1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn võ thị hảo (LV00937)

117 479 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 789,27 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thấy vai trò đặc biệt của điểm nhìn trần thuật, nhà lý luận Phương Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sỹ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của đời sống nếu không xác định cho mình một

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

- Sau năm 1975, đặc biệt là sau năm 1987, đời sống văn học Việt Nam

có nhiều thay đổi Sự chuyển tiếp từ thời chiến sang thời bình với những quy luật bình thường của nó, ảnh hưởng của công cuộc đổi mới tư duy mà Đảng khởi xướng, những vấn đề bức thiết cộm lên trong lịch sử dân tộc thời hậu chiến và một độ lùi thời gian tương đối thích hợp… là những nguyên nhân cơ bản dẫn đến những thay đổi quan trọng của văn học Cùng với sự đổi mới của Đảng, các phương tiện đời sống văn học như tác giả, tác phẩm, các hoạt động sáng tác, lí luận, phê bình… đều có sự chuyển biến tích cực Có thể khẳng định đây là giai đoạn văn học phát triển sôi động nhất - một giai đoạn đang phát triển và chưa hoàn thành

Trong sự phát triển mạnh mẽ của văn xuôi Việt Nam từ sau 1975 đến nay, truyện ngắn là một trong những thể loại gặt hái được nhiều thành tựu đáng

kể Nhiều nhà văn, nhà nghiên cứu đã nhận ra xu hướng vận động mới - xu hướng của những tìm tòi sáng tạo, của những lối viết hoàn toàn mới mẻ, người nghệ sĩ đã được “cởi trói” trong sáng tạo Hòa vào dòng chảy ấy, ta thấy xuất hiện một nữ văn sỹ có cá tính sáng tạo độc đáo - nhà văn Võ Thị Hảo

- Võ Thị Hảo xuất hiện trên văn đàn vào những năm đầu của thập kỷ 90

thế kỷ XX với sáng tác ở thể loại thơ và truyện ngắn Trong những năm gần đây chị còn thể nghiệm ngòi bút ở cả tiểu thuyết và kịch bản phim Truyện ngắn là lĩnh vực mà nhà văn nữ này đã có nhiều thành công, được độc giả hào hứng đón nhận Nghiên cứu truyện ngắn, đặc biệt là truyện ngắn trẻ hiện nay rất được chú trọng nhưng cho đến nay truyện ngắn của Võ Thị Hảo vẫn chưa được quan tâm và nghiên cứu một cách có hệ thống Đây vẫn là một “mảnh đất trống” cần được khai phá

Trang 2

Cùng với những tên tuổi như Nguyễn Bình Phương, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Huy Thiệp, Tạ Duy Anh…, Võ Thị Hảo là nhà văn góp phần tạo ra

xu hướng cách tân trong nền Văn xuôi Việt Nam đương đại Các nhà văn này

đã mang vào văn học hơi thở của cuộc sống và con người hiện đại Để làm được điều đó, trước hết họ phải tự làm mới chính mình Cùng với một quan niệm mới mẻ về hiện thực là một văn phong táo bạo, đổi mới trong nghệ thuật thể hiện

- Nhà văn Võ Thị Hảo, “người kể chuyện cổ tích hiện đại”, đã cho ra

mắt độc giả yêu thích văn chương những tác phẩm đi cùng năm tháng Trong các tác phẩm, chị có lối kể chuyện cuốn hút, có duyên với văn phong sắc sảo, vừa quen vừa lạ, ảo thực lẫn lộn Tuy nhiên, đến nay các công trình nghiên cứu về truyện ngắn của nhà văn Võ Thị Hảo chưa nhiều Đặc biệt là nghiên cứu về nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo vẫn chưa có một công trình chuyên biệt nào

Với mong muốn góp thêm tiếng nói vào sự khẳng định đặc điểm nghệ thuật trong sáng tác của Võ Thị Hảo, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo” Nghiên cứu thành công vấn đề này, luận văn sẽ góp phần khẳng định tài năng, sự độc đáo của Võ Thị Hảo trên hành trình sáng tạo nghệ thuật của tác giả

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn kỳ ảo hiện đang rất thu hút độc giả mọi nơi và mọi lứa tuổi Những sáng tác kỳ ảo của Võ Thị Hảo dường như luôn được đón đợi nồng nhiệt Ngắn gọn, súc tích, những câu chuyện mang đậm không khí cổ tích của chị không những kích thích trí tưởng tượng người đọc, mà qua đó chị

đã chuyển tải nhiều chiêm nghiệm, suy tư về cuộc đời và con người Truyện ngắn của nhà văn tự nhận mình “suốt đời chỉ mơ một giấc” dù không tạo ra những cơn dư chấn ồn ào, nhưng đã để lại không ít dư ba trong lòng người

Trang 3

đọc Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về truyện ngắn kỳ ảo của Võ Thị Hảo vẫn còn đang rất ít ỏi Thực tế chỉ có một số công trình nghiên cứu, bài báo, phỏng vấn, tiểu luận, quan tâm tới truyện ngắn Võ Thị Hảo

- Trong Tứ tử trình làng, lời giới thiệu cuốn Truyện ngắn bốn cây bút

nữ (2011) , tác giả Bùi Việt Thắng đã nêu đặc điểm nổi bật của truyện ngắn

Võ Thị Hảo trên cơ sở so sánh với truyện ngắn của các tác giả cùng thời Đó

là các tình huống đặc sắc, là những nhân vật "có nét dị dạng khác người nhưng tâm hồn họ thánh thiện giàu lòng vị tha và đức hy sinh - hy sinh mình

để cứu rỗi kẻ khác" Do yêu cầu của lời giới thiệu nên tác giả Bùi Việt Thắng chỉ điểm xuyết những nét độc đáo của truyện ngắn Võ Thị Hảo theo cảm nhận chủ quan Vì vậy bài viết chưa đi sâu khái quát được các phương diện khác như ngôn ngữ, giọng điệu, đề tài,

- Đề tài Đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh (Tạ Mai Anh, Luận văn Thạc sĩ, ĐH Vinh,

2002) lại tập trung khai thác đổi mới của Võ Thị Hảo và hai tác giả nữ cùng thời ở góc độ ngôn ngữ học Do đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, do nhiệm

vụ cụ thể đặt ra nên luận văn chỉ dừng lại ở những đổi mới của truyện ngắn

Võ Thị Hảo trong phạm vi đoạn văn kết thúc

- Đề tài Yếu tố kỳ ảo trong truyện ngắn Việt Nam 1975 - 2000 (Nguyễn

Minh Hồng, Luận văn Thạc sĩ, ĐH Vinh, 2002) khai thác một vấn đề khá lí thú của văn học Việt Nam, đó là vấn đề yếu tố kỳ ảo Truyện ngắn của Võ Thị Hảo được đánh giá là sử dụng thành công yếu tố kỳ ảo Luận văn đã tiếp cận truyện ngắn Võ Thị Hảo trên phương diện nghệ thuật để từ đó đã có nhiều phát hiện mới mẻ về nội dung Tuy nhiên, do phạm vi nghiên cứu của đề tài tương đối rộng nên chỉ một số truyện ngắn của nhà văn được chú ý đề cập đến

Trang 4

- Đề tài Truyện ngắn Võ Thị Hảo trong bối cảnh đổi mới của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 (Nguyễn Thị Hằng, luận án thạc sĩ, Đại học Vinh,

2008) là công trình nghiên cứu khá toàn diện về truyện ngắn Võ Thị Hảo trên

cả hai phương diện nội dung và hình thức Trong công trình nghiên cứu này, tác giả đã đề cập tới một số phương diện hình thức nghệ thuật, nhưng chủ yếu

là để tiếp cận yếu tố kỳ ảo Chính vì thế phương diện nghệ thuật vẫn chưa được khai triển sâu sắc

- Đề tài Nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo (Trần Thị Bích

Vân, luận án thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên, 2009) lại tập trung nghiên cứu về nhân vật nữ trong sáng tác của Võ Thị Hảo Trong đề tài này tác giả mới chỉ

đề cập đến cách thể hiên nhân vật nói chung, nhân vật nữ nói riêng và các biện pháp nghệ thuật thể hiện nhân vật nữ trong sáng tác Võ Thị Hảo Tuy nhiên do phạm vi nghiên cứu nên luận văn này chưa chú ý khai thác sâu về nghệ thuật

Ngoài ra còn một số bài phỏng vấn, trao đổi giữa nhà văn Võ Thị Hảo với phóng viên các tờ báo, tạp chí Thông qua các cuộc trao đổi, nhà văn đã bộc lộ nhiều quan niệm về văn học nghệ thuật

Nhìn chung, ý kiến đánh giá của các nhà nghiên cứu phê bình về truyện ngắn Võ Thị Hảo còn ít Hơn nữa các bài viết mới chỉ dừng lại ở cái nhìn ban đầu, chứ chưa có một công trình nào có tính chất quy mô nghiên cứu về đóng

góp của Võ Thị Hảo ở thể phương diện nghệ thuật Đề tài Nghệ thuật trần

thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo của chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu phương

diện nghệ thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo nhằm khẳng định sự sáng tạo trong nghệ thuật trần thuật của nhà văn

3 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những đặc điểm nổi bật về nghệ thuật trần thuật: Điểm nhìn, giọng điệu, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo, từ đó thấy

Trang 5

được những đóng góp mới trong sáng tạo nghệ thuật của Võ Thị Hảo

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề lý luận có liên quan đến nghệ thuật trần thuật trong tác phẩm tự sự nói chung và nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn nói riêng

- Nghiên cứu một số phương diện của nghệ thuật trần thuật: điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật Dựa trên cơ sở lý luận liên quan đến đề tài, chúng tôi khảo sát và phân tích những biểu hiện cụ thể của điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo, từ đó khẳng định những sáng tạo của tác giả

5 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo, thể hiện qua các phương diện cơ bản như: điểm nhìn trần thuật, giọng điệu trần thuật, ngôn ngữ trần thuật

- Phạm vi nghiên cứu: Luận văn khảo sát 4 tập truyện ngắn của nhà văn

Võ Thị Hảo:

+ Goá phụ đen (2005), NXB Phụ nữ

+ Hồn trinh nữ (2005), NXB Phụ nữ

+ Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm (2005), NXB Phụ nữ

+ Người sót lại của Rừng Cười (2005), NXB Phụ nữ

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thống kê – phân loại

Luận văn sử dụng phương pháp thống kê - phân loại trong quá trình nghiên cứu để tạo sự logic chặt chẽ khoa học

6.2 Phương pháp so sánh – đối chiếu

Phương pháp so sánh giúp luận văn làm sáng rõ những nét đặc trưng, khác biệt của nghệ thuật trần thuật truyện ngắn Võ Thị Hảo so với các tác giả

Trang 6

khác

6.3 Phương pháp phân tích - tổng hợp

Để thực hiện đề tài này cùng với việc sử dụng các phương pháp nghiên cứu trên, chúng tôi còn sử dụng phương pháp phân tích tác phẩm, nhân vật, tình tiết cụ thể Từ đó khái quát, tổng hợp những đặc điểm nghệ thuật trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo

7 Đóng góp của luận văn

Thông qua việc thực hiện đề tài, chúng tôi muốn đề xuất một hướng tiếp cận mới nhìn từ phương diện nghệ thuật về truyện ngắn Võ Thị Hảo Qua

đó thấy được sự độc đáo trong nghệ thuật trần thuật của nhà văn Đồng thời thấy được sự đóng góp của nhà văn trong tiến trình phát triển của văn xuôi đương đại Việt Nam

8 Bố cục luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung của luận văn được trình bày trong 3 chương:

Chương 1 Điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo

Chương 2 Giọng điệu trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo

Chương 3 Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo

Trang 7

NỘI DUNG Chương 1 ĐIỂM NHÌN TRẦN THUẬT TRONG TRUYỆN NGẮN VÕ THỊ HẢO 1.1 Khái niệm trần thuật và điểm nhìn trần thuật

1.1.1 Khái niệm trần thuật

Trong Từ điển thuật ngữ văn học, trần thuật được hiểu như sau: “Trần thuật là phương diện cấu trúc của tác phẩm tự sự, thể hiện mối quan hệ chủ thể - khách thể trong loại hình nghệ thuật này Nó đánh dấu sự đổi thay điểm chú ý của ý thức văn học từ hệ thống sự kiện thắt nút, mở nút sang chủ thể thẩm mỹ của tác phẩm tự sự” [15, tr.248]

Trong cuốn Lý luận văn học, trần thuật đã được xác định: “Trần thuật

là sự trình bày liên tục bằng lời văn các chi tiết, sự kiện, tình tiết, quan hệ, biến đổi về xung đột và nhân vật một cách cụ thể, hấp dẫn, theo một cách nhìn, cách cảm nhất định Trần thuật là sự thể hiện của hình tượng văn học, truyền đạt nó tới người thưởng thức Bố cục của trần thuật là sắp xếp, tổ chức

sự tương ứng giữa các phương diện khác nhau của hình tượng với các thành phần khác nhau của văn bản” [42, tr.307]

Ngoài ra còn có nhiều quan điểm khác nhau về trần thuật, nhưng nhìn chung đều đi đến khẳng định: Trần thuật là giới thiệu, khái quát, thuyết minh, miêu tả nhân vật, sự kiện, hoàn cảnh, sự việc theo cái nhìn nhất định Nghệ thuật trần thuật là phương diện cơ bản của phương thức tự sự, nó có tác dụng soi sáng nội dung tư tưởng của tác phẩm và thể hiện sự sáng tạo độc đáo của nhà văn

1.1.2 Khái niệm điểm nhìn trần thuật

Các nhà lý luận, phê bình sử dụng nhiều từ ngữ khác nhau để gọi tên thuật ngữ này: quan điểm trần thuật, điểm nhìn tâm lý, cái nhìn trần thuật, phương thức trần thuật Ở đây chúng tôi xem xét vấn đề và thống nhất thuật

Trang 8

Nhận thấy vai trò đặc biệt của điểm nhìn trần thuật, nhà lý luận Phương

Lựu đã nhấn mạnh: “Nghệ sỹ không thể miêu tả, trần thuật các sự kiện của đời sống nếu không xác định cho mình một điểm nhìn đối với sự vật, hiện tượng, nhìn từ góc độ nào, xa hay gần, cao hay thấp, từ bên trong hay bên ngoài” [43, tr.12], bởi sự trần thuật trong văn xuôi nghệ thuật bao giờ cũng

tiến hành từ một điểm nhìn nào đó Nhà văn không thể miêu tả nghệ thuật và

tổ chức tác phẩm mà không xác lập cho mình một điểm nhìn, một chỗ đứng nhất định Việc chọn một chỗ đứng thích hợp để người kể chuyện kể câu chuyện là một trong những sự trăn trở đối với nhà văn khi sáng tạo tác phẩm Bởi vậy điểm nhìn trần thuật góp phần đáng kể vào sự thành công của tác phẩm, qua đó thể hiện sự sáng tạo của nhà văn trên hành trình lao động nhọc nhằn của mình

Như vậy về quan điểm niệm về điểm nhìn trần thuật cũng có khá nhiều cách hiểu khác nhau Nhưng tựu chung có thể nhận thấy: Điểm nhìn trần thuật

là vị trí, khoảng cách, góc độ chủ thể trần thuật dùng để quan sát đối tượng trần thuật Điểm nhìn trần thuật có thể từ bên ngoài, có thể từ bên trong, có cái nhìn từ một phía, có cái nhìn từ nhiều phía … Trong quan hệ giữa chủ thể trần thuật với người đọc thì chủ thể trần thuật được coi là người chỉ đường và dẫn dắt người đọc thâm nhập vào tác phẩm theo các diễn biến, xung đột, thắt nút, mở nút của các sự kiện đời sống

Trang 9

1.1.3 Phân loại điểm nhìn trần thuật

- Theo cuốn Lý luận văn học (Phương Lựu chủ biên), điểm nhìn trần

thuật được phân chia trên 2 bình diện:

* Xét về trường nhìn trần thuật được chia thành 2 loại: trường nhìn tác giả và trường nhìn nhân vật

+ Trường nhìn tác giả: Người trần thuật đứng ngoài câu chuyện để quan sát đối tượng Kiểu trần thuật này mang tính khách quan tối đa cho lời trần thuật

+ Trường nhìn nhân vật: Người trần thuật nhìn sự vật, hiện tượng theo quan điểm của một nhân vật trong tác phẩm Trần thuật theo điểm nhìn nhân vật mang đậm sắc thái tâm lý, chất trữ tình hoặc châm biếm do sự chi phối trực tiếp bởi địa vị, hiểu biết, lập trường của nhân vật

* Xét về bình diện tâm lý, có thể phân biệt thành điểm nhìn bên trong

và điểm nhìn bên ngoài:

+ Điểm nhìn bên trong: Người trần thuật nhìn thấy đối tượng qua lăng kính của một tâm trạng cụ thể, dễ dàng tái hiện diễn biến trong tâm hồn nhân vật

+ Điểm nhìn bên ngoài: Chủ thể trần thuật giữ cái nhìn khách quan từ

vị trí bên ngoài có khoảng cách nhất định với đối tượng trần thuật

- Trong Nhập môn văn học, điểm nhìn trần thuật được chia thành 5 loại:

+ Trần thuật khách quan: Người trần thuật lẩn đi, không nhập cảm vào

ý thức của một nhân vật nào, chỉ ghi lại những sự kiện một cách khách quan

+ Trần thuật thông suốt tất cả: Người kể dường như biết tất cả về đời sống nội tâm và hoạt động của mọi nhân vật trong tác phẩm

+ Trần thuật thông suốt tất cả có lựa chọn: Người kể chỉ “biết hết tất cả” với một vài nhân vật Những nhân vật khác được miêu tả qua ấn tượng của nhân vật được lựa chọn

Trang 10

+ Trần thuật tham dự: Người trần thuật tham dự vào truyện như là một nhân vật, khoảng cách trong người trần thuật và nhân vật được rút ngắn tới mức thấp nhất

+ Trần thuật không tham dự: Người kể lẩn đi, lời kể hầu như chỉ còn sự kiện, tình tiết Khoảng cách trong người trần thuật và đối tượng trần thuật là lớn nhất

- Trong Văn chương dẫn luận, Pospelov chia điểm nhìn trần thuật

- Trong Giáo trình dẫn luận thi pháp học Trần Đình Sử chia điểm nhìn

trần thuật được chia thành 5 loại:

+ Điểm nhìn của người trần thuật, tác giả hay của nhân vật trần thuật và của nhân vật

+ Điểm nhìn không gian, thời gian

+ Điểm nhìn bên trong, bên ngoài

+ Điểm nhìn đánh giá tư tưởng, cảm xúc

+ Điểm nhìn ngôn từ: bản thân mỗi hình thức ngôn từ đã mang một quan điểm

- Trong bài Quan niệm về điểm nhìn nghệ thuật của R.S Choles và R

Trang 11

Kellogg và một số vấn đề khi áp dụng các mô hình lí thuyết phương Tây vào nghiên cứu tác phẩm tự sự, tác giả Cao Kim Lan đề cập đến cách phân biệt

điểm nhìn thành 3 loại chính - tương ứng với ba kiểu người kể chuyện:

+ Điểm nhìn của người kể chuyện toàn tri: Người kể thông suốt mọi sự, anh ta được quyền không chỉ miêu tả sự việc như anh ta đã thiết lập mà còn

có thể bình luận về chúng để khái quát hóa và để kể với người đọc những suy nghĩ về sự kiện đã diễn ra

+ Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ ba: Người kể có đầy đủ quyền năng trên khắp trường nhìn của anh ta, miêu thuật lại cho độc giả những gì mình nghe thấy, nhìn thấy với tư cách nhân chứng

+ Điểm nhìn của người kể chuyện ngôi thứ nhất: Người trần thuật là một nhân vật trong truyện, thường xưng “tôi” để kể lại câu chuyện hoặc miêu

tả tâm trạng của mình hoặc của các nhân vật khác

- Trong “Lý luận văn học – mấy vấn đề để cần suy nghĩ” (Nguyễn Văn Hạnh, Huỳnh Như Phương), điểm nhìn trần thuật chia làm 3 loại:

+ Trần thuật khách quan: Sự trần thuật được tiến hành từ điểm nhìn của một người quan sát đứng bên ngoài đối tượng Chủ thể trần thuật kể lại tất cả những gì anh ta chứng kiến Anh ta chỉ kể lại những điều đã chứng kiến hoặc trực tiếp cảm thấy, nghe thấy Qua đó chúng ta thấy được tính khách quan rõ nét không mang sắc thái tâm lý riêng của nhân vật Ở điểm nhìn này chủ thể trần thuật ở ngôi thứ ba

+ Trần thuật chủ quan: Sự trần thuật được tiến hành từ điểm nhìn của một nhân vật Bằng cái nhìn “nhân vật hóa”, người trần thuật tái hiện lại thế giới, diễn biến các sự việc, sự kiện, cảnh vật, môi trường, vừa có khả năng đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật Ở điểm nhìn này, người trần thuật cũng đồng thời là một nhân vật trong tác phẩm, đứng ở ngôi thứ nhất và tái hiện lại những gì bản thân nhân vật trải qua

Trang 12

+ Trần thuật theo phương thức liên chủ quan: Sự trần thuật được tiến hành từ điểm nhìn bên trong của nhân vật nhưng không thuần nhất nhân vật nào mà đan cài, xen kẽ giữa các nhân vật Điểm nhìn giữa các nhân vật chồng chéo lên nhau, hòa trộn với nhau tạo nên một hợp thể phức điệu của các điểm nhìn không chỉ trong toàn bộ tác phẩm mà trong từng hoạt động của nhân vật

Qua khảo sát chúng ta thấy mỗi nhà nghiên cứu tìm tòi và khai thác các vấn đề của điểm nhìn trần thuật theo một cách thức riêng Vì vậy khi nghiên cứu tác phẩm chúng ta cần phải lựa chọn những cơ sở lý luận phù hợp Để tập trung giải quyết nhiệm vụ đề tài đặt ra, chúng tôi nghiên cứu điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo theo hướng phân loại của tác giả Phương Lựu: điểm nhìn bên trong và điểm nhìn bên ngoài

1.2 Nhà văn Võ Thị Hảo và nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật

trong truyện ngắn

1.2.1 Nhà văn Võ Thị Hảo

Võ Thị Hảo sinh năm 1956 ở Diễn Bình, Diễn Châu, Nghệ An, là hội viên Hội Nhà Văn Việt Nam năm 1997 Tốt nghiệp Khoa Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, năm 1977, chị về làm biên tập rồi Phó tổng biên tập cho Nhà Xuất bản Văn hoá dân tộc Năm 1996, chị chuyển sang công tác tại báo Phụ

nữ thành phố Hồ Chí Minh làm trưởng văn phòng đại diện cho báo này tại Hà Nội Từ báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh chị chuyển sang đảm nhận vị trí Trưởng ban thư ký toà soạn cho báo Gia đình và xã hội năm 2000 Rồi chị chuyển sang làm cho Tạp chí Vì trẻ thơ Ở vị trí này không lâu, Võ Thị Hảo lại đột ngột trở về báo Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh nơi trước đó chị đã kiên quyết ra đi Cuối năm 2006, chị xin nghỉ hưu “non” để dành thời gian cho công việc viết lách và đầu tư kinh doanh Cùng với hai cô con gái Uyên

Ly và Hạnh Ly, hiện nay chị đang làm giám đốc của Công ty Văn hoá và Truyền thông Võ Thị Rẽ hướng sang kinh doanh nhưng chị vẫn không quên

Trang 13

nghiệp viết, sau những tập truyện ngắn và tiểu thuyêt Giàn thiêu, chị đang tập trung hoàn thành cuốn tiểu thuyết thứ hai mang tên Dạ tiệc quỷ và cho ra mắt

độc giả một số kịch bản phim

Võ Thị Hảo sinh ra và lớn lên trên mảnh đất xứ Nghệ khắc nghiệt Sự cằn cỗi và hà khắc của thiên nhiên đã tạo cho con người sinh ra trên mảnh đất gió Lào nóng bỏng này, một tính cách chịu đựng bền bỉ, kiên cường Đặc tính của con người xứ Nghệ đã theo Võ Thị Hảo trên mọi nẻo đường đời cũng như trên hành trình làm báo, viết văn Vượt lên sự thiếu thốn chật vật của thời kỳ bao cấp, những khúc mắc trong cuộc sống gia đình, chị vẫn luôn giữ cho ngọn lửa đam mê văn chương âm ỉ cháy Ngọn lửa ấy thôi thúc chị viết, chị viết nhiều, sáng tạo nhiều và bắt đầu nổi tiếng trên văn đàn bởi những truyện ngắn

khác lạ, một trong số đó phải kể đến Người sót lại của Rừng Cười Đây là

truyện ngắn đã gây xôn xao dư luận khi mở ra cho người đọc một cách nhìn mới về cuộc chiến đã qua Truyện ngắn của chị được dịch ra nhiều thứ tiếng (Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc) Một số tờ báo của Nhật, Mỹ đã viết về chị với tư cách là một cây bút nữ gặt hái được nhiều thành công ở thể loại truyện ngắn trong thời kỳ đổi mới Điều đó chứng tỏ giá trị của tác phẩm cũng như năng lực của tác giả

Một người phụ nữ nhỏ bé và khiêm nhường, đó là nhận xét của những người đã từng tiếp xúc với chị Thế nhưng khi đọc những bài báo, những truyện ngắn của chị ta lại phát hiện ra phía sau vẻ bề ngoài dịu dàng, nhỏ nhẹ

ấy là một người phụ nữ mạnh mẽ quyết đoán Chị không thể im lặng trước cái xấu, sẵn sàng phản kháng và đấu tranh đến cùng để chống lại cái ác Với cương vị là một nhà báo, Võ Thị Hảo bất chấp hiểm nguy lên tiếng đòi quyền bình đẳng cho những người phụ nữ bị ngược đãi ở Sa Moa, đòi lại công bằng cho người dân bị mất đất ở Sơn Tây Bạn bè thường nói về nhà báo Võ Thị Hảo với một niềm tự hào: “Trông dịu nhẹ vậy mà viết báo đanh đá lắm Nói

Trang 14

gì là sát cánh, đo ván luôn” Có một cái gì đó như bật dội lên một cách mạnh

mẽ trong những trang viết của chị khiến người đọc không thể thờ ơ Trên những trang văn dường như chị được tự do hơn để yêu thương hờn giận Cái cảm giác bất lực trước hiện thực khi làm báo đã được văn chương hoá giải Điều đó có thể lý giải tại sao có nhiều lúc chị “viết văn như cầu nguyện”, tìm đến văn chương để nương náu trước những cơn bão lũ của cuộc đời như một tín đồ tìm đến với đấng tối linh Bản tính của một người quyết đoán vẫn song hành cùng nét nhạy cảm nữ tính ở chị Chị truy tìm đến tận cùng căn nguyên của mọi nỗi bất hạnh ở con người, cùng khóc, cùng cười, cùng xót xa với số phận của các nhân vật Vượt lên trên những định kiến xã hội, những khen, chê, tốt, xấu, chị sống và làm theo sự lựa chọn của mình, làm theo những gì mình cho là đúng, là đích thực Chị đã dám sống, dám viết và đã tỏ bày quan niệm sống của mình trên từng trang viết thấm đẫm mồ hôi và nước mắt, với mong muốn tột cùng cống hiến cho đời những suy nghĩ trung thực nhất, dũng cảm nhất

Không cho rằng văn chương là một cuộc chơi hay một trò giải trí, chị quan niệm văn chương là nơi có thể đem đến cho chị niềm vui được chia sẻ cảm thông với cuộc đời, được trả những món nợ ân nghĩa, “Văn chương sẽ cứu rỗi tất cả” Chị đã viết trong nhọc nhằn và xót xa, trong hạnh phúc và hân hoan Luôn cảm thấy viết vừa là đam mê, vừa là trách nhiệm, Võ Thị Hảo như

là một người chân trần lặng lẽ mang ánh sáng của mình kiên nhẫn đi trong thăm thẳm đời sống, ngụp lặn trong dòng đời bộn bã để sống và viết và sáng tạo Chị không còn thời gian cho những thú vui nhỏ nhoi mà bất cứ người phụ

nữ nào cũng giành một phần thời gian để chiều chuộng chính mình Cảm giác mắc nợ, có lỗi với mọi người, với cuộc đời luôn thôi thúc chị viết Chị nói về cái được, cái mất trong văn chương: “Tôi không tìm kiếm điều gì khi viết văn, tôi chỉ sống theo số phận của mình Viết văn, tôi được sống nhiều kiếp, được

Trang 15

viết cho mình, được khóc cười Thiên đường, địa ngục, người và ma quỷ, thiên thần hỗn độn như thế, tôi đã được quá nhiều khi tôi viết văn Nếu tính chuyện mất, thì tôi mất đi ít nhiều khả năng làm lành với cuộc sống và phải nhận lĩnh kiếp nạn của những kẻ không thể im lặng trước nỗi đau của người khác”

Không chỉ miệt mài sáng tạo, Võ Thị Hảo còn rất nghiêm khắc với bản thân trong lao động nghệ thuật Chị luôn luôn tâm niệm “điều quan trọng để trở thành một người viết có tư tưởng độc lập là không chấp nhận những lối mòn” Và “nhà văn không được phép lừa dối chính mình, không làm những điều mà chính mình đang dối trá để cầu lợi Sống dối là nguy hiểm, viết dối lại càng nguy hiểm hơn” Thực tế, những truyện ngắn của chị đã là bằng chứng hết sức thuyết phục cho quan niệm về nghề văn Đặt bên cạnh những truyện ngắn cùng thời bao giờ ta cũng có thể nhận ra nét riêng của Võ Thị Hảo khi ở giọng kể, khi ở cái tên, khi ở những đoạn kết hay tình huống độc đáo Càng viết chị càng khẳng định được mình, càng đưa lại cho độc giả, những người yêu mến chị, niềm tin vào sức sáng tạo và tinh thần lao động nghiêm túc của người phụ nữ dám sống, dám viết và dám cháy hết mình cho văn chương

Võ Thị Hảo sáng tác trên nhiều thể loại Chị bắt đầu làm thơ từ những năm tháng còn ngồi trên ghế nhà trường Nhưng sau đó lại chuyển sang viết truyện ngắn rồi tiểu thuyết và kịch bản phim Bao giờ ở chị cũng bộn bề công việc với những dự định về nghề báo, nghiệp văn và còn cả niềm ham thích trong hội hoạ Chị đã xuất bản được khá nhiều tác phẩm

- Tập truyện ngắn Biển cứu rỗi, Nhà xuất bản Hà Nội, 1991

- Tập truyện ngắn Chuông vọng cuối chiều, Nhà xuất bản Lao Động

1994

- Truyện ngắn chọn lọc Võ Thị Hảo, Nhà xuất bản Hội Nhà văn 1995

Trang 16

- Tập truyện ngắn Ngậm cười, Nhà xuất bản Phụ nữ, 1998

- Tiểu thuyết Giàn thiêu, Nhà xuất bản Phụ nữ, 2003

- 101 cái dại của đàn ông (tái bản), Nhà xuất bản Lao Động và Công ty

Văn hoá và Truyền thông Võ Thị, 2006

- Kịch bản phim: Con dại của đá, Lời hẹn mùa thu

Ngày 19 tháng 10 năm 2005, Bộ Tuyển văn gồm năm cuốn sách: Goá phụ đen, Người sót lại của Rừng Cười, Hồn trinh nữ, Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm và tiểu thuyết Giàn thiêu do Công ty Văn hoá và Truyền

thông Võ Thị kết hợp với Nhà xuất bản Phụ nữ ấn hành đã ra mắt bạn đọc Đây là lần tái bản có bổ sung một số truyện ngắn mới sáng tác của nhà văn Vào làng viết chưa lâu nhưng tác phẩm của Võ Thị Hảo đã gặt hái được một

số thành công đáng kể

- Tập truyện ngắn Biển cứu rỗi đạt giải thưởng cuộc thi tiểu thuyết do

Nhà xuất bản Hà Nội tổ chức năm 1991 - 1992

- Giải thưởng 5 năm văn học Hà Nội 1990 - 1995

- Tiểu thuyết Giàn thiêu đạt giải thưởng cao nhất của Hội Nhà văn Hà

Nội 2003 - 2004

Năm 1989, Võ Thị Hảo viết truyện ngắn đầu tay Người gánh nước thuê, không lâu sau chị cho ra mắt độc giả tập truyện ngắn Biển cứu rỗi Sự xuất

hiện này đã nhanh chóng xác định trong lòng độc giả tên tuổi của một nữ văn

sĩ góp phần không nhỏ làm nên bức tranh phong phú của truyện ngắn Việt Nam sau 1986 Xuất hiện vào thời điểm truyện ngắn có nhiều khởi sắc với những tên tuổi đã thành danh trong công cuộc đổi mới như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài truyện ngắn của Võ Thị Hảo không dễ để cuốn hút ngay người đọc bằng cái “lạ” và cái “mới” Nhưng chính chiều sâu tư tưởng

và sự thành công ở một số phương diện hình thức nghệ thuật đã tạo nên chỗ đứng của truyện ngắn Võ Thị Hảo

Trang 17

Truyện ngắn thời kỳ đổi mới hướng vào cuộc sống thường nhật, khám phá mọi vấn đề của đời sống ở những chiều kích và góc độ khác nhau Truyện ngắn của Võ Thị Hảo cũng không nằm ngoài những đối tượng phản ánh ấy Chị đặc biệt hướng ngòi bút của mình đến vấn đề nhân tính và sự bất bình trong xã hội Nói về những điều này bao giờ nhà văn cũng đi đến tận cùng bằng cách phản ánh mọi góc cạnh sâu sắc của vấn đề, không ngại đụng chạm đến những gì mà dư luận cho là “nhạy cảm” theo cách riêng của mình Đọc truyện của Võ Thị Hảo, ta không có cảm giác ngột ngạt, khó chịu như trước khi cơn bão tràn qua như khi đọc truyện của Phạm Thị Hoài hay Nguyễn Thị Thu Huệ Ngược lại, người đọc có cảm giác bất an khi luôn dự cảm có bất trắc sẽ xảy ra, tựa như cảm giác của một người lần đầu tiên bước chân xuống biển, không dám bước liều vì sợ sẽ sa chân xuống một hố sâu nào đó Bất an,

lo sợ nhưng vẫn muốn bước tiếp để khám phá vì cuộc sống luôn đầy bất ngờ không thể lường trước Người viết đã khéo léo gieo vào lòng người đọc sự háo hức chờ đợi thông qua những biện pháp nghệ thuật hữu ý

Tính chất bất ngờ trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo trước hết được tạo nên từ các tình huống đặc sắc Đúng như nhận xét của tác giả Bùi Việt Thắng:

“Mỗi người viết truyện ngắn thường có một lối nẻo riêng, với Võ Thị Hảo việc tìm tòi tình huống truyện là có ý nghĩa nhất” [57] Không chỉ ở tình huống mà ở ngay tiêu đề của truyện ngắn ta đã thấy dụng công của người viết nhằm gây ấn tượng với người đọc Những tên truyện thường hứa hẹn ở phía

sau nhiều suy tư triết lí và gợi không khí về một miền cổ tích: Dây neo trần gian, Vũ điệu địa ngục, Làn môi đồng trinh, Hồn trinh nữ Không khí cổ

tích, huyền thoại còn được tạo nên cùng với sự linh hoạt trong các ngôi trần thuật, trong cách xưng hô, gọi tên nhân vật Chất liệu của cổ tích dân gian đã được nhà văn làm sống dậy trong tác phẩm của mình để tạo nên một sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa truyền thống và hiện đại Chỉ riêng điều này, ta cũng

Trang 18

thấy rõ nét riêng biệt của Võ Thị Hảo trong số rất nhiều cây bút truyện ngắn xuất sắc lúc bấy giờ

Thế giới nhân vật trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo đã thực sự chuyên chở được tư tưởng quan niệm về con người và cuộc đời của nhà văn Truyện của chị ít thấy nhân vật phản diện để ta phải lên án căm hờn Ngay cả nhân vật biểu hiện cho cái xấu cũng có nét gì đó rất đáng thương rất cần được thông cảm Nói như vậy không có nghĩa là nhân vật của chị cứng nhắc, ngược lại đó là thế giới nhân vật hết sức sinh động, họ vừa là chủ nhân vừa là nạn nhân của cuộc sống Nếu nhân vật trong văn Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Nguyễn Bình Phương thường biến dạng, méo mó về cả nhân hình lẫn nhân tính thì nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Hảo hoặc có nét dị dạng ở vẻ

bề ngoài (Rân trong Người đàn ông duy nhất, Hằng trong Làn môi đồng trinh, Tâm trong Máu của lá ), hoặc sự thờ ơ vô tình của đồng loại đã đẩy họ đến cảnh cô đơn lạc lõng (lão Nhát trong Vầng trăng mồ côi, những người đàn bà trong Trận gió màu xanh rêu ) Những kẻ khác người ấy lại mang trong

mình vẻ đẹp của một tâm hồn thánh thiện giàu lòng vị tha và đức hy sinh Người phụ nữ, những thân phận bé mọn ngơ ngác lạc lõng với giấc mơ lầm lụi nhọc nhằn, họ bước sang nền kinh tế thị trường để nhận thêm nhiều đớn đau, thua thiệt Viết về phái nữ bao giờ ta cũng tìm thấy trong ngòi bút của Võ Thị Hảo sự đồng cảm xót xa đến quặn thắt ở đó có bóng dáng, có nỗi niềm của chính chị, một người đàn bà với rất nhiều đam mê khát vọng và không ít khổ đau Khi cái tôi tác giả hoà lẫn vào nhân vật để chỉ còn cái tôi của hiện hữu, người đọc có điều kiện để “cảm” được thực hơn sự phức tạp của đời sống, của thế giới nội tâm con người, nói như cách nói của nhà văn “được sống nhiều kiếp, được biết nhiều cuộc đời” Nếu làm một phép so sánh về nhân vật nữ trên trang viết của các nữ nhà văn, người ta có thể nhận ra nét riêng của nhân vật Võ Thị Hảo Bướng bỉnh thích khuấy động xung quanh để

Trang 19

khẳng định chính mình là các nhân vận nữ trong truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh Người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ mạnh mẽ bạo liệt sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được hạnh phúc Còn ở truyện ngắn của Võ Thị Hảo họ nhẫn nại cam chịu trước số phận bất hạnh Có lúc ngang ngạnh, nổi loạn nhưng họ vẫn rất đằm thắm với khát vọng được dâng hiến, khao khát kiếm tìm hạnh phúc cứ rát bỏng trong tâm hồn nhân vật Người đọc không thể không yêu, không thương, không thể không đồng cảm với nhân vật dù đó là

một cô gái sa ngã (Vũ điệu địa ngục), một người đàn bà nhẹ dạ (Người đàn ông duy nhất) hay một con điếm đã hết thời (Biển cứu rỗi) Với tình yêu, câu

chuyện muôn thuở của loài người, nhà văn không hoài nghi mà ngược lại đặt

niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của nó Trong các truyện ngắn: Goá phụ đen, Tiếng vạc đêm, Khói mang màu nước biển người ta cảm nhận được sự

âu yếm mang chút thánh ca của tác giả khi nói về tình yêu Điều này đã gieo vào lòng độc giả niềm hy vọng tin tưởng vào những gì còn tốt đẹp trong cuộc đời Khi mà con người quay quắt với tiền tài, danh vọng, tình yêu cũng như một thứ đồ có thể trao đổi buôn bán thì gieo được hạt mầm hi vọng ấy quả là một điều đáng nói

Truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay ghi nhận sự phát triển của dòng văn học sử dụng yếu tố kỳ ảo Nhắc đến văn học kỳ ảo thời kỳ này không thể không thừa nhận những đóng góp của Võ Thị Hảo Cùng với Nguyễn Huy Thiệp, Lưu Sơn Minh, Lý Lan Võ Thị Hảo đã góp phần khơi dòng cho văn học sử dụng yếu tố kỳ ảo phát triển trở lại sau một thời gian dài vắng bóng,

mở ra một không gian mới, một thủ pháp mới để khám phá hiện thực Ngay ở dòng truyện ngắn này, cá tính của một nữ nhà văn ưa khám phá thử nghiệm

đã được biểu hiện khá rõ nét

Ai đó từng nhận xét chí lí rằng văn học đang mang gương mặt nữ ngày càng trắc ẩn và khoan dung, ngày càng tinh tế và đằm thắm Thập niên chín

Trang 20

mươi của thế kỷ qua truyện ngắn được mùa vì thế cũng nở rộ một loạt tên tuổi

nữ được người đọc mến mộ như Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Võ Thị Xuân Hà, Nguyễn Thị Thu Huệ, Lý Lan Võ Thị Hảo cũng là một trong số những cây bút nữ đã góp phần làm nên sự khởi sắc của truyện ngắn Dù chưa phải là một cây bút xuất sắc nhất nhưng sẽ thật thiếu sót nếu nói đến truyện ngắn Việt Nam sau 1986 mà không nói đến chị Không ồn ào, không sắc nét màu mè, không khiến giới phê bình phải tốn nhiều giấy mực để tranh cãi nhưng truyện của chị lại có sức cuốn hút kỳ lạ đối với người đọc Ẩn đằng sau những câu chữ trau chuốt, lối kể chuyện cuốn hút có duyên, lối văn phong vừa cũ, vừa mới, vừa quen, vừa lạ là những tâm sự day dứt không nguôi về số phận con người, về cuộc đời và nhân tình thế thái Đọc truyện của chị thường buồn, đó

là nỗi buồn có lẫn cả vị ngọt ngào và cay đắng, một nỗi buồn giúp tâm hồn ta trong sáng hơn Ở một thể loại có tốc độ phát triển khá nhanh từ sau 1975, truyện ngắn Võ Thị Hảo có nhiều đóng góp tích cực Về phương diện nội dung đó là cái nhìn mới về cuộc đời và con người, là cảm hứng sáng tạo cùng với cách khai thác xử lý đề tài có nhiều mới lạ Tạo tình huống đặc sắc, gia tăng yếu tố kỳ ảo, đổi mới ngôn ngữ, giọng điệu, đa dạng trong cấu tạo đoạn kết, đó là những đóng góp của truyện ngắn Võ Thị Hảo ở phương diện nghệ thuật trần thuật Chính những đóng góp riêng này đã khẳng định tên tuổi cũng như vị trí của truyện ngắn Võ Thị Hảo trong bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1986 Thành công ở thể loại tự sự cỡ nhỏ đã được tích luỹ để tạo đà cho

tiểu thuyết Giàn thiêu ra đời năm 2003 Đây là tiểu thuyết đánh dấu sự trưởng

thành trong ngòi bút ưa thử thách mạo hiểm Với tiểu thuyết này, Võ Thị Hảo

ít nhất được “cho điểm” ở lòng dũng cảm: Chuyển từ thể loại “tay quen” truyện ngắn sang thể loại tiểu thuyết Viết truyện ngắn chính là một bước chuẩn bị quan trọng để nhà văn xứ Nghệ này gặt hái được thành công trong

Trang 21

tiểu thuyết, hứa hẹn cho những dự định mới trong hành trình sáng tạo của người nghệ sĩ

1.2.2 Nghệ thuật lựa chọn điểm nhìn trần thuật trong truyện ngắn Võ Thị Hảo

1.2.2.1 Điểm nhìn bên ngoài

Điểm nhìn bên ngoài luôn tạo ra khoảng cách giữa người trần thuật và nhân vật Vì vậy, ở điểm nhìn này người trần thuật sẽ có cái nhìn khách quan, tỉnh táo để thuật lại, tả lại các nhân vật và sự kiện Từ đó làm nổi bật những khía cạnh khác nhau của bức tranh xã hội phong phú đa dạng

Nếu điểm nhìn bên trong hướng vào nội tâm thì điểm nhìn bên ngoài lại

có khả năng bao quát mọi bình diện ngoại giới Tác phẩm được triển khai với điểm nhìn này hầu như ta không nhận ra được sự hiện diện của người kể chuyện, họ đứng ngoài không phát biểu gì về sự kiện nhân vật cũng chẳng hề bận tâm đến suy nghĩ bên trong của nhân vật, chỉ lặng lẽ quan sát rồi ghi chép lại lời nói hành động của nhân vật tựa như một chiếc máy quay chính hiệu Song, câu chuyện vẫn được tiếp diễn phát triển nhờ vào các cuộc thoại giữa các nhân vật Nói khác đi, chọn điểm nhìn bên ngoài người trần thuật có vị trí quan sát khách quan hơn để chiếm lĩnh mọi diễn biến của câu chuyện mà thuật lại cho người nghe

Ở điểm nhìn này đa phần người làm chủ điểm nhìn ấy là người kể chuyện ngôi ba với cái nhìn “biết tuốt” - toàn tri Bằng sự điềm nhiên của lối

kể, người trần thuật thường xuyên tách mình ra khỏi sự đồng cảm đối với nhân vật và chỉ hướng sự chú ý của người nghe vào kết quả thuần túy

Điểm nhìn bên ngoài gắn với ngôi kể ấy đề xuất một cái nhìn khách quan và dẫn dắt câu chuyện theo dụng ý của tác giả Nhưng dù chưa đạt tới độ

“khách quan lạnh lùng” như T Sêkhốp “đứng trên tất cả mọi sự phiền muộn, hân hoan để thấu triệt hết mọi công việc”, nhưng “ống kính” của nhà văn

Trang 22

cũng đã xoáy sâu vào các hiện tượng xã hội để mổ xẻ, phân tích đến từng ngóc ngách sâu kín nhất Với quan niệm đó, câu chuyện được kể dưới nhiều góc nhìn, nhiều quan điểm, cách lý giải khác nhau nhằm tạo nên tính chân thực khách quan, lôi cuốn người đọc Đồng thời giúp người nghệ sĩ phát huy tối đa sự sáng tạo của mình

Theo lý thuyết Tự sự học của G.Genette, người kể chuyện ngôi thứ ba tồn tại hai trường hợp cơ bản: người kể chuyện toàn tri toàn năng và người kể chuyện ngôi ba không toàn tri (hạn định) bị hạn chế bởi tầm nhìn của nhân vật Không khó để nhận diện dạng thức thứ nhất trong các truyện kể truyền thống Ở đó, người kể chuyện chẳng khác nào vị thượng đế tài năng có khả năng tinh thông am tường mọi đường đi nước bước, thậm chí biết rõ cả mọi suy nghĩ, đoán định được chính xác tương lai số phận của nhân vật Kiểu người kể này đã trở nên thông dụng và phổ biến trong các tác phẩm văn xuôi các giai đoạn trước Nhưng sang đến văn học hiện đại, để gia tăng độ khách quan và mời gọi tiếp nhận từ phía độc giả, nhà văn tìm cách kiềm chế và thu hẹp quyền lực của người kể có khả năng bẩm sinh và siêu nhiên như thượng

đế, trình diện nhiều hơn vai kể khác - người kể chuyện hạn định

a Điểm nhìn bên ngoài qua người kể chuyện ngôi thứ 3 toàn tri

Không đoạn tuyệt với truyền thống, khảo sát các tập truyện ngắn của

Võ Thị Hảo có thể thấy kể chuyện từ ngôi thứ ba toàn tri vẫn là hình thức được chị sử dụng khá hiệu quả Công bằng mà nói, dù xưa cũ nhưng dạng trần thuật cổ điển này vẫn có ưu thế lớn trong việc khám phá và khái quát bức tranh cuộc sống Chưa bao giờ những vấn đề tủn mủn vặt vãnh, những u nhọt nổi cộm trong đời thường lại được hiển hiện, phân tích mổ xẻ chi tiết đến vậy Cái nhìn đúng mực, đúng bản chất được phát huy tối đa thay cho việc tô hồng hay bôi đen hiện thực Cuộc đời dù “bất nhẫn” vẫn được tái hiện vẹn nguyên, không chút tô vẽ phủ mờ đúng như nó “có” chứ không phải “cần có” Nhà

Trang 23

văn không còn đảm trách nhiệm vụ bồi da đắp thịt mà chỉ phác họa lại những

gì nghe, cảm và thẩm thấu Hiện thực xã hội xô bồ ngổn ngang với nhiều cạm bẫy, cám dỗ; những thân phận người với chằng chịt các mối quan hệ cứ thế

“ùa” vào làm gia tăng không khí ngột ngạt trong tác phẩm Đó có thể là tình cảnh đáng thương của những mảnh đời cơ cực nương tựa vào nhau trong

Người gánh nước thuê Ông Tiếu, Bà Diễm, hai cái tên mới nghe người ta đã

mường tượng đến tiếng cười vui vẻ và hình dáng yêu kiều sang trọng Nhưng trớ trêu thay hình dáng của hai con người đáng thương kia chỉ là một sự nhạo báng cho ý nghĩa của cái tên

Với điểm nhìn bên ngoài qua ngôi kể thứ ba toàn tri, người trần thuật

đã phác họa ngoại hình của hai con người đáng thương như “hai cái cây bị đánh bật hết dễ”, mà chỉ còn “biết tựa vào nhau để đỡ đần” “Dáng người bà Diễm bé loắt choắt, bộ mặt nhăn nheo, gầy sạm chỉ còn hai con mắt Bà vừa

đi vừa lắc lư cái lưng còng Chiếc đòn gánh không bao giờ rời khỏi đôi vai còm cõi của Bà” [19, tr.58] Còn ông Tiếu thì hiếm có một khuôn mặt khắc khổ đến thế “Có đến ngàn vạn nếp nhăn trên khuôn mặt đó Đôi mắt cũng biểu lộ một nỗi đau khổ bất thường như đã đông cứng Còn cái miệng thì trớ trêu làm sao, luôn mỉm một nụ cười bất biến” [19, tr.62] Nụ cười giữa khuôn măt ấy là một nghịch lý như là đang khóc với nỗi đau xé ruột, mà có một kẻ tàn ác nào đó cứ nhất định cù vào nách cho ta phải cười rũ ra mới thôi

Nhưng qua việc miêu tả bề ngoài xấu xí ấy của nhân vật, Võ Thị Hảo muốn chúng ta nhìn ra vẻ đẹp trong đời sống tâm hồn của những con người bé mọn Ông Tiếu, bà Diễm đã nương tựa vào nhau để san sẻ niềm vui hạnh phúc, họ biết sống thuỷ chung, sống vì người khác

Hay sự thống trị của giá trị vật chất tầm thường, thói đê tiện của không

ít phần tử cơ hội đối với sáng tạo nghệ thuật ở Bán cốt; hoặc cũng có thể là

Trang 24

bức tranh ô tạp của cuộc sống hiện đại đang âm thầm len lỏi vào từng mái nhà làm nhem nhuốc tâm hồn người

Giống như nhà tiên tri với những dự cảm không yên về cuộc đời, Võ Thị Hảo đã nhìn thấy những mặt trái đầy tiêu cực của cuộc sống công nghiệp

thời mở cửa qua hình ảnh quái đản trong Miền bọt Đó là sự hỗn tạp nhố

nhăng, ô hợp của nhiều loại người, nhiều cách sống nhưng cùng gặp nhau trong những thú vui tầm thường “trí thức, nghệ sĩ, lưu manh, quan chức Họ bình đẳng với nhau trở thành đống bùn nhão nhoẹt trong vòng ôm cô tiếp viên điếm” [17, tr.186] Đó còn là sự đối lập, sự phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp trong xã hội Như một nhà quay phim thực thụ, mọi khóc cạnh khác nhau của đời sống đương đại đều được đưa vào ống kính vạn năng của người

kể chuyện toàn năng trong truyện ngắn Võ Thị Hảo Qủa thực, nếu thiếu đi ngôi kể ấy e rằng câu chuyện được trải đều trên cả hai trục không - thời gian khó mà hoàn tất Nhờ đó, sức dung chứa bao quát lớn trong các câu chuyện ngắn được co dãn, căng phồng Thay vì chỉ kể đơn thuần như trước, người kể chuyện đứng ngoài nhưng lại biết hết, bày tỏ thái độ về thời thế, về thân phận con người Trước biến chuyển chóng mặt của xã hội, khi mà các hệ giá trị và

cả những chuẩn mực đạo đức đã trở nên chao đảo bấp bênh, người kể chuyện toàn tri cũng không dấu nổi tiếng thở dài não nuột ngao ngán Tuy nắm bắt được mọi tâm tính, nghĩ suy và kết cục của nhân vật nhưng “người biết tuốt” vẫn không khỏi thao thức thậm chí hồ nghi, ngờ vực; song niềm tin vào bản chất thiện của con người không bao giờ vơi cạn, vụt tắt

Ngày không mút tay chính là tiếng nói thống thiết của người kể chuyện

về cảnh ngộ éo le, bi đát của vợ chồng Ngâu Ngần Dù chỉ đứng ngoài quan sát nhưng cảm giác cay đắng vẫn xâm chiếm cõi lòng người kể Cái đói đáng

sợ vây hãm lấy gia đình một người công nhân mất sức lao động Tác giả đã tái hiện đến chân thực sự đói nghèo và nỗi đau khổ của nhân vật Ngâu Là một

Trang 25

người cha anh thấm thía đến tận cùng nỗi xót xa trước cảnh “ba đứa trẻ đang nhất loạt đưa tay lên miệng mút cho đỡ cơn đói mà cái mùi kích thích mùi vị

ấy vừa dấy lên Thằng lớn bảy tuổi mút ngón tay cái Còn hai đứa gái sinh đôi thì chùn chụt mút ngón trỏ của bàn tay phải” [19, tr.108] là một người chồng đau đớn uất nghẹn khi mường tượng mồn một “khuôn mặt đẹp võ vàng của

vợ hắn đang bị phủ dưới bản mặt của một gã lạ hoắc nào đó Xong việc Một nắm tiền còm” [19, tr.110] Không khí bức bối của cuộc sống đói nghèo về vật chất khiến người đọc dễ đồng thuận với ý nghĩ của Ngâu về hành động của vợ Khi quằn quại trong cái đói, cái nghèo người ta dễ nghĩ về cái xấu, dễ làm việc xấu Nhân vật Ngâu cũng vậy Nỗ lực cuối cùng của Ngâu để cứu vớt cái gia đình bé nhỏ đáng thương kia là hành động bán máu Trong một lần

vô tình thấy vợ mình ngất xỉu vì sức đã cạn khi máu bán quá nhiều anh mới xót xa, tê tái Câu chuyện được tái hiện một cách xúc động lan truyền cảm xúc đến trái tim độc giả

Không chỉ am tường về thực trạng cái nghèo cái đói, người kể chuyện ngôi 3 toàn tri trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo còn thông tỏ nhiều sự tình

để lật tẩy làm rõ trắng đen Lão Nhát trong Vầng trăng mồ côi bị người làng

khinh rẻ, xa lánh “Lão Nhát ngấm ngầm đau đớn trước những cái nhìn gằn hắt của làng Lão cố làm như câm như điếc, cố găm lại cái làng yêu dấu đó” [19 tr.26] Có thể mãi mãi lão còn nhịn nhục được nếu như người đàn bà sau khi mất đứa con thứ ba trong trận bom bi ác liệt không văng vào mặt lão tiếng rít ghê rợn “cút đi! Đồ chó ghẻ, đồ chỉ điểm” [19 tr.26] Lão Nhát đã bỏ làng

đi, trở thành “con cừu ghẻ trong đàn” trước sự xua đuổi, xa lánh của đồng loại Mặc dù vậy , Lão vẫn dành cho cả làng một tình yêu luôn luôn ấp ủ trong lòng, tình yêu ấy đủ mạnh để có thể vượt lên cả nỗi oán trách để trở thành động cơ cho hành động xả thân cứu làng Lão đã dũng cảm liều mình để đánh lừa mục tiêu quân giặc Vậy mà không một ai tin vào hành động dũng cảm đó,

Trang 26

họ cố tình suy tôn “kỳ tích anh hùng của người lái xe đã đưa chiếc xe chở đầy đạn dược lao qua bom đạn một cách thần kỳ” [19, tr.34] Ngay cả người lái xe

ấy dù được viết sẵn cho một bản thành tích kêu như chuông, nhiều lần diễn thuyết trước công chúng vẫn ngơ ngác chẳng hiểu nổi cái gì đang diễn ra, buộc lòng phải “nhớ lại tình huống như mẫu” Thật giả lẫn lộn, đâu là giá trị thực ở đời, không có người kể chuyện toàn năng bức màn cuộc sống thật khó vén cho tỏ tường

Có thể thấy, cho dù vẫn tiếp tục sử dụng lối kể truyền thống nhưng truyện ngắn Võ Thị Hảo không đơn điệu, xưa cũ mà có nhiều đổi mới Người

kể chuyện sắm vai thượng đế không những không lạc hậu mà còn tỏ ra khá thích ứng trong môi trường truyện ngắn hiện đại Ngoài ra, chính bởi việc nhà văn đã cố gắng xác lập một khoảng cách khá xa với truyện kể, không can thiệp hay với tay quá dài vào các sự kiện, để câu chuyện diễn ra thật tự nhiên theo sự chỉ dẫn của người kể toàn tri nên bạn đọc cứ như bị một ma lực hút dính vào tác phẩm

b Điểm nhìn bên ngoài qua người kể chuyện ngôi thứ 3 hạn định

Các nhà văn mang cảm quan hậu hiện đại đều tỏ ra ưu ái, dành sự quan tâm lớn với người kể chuyện ngôi ba hạn định Đây cũng là nét đổi mới cơ bản trong nghệ thuật trần thuật của Võ Thị Hảo Khước từ vai trò của thượng

đế toàn năng, họ hiểu rằng không phải cái gì người kể chuyện cũng thông tỏ

“biết tuốt” Cuộc sống vốn là một “trò chơi” tiềm ẩn nhiều bất ngờ lý thú, khó

ai dám khẳng định biết hết được những gì đã, đang và sẽ diễn ra Mặc dù là người dẫn dắt câu chuyện nhưng không có nghĩa là người kể nắm bắt toàn bộ

sự việc, làm chủ cuộc chơi mà chỉ chạy theo suy đoán và rất giỏi đưa đẩy, người kể chuyện hạn định khéo “vờ vĩnh” nhường lại quyền phán xét và lựa chọn kết cục câu chuyện cho độc giả Hình thức kết thúc mở được tác giả cố tình tung ra để “mờ hóa” giúp người thưởng thức có điều kiện tham gia vào

Trang 27

tiến trình tự sự Đã đến lúc nhà văn không thể đủ quyền lực để chi phối toàn

bộ cuộc đời nhân vật Sự “lên ngôi” của người kể ngôi ba hạn định khẳng định xu thế mới trên lộ trình đổi mới thể loại Tính chất dân chủ trở thành ưu thế nổi bật trong những truyện có sự xuất hiện của người kể chuyện không đáng tin này

Sáng tác của Võ Thị Hảo xuất hiện phổ biến người kể chuyện ngôi ba

hạn định: Người sót lại của rừng cười, Trận gió màu xanh rêu, Phúc lộc thọ lên trời, Con dại của đá, Làn môi đồng trinh… Trong Người sót lại của rừng cười, nhân vật Thảo chấp nhận hy sinh thầm lặng tuổi thanh xuân cho Tổ

quốc, cho người mình yêu để nhận về những thương tổn trong cõi lòng Sự dâng hiến lớn lao đó khiến người yêu của Thảo là Thành chất chứa nhiều dằn vặt, trăn trở Dù đã an phận với tổ ấm gia đình nhưng trong tâm trí Thành

“vẫn chấp chới đôi cánh bé nhỏ của loài yến huyết” [19, tr.107] Đôi mắt của Thành cứ đăm đắm về một phương xa, mong cầu có phép lạ để người con gái anh mắc nợ trở về Thực lòng, Thành không hình dung nổi Thảo giờ ở đâu, như thế nào, sẽ là “một thân hình tàn tạ bơ phờ, mắt mộng du, tay cầm cành liễu? Hay với bộ quần áo nâu sồng, tay chắp trước ngục: “A di đà! Phật!”? Hay một bà chủ sang trọng, tay đầy xuyến và nhẫn? Hay một phóng viên đầy tài năng vừa từ Sài Gòn bay ra?” [19, tr.107]

Còn nhân vật Sải trong Con dại của đá không thể chống lại sự cám dỗ

mà kẻ sành sỏi, thạo đời giăng mắc Sải có nhan sắc, cô biết mình là cô gái đẹp nhất bản Cô còn biết những người đàn bà Mông “suốt đời cúi mặt nhìn xuống bàn chân mình và chỉ ngẩng đầu lên khi tay sắp để tuột cái đuôi ngựa” [18, tr.187] Tuổi trẻ với khát vọng đi xa tìm kiếm điều mới lạ thôi thúc cô chống lại lề thói cũ Cô yêu Hùng De, nhưng “chàng Hùng De không mang vị mặn của biển Chàng chưa bao giờ tới biển Trong mái tóc mịn của chàng chỉ

có mùi ngọt lợ của sương mù quanh năm quấn trên đỉnh núi Mắt De trong

Trang 28

veo như mắt nàng Nàng nghĩ rằng nó trong vì chỉ in da trời của một miền quê” [18, tr.190] Còn Cáo Tờ Quẩy, “nàng lượng thấy trong mắt hắn những miền xa vời vợi mà nàng chưa hề biết tới” [18, tr.190] Khát khao cháy bỏng

về một “miền ngái lạ” đã khiến Sải lầm lẫn, cô phải trả giá cho chính những việc làm của mình Dám bước qua định kiến nhưng số phận không giành cho

cô gái mười bảy tuổi ấy thiên đường hạnh phúc Tiếng hí của chú ngựa non chào biệt “đứa con dại của đá” khiến người đọc sực tỉnh, ao ước về một vùng đất để bước chân của đứa con dại được quẫy đạp tự do? Liệu nàng Sải đã chết hay còn sống? Câu trả lời dành để mọi người đoán định Dù sự tình không được tường minh nhưng ít nhiều cũng để lại một chút buồn, một chút thương, một chút tái tê khó lý giải Đó chính là hiệu ứng cảm xúc từ kiểu người kể chuyện hạn định này

Đặc biệt những truyện “giả cổ tích” như Hồn trinh nữ, Nàng tiên xanh xao, Nữ hoàng cô đơn… làm lay động tiếng tơ đồng, khơi gợi sự đồng vọng

lớn từ phía người đọc bởi lối kể chuyện có duyên và khéo léo như thế Khi

“nhại” những truyện cổ tích dân gian, Võ Thị Hảo còn tìm cách phát huy tối

đa sở trường của kiểu trần thuật với vị trí quan sát từ bên ngoài qua vai kể ngôi ba hạn định Đó chính là dấu hỏi nghi ngờ mà chị còn trăn trở về tính chất lý tưởng hóa mà những kiểu kết thúc có hậu luôn hiện hữu trong các câu chuyện cổ tích Thực ra, ngoài Võ Thị Hảo, dấu hiệu của sự hoài nghi còn có mặt trong các truyện ngắn kiểu “nhại lịch sử” của Nguyễn Huy Thiệp Người

kể chuyện hạn định trong sáng tác của Võ Thị Hảo hay Nguyễn Huy Thiệp

có vẻ khá đắc địa cho dụng ý “nhại” Họ đều tỏ ra mơ hồ về nguồn gốc lai lịch của các nhân vật, thậm chí “bó tay” buộc phải đưa ra nhiều ngã rẽ hướng

đi cho các nhân vật đó Khác với Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo nghiêng nhiều hơn về vấn đề “cổ tích giữa đời thường” Liệu “ác giả ác báo”, “ở hiền gặp lành”, “gieo nhân nào gặt quả đấy” có còn vẹn nguyên giá trị ở thời buổi

Trang 29

vàng thau lẫn lộn này? Một khi sự hoài nghi chưa được giải đáp thì người kể chuyện khó lòng mà “biết tuốt”, biết rõ ràng

Kiểu trần thuật với vị trí quan sát từ bên ngoài qua ngôi ba hạn định, chỉ kể lại các sự kiện một cách khách quan mà tuyệt nhiên không hề can dự vào nội tâm nhân vật được Võ Thị Hảo phát huy tối đa trong các loại truyện ngắn này Từ điểm nhìn ấy, người kể ẩn tàng dẫn dắt người đọc đi từ chi tiết này sang chi tiết khác theo sự vận động tất yếu của câu chuyện Vì nhận ra bộ mặt phụ bạc của người chồng sắp cưới mà cô gái chỉ biết lặng lẽ tự trách mình khi trao gửi cả tính mạng cả niềm tin cho kẻ “một dạ… nhiều lòng” để rồi thoát xác biến thành cây bưởi có hương thơm ngát nhưng phủ đầy gai trong

Nàng tiên xanh xao; vì kiểu yêu bằng mắt của bao gã đàn ông hiếu sắc đã làm

tan vỡ trái tim mong manh của cô gái xinh đẹp khiến cô trở thành loài hoa

tigôn yếu đuối ở Tim vỡ; vì nhẹ dạ cả tin mà cô gái bị phản bội trong tình yêu

đã hóa kiếp thành cây chanh với vị chua đủ để thức tỉnh con người trong

truyện Khát của muôn đời

Hay như tác phẩm Hồn trinh nữ là một minh chứng Câu chuyện kể về

một gia đình có “gien di truyền” “chôn chân chờ chồng đi lính” [17, tr.74], đến đời thứ ba, người con gái cũng giữ tiết hạnh lòng thủy chung mà đợi chờ phôi pha cả tuổi xuân Vậy là lại có thêm mấy hòn vọng phu của thời hiện đại nhưng thông tin về tên tuổi, quê quán của họ thì lại hoàn toàn nằm ngoài thư mục lưu trữ của người kể Sự mù mờ trong lối kể chuyện đã bước đầu manh nha Những nghĩ suy của nhân vật dần dần nằm ngoài tầm kiểm soát của người kể hạn định May sao, sau bao năm mòn mỏi ngóng trông người chinh phu đã vinh quang trở về Lẽ thường, theo quy luật nhân quả, cô gái ấy sẽ được hưởng những tháng ngày an nhàn, ấm êm, hạnh phúc; vậy mà bao ám ảnh của cuộc binh đao cùng với nụ cười băng giá của người chồng đã làm cô gái đớn đau hoảng loạn Đêm tân hôn cũng là đêm đánh dấu sự chia ly vĩnh

Trang 30

viễn của đôi vợ chồng sau bao năm thương nhớ, hạnh phúc vỡ tan không thể gắn kết ngay từ khi mới chớm đơm bông Cô gái biến thành loài hoa trinh nữ luôn mang cảm giác run sợ với từng tiếng động dù nhỏ nhặt; còn người chồng

bỏ đi biệt xứ không rõ hành tung “Có người cho rằng anh đã đến tìm vua, định bắt vua phải đền tội đã khiến anh thành người đàn ông không biết cười Nhưng vua đã kịp giết anh trước, bằng chính một trong những chiếc đũa nạm vàng nơi bàn tiệc Cũng có người bảo rằng, anh lại lao vào những cuộc chém giết mới không ghê tay cho quên ngày tháng” [17, tr.84] Liên tục hiến kế, đưa ra các giả thiết khác nhau cho thấy người kể chuyện giờ đây không còn khả năng làm chủ số phận nhân vật Không bình luận, không đánh giá cũng chẳng sẻ chia đồng cảm, người kể mang điểm nhìn bên ngoài hoàn toàn dửng dưng với diễn biến sự việc Kết mà như chưa hề kết, thay vì hoàn tất câu chuyện cho có đầu có cuối, nhà văn “bỏ lửng” phần hậu để nhượng quyền lại cho độc giả tự do đoán định, thoải mái lựa chọn các phương án sao cho thích hợp với trải nghiệm, tâm tính của từng người Bằng cách nhìn như thế, câu chuyện sẽ đi đến một kết cục như nó phải có dù là bi đát, người kể ở vị trí quan sát từ ngoài không hề uốn nắn hay chỉnh sửa sao cho có “hậu” giống như truyện cổ tích dân gian

Khách quan gần như tuyệt đối là giá trị trong truyện “giả cổ tích” của

Võ Thị Hảo do cái nhìn bên ngoài mang lại Qua mỗi “đứa con tinh thần” được thai nghén, Võ Thị Hảo đã khẳng định lối tư duy mới của xu hướng văn học mới, đó là tính chất dân chủ, gợi mở, tôn trọng sự sáng tạo từ phía độc giả, thu bớt uy quyền thống trị của người viết, đảm bảo mỗi văn bản là “một cấu trúc gọi mời”

1.2.2.2 Điểm nhìn bên trong

Nếu ở điểm nhìn bên ngoài, người trần thuật kể lại sự kiện với thái độ khách quan, điềm nhiên, lạnh lùng thì ở điểm nhìn bên trong, khoảng cách

Trang 31

giữa người trần thuật và nhân vật đã được rút ngắn lại, có khi còn trùng với nhân vật Từ góc độ này, người trần thuật có thể thâm nhập vào cảm xúc, suy nghĩ, ấn tượng của nhân vật, nhìn thế giới theo con mắt của nhân vật và trần thuật bằng chính giọng điệu của nhân vật đó Vai trò của lăng kính này vô cùng quan trọng, bởi nói như M.Bakhtin: “Ở con người bao giờ cũng có cái gì

đó mà chỉ bản thân nó mới có thể khám phá bằng hoạt động tự do của sự tự ý thức và của lời nói, điều này không thể nào xác định được từ bên ngoài, từ phía sau lưng con người” Vậy nên, nếu đặt điểm nhìn từ bên trong rất thuận lợi cho việc khám phá sự đa chiều kích trong tâm hồn người Chính vì lẽ đó,

Võ Thị Hảo thật tinh ý khi trao điểm nhìn cho chính nhân vật trong truyện Nói đúng hơn, điểm nhìn ấy xuất hiện đậm đặc, đầy kín từng trang văn của tác giả Nhờ đó mỗi cá nhân được tự do phát ngôn mà không cần thiết phải có

sự biện hộ của nhà văn, thậm chí nằm ngoài vùng kiểm soát của ngòi bút người sáng tác Là phụ nữ, Võ Thị Hảo lắng nghe, đồng cảm và thấu hiểu nỗi lòng của người cùng giới khá sâu sắc Nhiều khi ta có cảm giác chiếm lĩnh thế giới tâm trạng là thế mạnh của chị Những lo âu buồn chán, những ám ảnh đeo đuổi, thậm chí cả những cảm xúc rất khó gọi tên cứ lũ lượt ùa về… đều chẩn đoán chính xác Có được điều này là do sự hỗ trợ không nhỏ của điểm nhìn bên trong

a Điểm nhìn bên trong qua người kể chuyện xưng “tôi” là nhân vật của tác phẩm

Một khi Võ Thị Hảo để nhân vật tự xưng “tôi” thuật lại sự tình tức là chị đã đảm bảo hệ số tin cậy cao mà đánh động vào tiếng lòng độc giả Chủ thể kể chuyện lúc này được đặt vào trong chính các sự kiện, tình tiết bằng tâm thế của người trong cuộc Với ngôi kể có sự cá thể hóa cao ấy, Võ Thị Hảo

có khả năng bộc lộ bao cảm quan suy nghĩ, bao nhìn nhận đánh giá về con người và các vấn đề đeo đẳng, dằn vặt ám ảnh tự bấy lâu Đó là lẽ tất yếu bởi

Trang 32

chị vốn là nhà văn tâm huyết với nghề, giàu lòng trắc ẩn lại “can tội” đa cảm

đa mang Trái tim mẫn cảm tựa như dây đàn khiến người kể chuyện xưng

“tôi” như sự hóa thân trọn vẹn của chính chị “thả” ra để mong cầu được đồng vọng, tri âm Việc lựa chọn hình thức kể này mang lại cho truyện ngắn của

Võ Thị Hảo một lợi thế riêng

Mỗi nhân vật “tôi” kể chuyện bao giờ cũng bộc lộ cái nhìn riêng độc đáo, có quan điểm đạo đức lối sống cá tính không đồng nhất, nếu xâu chuỗi lại sẽ cho ra hệ hình tư tưởng nhất quán của chính người cầm bút Nhờ bao cái

“tôi” biến đổi, Võ Thị Hảo khéo léo mang đến cho người đọc nhiều bức tranh đậm hơi thở cuộc sống, nồng nàn hương vị cuộc đời Mỗi một câu chuyện được kể ra bởi nhân vật xưng “tôi” lại đắp thêm một miếng hình vào bức họa cuộc sống Khi sử dụng ngôi kể này, nhà văn đã hình thành được hai dạng thức Đó là kiểu nhân vật tự thú, sám hối – nhân vật tự ý thức, và kiểu nhân vật là người chứng kiến câu chuyện

Ở kiểu nhân vật tự thú, sám hối, nhân vật tự ý thức, Võ Thị Hảo đã cho

người đọc thấy được những điều thầm kín nhất của con người Trong Chuông vọng cuối chiều, người mẹ thủy chung ở nhà nuôi con chờ chồng trong những

năm anh đi công tác xa Người đàn ông đó lại nỡ phụ tình và lừa dối vợ, với

ba năm công tác ở Xa Thầy, đủ thời gian để anh làm một ni cô phải phá giới

và có với anh một đứa con Nhưng người con - Duyên, vì không hiểu được căn nguyên sự tình mà đã nghi ngờ tấm lòng thủy chung của người mẹ thay vì phải oán trách người cha tội lỗi Có nỗi đau nào hơn khi người vợ biết chồng mình đã có người đàn bà thứ hai và có sự hy sinh nào lớn lao hơn khi người

vợ ấy lại dang rộng vòng tay cưu mang mẹ con kẻ tình địch Lấy sự vị tha rộng lượng làm phép ứng xử, vậy mà người mẹ ấy không nhận được sự cảm thông, trái lại còn bị buộc vào tội thiếu đức hạnh Chỉ đến khi đến tuổi để đủ hiểu, “tôi” mới thức nhận sự thật mà bấy lâu đánh giá lệch lạc, sai lầm về

Trang 33

người mẹ đáng kính Hóa ra, “tôi” cũng đã vô tình xát muối để nỗi đau chồng chất nỗi đau, bi kịch gối đầu bi kịch Cho nên, sự ân hận, thẹn thùng trước bóng hình người mẹ tội nghiệp khiến “tôi” xót xa mãi

Còn trong Vườn yêu thì đó là một cái “tôi” vô tư lãng mạn nhưng kịp

thức tỉnh khi bước chân vào khu Vườn yêu Ở đó cô gái hồn nhiên lần đầu tiên rời khỏi vườn nhà để nhón gót vào vườn yêu đã gặp lại linh hồn người dì

họ Cuộc gặp gỡ giống như cuộc đối thoại thế hệ về tình yêu Vườn yêu trong mắt thế hệ trước đầy cạm bẫy và tội lỗi, đầy những ma yêu chờ chực còn với

cô bé vườn yêu luôn đầy mật ngọt hấp dẫn Khi nhận ra Vườn yêu không phải lúc nào cũng tràn đầy hương thơm mơ mộng, tôi vội vã trở về khu vườn nhà quen thuộc không dám mạo hiểm phiêu lưu lần nữa Nắm bắt được tâm lí của người thiếu nữ lần đầu nhón gót vào tình yêu, Võ Thị Hảo đã để cho nhân vật được đối thoại với các thế hệ trước để hiểu được bản chất của tình yêu Chỉ qua hình thức đối thoại tâm linh này những băn khoăn trăn trở của cô gái mới được bày tỏ chân thành Chứng kiến những đổ vỡ niềm tin ở Vườn yêu và ở những thế hệ phụ nữ trong gia đình cô gái đã nhận ra rằng không thể lẩn tránh được tình yêu, phải chấp nhận tình yêu như nó vốn có, vừa ngọt ngào vừa đắng chát… Đây là một góc nhìn mới mẻ mà nhà văn đưa đến cho bạn đọc để làm phong phú hơn quan niệm về hiện thực tâm linh con người

Hay trong Bàn tay lạnh đóng vai là người ngoài cuộc trong màn kịch

được dàn dựng trước của lũ bạn cùng lớp nhưng lại là người trực tiếp chứng kiến, “tôi” chẳng ngờ đến hậu quả dai dẳng như một vết sẹo hằn sâu trong cõi lòng chị Thùy Trang - người con gái xinh đẹp nhưng sở hữu đôi bàn tay lạnh Nỗi day dứt càng âm ỉ hơn khi biết rằng giờ đây trái tim từng nồng cháy yêu thương không thể đón nhận tình cảm của bất kỳ một người đàn ông nào khác

vì “chị cứ đinh ninh rằng trái tim mình chỉ là một sợi dây tơ và dây ấy đã bị giằng đứt quá sớm” [18, tr.65] Có thật là diễm phúc không khi chỉ chị được

Trang 34

sở hữu chân lý “Ai có bàn tay lạnh thì có trái tim nóng” [18, tr.62] Duy có

“tôi” - cô bé đa cảm là hiểu và ngấm nỗi đau không dễ tỏ bày của chị Qua dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi”, ta không khỏi xót xa cho con đường tình duyên dang dở của chị Thanh cao và quyến rũ nhưng không phải do kiêu kỳ hay vô cảm, Trang mang tâm lý thận trọng trước tình yêu để không phải đón nhận danh hiệu “người đàn bà bất hạnh thứ ba” trong gia đình Hai vết xe đổ trước đó vẫn còn tươi nguyên đủ để Trang tự rút ra bài học cho riêng mình Nhưng éo le thay, càng cảnh giác bao nhiêu chị lại trở nên vụng dại bấy nhiêu trước bản hợp đồng sắp sẵn của mấy kẻ tiểu nhân “ăn không được thì đạp đổ” Chị đến với Thẩm bằng cả tiếng gọi con tim và tin chắc rằng đó sẽ là bến đỗ

an toàn cho cuộc đời chị; tiếc rằng giá trị của thứ tình yêu mà chị trao trọn cả niềm tin chỉ đáng giá bằng một két bia xoàng xĩnh Gục ngã ngay khi mối tình đầu vừa được nhen nhóm, chị Trang chỉ biết khóc thầm khi chính mình dù

đã ý thức mà vẫn không thể vượt qua nổi “bản án định mệnh” dành cho những người phụ nữ trong gia đình Thực ra, “tôi” biết được rất rõ những gì sẽ xảy ra đối với chị Trang nhưng chỉ vì sự nín lặng thiếu dũng khí mà vô hình chung làm thương tổn một đời người Thế nên sau bảy năm gặp lại khi biết chị vẫn chưa quên được nỗi đau xưa mà đắp xây tổ ấm mới, “tôi” lại càng nhức nhối tâm can Lời kết cho câu chuyện tình buồn, “tôi” chỉ biết lặng thầm oán trách

“Những người đàn ông may mắn! Lúc nào rỗi rãi, hãy mở những bộ sưu tập của các ngài ra Có dám đoan chắc với tôi rằng, trong đời mình đã không từng làm lạnh giá một bàn tay?!” [18, tr.78]

Dễ nhận thấy, đa phần nhân vật sắm vai là người kể chuyện xưng “tôi” trong truyện ngắn của Võ Thị Hảo đều vương mang, chất chứa nỗi buồn; hoặc

họ là kẻ gián tiếp làm cho nỗi buồn tăng thêm hoặc họ là chứng nhân của

những câu chuyện buồn thương bi đát Trường hợp của “tôi” trong Bàn tay

Trang 35

lạnh, Chuông vọng cuối chiều, Giấc cú, Vườn yêu … đều gặp nhau ở dạng thức thứ nhất

Ở dạng thứ hai, nhân vật xưng “tôi” trong Mắt miền Tây, Vũ điệu địa ngục, Phiên chợ người cùi dù chỉ là người chứng kiến nhưng nỗi buồn cũng

ngấm thật sâu, bám thật chặt

Hiểu rõ thảm cảnh người chị lấy phải người chồng không ra gì mà vẫn

hài lòng chấp nhận, “tôi” Mắt miền Tây không khỏi bất bình, vừa giận lại vừa

thương Nhân vật Hải là người phụ nữ vừa đáng thương vừa đáng giận Đáng giận vì chị quá mù quáng và lầm lạc trong tình yêu Bị Tuấn, gã người yêu kém chị ba tuổi, đánh đập lừa gạt nhưng chị vẫn yêu hắn “lo cho hắn như mẹ dõi theo con và phục vụ hắn như một kẻ nô lệ” [19, tr.173] Chị đáng thương

vì quá thật thà và nhân hậu Người phụ nữ nhỏ bé ấy luôn nghĩ tốt cho người khác, luôn tìm ra điểm khả thủ ở kẻ nát rượu, tệ bạc với mình Tình yêu ở người phụ nữ này không chỉ bó hẹp trong một con người cụ thể Chị yêu cái nơi mà kẻ phụ bạc chị đã sinh ra, yêu bố mẹ anh em của hắn Có một mối giao cảm kì lạ giữa chị và mảnh đất miền Tây, mảnh đất nghèo khó nhưng con người thật thà chất phác “họ không đòi hỏi gì ở mảnh đất này Đã quen thất vọng, họ đành đợi sự đền đáp ở chân trời” [19, tr.181] Chị Hải cũng vậy “mắt chị cũng phiêu diêu như mắt miền Tây” [19, tr.181] chờ đợi và hy vọng sự đổi thay của gã đàn ông ích kỷ, bợm bãi sinh ra trong một gia đình chân thật miền sông nước

Thương yêu che chở cho kẻ khác, đã trở thành bản tính không thể từ bỏ

ở người phụ nữ trong văn của Võ Thị Hảo Qua lời kể của nhân vật “tôi” thì

Phương trong Phiên chợ người cùi là một người phụ nữ đẹp, sang trọng,

chuyên bận màu xám, ở trong một ngôi nhà kín cổng cao tường, với một cô con gái xinh đẹp và một người chồng danh giá Chị được xem như “vật báu”,

hễ đi đâu xa chồng đều tháp tùng,“ mắt ông lóe lên vừa ghen tuông vừa hãnh

Trang 36

diện khi trông thấy bọn đàn ông trên đường cứ bị hút hồn theo chị” [17, tr.33] Vậy mà ông không thể vượt qua nổi định kiến khi biết chị mắc bệnh hủi Ông

xa lánh hắt hủi, không cho chị gần con vì sợ “ảnh hưởng tới thanh danh gia đình, con cái về sau này cũng khó lấy chồng” [17, tr.38]… Xót xa hơn khi tấm vé xuất viện của chị không đủ thuyết phục gia đình, họ không thể quên được bàn tay cụt ngón của Phương, ai cũng xa lánh và ghẻ lạnh với chị Gần nửa năm làm khách lạ trong ngôi nhà của mình, chị đã lặng lẽ ra đi và sống cuộc đời những năm cuối có ý nghĩa ở trại phong Quy Hoà cũng như gắng dự

hết đời mình “những phiên chợ người cùi” Viết về những người như Phương,

nhà văn Võ Thị Hảo đã gửi gắm sự cảm thông, chia sẻ, bênh vực sâu sắc cho những người phụ nữ bất hạnh và đó là tiếng nói mang giá trị nhân bản cao cả

và sâu sắc

Điểm nhìn trần thuật có lúc di chuyển cho các linh hồn, hồn ma… tức

các nhân vật kỳ ảo Đường về trần, Giọt buồn Giáng sinh Điều này giúp nhà

văn đi sâu chiếm lĩnh mọi giới hạn của hiện thực, khám phá muôn vàn bí ẩn diệu kỳ từ chính trong lòng cuộc sống Để nhân vật “tôi” tự kể chuyện về mình khiến thế giới tâm linh hiện ra chân thực và sinh động hơn nhiều Khác với kiểu xây dựng người kể chuyện kỳ lạ là một bào thai trong Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Võ Thị Hảo tỏ ra thuần thục khi sáng tạo nên nhân vật “tôi” không thực - “tôi” đã chết Nếu bào thai kia kể lại những gì đã nghe

mà chưa hề tồn tại thì những bóng ma của Võ Thị Hảo lại thuật về những trải nghiệm đã sống trước khi thoát thai bước vào thế giới cõi âm Đương nhiên khi những linh hồn này đóng vai trò là người kể chuyện thì chắc chắn sự thật được đảm bảo với độ xác tín cao

Trong Đường về trần, Nhân vật chính trong truyện là một người phụ

nữ đã nằm dưới mộ, trăn trở về kiếp sống của mình trên trần thế trước đây Bằng việc nhập thân vào một hồn ma của người đã khuất, Võ Thị Hảo được

Trang 37

cấp một góc nhìn “ngược sáng” để có thể chiếu rọi những ẩn ức đắng cay trong cuộc đời nghiệt ngã Để cho tiếng nói của tiềm thức và vô thức xuất hiện nhà văn đã giúp thế giới tâm linh bí ẩn hiện ra sống động và rõ nét Bởi không ai lại có thể kể về cuộc đời một cách chân thực hơn một người vừa trải qua kiếp ấy Người đàn bà đang nằm dưới ba tấc đất kia cách đây hơn một năm đã sống cuộc đời cay đắng bên ông chồng quái nghiệt chỉ biết hành hạ vợ con Trong lòng ông ta bà là kẻ phục dịch đúng ý ông từng li và là chỗ giày vò cho hả dạ Cái chết đau đớn đã giúp bà “vĩnh viễn thoát ra khỏi tầm mắt rắn của con người hận thù đã sống cùng ngoài năm mươi năm” [18, tr.183] Nhưng về cõi âm bà chưa thể lên được địa đàng như các con thường nghĩ vì

“những người chết phải qua ba thế giới mới lên được địa đàng Mà một trong

ba thế giới đó là trần gian… Đường về trần gian của tôi đã bị chặn lại” [18, tr.185] Bà chỉ là một con cánh cam bị giam hãm trong một quầng sáng tím Nằm dưới mộ nhưng không thể yên lòng nhắm mắt bởi những đòi hỏi vật chất của các con “Xin, xin, xin và xin Tôi đã cho chúng cuộc sống Tôi đã cho chúng học hành Bây giờ tôi ở một thế giới khác Tôi đâu còn gì để cho” [18,

tr.184] Người phụ nữ trong Đường về trần khi linh hồn đã rời thể xác, vẫn

còn đau đáu những nỗi niềm, không thể siêu thoát được là vì thế Nhà văn tìm thấy trong thế giới tâm linh những ẩn ức, những đớn đau rất “đời”

Người con gái thứ bảy trong Giọt buồn giáng sinh với khả năng đi

ngược về xuôi, lửng lơ tầng trời mà chiêm nghiệm, mà ngẫm ngợi về dòng đời đã qua “Tôi nặng nhọc bay dưới bầu trời tái trong đêm giáng sinh” [17, tr.65] Từ trên cao của đêm giáng sinh tôi có thể nhìn suốt chiều dài quá khứ để suy ngẫm đối thoại về cuộc đời Tôi phát hiện ra rằng “những đàn người chạy long tong trên mặt đất chỉ chạy nhanh hơn chứ có khôn hơn đâu” [17, tr.71] và biết được “nỗi đau khổ của đàn bà cũng như một sự cứu chuộc

Trang 38

thế giới” [17, tr.72] Chuyến hành trình của cô gái chứa đựng khao khát được tái sinh thành “một giọt vui ngân lanh canh những tiếng bạc”

Bằng việc sáng tạo nhân vật “tôi” kể chuyện đặc biệt, Võ Thị Hảo đã minh chứng sự sáng tạo văn chương là không biên giới Người kể chuyện ấy không chỉ đơn thuần tái hiện một kiếp người khi đang sống và đã chết, mà còn đánh động lòng người hãy một lần nghĩ suy về cách sống ở đời sao cho hợp đạo, hợp tình Phải chăng, đấy cũng là thông điệp đậm chất nhân văn, giàu chất nhân bản mà Võ Thị Hảo muốn nhẹ nhàng nhắn nhủ? Song, quan trọng hơn, thông qua lời nói của không ít linh hồn đó, nhà văn đã gióng lên hồi chuông báo động về sự băng hoại của đạo đức, sự đổ vỡ của hệ tư tưởng bởi thực trạng nhiễm độc, nhiễm khuẩn trong xã hội Rõ ràng, thay vì nói hộ nhân vật, nhà văn không còn giữ vai trò điều khiển giật dây chỉ đạo mà lui vào sau hậu trường để tự mỗi cái “tôi” tự nhiên bộc bạch phơi trải hết mọi nỗi niềm Những tâm tư giấu kín, những khắc khoải trở trăn, dường như được thổ

lộ bằng hết bởi nhiều cái “tôi” tự bạch chân thành và cởi mở Chính vì vậy, thế giới nội tâm đầy phức tạp, lắm biến tấu của nhân vật nhận được nhiều hơn

mà còn dẫn dắt phương thức trần thuật từ đơn tuyến sang hình thức đa tuyến mới Tính chất đa thanh, nhiều cách nhìn nhận khi cùng hướng về một đối tượng đó mới thực sự là câu chuyện sinh động của đời sống Các nhân vật tự trao cho nhau quyền kể vừa mang đến sự linh hoạt, uyển chuyển trong cách

Trang 39

kể vừa tạo nên tính đa chiều trong cách đánh giá mà nếu chỉ một người kể thì vấn đề sẽ không thể được sáng rõ

Tác phẩm Máu của lá chinh phục độc giả bởi lối kể đa chủ thể như thế

Đó chính là sự hiện diện ba cái tôi Tuân - Hoàng và Huân - đang thành tâm xây dựng truyện cổ tích giữa đời thường Tuân, người anh trai có cô em gái tật nguyền, trong giờ phút hấp hối không nói về mình, chỉ kể về cô em gái với ánh mắt cầu khẩn nhờ cậy người bạn thay mình đóng vai chàng trai ẩn danh viết thư tình cho cô em gái - những bức thư kéo dài sự sống Và Huân, người bạn đã được trao gửi nhiệm vụ thiêng liêng, khi biết mình sắp chết cũng cố công tìm người thay thế “Tìm người có đủ lòng tốt để kéo dài một công việc khá kỳ quặc, nhẫn nại, thêu dệt những cuộc tình thơ mộng không để cho mình” [19, tr.146 - 147] Công việc hơi trái tự nhiên và khó tin kia lại là điều

có thật ngay trong cuộc sống nặng “mùi tục luỵ”, phố phường đặc ngầu tiếng chửi thề văng tục Và Hoàng là người cuối cùng viết tiếp câu chuyện cổ tích

đó Ba vai kể, ba dòng cảm xúc đều gặp nhau ở ý tưởng vẽ nên chiếc lá cuối cùng thổi bùng khát khao sống, khát khao yêu đương cho con tim đang bị

“chầy xước” Những bức thư của ba người đàn ông thay nhau viết như Chiếc

lá cuối cùng có sức mạnh cứu vớt một tâm hồn đa cảm đang hoang mang chống chếnh về lẽ sống Chiếc lá cuối cùng ấy còn đem lại cho người đọc

niềm tin vào những điều thánh thiện trong cuộc đời này Trên những trang viết, Võ Thị Hảo luôn chỉ cho người đọc thấy những góc khuất trong đời sống

xô bồ

Thực ra, kiểu trần thuật đa chủ thể với nhiều nhân vật xưng “tôi” xuất hiện không hiếm trong các trang tiểu thuyết của Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh,… Thế nhưng, dùng nhiều vai “tôi” làm người kể trong thể loại truyện ngắn không phải là việc làm đơn giản Nếu không khéo dễ làm câu chuyện trở thành những mảnh vỡ vụn vặt, tủn mủn Thế nên, cách thức này đòi hỏi trình

Trang 40

độ cao của người viết để xâu chuỗi lời kể mà vẫn đảm bảo sự liên hoàn gắn kết và thống nhất Vượt qua cái khó để vươn đến sự hoàn thiện, Võ Thị Hảo

đã làm mới truyện ngắn của mình từ cách xử lý tài hoa như thế Tiếng nói bình đẳng giữa các nhân vật, phá vỡ thế độc quyền của một chất giọng, tính nhiều giọng trong truyện ngắn Võ Thị Hảo chính là sự phác họa rõ nét cho xu thế mới của văn chương hậu hiện đại

1.2.2.3 Sự dịch chuyển và kết hợp các điểm nhìn trần thuật

Nhưng để tránh đơn điệu, tạo sự đa dạng hóa cho nghệ thuật trần thuật,

Võ Thị Hảo đã tìm cách gắn kết linh hoạt các ngôi kể làm cho câu chuyện trở nên sinh động và thú vị hơn, tạo nên sự đa dạng cho lời kể và tính chất kể Quan trọng nhất, chị biết tích hợp tối đa ưu thế của từng ngôi kể để dẫn dắt câu chuyện thật tự nhiên, thoải mái Nếu ngôi trần thuật thứ nhất đem lại độ tin cậy cao bởi tính chủ quan thì cái nhìn khách quan sẽ được bổ sung bởi ngôi kể thứ ba Việc luân phiên tiếp sức hỗ trợ của hai ngôi kể tựa như ống kính vạn năng tùy góc cảnh mà xoay cho phù hợp Hơn nữa, các ngôi kể khi

có sự kết hợp đan xen sẽ tạo “cơ sở pháp lý” để nhà văn được phép mở cuộc thăm dò vào thế giới bên trong của nhân vật mà vẫn đảm bảo tính khách quan; đồng thời góp phần khẳng định nỗ lực đổi mới hình thức trần thuật trong việc phản ánh khám phá hiện thực cuộc sống đa chiều

Khói mang màu nước biển là truyện ngắn tiểu biểu cho dạng thức trần

thuật này Câu chuyện được mở ra với một cuộc tình đơn phương đầy ắp kỷ niệm, nồng nàn yêu thương của anh chàng si tình thông qua một bức tâm thư được tận tình kể bởi một người ẩn tàng giấu mặt Tình cảm anh ấy trao đi mà chẳng mong nhận lại, chỉ cốt người mình yêu được hạnh phúc, ấm êm Người

kể chuyện ngôi ba tỏ ra thông tỏ mọi nghĩ suy, biết được hết cả mọi ký ức buồn vui của anh chàng có tình yêu thánh thiện Không để cho câu chuyện tiếp tục buông trôi theo dòng cảm xúc, người kể ngôi một xuất hiện xác nhận

Ngày đăng: 17/12/2015, 06:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Tạ Mai Anh (Luận văn Thạc sĩ, 2002), Đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ
[2]. Vũ Tuấn Anh (1995), “Đổi mới văn học vì sự phát triển”, Tạp chí văn học số 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn học vì sự phát triển”
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Năm: 1995
[3]. Vũ Tuấn Anh (2001), Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam hiện đại, nhận thức và thẩm định
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2001
[4]. Phan Thị Vàng Anh (1994), Khi người ta trẻ, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi người ta trẻ
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1994
[5]. Ngọc Anh (2003), Đã đến lúc những người đàn bà nổi loạn, Báo Nông thôn ngày nay Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đã đến lúc những người đàn bà nổi loạn
Tác giả: Ngọc Anh
Năm: 2003
[6]. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
[7]. Lê Huy Bắc (1998), “Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”, Tạp chí Văn học số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng và giọng điệu trong văn xuôi hiện đại”
Tác giả: Lê Huy Bắc
Năm: 1998
[8]. Y Ban (1993), Người đàn bà có ma lực, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người đàn bà có ma lực
Tác giả: Y Ban
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 1993
[9]. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay, Luận án Tiến sĩ, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam từ 1986 đến nay
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
[10]. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi Việt Nam 1975 - 1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
[11]. Đặng Anh Đào(1991), Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay,Tạp chí văn học số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một hiện tượng mới trong hình thức kể chuyện hiện nay,Tạp
Tác giả: Đặng Anh Đào
Năm: 1991
[12]. Hà Minh Đức (1998), “Cảm hứng thời đại trong văn chương”, Chặng đường mới của văn học Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng thời đại trong văn chương”, "Chặng đường mới của văn học Việt Nam
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 1998
[13]. Nguyễn Hà (2005), Nhà văn Võ Thị Hảo - Tôi thích những nhân vật nữ nổi loạn, Báo Truyền Hình HN, Tr 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Võ Thị Hảo - Tôi thích những nhân vật nữ nổi loạn
Tác giả: Nguyễn Hà
Năm: 2005
[14]. Nguyễn Việt Hà (2001), Cơ hội của Chúa, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ hội của Chúa
Tác giả: Nguyễn Việt Hà
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
[15]. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
[16]. Võ Thị Hảo (2005), Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, NXB [17]. Võ Thị Hảo (2005), Hồn trinh nữ, NXB Phụ nữ.Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm", NXB [17]. Võ Thị Hảo (2005), "Hồn trinh nữ
Tác giả: Võ Thị Hảo (2005), Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, NXB [17]. Võ Thị Hảo
Nhà XB: NXB [17]. Võ Thị Hảo (2005)
Năm: 2005
[18]. Võ Thị Hảo (2005), Goá phụ đen, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Goá phụ đen
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2005
[19]. Võ Thị Hảo (2005), Người sót lại của Rừng Cười, NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người sót lại của Rừng Cười
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2005
[20]. Võ Thị Hảo (2005), Giàn thiêu (tiểu thuyết), NXB Phụ nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giàn thiêu
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2005
[21]. Võ Thị Hảo(1995), Biển cứu rỗi, Nhà xuất bản Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biển cứu rỗi
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nhà xuất bản Hội nhà văn
Năm: 1995

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w