xác về số lượng các truyện ngắn sau 1975 đã được in ấn một cách chính xác Chỉ nêu ra một con số thống kê trong khoảng mười năm từ 1975 đến

1986 để thấy sự phát triển mạnh mẽ của thể loại truyện ngắn Trong đó chỉ riêng nhà xuất bản Tác phẩm mới của Hội Nhà văn đã in 57 tập truyện ngắn của nhiều các tác giả và cũng giai đoạn này tiểu thuyết chỉ có 27 cuốn, kí và sách chuyên đề có 40 cuốn

Thành tựu nổi bật của truyện ngắn sau 1975 được đánh dấu bằng sự hình thành và khẳng định của phong cách cá nhân Hơn bất cứ thể loại nào, truyện ngắn mang đậm dấu ấn cá nhân của người viết Sau 1975, nhất là từ

1986 trở đi có thể thấy phong cách cá nhân của các nhà văn rất đa dạng và phong phú Với sự tiếp tục khẳng định mình của các nhà văn đã thành danh ở giai đoạn trước như Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Vũ Thị Thường, Xuần Thiều, Triệu Bôn là sự xuất hiện của nhiều cây bút trẻ như Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Y Ban, Võ Thị Hảo đã tạo nên sự đa dạng vô cùng cho thể loại truyện ngắn và phong cách của từng nhà văn

Như vậy, sau 1975 văn học với tư cách là một hình thái ý thức xã hội

đã chịu ảnh hưởng sâu đậm của đời sống xã hội Văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng thời kỳ này là sự thức tỉnh của ý thức cá nhân với sự

quan tâm sâu sắc đến đời sống cá nhân của con người Con người được mô tả

trong tất cả tính cụ thể, cá biệt với những nhu cầu trong thời bình tạo thành

Trang 37

nét chính trong sự định hướng về giá trị của các tác phẩm văn học hôm nay

[45] Nói một cách khác văn học sau 1975 mang đậm tinh thần dân chủ và

cảm hứng nhân bản Trong đó điểm cơ bản dẫn đến sự đổi thay của văn học thời kỳ này được thể hiện ở những thay đổi về đề tài, nhân vật, thể loại, phương thức trần thuật, cách biểu hiện… của các nhà văn Từ đây văn học Việt Nam có một sự chuyển mình một cách nhanh chóng và phát triển lên một tầm cao mới

1.2 Hành trình sáng tạo nghệ thụât của nhà văn Võ Thị Hảo

1.2.1 Vài nét về tiểu sử nhà văn

Võ Thị Hảo sinh ngày 13 tháng 4 năm 1956 tại xã Diễn Bình, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Chị đã tốt nghiệp khoa Ngữ văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1977 làm biên tập rồi Phó ban biên tập Nhà xuất bản Văn hoá dân tộc Năm 1966 chị chuyển công tác sang báo Phụ nữ Thành phố

Hồ Chí Minh Nhiều năm chị là trưởng văn phòng đại diện báo Phụ nữ Thành phố Hồ Chí Minh tại Hà Nội Chị đã từng làm thơ từ rất sớm và nghĩ mình sẽ

là nhà thơ, nhưng chị lại viết văn và thành danh với thể loại văn xuôi Mặc dù vào nghề viết văn chưa bao lâu nhưng Võ Thị Hảo nhanh chóng được nhiều người đọc biết đến Chị được đánh giá là một trong những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính Bên cạnh đó nhà văn Võ Thị Hảo còn viết kịch bản điện ảnh và hội hoạ Với ba kịch bản phim truyện chị đã được đánh giá là nhà viết kịch bản có khả năng thành công cao trong lĩnh vực này Chị còn say mê vẽ tranh

và từng mở triển lãm tranh với tên gọi Đường chân trời khiến cho các nhà hội

hoạ không khỏi kinh ngạc Giản dị trong đời thường nhưng mạnh mẽ trong văn chương là điều dễ nhận thấy ở nhà văn này

1.2.2 Quá trình sáng tác và quan niệm viết văn của Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo sinh ra và lớn lên ở mảnh đất xứ nghệ gió Lào cát trắng quanh năm, nhưng có lẽ chính sự khắc nghiệt của thiên nhiên nơi đây đã tạo

Trang 38

nên tính cách và con người chị - một sự chịu đựng bền bỉ và kiên cường Vì vậy mà khi nói tới quê hương chị nói: “ Tôi cảm ơn những kỉ niệm, mà đau khổ nhiều hơn là hạnh phúc, vì chính chúng đã tạo ra tôi”[7] Chính tính cách

đó đã giúp chị dù trong hoàn cảnh nào cũng thích nghi và vượt qua Chị là người ham mê đọc sách từ khi còn nhỏ Từ niềm đam mê ấy, chị đã trở thành

cô sinh viên Văn khoa trường Đại học Tổng hợp Hà Nội Với những khao khát và hoài bão văn chương, cùng với giấc mộng đẹp về tình yêu đã nuôi dưỡng tâm hồn nhà văn trong những năm tháng tuổi xuân phơi phới Chị từng làm thơ từ rất sớm và nghĩ mình sẽ thành nhà thơ, thế nhưng duyên số lại đưa chị đến với nghề báo Tốt nghiệp khoa Ngữ Văn trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, chị về công tác tại nhà Xuất bản Văn hoá dân tộc, cùng với gia đình bé nhỏ, tổ ấm yêu thương của mình Tuy nhiên không biết là ngẫu nhiên hay duyên số, bắt đầu từ đây nghiệp văn như cuốn lấy chị, những trang viết bắt đầu thao thức trong chị và luôn đồng hành với cuộc sống công chức của chị những năm 80-90 của thế kỉ XX Nó như một ngọn lửa cháy âm ỉ giữ cho tâm hồn chị luôn nóng rực niềm đam mê Vì niềm đam mê của mình mà chị luôn trân trọng nó cho dù khi đó văn chương không đủ sức đem lại cho gia đình chị một cuộc sống yên ổn, hạnh phúc Từ đây gia đình chị bắt đầu có sự bất

ổn Chính chị đã nhận ra rằng mình để cho không khí văn chương len lỏi quá sâu vào cuộc sống gia đình Trong cuộc sống còn muôn vàn khó khăn những năm bao cấp, chị vẫn luôn giữ cho mình một góc riêng để thoả mãn niềm đam

mê Để vượt qua những năm tháng khó khăn ấy, Võ Thị Hảo đã viết rất nhiều

và dần nổi tiếng trên văn đàn Thời gian này cũng là thời gian mà chị viết văn không có sự đồng thuận của chồng Chị đã cố gắng níu giữ cuộc hôn nhân bất

ổn trong suốt hai mươi năm, nhưng khi hôn nhân không còn là sự say đắm của hai người, chị đã quyết định giải thoát cho mình và cho người Tất cả những điều này đều để lại dấu ấn sâu đậm trong các sáng tác của chị Trong

Trang 39

cuộc sống của mình, Võ Thị Hảo luôn có những chuyến đi- đi để tìm ý nghĩa đích thực của cuộc sống cũng như tìm cảm hứng trong sáng tạo văn chương Chị từng nói: Mình không phải là người thích phiêu lưu hoặc thích thay đổi

mà là người phụ nữ viết văn, để giữ lòng tự trọng và trái tim luôn đập cho những điều tốt đẹp trong cuộc đời Một trái tim nhạy cảm bởi vậy mà rất dễ

ứa máu và tổn thương, nên bất cứ một sự bất tín hay cư xử quá đáng của bạn

bè đồng nghiệp hoặc những người xung quanh với mình đến độ cảm thấy không thể chịu đựng nổi thì tốt hơn là rời bỏ để ra đi Dẫu biết cuộc ra đi nào cũng đầy bất trắc và lắm chông gai, người ngoài nhìn vào có thể cho mình là

điên rồ nhưng đó là cách giải quyết của mình từ trước đến nay “ Nó làm cho

mình cảm thấy thanh thản, giữ được cái tôi của mình trước xô bồ đời sống quá nhiều cạm bẫy và thói xấu Sự ra đi giúp cho tâm hồn mình bị cằn cỗi tha hoá, để cố gắng dù trong hoàn cảnh nào thuận lợi hay khó khăn, hạnh phúc hay bi đát thì nhân cách của mình cũng không bị tha hoá Mình sợ nếu mình ở lại, mình thoả hiệp và sống chung với những điều mình cho là giả dối, căm ghét thì mình sẽ bị tha hoá đi lúc nào không hay Điều làm mình sợ nhất là khi mình không còn tin vào chính mình nữa thì sống sao nổi, còn có thể tin được một ai khác ” [4]

Về quan niệm nhân cách, nghĩa vụ của nhà văn và sáng tạo văn chương

Võ Thị Hảo cũng có những suy nghĩ thật nghiêm túc Theo chị “ Thiên chức

nhà văn là tôn trọng tự nhiên Tự nhiên nghĩa là sự thật Như những con sóng biển và gió vẫn ngày đêm cồn cào đến với đất liền Khi nhà văn mà chối bỏ

sự thực viết dối trá và đứng ngoài nỗi đau, khát vọng cũng như khát vọng sự thực của con người khi ấy nhà văn đó trở lên nguy hiểm cho đồng loại” [48]

Dù viết văn hay viết báo chị vẫn là một cây bút có sức viết dồi dào như một nhu cầu tự thân được nói ra những điều mình trăn trở tâm huyết Chị cho

rằng: “ Tôi may mắn được vào đúng nghề mình đã chọn và nghiệp không trái

Trang 40

với nghề Làm báo là nghề, viết văn là nghiệp Hơn cả nghề nghiệp văn là cái thứ đeo bám, ám ảnh, thậm chí chi phối số phận” [14] Chị từng tâm sự : “ Tôi có quá ít thời gian dành cho văn chương Đó là sự thiếu may mắn Tôi chỉ còn ban đêm, lúc đi đường và ngày nghỉ cuối tuần là dành cho văn chương Nhưng thực sự, làm báo cũng giúp nghề văn Nhiều khi đi tìm tư liệu, khai thác sự kiện hay họp hành, ý tưởng chợt hiện Tôi phác hoạ chúng vào những mảnh giấy bất kì nào đó và đem về nhà ghim lại, chờ dịp viết thành những truyện hoàn chỉnh”[7]

Sự nghiệp văn chương của Võ Thị Hảo xuất hiện chính thức và đều đặn

vào những năm 90 của thề kỉ XX Ngay từ truyện ngắn đầu tay Người gánh

nước thuê in trên báo năm 1989 chị đã gây được sự chú ý của người đọc

Tiếp đến là những tập truyện ngắn Biển cứu rỗi, Hồn trinh nữ, Chuông vọng

cuối chiều, Người sót lại của rừng cười, … để cho đến nay chị đã ra mắt bạn

đọc mười tập truyện ngắn và hai tiểu thuyết Giàn thiêu và Dạ tiệc quỷ Chị đã

vinh dự được nhận giải nhì tiểu thuyết và truyện ngắn của Nhà xuất bản Hà Nội 1993; giải thưởng 5 năm văn học Hà Nội 1990-1995

Khi đọc các sáng tác của chị, người đọc “dễ nhận thấy trong văn chương

chị có một cái nhìn ưu ái và thiên vị đối với phái nữ Một cô gái sa ngã ( Vũ

điệu địa ngục), một người đàn bà nhẹ dạ (Người đàn ông duy nhất) , và cả

một con điếm hết thời (Biển cứu rỗi)… bao giờ chị cũng tìm cách biện bạch

để “bắt” người đọc phải yêu và cưu mang họ”[14] Bởi vậy mà “ chị được xếp vào hàng những cây bút sắc sảo và giàu nữ tính Những thân phận đàn

bà, những con người bé nhỏ trước bão lũ cuộc đời, “những gì rất riêng tư mà chẳng riêng tư chút nào”…là điều mà chị luôn trăn trở trên các trang viết của mình” [13]

Hình dung về Võ Thị Hảo, người đọc sẽ thấy một người phụ nữ có số phận không mấy may mắn nhưng đủ nghị lực để vượt qua mọi gian khó trên

Ngày đăng: 24/03/2021, 18:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w