Trong những nghiên cứu về diễn ngôn, đã có một vài công trình nghiên cứu quan tâm đến diễn ngôn văn bản hành chính bởi tính cần thiết của loại hình văn bản này trong hoạt động xã hội.. T
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
KHOA NGÔN NGỮ HỌC - - NGUYỄN THỊ HIỀN
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ VĂN BẢN HÀNH CHÍNH
SỬ DỤNG TRONG NGÀNH GIAO THÔNG
(THEO QUAN ĐIỂM PHÂN TÍCH DIỄN NGÔN)
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 60 22 01
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS NGUYỄN HỮU ĐẠT
HÀ NỘI, 2009
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Phân tích diễn ngôn hiện là một lĩnh vực đang được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm Nhiều người coi đây là ngữ pháp văn bản giai đoạn 2 để phân biệt với ngữ pháp văn bản giai đoạn 1 của những năm đầu thập niên 70 Sự khác biệt của hai giai đoạn này là ở chỗ: trong khi ngữ pháp văn bản giai đoạn 1 tập trung vào khái niệm liên kết về hình thức (cohesion), thì ngữ pháp văn bản giai đoạn 2 lại tập trung vào khái niệm liên kết về nội dung, tức mạch lạc (coherence) của diễn ngôn Với những công trình mẫu mực của Leech (1974), Widdowson (1975), Brown và Yule (1983)…lý luận về phân tích diễn ngôn đã trở thành một trong những lĩnh vực mũi nhọn của ngôn ngữ học ứng dụng
Ở Việt Nam, so với các lĩnh vực khác của ngôn ngữ học như: ngữ âm,
từ vựng, ngữ pháp và ngữ nghĩa thì cho đến nay, số lượng các công trình nghiên cứu về diễn ngôn còn chưa nhiều Tuy vậy, trong những năm gần đây, lĩnh vực này đang ngày càng thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu
và đã thu được những kết quả ban đầu rất quan trọng Có thể nói đây chính là hướng đi mới của ngôn ngữ học
Trong những nghiên cứu về diễn ngôn, đã có một vài công trình nghiên cứu quan tâm đến diễn ngôn văn bản hành chính bởi tính cần thiết của loại hình văn bản này trong hoạt động xã hội Văn bản nói chung và văn bản hành chính nói riêng có vai trò rất quan trọng trong việc thiết lập các mối quan hệ giữa các cá nhân, các đơn vị với nhau Có thể thấy một điều rằng, xã hội ngày càng phát triển thì vai trò của các văn bản hành chính ngày càng lớn Các giao dịch giữa các cơ quan nhà nước với nhau, giữa cơ quan nhà nước với nhân dân đều lấy văn bản hành chính làm sợi dây liên lạc Mọi hoạt động của các
cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội từ lĩnh vực kinh tế đến lĩnh vực chính trị đều được điều hành thông qua các loại văn bản này Do đó, soạn thảo và xử lý văn bản có vai trò rất quan trọng trong cuộc sống nói chung và trong mỗi ngành nghề nói riêng Hiện nay, vai trò đó ngày càng được nâng cao hơn do nhu cầu phát triển của công tác quản lý xã hội Điều đó càng cho thấy rằng việc rèn luyện kỹ năng soạn thảo và xử lý văn bản đối với người Việt nói chung đòi hỏi cần được quan tâm
Trang 3Tuy nhiên, những nghiên cứu đó chỉ tập trung văn những văn bản hành chính pháp quy còn việc nghiên cứu công văn hành chính (CVHC) - một loại hình văn bản hành chính thuộc loại văn bản hành chính phi pháp quy - với tư cách là đối tượng nghiên cứu của phân tích diễn ngôn vẫn chưa được quan tâm Là một loại hình văn bản, ngôn ngữ trong CVHC có những đặc điểm của ngôn ngữ văn bản nói chung Nhưng nó cũng có những đặc điểm khác biệt Và việc nghiên cứu các CVHC dưới góc độ phân tích diễn ngôn còn chưa có vị trí thích đáng
Khi chúng tôi chọn đề tài Đặc điểm ngôn ngữ văn bản hành chính
ngành giao thông (theo quan điểm phân tích diễn ngôn) với đối tượng
nghiên cứu chính là các CVHC ngành giao thông, chúng tôi mong muốn góp phần làm sáng tỏ lý thuyết về phân tích diễn ngôn đồng thời góp phần làm phong phú thêm phần thực hành cho công tác soạn thảo văn bản hành chính
2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn hướng vào việc khảo sát đặc trưng ngôn ngữ của các CVHC
sử dụng trong ngành giao thông Điều cần nhấn mạnh ở đây là luận văn không
đi sâu vào phân tích các CVHC theo lĩnh vực quản lý hành chính mà phân tích theo địa hạt ngôn ngữ học Nói cách khác, luận văn đặt các CVHC trên bình diện các diễn ngôn và phân tích chúng Theo Brown & Yule (1983), thực chất của việc phân tích diễn ngôn là bao gồm việc phân tích ngữ pháp và phân tích ngữ nghĩa Đồng thời, khi đặt quá trình phân tích đó trên cơ sở ngữ dụng, chúng tôi chú ý đến hiệu lực ngôn ngữ trong giao tiếp, gắn với vấn đề dụng học Nói cách khác, nó liên quan đến người ban hành diễn ngôn, người tiếp nhận diễn ngôn, mục đích của diễn ngôn và những nhân tố tình huống khác Như vậy, người tiến hành phân tích diễn ngôn phải xử lý tư liệu của mình vừa như là công cụ, vừa như là sản phẩm của một quá trình mà trong đó ngôn ngữ được sử dụng như một công cụ giao tiếp mang tính tình huống để thể hiện nghĩa và đạt được đích giao tiếp
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Tư liệu mà chúng tôi tiến hành nghiên cứu trong luận văn này là
300 công văn hành chính của các cơ quan khác nhau: Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng giao thông 8, Ban Quản lý dự án đường Hồ Chí Minh, Ban Quản
Trang 4lý dự án Thăng Long, Công ty cổ phần Thuỷ điện Zahưng, Sở Giao thông vận tải Điện Biên
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
Xuất phát từ quan điểm trên, chúng tôi đặt cho luận văn những nhiệm
4 Phương pháp nghiên cứu
Theo GS Nguyễn Thiện Giáp trong công trình “Các phương pháp nghiên cứu ngôn ngữ”, ngôn ngữ học có hai phương pháp nghiên cứu chính là phương pháp miêu tả và phương pháp so sánh Trong luận văn này, phương pháp nghiên cứu chính mà chúng tôi đã sử dụng là phương pháp miêu tả Cụ thể chúng tôi đã sử dụng những thủ pháp chính sau:
- Thủ pháp thống kê toán học: chúng tôi đã tiến hành thống kê các CVHC nhằm phân loại chúng, thống kê các loại hành vi ngôn ngữ được
sử dụng trong các CVHC mà chúng tôi thu thập được trong ngành giao thông dựa trên những tiêu chí nhận diện mà chúng tôi đã đưa ra trong phần lý luận chung
- Thủ pháp phân tích ngôn cảnh: dựa trên những tư liệu thống kê, chúng tôi tiến hành phân tích các CVHC đó dựa trên ngôn cảnh (một loại môi trường phi ngôn ngữ, trong đó ngôn ngữ được sử dụng)
- Thủ pháp miêu tả chuẩn phong cách – một trong những thủ pháp xã hội học: dựa trên những tư liệu mà chúng tôi đã phân loại được, chúng tôi tiến hành miêu tả cụ thể những tư liệu đó xem chúng đã đúng với phong cách hành chính – công vụ chưa
Trang 5đã bắt đầu đi vào nghiên cứu các văn bản hành chính dưới góc độ giao tiếp
Và để góp phần vào kết quả nghiên cứu về vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu một số loại CVHC được sử dụng trong một ngành cụ thể - ngành giao thông - để góp phần làm sáng rõ một số vấn đề về phân tích diễn ngôn nói chung và lý thuyết giao tiếp nói riêng
Về phương diện thực tiễn, bên cạnh việc góp phần làm sáng tỏ lý thuyết phân tích diễn ngôn, kết quả của luận văn còn làm phong phú thêm phần thực hành cho công tác soạn thảo văn bản hành chính Thông qua việc tìm hiểu các cấu trúc điển hình và các phương tiện chức năng biểu nghĩa của các CVHC, luận văn sẽ góp phần làm sáng tỏ đặc điểm của thể loại ngôn bản này Từ đó,
có tác dụng hướng dẫn công tác soạn thảo và xử lý chúng trong hoạt động hành chính của ngành giao thông nói riêng và trong hoạt động hành chính của
xã hội nói chung Nói cách khác, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào hai phương diện: soạn thảo văn bản một cách chuẩn mực và xử lý văn bản một cách có hiệu quả
6 Bố cục của luận văn: Luận văn có 03 phần: phần mở đầu, phần nội dung
và phần kết luận
Phần mở đầu: Phần này có nhiệm vụ giới thiệu về: lý do chọn đề tài,
đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, dự kiến đóng góp
và bố cục của luận văn
Phần nội dung: Phần này được chia thành 03 chương Trong Chương
thứ nhất – Lý luận chung, chúng tôi đề cập đến những vấn đề lý luận chính về
diễn ngôn và phân tích diễn ngôn; lý thuyết giao tiếp; lý thuyết hành vi ngôn
ngữ; liên kết và mạch lạc và lý thuyết về lập luận Trong Chương thứ hai –
Phân tích đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn CVHC ngành giao thông, chúng
Trang 6tôi dựa trên những cơ sở lý luận đi vào phân tích các diễn ngôn CVHC ở bình diện hình thức, thống kê những đặc trưng định lượng về các loại CVHC, đưa
ra mô hình cấu trúc hình thức chung của diễn ngôn CVHC, từ đó rút ra những
cấu trúc điển hình của diễn ngôn CVHC ngành giao thông Trong Chương thứ
ba - Phân tích đặc điểm ngôn ngữ sử dung trong diễn ngôn CVHC ngành giao thông, chúng tôi đi vào miêu tả những phương thức liên kết về nội dung,
những hành vi ngôn ngữ qua đó tìm hiểu lực ngôn trung trong các diễn ngôn CVHC; đồng thời chúng tôi đi vào miêu tả mạch lạc trong CVHC và phương thức lập luận sử dụng trong các loại công văn này với tư cách là một biểu hiện của tính mạch lạc
Phần kết luận: Phần này chúng tôi sẽ trình bày tóm tắt lại nội dung của
luận văn, những luận điểm chính và những đóng góp cơ bản của luận văn trong việc nghiên cứu phân tích diễn ngôn, trong việc soạn thảo CVHC
Trang 7PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG 1.1 Diễn ngôn và phân tích diễn ngôn
1.1.1 Diễn ngôn (DN) và phân tích diễn ngôn (PTDN)
Có nhiều quan niệm khác nhau về DN và PTDN tuỳ theo các phương diện nghiên cứu khác nhau của các nhà nghiên cứu
Theo tác giả G Cook, “DN là những chuỗi ngôn ngữ được nhận biết là trọn nghĩa, được hợp nhất lại và có mục đích” [dẫn theo 2; tr 20]
Tác giả D Crystal lại định nghĩa “DN là một chuỗi nối tiếp của ngôn ngữ (đặc biệt là ngôn ngữ nói) lớn hơn một câu, thường cấu thành một chỉnh thể có tính mạch lạc, kiểu như một bài thuyết giáo có tính tranh luận, truyện vui hoặc truyện kể” [dẫn theo 2; tr 20]
Trong bài “Ngôn ngữ học diễn ngôn” (1970) của mình, tác giả R Barthes định nghĩa “chúng ta sẽ gọi cái khách thể của xuyên ngôn ngữ học là diễn ngôn – tương tự với văn bản do ngôn ngữ học nghiên cứu và chúng ta sẽ định nghĩa nó
(hãy còn là sơ bộ) như là một đoạn lời nói hữu tận bất kỳ, tạo thành một thể
thống nhất xét từ quan điểm nội dung, được truyền đạt cùng với những mục đích giao tiếp thứ cấp, và có một tổ chức nội tại phù hợp với những mục đích này, vả lại (đoạn lời này) gắn bó với những nhân tố văn hoá khác nữa, ngoài những nhân tố có quan hệ đến bản thân ngôn ngữ” [dẫn theo 2; tr 18-19]
David Nunan [32] cho rằng DN như là một chuỗi ngôn ngữ gồm một
số câu, những câu này được nhận biết là có liên quan theo một cách nào
đó hay DN chỉ việc giải thuyết sự kiện giao tiếp trong ngữ cảnh và PTDN
là nghiên cứu ngôn ngữ trong sử dụng Ông viết “…Phân tích DN liên
quan đến phân tích ngôn ngữ trong sử dụng - so sánh với phân tích các thuộc tính cấu trúc của ngôn ngữ bị tách khỏi các chức năng giao tiếp của
chúng” [32] Tác giả George Yule [4] cho rằng PTDN tập trung vào cái
được ghi lại (nói và viết) của quá trình theo đó ngôn ngữ được dùng trong
Trang 8một số ngữ cảnh để diễn đạt ý định và cùng với Brown [4], ông khẳng định PTDN nhất thiết là sự phân tích ngôn ngữ hành chức Nhất thiết không giới hạn nó ở việc miêu tả các hình thức ngôn ngữ tách biệt với các mục đích hay chức năng mà các hình thức này sinh ra để đảm nhận trong xã hội loài người Còn tác giả Diệp Quang Ban thì lại cho rằng DN là các sản phẩm
của ngôn ngữ viết và ngôn ngữ nói có mạch lạc và liên kết
Ở đây chúng tôi không đi sâu vào trình bày quá trình phát triển theo thời gian về khái niệm DN và PTDN cũng như đi vào phân tích những góc độ nghiên cứu những khái niệm này, mà chúng tôi chỉ muốn trình bày một số khái niệm trên để có một cái nhìn tóm lược về những quan điểm về DN và PTDN Tuy
nhiên theo chúng tôi, quan điểm của tác giả Nguyễn Hoà [20] cho rằng DN là
một sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh thống nhất trong hoàn cảnh giao tiếp xã hội cụ thể là phù hợp với hướng nghiên cứu của chúng tôi về các diễn ngôn CVHC Vì
thế, trong luận văn, chúng tôi chấp nhận quan điểm này và lấy quan điểm này làm căn cứ để tiến hành phân tích các diễn ngôn CVHC ngành giao thông
DN không chỉ đơn thuần là những cấu trúc ngôn ngữ mà nó là tổng thể của ngôn ngữ (những đặc điểm của cấu trúc, phương tiện ngôn ngữ), người sử dụng ngôn ngữ (trình độ, nghề nghiệp, vốn kiến thức văn hoá, sự chi phối của quan hệ xã hội, hoàn cảnh, điều kiện sống ), hoàn cảnh giao tiếp xã hội (tình huống, kiến thức nền, văn hoá, mục đích phát ngôn) Như vậy, PTDN là nghiên cứu, phân tích tính mạch lạc, những hành động nói sử dụng kiến thức nền trong quá trình tạo và hiểu diễn ngôn
1.1.2 Những đặc tính của diễn ngôn và phân loại diễn ngôn
1.1.2.1 Những đặc tính của diễn ngôn
Đặc tính cơ bản của DN là tính mạch lạc, tính giao tiếp, ký hiệu và tính quan yếu
a Tính mạch lạc
Mạch lạc được Nguyễn Thiện Giáp [16] coi là cái quyết định để một tác phẩm ngôn ngữ trở thành một DN Như vậy, cơ sở của mạch lạc là những
Trang 9cái gì quen thuộc, kiến thức văn hoá chung, kiến thức nền Có thể hiểu một cách ngắn gọn rằng mạch lạc là mạch nối DN cho phép hiểu DN trong các hoàn cảnh giao tiếp xã hội Mạch lạc không phải là các phương tiện liên kết hình thức của văn bản mà nó là một phần nội dung thực của văn bản Nó được thể hiện qua những phương tiện ngôn ngữ và phương tiện ngoài ngôn ngữ (hình thức tổ chức văn bản, quan hệ nghĩa - lôgic giữa các từ ngữ trong văn bản, quan hệ giữa từ ngữ trong văn bản với cái được nói tới trong tình huống
từ bên ngoài văn bản )
Mạch lạc còn thể hiện trong cấu trúc hay cách thức tổ chức các yếu tố quan yếu của DN theo một cách thức hay trình tự nhất định nào đó nhằm thể hiện những ý tứ tạo thành mục đích nói Như vậy, có thể thấy tính cấu trúc của DN mang tính chủ quan của người viết
b Tính giao tiếp và tính ký hiệu
Xuất phát từ quan điểm ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu được dùng làm công cụ giao tiếp, mà DN trước hết là sự kiện giao tiếp, tính giao tiếp và tính ký hiệu là những đặc tính không thể thiếu của DN Tuy nhiên, DN là một đơn vị ngôn ngữ chứa hành động ngôn từ, do đó, tính giao tiếp và tính ký hiệu của nó còn có thêm phần ý nghĩa lời nói (ngữ nghĩa) và ý nghĩa dụng ngôn (ngữ dụng)
Ý nghĩa lời nói được hiểu là nội dung biểu hiện hay nội dung mệnh đề, nó được thể hiện qua các tham thể và mối quan hệ giữa các tham thể Nội dung mệnh đề thay đổi khi có sự thay đổi của một trong những yếu tố này Xét về mặt nội dung biểu hiện, ý nghĩa của DN bao gồm ý nghĩa của ký hiệu từ ngữ trong ngữ cảnh văn hoá và ngữ cảnh tình huống trong việc tạo và hiểu lời
Nội dung dụng học là ý nghĩa rút ra từ ý định của người nói Dụng học quan tâm đến lực ngôn trung của DN
Tính giao tiếp và tính ký hiệu của DN còn thể hiện ở sự tham gia vào hai quan hệ chủ yếu trong ngôn ngữ học Đó là quan hệ hệ hình và quan hệ cú đoạn Nó được phản ánh qua khả năng kết hợp và lựa chọn DN tuỳ theo tình
Trang 10huống giao tiếp, chủ đề giao tiếp cũng như việc cấu tạo thành những đơn vị
DN lớn hơn
c Tính quan yếu
Xét về hình thức, DN là một cấu trúc các yếu tố quan yếu tạo nên mạch lạc của DN Theo tác giả Nguyễn Hoà [20], các yếu tố quan yếu là các đóng góp thể hiện tính giao tiếp của DN Các yếu tố quan yếu có chức năng biểu hiện một sự thể bao gồm các tham thể, quá trình, mối quan hệ giữa các tham thể cũng như ý nghĩa dụng học kèm theo Các yếu tố quan yếu tham gia vào
DN với hình thức là những đơn vị từ ngữ Những đơn vị từ ngữ lại bị quy định bởi hoàn cảnh giao tiếp xã hội, mục đích phát ngôn và thể loại DN
Với tư cách là một quá trình giao tiếp tương tác, nội dung của DN được tổng hợp từ nhiều phương diện, trong đó mạch lạc là yếu tố quan trọng nhất Mạch lạc là sự hiện thực hoá của liên kết, cấu trúc, sự dung hợp giữa các hành động nói và tính quan yếu
Tính quan yếu của DN cũng chịu sự quy định của yếu tố văn hoá và những thông tin ngữ cảnh
1.1.2.2 Phân loại DN
DN là sự kiện giao tiếp hoàn chỉnh trong những hoàn cảnh xã hội cụ thể Như vậy, trong mỗi hoàn cảnh, chúng ta lại có một thể loại DN Điều này cho thấy việc phân loại DN không phải là việc làm dễ dàng, có tính thuyết phục Có nhiều quan điểm khác nhau về phân loại DN: dựa vào phương thức biểu đạt, chúng ta có
DN nói và DN viết Sự phân biệt này đã được nêu lên từ lâu và có tầm quan trọng nhất định đối với quan điểm sư phạm như dạy đọc, dạy viết, dạy nói Một hướng phân loại khái quát khác là phân biệt DN đối thoại với DN đơn thoại Cách phân loại này liên quan đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong sinh hoạt hằng ngày và cả ngôn ngữ trong văn học Tuy nhiên theo tác giả Hausenblas [dẫn theo 2] thì muốn
có sự phân loại có hệ thống và thoả đáng thì phải cần đến sự hợp tác của cả hai bộ
phận cùng quan tâm đến việc miêu tả ngôn ngữ Đó là ngữ pháp và phong cách
học Từ đó, tác giả đưa ra các cách phân loại DN như sau:
Trang 11a) Phân loại DN theo cấu trúc
* Về khuôn hình văn bản:
Do tính chất quá phức tạp của DN và tính quá đa dạng của các DN cụ thể, cho nên để khái quát được người ta chỉ có thể chia tất cả các DN thành hai nhóm lớn:
- Thuộc nhóm thứ nhất là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình cứng nhắc, đã được định sẵn: các văn bản thuộc phong cách hành chính công vụ
và một số văn bản pháp lý thuộc lĩnh vực khoa học - kỹ thuật
- Thuộc nhóm thứ hai là các diễn ngôn xây dựng theo những khuôn hình mềm dẻo, bao gồm:
+ Nhóm nhỏ có những khuôn hình thông dụng: các văn bản khoa học (bài báo, luận án khoa học) và một số văn bản báo chí
+ Nhóm nhỏ có khuôn hình tự do: các tác phẩm văn chương
* Phân loại DN theo cấu trúc nội tại:
Dựa vào những tiêu chuẩn: tính đơn giản/tính phức tạp trong cấu trúc văn bản của DN, tính độc lập/ tính lệ thuộc của các DN, tính liên tục/ tính gián đoạn của các diễn ngôn, ông tiến hành phân loại các DN:
- Các DN có độ phức tạp khác nhau trong cấu trúc
- Các DN tự do và các DN lệ thuộc
- DN liên tục và DN gián đoạn
b) Phân loại DN trong phong cách học
Một lĩnh vực chú ý nhiều đến sự khác biệt trong các kiểu loại DN khác nhau là phong cách học nhất là phong cách chức năng
* Tác giả Morohovski đã đưa ra bản phân loại diễn ngôn với các tiêu chí sau: Trước hết, tác giả phân định phong cách học thành ba bậc lớn từ đó đưa ra các loại hình diễn ngôn cụ thể:
- Phong cách học ngôn ngữ: có 2 kiểu lớn:
+ Ngôn ngữ phi nghệ thuật
+ Ngôn ngữ nghệ thuật
Trang 12- Phong cách học hoạt động lời nói: hoạt động lời nói được xem xét trong các khu vực ít nhiều có tính chất chuyên môn trong đời sống xã hội và nhờ đó đưa ra 5 phong cách chức năng:
+ Chính thức – công vụ
+ Khoa học
+ Công luận
+ Hội thoại văn học
+ Hội thoại đời thường
- Phong các học lời nói: có sự phân định các lớp văn bản từ chung đến riêng theo trình tự sau:
+ Phong cách chính thức công vụ có các kiểu loại văn bản: chỉ đạo, pháp lý, quân sự, ngoại giao, thương mại, kinh tế
+ Phong cách khoa học: khoa học xã hội, khoa học kĩ thuật
+ Phong cách công luận: chính trị, kinh tế, luật, đạo đức, nghệ thuật, tôn giáo
* Theo tác giả Hữu Đạt [13], tiếng Việt có 6 phong cách chức năng khác nhau, đó là phong cách sinh hoạt hằng ngày, phong cách hành chính công vụ, phong cách khoa học, phong cách chính luận, phong cách báo chí và phong cách văn học nghệ thuật Mỗi loại phong cách có các thể loại DN khác nhau
* Tuy nhiên, cách phân loại dựa vào trường DN, tính chất DN và cách thức DN được quan tâm hơn cả vì tính hợp lý của nó Hay nói cách khác là dựa vào chủ đề được đề cập, nội dung mệnh đề, mối quan hệ giữa các cá nhân tham gia (bao gồm cả ý nghĩa dụng học) và phương tiện thể hiện ngôn ngữ (nói hoặc viết), người ta phân chia thành các ngữ vực, tiếp đó trong các ngữ vực, có những thể loại DN cụ thể Chẳng hạn, trong ngữ vực báo chí, có các thể loại DN như: tin, bình luận, tin vắn, phóng sự, ký Trong ngữ vực văn chương, có các thể loại DN như: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ lục bát, thơ văn xuôi, cổ tích, truyền thuyết Trong hội thoại hàng ngày, có các thể loại DN như: hội thoại, phiếm đàm, tâm sự, chào hỏi, phóng vấn
Trang 131.2 Khái quát về lý thuyết giao tiếp ngôn ngữ
Việc nghiên cứu về giao tiếp đã được nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm
từ khoảng giữa thể kỷ XX Một số nhà nghiên cứu như Shannon khi nghiên cứu về mô hình truyền thông nói chung cũng đã đưa ra mô hình về hoạt động giao tiếp Nhưng đó chỉ là mô hình hoạt động giao tiếp diễn ra trên truyền thông và mạng điện báo chứ không phải là hoạt động giao tiếp của con người Mãi đến năm 1960, trong công trình nghiên cứu "Ngôn ngữ và thi ca" (Linguistics and poetics) của mình, R Jacobson - được coi là người đầu tiên nghiên cứu một cách tương đối đầy đủ quá trình giao tiếp của con người - đã đưa ra mô hình hoạt động giao tiếp Theo mô hình đó, hoạt động giao tiếp của con người chịu sự chi phối của 6 nhân tố Đó là người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc và mã ngôn ngữ Mô hình giao tiếp đó như sau:
Ngữ cảnh Người phát -Thông điệp -Người nhận
Tiếp xúc
Mã
Mô hình này của Jacobson được coi là mô hình cổ điển về giao tiếp bởi
nó đã thể hiện khá đầy đủ các nhân tố của hoạt động giao tiếp Và hoạt đông giao tiếp ở đây được hiểu theo một nghĩa rộng, đó là tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con người với nhau Mô hình này đã được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này kế thừa và phát triển theo nhiều cách khác nhau như Halliday (1973), Leech (1974)
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu [7], hoạt động giao tiếp luôn bị chi phối bởi các nhân tố giao tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp đó
Nhân tố đầu tiên là nhân vật giao tiếp gồm người phát và người nhận Khi phát ra một thông điệp nào đó, người phát luôn phải lựa chọn nội dung và cách thức để thể hiện thông điệp đó Hơn nữa, trong quá trình giao tiếp, người phát chỉ có một người nhưng người nhận có thể là một nhưng cũng có thể là nhiều người Chính điều này cũng quy định hình thức và nội dung thông điệp
Trang 14Trong trường hợp người nhận là số đông thì người phát phải phân biệt được người nhận đích thực và người nhận nói chung Như vậy, thông điệp bị quy định bởi cả hai chiều: người phát và người nhận
Nhân tố thứ hai là thực tế được nói tới hay nội dung giao tiếp Về bản chất, đây là những nhận thức chủ quan của người phát về hiện thực được đưa vào nội dung thông điệp để truyền đạt cho người nhận nhằm đạt một mục đích giao tiếp nào đó Do đó, người nhận có quyền nhận hay từ chối tiếp nhận những nội dung của thông điệp đó Vì vậy, trước khi phát đi thông điệp của mình, người phát không thể không tính đến khả năng này ở người nhận để quyết định lựa chọn nội dung và hình thức của thông điệp định truyền đi
Nhân tố thứ ba là hoàn cảnh giao tiếp Hiểu theo nghĩa rộng, hoàn cảnh giao tiếp bao gồm hoàn cảnh tự nhiên xã hội, lịch sử văn hoá của cộng đồng quốc gia mà các nhân vật giao tiếp đang có mặt Hoàn cảnh này chi phối cả nội dung và hình thức của thông điệp Tuy nhiên, chúng không trực tiếp tham gia vào giao tiếp mà chỉ tham gia gián tiếp dưới dạng những hiểu biết, những kinh nghiệm tiềm ẩn trong tư duy người phát và người nhận trước khi cuộc giao tiếp diễn ra Chúng được gọi là các tiền giả định giao tiếp Nếu hiểu theo nghĩa hẹp, hoàn cảnh giao tiếp chỉ nơi chốn cụ thể diễn ra hoạt động giao tiếp
Nó được gọi là môi trường giao tiếp, ảnh hưởng không nhỏ đến nội dung và hình thức của thông điệp và hiệu quả của cuộc giao tiếp
Tập hợp ba yếu tố trên được gọi là ngữ cảnh Đây chính là ngữ cảnh mà Nunan [32] gọi là ngữ cảnh ngoài ngôn ngữ Khái niệm ngữ cảnh được hiểu là một tập hợp của nhiều yếu tố và khá phức tạp, được tính từ khi cuộc giao tiếp diễn ra Vì vậy, có thể thấy, trong một cuộc giao tiếp, ngữ cảnh không phải là bất biến mà trái lại nó luôn vận động Sự vận động của ngữ cảnh và sự tương ứng của nó trong từng thời điểm giao tiếp được gọi là tình huống giao tiếp
Nhân tố thứ tư là hệ thống tín hiệu được sử dụng trong giao tiếp Đó có thể là ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ viết, các yếu tố kèm ngôn ngữ như: ánh mắt, giọng điệu hoặc các tín hiệu phi ngôn ngữ Đối với các nhân vật tham gia giao
Trang 15tiếp, mỗi loại tín hiệu sẽ có hiệu quả và chất lượng giao tiếp khác nhau
Nhân tố cuối cùng là đích của hoạt động giao tiếp Khi phát ra một thông điệp, bao giờ người phát cũng hướng đến một mục đích nhất định Đó là đích của hoạt động giao tiếp Đích này được thể hiện ở hai loại mục đích của thông điệp: đích nhận thức và đích tác động Mục đích nhận thức của thông điệp là làm cho người nhận sau khi tiếp nhận nội dung của thông điệp sẽ có cùng nhận thức với người phát Mục đích tác động của thông điệp là mục đích làm cho người tiếp nhận phải có những biến đổi nhất định trong trạng thái tâm lý, tình cảm từ
đó có hành động phù hợp với mong muốn của người phát Hai loại mục đích này luôn tương tác, hỗ trợ cho nhau, cái này là chỗ dựa cho cái kia
Trước đây, ngôn ngữ học có một hạn chế rất lớn là chưa phát hiện ra bản chất của quá trình giao tiếp bằng ngôn ngữ Chỉ đến khi ngữ dụng học ra đời, giao tiếp ngôn ngữ mới được quan tâm như là địa hạt thể hiện và thực thi các hành vi ngôn ngữ của các nhân vật giao tiếp Theo đó, nói năng là một loại hành động thực hiện bằng ngôn từ Như vậy, giao tiếp ngôn ngữ thực chất
là sự trao đổi hành động bằng ngôn từ và lý thuyết ngôn giao thực chất là lý thuyết của ngữ dụng học mà nòng cốt của nó là lý thuyết hành vi ngôn ngữ (các đại diện là Austin, Searle) Trọng tâm nghiên cứu của lý thuyết ngôn giao
là nghiên cứu ngôn ngữ ở dạng hành chức, trong mối quan hệ với người sử dụng nó, với hiện thực được nói tới, với hoàn cảnh giao tiếp trong đó sự giao tiếp đang diễn ra
1.3 Sơ lƣợc về lý thuyết hành vi ngôn ngữ
1.3.1 Hành vi ngôn ngữ là gì?
Lý thuyết hành vi ngôn ngữ hay hành động ngôn từ mà người đầu tiên
đi tiên phong là Austin [8], người kế thừa và phát triển là Searle (và các tác giả sau này) đã chỉ ra bản chất hành động của lời nói: Khi ta nói là ta đã thực hiện một hành vi ngôn ngữ Theo Austin có ba loại hành vi ngôn ngữ: hành vi tạo lời, hành vi tại lời và hành vi mượn lời
Hành vi tạo lời: là hành vi sử dụng các yếu của ngôn ngữ như: âm, từ,
Trang 16các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo ra một phát ngôn về hình thức và nội dung Một bộ phận của hành vi tạo lời đã là đối tượng nghiên cứu của ngôn ngữ tiền dụng học
Hành vi tại lời: là những hành vi người nói thực hiện ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, nghĩa là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận Ví dụ về hành vi tại lời: hỏi, yêu cầu, ra lệnh, mời, hứa hẹn, khuyên bảo Khi chúng ta hỏi một ai về điều gì đó thì người được hỏi có nhiệm vụ phải trả lời chúng ta
dù trả lời là không biết Không trả lời, không đáp lại người nghe vị xem là không lịch sự Hành vi tại lời có ý định quy ước và có thể chế dù rằng quy ước và thể chế của chúng không hiển ngôn mà quy tắc vận hành chúng được mọi người trong cộng đồng ngôn ngữ tuân theo một cách không tự giác Có thể nói, nắm được ngôn ngữ, không chỉ có nghĩa là nắm được ngữ âm, từ ngữ, câu của ngôn ngữ đó mà còn là nắm được những quy tắc để điều khiển các hành vi tại lời ở ngôn ngữ đó, nghĩa là biết các quy tắc để “hỏi”, “hứa hẹn”,
“mời” sao cho đúng lúc, đúng chỗ, thích hợp với ngữ cảnh và với người được hỏi
Hành vi mượn lời: là những hành vi mượn phương tiện ngôn ngữ, nói đúng hơn là mượn các phát ngôn để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào
đó ở người nghe, người nhận hoặc ở chính nguời nói Chức năng hành động của giao tiếp được thực hiện nhờ các hiệu quả mượn lời của phát ngôn Có những hiệu quả mượn lời là đích ở lời của một hành vi ở lời nhưng có những hiệu quả không thuộc đích của hành vi ở lời Những hiệu quả mượn lời thường rất phân tán và không thể tính toán được
Trong dụng học, người ta thiên về tập trung nghiên cứu hành vi thứ hai, tức là hành vi tại lời.Do vậy, khi nói đến hành vi ngôn ngữ là hành vi tại lời: Một hành vi ngôn ngữ được tạo ra khi người nói trao một phát ngôn cho người nghe trong một ngữ cảnh nhất định Mỗi hành vi ngôn ngữ đều chuyển tải một lực tại lời gọi là lực ngôn trung
Trang 171.3.2 Phân loại hành vi ngôn ngữ
Có hai hướng để phân loại hành vi ngôn ngữ
1.3.2.1 Phân loại hành vi ngôn ngữ theo Austin (1962)
Theo Austin [8], các hành vi ngôn ngữ được chia thành 05 nhóm là:
<1> Phán định: đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một
sự kiện hay một giá trí dựa trên những chứng cớ hiển nhiên hoặc dựa vào lí lẽ vững chắc như: xem là, tính toán,
<2> Hành sử: đây là những hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một chuỗi hành động nào đó: ra lệnh, khẩn cầu, đặt hàng
<3> Cam kết: đây là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi những hành động nhất định: hứa hẹn, giao ước, thề nguyền
<4> Trình bày: đây là những hành vi được dùng để trình bày quan điểm, dẫn dắt lập luận, giải thích cách dùng các từ như khẳng định, phủ định, trả lời, nhượng bộ
<5> Ứng xử: đây là những hành vi phản ứng với cách cư xử của người khác, đối với sự kiện có liên quan, chúng cũng là cách biểu hiện thái độ đối với hành vi hay số phận người khác: xin lỗi, cám ơn, khen ngợi, chống lại, thách thức, nghi ngờ
1.3.2.1 Phân loại hành vi ngôn ngữ theo Searle
Searle chính là người đầu tiên chỉ ra hạn chế của bảng phân loại hành vi ngôn ngữ của Austin Theo Searle, có 12 điểm khác biệt giữa các hành vi ngôn ngữ được dùng làm tiêu chí phân loại như sau: đích tại lời; hướng khớp lời với hiện thực mà lời đề cập đến; trạng thái tâm lý được thể hiện; sức mạnh mà đích được trình bày ra; tính quan yếu của mối quan liên hệ cá nhân giữa người nói và người nghe; định hướng; câu hỏi và trả lời; nội dung mệnh đề; Tuy nhiên, Searle chỉ dùng bốn trong số 12 tiêu chí để phân loại các hành vi ngôn ngữ Đó là các tiêu chí: đích tại lời, hướng khớp ghép, trạng thái tâm lý, nội dung mệnh đề Dựa trên các tiêu chí đó, Searle [8] phân lập được năm loại hành vi tại lời Đó là các hành vi: Tái hiện hay xác tín; điều khiển; cam kết; biểu cảm và tuyên bố
Trang 18Mặc dù trong bảng phân loại của Austin còn nhiều điều không thoả đáng: có chỗ còn chồng chéo, có chỗ mơ hồ, nhưng cho đến nay, những quan niệm của Austin cũng như lý thuyết hành vi ngôn ngữ và bảng phân loại của ông vẫn được các nhà nghiên cứu coi trọng và xem là kim chỉ nam cho các nghiên cứu về ngữ dụng học
1.4 Khái lƣợc về lý thuyết lập luận
1.4.1 Lập luận là gì?
Trước đây, lập luận (arguementation) được nghiên cứu trong tu từ học
và trong lôgic học Theo các hiểu của lôgic học, “lập luận là là một hoạt động ngôn từ Bằng công cụ ngôn ngữ, người nói đưa ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một hệ thống xác tín nào đó: rút ra một (/một số) kết luận hay chấp nhận một (/một số) kết luận nào đó.” [10; tr 165]
Như vậy, một lập luận bao giờ cũng gồm 3 thành tố lôgic: tiền đề (luận cứ), kết đề và lí lẽ Tiền đề là một hoặc nhiều dữ kiện xuất hiện làm căn cứ cho lập luận, từ đó suy ra kết đề Kết đề là một khẳng định đích hay là một khẳng định mục tiêu Lí lẽ (còn gọi là luật suy diễn hay luận chứng) là những
yếu tố mà nhờ đó từ tiền đề chúng ta suy ra kết đề Những yếu tố này có thể là
những nguyên lí, quy luật tự nhiên, những định lí, định luật, quy tắc trong các ngành khoa học tự nhiên, kỹ thuật, và cũng có thể là những lí lẽ trong lôgic
đời thường Ví dụ
“ - Đã 7 giờ tối rồi Họ không lên nữa đâu
- Căn cứ vào đâu mà cậu nói như vậy?
- Chiều mai họ bay ra Hà Nội rồi Không ai từ Sài Gòn lên Đà Lạt thăm bạn bè vài tiếng để rồi vội vã quay về thành phố cả”
Trong đoạn trên, tiền đề là “Đã 7 giờ tối rồi”, kết đề là “Họ không lên nữa đâu” Lí lẽ là “Không ai từ Sài Gòn lên Đà Lạt thăm bạn bè vài tiếng để rồi vội vã quay về thành phố cả” Đây là lí lẽ trong lôgic đời thường
Quan điểm về lập luận nêu trên là quan điểm về lập luận trong lôgic
Trang 19học Nhưng ở đây, chúng tôi chỉ muốn tìm hiểu bản chất ngữ dụng học của lập luận Từ đó, áp dụng nó vào nghiên cứu các lập luận trong CVHC
Theo Đỗ Hữu Châu, “lập luận là đưa ra các lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới.” [8; tr 155] Có thể biểu diễn quan hệ lập luận giữa các phát ngôn (nói đúng hơn là giữa nội dung các phát ngôn) như sau:
p > r
Trong đó, p là lí lẽ, r là kết luận Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi
là luận cứ Vậy có thể nói quan hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ với kết
luận Và các luận cứ có thể là một thông tin miêu tả hay một định luật, một nguyên lí xử thế Ví dụ:
Cái áo này rẻ mà lại đẹp, nên mua
p ở đây là 2 thông tin miêu tả: cái áo này đẹp (p1), cái áo này rẻ (p2)
r ở đây là “nên mua”
Như vậy, từ hai luận cứ p1 và p2, người nói đã đưa ra kết luận r Có thể
biểu diễn lập luận này như sau:
p 1
r
p 2 Theo tác giả Đỗ Hữu Châu [8], xét về bản chất ngữ dụng, lập luận là một hành động ở lời Lý do là vì hành vi lập luận cũng làm thay đổi tư cách pháp nhân của những người tham gia lập luận Điều này được thể hiện ở chỗ: khi đưa ra một lập luận, người lập luận phải tin vào và chịu trách nhiệm về những luận cứ và kết luận mà mình đưa ra Đối với người tiếp nhận, thì sự thay đổi về
tư cách pháp nhân thể hiện ở chỗ người này đang ở trạng thái vô can chuyển sang trạng thái chờ đợi lập luận, tức là chờ đợi hoặc kết luận hoặc luận cứ Trong luận văn này, chúng tôi dựa theo quan điểm về lập luận của Đỗ Hữu Châu để đi vào phân tích lập luận trong diễn ngôn CVHC ngành giao thông
Trang 201.4.2 Một số khái niệm trong lập luận
a) Kết tử lập luận:
Kết tử lập luận là những yếu tố phối hợp hai hay một phát ngôn riêng rẽ thành một lập luận duy nhất Nói cách khác, chính kết tử lập luận đã biến các phát ngôn thành luận cứ hoặc kết luận trong một lập luận nào đó
Ví dụ: từ các phát ngôn riêng lẻ:
- Trời đẹp
- Tôi bận học
- Tôi không thể đi chơi được
Từ những phát ngôn đó, nếu chúng ta thêm những kết tử lập luận thì chúng ta sẽ có được một lập luận hoàn chỉnh
Trời đẹp nhưng tôi bận học nên tôi không thể đi chơi được
ở phát ngôn này, kết luận là: Tôi không thể đi chơi được
Hai luận cứ là: Trời đẹp
Tôi bận học Các kết tử lập luận là: nhưng, nên
b) Tác tử lập luận:
Tác tử lập luận là những yếu tố mà khi đưa vào phát ngôn nào đó sẽ làm thay đổi tiềm năng lập luận mà không làm thay đổi thông tin miêu tả của phát ngôn
Ví dụ :
(1) Cái áo này mới (miêu tả)
(2) Cái áo này mà mới (đã xuất hiện thái độ của người nói)
Trong ví dụ (2) ta thấy sự đánh giá của người nói: cái áo đấy không mới và hướng về kết luận: chê áo đấy cũ Trong tiếng Việt, những tác tử lập luận thường là những phụ từ: đã, rồi, mà, cứ, thôi
Có những loại tác tử lập luận sau:
- Tác tử về thời gian
Ví dụ: Mới hai giờ thôi (hãy còn sớm)
Đã hai giờ rồi à? (muộn quá rồi)
Trang 21- Tác tử chỉ lượng:
Ví dụ: Chỉ mỗi thế thôi à? (ít quá)
Những năm cân cơ à? (nhiều quá) c) Định hướng lập luận :
Trong một lập luận, các luận cứ có quan hệ định hướng với nhau, hướng về kết luận Cụ thể, các luận cứ đồng hướng với kết luận là các luận cứ cùng hướng về kết luận Còn các luận cứ nghịch hướng là các luận cứ không cùng hướng về kết luận Nhân tố tạo nên định hướng lập luận chính là các tác
tử lập luận Trong trường hợp luận cứ mang hai định hướng ngược nhau thì vị trí của chúng quyết định hướng của lập luận.Ví dụ:
Cá này tươi nhưng đắt (chị không nên mua)
Cá này đắt nhưng tươi (chị nên mua)
1.5 Mạch lạc và liên kết trong văn bản
Một chuỗi câu nối tiếp có liên kết vẫn có thể không làm thành một văn bản (diễn ngôn) Thế nhưng một sản phẩm ngôn ngữ không có liên kết vẫn có thể trở thành một văn bản (diễn ngôn) Điều mâu thuẫn này cho thấy vai trò của liên kết hình thức rất mờ nhạt trong nhiệm vụ làm một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một văn bản đích thực Hay nói cách khác, cái làm cho một sản phẩm ngôn ngữ trở thành một văn bản (diễn ngôn) hoàn chỉnh là mạch lạc Vậy mạch lạc là gì? Liên kết là gì?
1.5.1 Mạch lạc
Mạch lạc không phải là khái niệm quá mới mẻ, nhưng việc ứng dụng chúng vào việc nghiên cứu trong văn bản hành chính lại chưa được nhiều người quan tâm
Trong ngôn ngữ học hiện đại, vấn đề mạch lạc được đề cập khá thường xuyên, hầu như trong các công trình nghiên cứu về DN, dù là trực tiếp hay gián tiếp Nhiều nhà nghiên cứu đều khẳng định mạch lạc là một khái niệm phức tạp, không dễ xác định Trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về mạch lạc, có thể kể đến công trình của các tác giả G Cook, D Crystal,
Trang 22G Brown, G Yule, David Nunan… Tuy nhiờn cỏc cỏch hiểu về mạch lạc cho đến nay vẫn chưa cú sự thống nhất Dưới đõy, chỳng tụi xin trớch dẫn một số định nghĩa tiờu biểu:
Cỏc tỏc giả M.A.K Halliday & R Hasan cho rằng: “mạch lạc được coi như phần cũn lại (sau khi trừ liờn kết) thuộc về ngữ cảnh của tỡnh huống (context of situation) với những dấu hiệu nghĩa tiểm ẩn (registers) Mạch lạc được coi là phần bổ sung cần thiết cho liờn kết, là một trong những điều kiện tạo thành chất văn bản” [dẫn theo 18; tr 11]
Theo tỏc giả D.Togeby, “mạch lạc (coherence), hiểu một cỏch chung nhất, là đặc tớnh của sự tớch hợp văn bản, tức là cỏi đặc tớnh bảo đảm cho cỏc yếu tố khỏc nhau trong một văn bản khớp được với nhau trong một tổng thể gắn kết” [dẫn theo 18; tr 11]
Tỏc giả Nunan thỡ cho rằng “mạch lạc là tầm rộng mà ở đú DN được tiếp nhận như là “cú mắc vào nhau” chứ khụng phải là một tập hợp cõu hoặc một phỏt ngụn khụng cú liờn quan nhau” [dẫn theo 8; tr 71]
Ở Việt Nam, cú nhiều nhà nghiờn cứu quan tâm nhiều đến việc nghiờn cứu cỏc vấn đề về mạch lạc nhưng cũng mới chỉ dừng lại ở việc giới thiệu những khỏi niệm ban đầu chứ chưa đi sõu vào nghiờn cứu từng hiện tượng cụ
thể Chẳng hạn như cỏc tỏc giả: Nguyễn Thiện Giỏp với Dụng học Việt ngữ,
Đỗ Hữu Châu với Ngữ phỏp văn bản, Diệp Quang Ban với Văn bản và liờn
kết trong tiếng Việt, … Bờn cạnh đấy, một số tỏc giả như Đinh Trọng Lạc,
Nguyễn Thị Việt Thanh, Trần Ngọc Thờm…cũng đã ít nhiều đề cập đến mạch lạc trong cỏc công trình nghiên cứu của mình
Tuy nhiờn, trong cụng trỡnh nghiờn cứu của mỡnh, Văn bản và liờn kết
trong tiếng Việt (1998), tỏc giả Diệp Quang Ban lần đầu tiờn đó đề cập đến
mạch lạc một cỏch tổng thể và chi tiết Từ gúc độ dụng học, Diệp Quang Ban [2] đó phỏt biểu rằng: “mạch lạc chớnh là sự ỏp dụng cỏc qui tắc tạo hành động
và hiểu hành động núi” ông đó khỏi quỏt mạch lạc thành ba kiểu như sau
Trang 231- Mạch lạc trong triển khai mệnh đề
2- Mạch lạc trong hành động ngôn ngữ (mạch lạc trong DN)
3- Mạch lạc theo nguyên tắc cộng tác
Từ những định nghĩa nêu trên, chúng tôi thấy rằng: mặc dù khái niệm mạch lạc trong văn bản chưa được hiểu thống nhất giữa các tác giả song họ
đều coi mạch lạc là điều kiện và đặc trưng cơ bản nhất của một văn bản đích
thực.Nói cách khác, mạch lạc là yếu tố quyết định việc làm cho một chuỗi câu trở thành văn bản
1.5.2 Liên kết
Liên kết là một thuật ngữ khá quen thuộc trong lĩnh vực nghiên cứu văn bản Tuy nhiên cách hiểu về liên kết cũng không hoàn toàn giống nhau ở các nhà nghiên cứu Sau đây là một vài quan niệm tiêu biểu:
Tác giả Trần Ngọc Thêm [34] coi văn bản là một hệ thống mà trong
đó các câu mới chỉ là các phần tử Ngoài các câu, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc Cấu trúc văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung Và tác giả kết luận: “Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy” [34; tr 19]
Tác giả Diệp Quan Ban định nghĩa liên kết là thứ quan hệ nghĩa giữa
hai yếu tố ngôn ngữ nằm trong hai câu theo kiểu giải thích nghĩa cho nhau
Theo ông, liên kết phải được đặt trên cơ sở ngữ nghĩa, do quan hệ ý nghĩa và quan hệ đó phải được diễn đạt bằng các phương tiện hình thức của ngôn ngữ
Như vậy, có thể hiểu một cách chung nhất rằng liên kết chính là một thuộc tính tất yếu của văn bản Liên kết là những mối quan hệ, liên hệ giữa các câu trong văn bản Những mối liên hệ, quan hệ ấy biểu hiện cả vể mặt hình thức lẫn mặt nội dung
Cho đến nay, có hai quan niệm lớn về liên kết Hướng thứ nhất coi liên kết văn bản thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ Hướng thứ hai coi liên kết không thuộc mặt cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ
Trang 24Trong hướng thứ nhất, ở giai đoạn đầu, liên kết chủ yếu giới hạn trong phạm vi các dấu hiệu hình thức Sang giai đoạn hai, người ta bắt đầu chú ý nhiều hơn đến liên kết về mặt ngữ nghĩa Bởi theo nhiều nhà nghiên cứu, các đơn vị ngôn ngữ vốn có hai mặt nội dung và hình thức với quan hệ mật thiết “như hai mặt của một tờ giấy” nên tính liên kết cũng có hai mặt: liên kết nội dung và liên kết hình thức Hai mặt này cũng có mối quan hệ biện chứng chặt chẽ với nhau, liên kết nội dung được thể hiện bằng một hệ thống các phương thức liên kết hình thức và liên kết hình thức chủ yếu để diễn đạt liên kết nội dung
Hướng thứ hai thịnh hành vào giữa những năm 70 và ngày càng được phổ biến rộng rãi Theo quan niệm này, liên kết với tư cách là một khái niệm chuyên môn, không thuộc về cấu trúc ngôn ngữ, mặc dù bản thân các yếu tố cấu trúc ngôn ngữ có thuộc tính liên kết Liên kết không thuộc về cấu trúc mà thuộc về ý nghĩa và chỉ các phương tiện hình thức của ngôn ngữ thực hiện chức năng đó mới thuộc liên kết Với cách hiểu này, liên kết không giữ vai trò yếu tố quyết định một sản phẩm ngôn ngữ là văn bản Cái quyết định đó là
“mạch lạc” (như chúng tôi đã nói ở trên)
Từ các quan điểm khác nhau đó mà có cách giải thuyết liên kết khác nhau, cách phân loại liên kết khác nhau Hai hướng này chỉ gặp nhau khi xem xét các phương tiện liên kết cụ thể
1.6 Văn bản hành chính và phân loại văn bản hành chính
1.6.1 Khái niệm văn bản hành chính
Văn bản hành chính là một thể loại văn bản được sử dụng để trao đổi những công việc hành chính sự vụ hằng ngày giữa các cơ quan hành chính đoàn thể các cấp từ Trung ương xuống địa phương với các thành viên và bộ phận xã hội có liên quan Theo tác giả Hữu Đạt [13], văn bản hành chính thuộc phong cách hành chính công vụ
1.6.2 Phân loại văn bản hành chính
Văn bản hành chính được phân loại theo nhiều cách khác nhau dựa trên các hướng nghiên cứu khác nhau
Trang 251.6.2.1 Phân loại văn bản hành chính theo hướng nghiên cứu của khoa học hành chính
Trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Văn Thông [36] đã chia văn bản hành chính thành các loại khác nhau dựa trên những tiêu chí khác nhau:
- Căn cứ vào chức năng của văn bản: có thể chia văn bản thành hai loại: văn bản quản lý và văn bản thường
- Căn cứ vào tính chất của văn bản: có thể phân biệt văn bản mang tính quyền lực nhà nước và văn bản không mang tính quyền lực nhà nước
- Căn cứ vào hình thức: văn bản hành chính được chia thành các loại: văn bản luật, văn bản dưới luật và văn bản khác luật
- Căn cứ vào yêu cầu, mục đích của văn bản: có các loại văn bản sau: văn bản trao đổi, văn bản truyền đạt, văn bản trình bày, văn bản thống kê, văn bản ban hành mệnh lệnh
Qua cách phân loại trên, ta có thể thấy rằng các văn bản hành chính có thể phân chia thành các tiêu chí khác nhau, song có điểm chung là chúng thường được chia thành hai hệ thống lớn, đó là các văn bản có chứa các quy phạm pháp luật và các văn bản thông thường, không chứa các quy phạm pháp luật CVHC là loại văn bản nằm trong hệ thống thứ hai, là các văn bản không chứa các quy phạm pháp luật Đi vào hệ thống nhỏ, chúng lại được chia thành những loại văn bản khác nhau tuỳ theo mục đích sử dụng, tuỳ theo từng hoàn cảnh cụ thể
1.6.2.2 Phân loại văn bản hành chính theo hướng nghiên cứu của phong cách học
Tác giả Hữu Đạt [13] cho rằng người ta có thể đứng từ nhiều góc độ khác nhau để phân chia văn bản thuộc phong cách hành chính – công vụ thành các nhóm khác nhau:
* Phân chia theo khu vực quản lý hành chính và ngành nghề:
- Văn bản hành chính
Đơn đề nghị, giấy mời, quyết định, giấy triệu tập, công văn, điện báo,
Trang 26điện tín, chỉ định, chỉ thị, công lệnh, thông báo
- Văn bản ngoại giao
Điện mừng, điện chia buồn, công hàm, cong ước, quốc thư, tuyên bố chung
- Văn bản dùng trong thương mại – kinh tế
Hoá đơn, chứng từ, giao kèo, hợp đồng
* Phân chia dựa trên tính chất và cấu trúc của văn bản:
- Nhóm 1 Các văn bản có cấu trúc đơn giản
+ Giấy gọi, giấy báo, công văn, giấy mời, văn bằng
+ Đơn từ (đơn đề nghị, đơn trình bày, đơn xin)
+ Điện báo, điện tín, công điện, điện mừng
+ Quốc thư, công hành, giác thư
- Nhóm 2 Các văn bản có cấu trúc tương đối phức tạp: Sắc lệnh, thông đạt, chỉ thị, chỉ định, quyết định, nghị định, thông tư, điều lệnh, quân lệnh
- Nhóm 3 Các văn bản có cấu trúc phức tạp
+ Pháp lệnh, điều luật, hiến pháp, điều lệ
+ Hiệp ước, hiệp định, thoả ước, bị vong lục, tuyên bố chung
Qua hai cách phân loại trên, cách phân loại thứ hai rõ ràng và tiện dụng hơn cách thứ nhất Bởi cách phân loại thức nhất bộc lộ rõ sự hạn chế: đó là sự chồng chéo nhất định giữa các nhóm văn bản Chẳng hạn, loại văn bản như: giấy mời, giấy báo, giấy gọi, giấy triệu tập sẽ được dùng ở tất cả các nhóm chứ không phải chỉ dùng riêng nhóm văn bản hành chính
1.6.2.3 Đặc điểm của văn bản hành chính
Theo tác giả Hữu Đạt [13], đặc điểm cơ bản của văn bản hành chính là tính khuôn mẫu đồng loạt; tính phi biểu cảm; tính hệ thống, đồng bộ và thống
Trang 27nhất; tính ngắn gọn, súc tích, không đa nghĩa; tính trang trọng và tính quốc tế
- Tính khuôn mẫu đồng loạt: văn bản thuộc phong cách hành chính – công vụ thường có tính khuôn mẫu đồng loạt Điều này có nghĩa là người ta
có thường tạo ra các loại mẫu in sẵn, các “khuôn” chung để có thể tạo ra các văn bản đồng loạt như nhau
- Tính phi biểu cảm: ngôn ngữ trong văn bản hành chính phải mang tính khách quan Bởi xét về bản chất, công việc thực thi trong các văn bản hành chính là công việc cần được thực hiện trên cơ sở của pháp luật cùng với các quy định mang tính hành chính của Nhà nước, của các cấp chính quyền
Do đó, để đảm bảo tính công bằng, sự bình đẳng trước pháp luật, ngôn ngữ văn bản phải hoàn toàn khách quan, tránh sự can thiệp mang tính chất chủ quan của các chủ thể tham gia giao tiếp
- Tính hệ thống, đồng bộ và thống nhất: đặc điểm này được thể hiện ở
cả hai mặt nội dung và hình thức Xét về mặt hình thức, đặc tính này thể ở việc tổ chức các chương, mục và các vấn đề được đưa ra trong văn bản Xét
về mặt nội dung, đặc tính này được thể hiện ở chỗ không có sự lặp lại giữa phần này với phần khác, giữa chương này với chương khác
- Tính ngắn gọn, súc tích và không đa nghĩa: đây là một đặc tính rất quan trong của văn bản hành chính bởi muốn thực thi công việc được tốt và chính xác, ngôn ngữ phải đảm bảo độ chính xác tuyệt đối nhằm truyền đạt thông tin sao cho vừa nhanh, vừa có hiệu quả
- Tính trang trọng và quốc tế: Văn bản hành chính truyền đạt những thông tin mang tính hành chính và mang tinh thần pháp luật Nó không phải là
sự trao đổi giữa các cá nhân Do vậy, tính trang trọng của văn bản thể hiện ở chỗ, tất cả các bên tham gia giao tiếp đều phải tôn trọng nó như là với tính cách một công cụ của pháp luật
1.6.3 Phân loại công văn hành chính
Công văn hành chính - đối tượng nghiên cứu chính của luận văn này - về
cơ bản cũng phải đáp ứng được các đặc tính nêu trên của văn bản hành chính
Trang 28Công văn hành chính là loại văn bản không chứa các quy phạm pháp luật Nội dung của loại văn bản này rất đa dạng, nhưng chức năng chủ yếu của
nó là truyền đạt thông tin cho các cơ quan đơn vị, cá nhân có liên quan được biết và thực hiện một đề nghị/ yêu cầu nào đó được đưa ra trong văn bản Cũng có khi nó được dùng để truyền đạt một chủ trương hay chính sách chưa được thể chế hoá bằng các văn bản thích hợp Trong trường hợp này, CVHC mang tính chất một văn bản mang tính phổ biến chính sách, chủ trương, được các cơ quan quản lý sử dụng để định hướng công việc cho các đơn vị trực thuộc hoặc để phối hợp với các cơ quan khác có liên quan
Trong mọi trường hợp, CVHC không thể dùng để thay thế các văn bản mang tính quy phạm pháp luật
Nói tóm lại, dựa trên tư liệu mà chúng tôi thu thập được (300 công văn các loại), căn cứ vào vị thế giao tiếp của các vai giao tiếp, theo chúng tôi, CVHC trong ngành giao thông có thể chia thành các nhóm nhỏ như sau:
a) Công văn có phân biệt vị thế giao tiếp
- Công văn có vai giao tiếp là cấp trên: Đây là loại công văn do cấp trên ban hành Trong loại công văn này, những yêu cầu, đề nghị được đưa ra thường mang tính chất mệnh lệnh mà cấp dưới buộc phải tuân theo Do đó, ngôn ngữ sử dụng mang tính chất mệnh lệnh rõ rệt
- Công văn có vai giao tiếp là cấp dưới: Đây là loại công văn đưa ra những lời yêu cầu, đề nghị mang tính chất thỉnh cầu, do đó, ngôn ngữ trong công văn mang tính thỉnh cầu Người tiếp nhận văn bản loại này không bị ép buộc phải đáp ứng thỉnh cầu nhưng trên thực tế bao giờ người tiếp nhận văn bản cũng có hồi âm trả lời cho những thỉnh cầu đó
b) Công văn không phân biệt vị thế giao tiếp: Đó chính là loại công văn mời họp Đây là loại công văn mà cả hai vị thế giao tiếp (cấp trên và cấp dưới) đều sử dụng Ngôn ngữ sử dụng trong các công văn thuộc loại này mang tính chất trung hoà
Trang 291.7 Việc nghiên cứu các văn bản hành chính ở Việt Nam trong tình hình hiện nay
Văn bản là công cụ để giao tiếp trong đời sống xã hội nói chung, trong các ban ngành nói riêng Nó chính là một tiêu chí để đánh giá bộ mặt của một
cơ quan Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, sự phát triển không ngừng trong mọi lĩnh vực của đất nước, đặc biệt là
sự phát triển của lĩnh vực quản lý hành chính, vấn đề soạn thảo và xử lý văn bản ngày càng trở thành một vấn đề được quan tâm
Tuy nhiên, trên thực tế, công tác soạn thảo các văn bản cho đến nay vẫn còn nhiều hạn chế về cả nội dung lẫn hình thức Các văn bản vẫn còn thiếu sự thống nhất trên nhiều phương diện: chức năng thực tế của chúng trong hoạt động quản lý, cách xử lý thông tin trong văn bản, thể thức văn bản Điều này gây ra nhiều khó trong quá trình quản lý Nguyên nhân chính của vấn đề này
là sự nhận thức chưa đầy đủ của các ngành các cấp về công tác soạn thảo và
xử lý văn bản, về vai trò và chức năng của chúng trong hoạt động quản lý Hay nói cách khác, nhiều cơ quan vẫn chưa thấy hết được hiệu quả kinh tế, ý nghĩa khoa học, vai trò của văn bản trong đời sống nói chung và trong đơn vị mình nói riêng
Cho đến nay, công tác nghiên cứu trong lĩnh vực văn bản còn chưa nhiều
và chưa đáp ứng được đòi hỏi trong thời kỳ đổi mới Công tác kiểm tra văn bản còn yếu và còn thiếu Các cán bộ chưa được đào tạo nhiều về công tác soạn thảo văn bản Một lý do quan trọng nữa là hệ thống thuật ngữ chưa thống nhất, các nghiên cứu về văn phong hành chính còn nhiều điều chưa làm sáng tỏ
Trước tình hình soạn thảo văn bản nói trên, các công trình nghiên cứu
về văn bản vẫn còn hết sức hạn chế Các công trình nghiên cứu ngôn ngữ hành chức trong văn bản chưa nhiều Có những công trình nghiên cứu về cách thức soạn thảo văn bản nói chung như các tác giả: Lưu Kiếm Thanh và Nguyễn Văn Thâm “Giáo trình kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản” (2006), Nguyễn Thành Long “Hướng dẫn soạn thảo và ban hành văn bản
Trang 30hành chính theo quy định của pháp luật và các mẫu văn bản thông dụng” (2004)…Có những công trình chủ yếu nghiên cứu các văn bản trên cấu trúc khung, chỉ đi sâu vào các vấn đề quản lý hành chính của văn bản như các công trình nghiên cứu của Nguyễn Văn Thâm “Soạn thảo và xử lý các văn bản hành chính pháp quy” (2001), Nguyễn Đăng Dung “Hướng dẫn soạn thảo văn bản” (1996), Trần Anh Minh “Soạn thảo văn bản hành chính” (1996)…Các công trình này chủ yếu thiên về chú ý đến quy tắc soạn thảo và luật ban hành văn bản chứ chưa chú ý đến bản chất giao tiếp cũng như hoạt động của văn bản với tư cách là một DN trong hành chức
Như mục đích đã đề ra khi thực hiện luận văn này, chúng tôi dựa vào lý thuyết ngôn ngữ để nhận diện và phân tích các CVHC với tư cách là các DN được sử dụng trong ngành giao thông Chúng ta đều biết rằng mỗi lĩnh vực khác nhau dẫn đến việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp văn bản khác nhau Luận văn của chúng tôi đặt trọng tâm vào việc tìm hiểu đặc điểm cấu trúc của diễn ngôn CVHC, trên cơ sở đó, chúng tôi chỉ ra những đặc điểm về mặt ngôn ngữ của hệ thống văn bản được sử dụng trong lĩnh vực này Hệ thống văn bản hành chính sử dụng trong lĩnh vực giao thông gồm nhiều loại khác nhau gồm thông tư, Nghị định, Quyết định, tờ trình, thông báo, công văn…Mỗi loại văn bản đó có mục đích giao tiếp riêng Để đạt được mục đích giao tiếp đó, người soạn thảo phải sử dụng một hệ thống ngôn từ phù hợp với một cấu trúc văn bản nhất định
Trong khuôn khổ có hạn, chúng tôi không thể đi vào phân tích tất cả các loại văn bản hành chính mà chúng tôi chỉ tập trung đi vào phân tích CVHC với các tiểu loại của chúng Đây là thể loại chúng tôi thấy có nhiều vấn đề nhất bởi sự không thống nhất về cấu trúc cũng như hình thức trình bày Tuy nhiên, chúng tôi không chỉ đi vào phân tích cấu trúc hình thức của các CVHC mà còn đứng trên bình diện phân tích DN, cụ thể là dựa trên lý thuyết hành động ngôn ngữ, lý thuyết giao tiếp để xem xét cấu trúc và chức năng của các CVHC Đấy chính là điểm khác biệt của luận văn này với các công trình trước đây
Trang 311.8 Tiểu kết
1.8.1 Nghiên cứu văn bản hành chính không phải là vấn đề mới mẻ bởi
trước đây đã có nhiều người quan tâm nghiên cứu đến vấn đề này Mặc dù vậy, việc nghiên cứu được xem xét dưới góc độ nào lại là vấn đề khác Có người nghiên cứu dưới góc độ văn bản học Lại có người nghiên cứu dưới góc
độ khoa học hành chính Tuy nhiên, việc nghiên cứu văn bản hành chính dựa trên bình diện phân tích DN thì chưa nhiều
1.8.2 Trong giao tiếp, người nói bao giờ cũng có mục đích và chiến
lược giao tiếp phù hợp Do đó, người nói luôn phải lựa chọn những ngôn từ, cách thức diễn đạt phù hợp để đạt được đích giao tiếp của mình Chương này
đã trình bày những nội dung cơ bản của lý thuyết giao tiếp, lý thuyết hành vi ngôn ngữ và lý thuyết lập luận làm cơ sở để phân tích những CVHC trên bình diện phân tích DN
1.8.3 Đã từ lâu, nhiều nhà nghiên cứu đã khẳng định rằng việc nghiên
cứu ngôn ngữ không chỉ là nghiên cứu về mặt cấu trúc mà còn cần nghiên cứu trên cả bình diện ngữ nghĩa và ngữ dụng Dựa trên lý thuyết giao tiếp, lý thuyết hành vi ngôn ngữ, chúng tôi tiến hành phân tích các CVHC trên cả ba bình diện: cấu trúc, ngữ nghĩa và ngữ dụng Ba bình diện này thống nhất và
quy định lẫn nhau và chi phối thông điệp cả về nội dung lẫn hình thức
Trang 32CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH ĐẶC ĐIỂM CẤU TRÚC
DIẾN NGÔN CÔNG VĂN HÀNH CHÍNH NGÀNH GIAO THÔNG
2.1 CẤU TRÚC HÌNH THỨC CỦA CÔNG VĂN HÀNH CHÍNH
Cấu trúc hình thức mà chúng tôi muốn nói ở đây là cách thức trình bày một văn bản hành chính thông thường Một văn bản hành chính bao giờ cũng phải tuân theo một số quy định cơ bản tuỳ theo thể loại cụ thể Hay nói cách khác, mỗi văn bản phải tuân theo một “khuôn mẫu” nhất định nào đó Người ban hành văn bản phải đảm bảo sao cho văn bản được ban hành đúng thể thức của nó Thể thức đầy
đủ của một văn bản hành chính nói chung bao gồm: quốc hiệu, tên cơ quan chủ quản, tên cơ quan ban hành văn bản, số và ký hiệu văn bản, trích yếu nội dung, địa danh và ngày tháng ban hành văn bản, tên đơn vị tiếp nhận văn bản, nội dung của văn bản, chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền, dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản, các nơi nhận văn bản
Chẳng hạn, theo Thông tư liên tịch số 55/2005/TTLT-BNV-VPCP ngày 06/5/2005 của Bộ Nội vụ – Văn phòng Chính phủ ban hành, mẫu chung của CVHC là:
Trang 33Ghi chú:
(1): Tên cơ quan, tổ chức cấp trên (nếu có)
(2) Tên cơ quan tổ chức hoặc chức danh nhà nước ban hành công văn
(3) Chữ viết tắt tên cơ quan, tổ chức hoặc chức danh nhà nước ban hành công văn (4) Chữ viết tắt tên đơn vị hoặc bộ phận soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo công văn (5) Địa danh
(6) Trích yếu nội dung công văn
(7) Nội dung công văn
(8) Ghi quyền hạn chức vụ của người ký
(9) Chữ viết tắt tên đơn vị soạn thảo hoặc chủ trì soạn thảo và số lượng bản lưu (nếu cần)
(10) Ký hiệu người đánh máy, nhân bản và số lượng bản phát hành (nếu cần) (11) Địa chỉ cơ quan, tổ chức: số điện thoại, số Fax, địa chỉ E-mail, website (nếu cần)
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng, các CVHC sử dụng trong ngành giao thông, về cơ bản, vẫn có bố cục (khuôn) chung đáp ứng được những nội dung sau:
- Phần đầu: quốc hiệu, giới thiệu về cơ quan cấp trên (cơ quan chủ quản), giới thiệu về cơ quan ban hành văn bản, giới thiệu về số, ký hiệu của văn bản, giới thiệu về đơn vị tiếp nhận văn bản, địa điểm và thời gian ban hành văn bản, trích yếu nội dung văn bản
- Phần nội dung:
+ Đưa ra những căn cứ, lý do ban hành văn bản
+ Nội dung chính của văn bản
+ Các yêu cầu của người ban hành văn bản
- Phần kết thúc:
+ Chức vụ, họ tên và chữ ký của người có thẩm quyền
+ Dấu của cơ quan, tổ chức ban hành văn bản
+ Các nơi nhận văn bản
Có thể vẽ cấu trúc chung của công văn hành chính như sau:
Trang 34Phần 2: Nội dung công văn
Phần 3: Yêu cầu đưa ra
2.2 CẤU TRÚC HÌNH THỨC CỦA CÔNG VĂN HÀNH CHÍNH NGÀNH GIAO THÔNG
Như chúng tôi đã trình bày ở chương 1, căn cứ vào vị thế của các vai giao tiếp, công văn hành chính sử dụng trong ngành giao thông có thể chia thành các nhóm nhỏ như sau:
a) Công văn có phân biệt vị thế giao tiếp
- Công văn có vai giao tiếp là cấp trên: Đây là loại công văn do cấp trên ban hành Trong những công văn này, những yêu cầu, đề nghị được đưa ra thường mang tính chất mệnh lệnh mà cấp dưới buộc phải tuân theo Do đó, ngôn ngữ sử dụng mang tính chất mệnh lệnh rõ rệt
- Công văn có vai giao tiếp là cấp dưới: Đây là loại công văn đưa ra những lời yêu cầu, đề nghị mang tính chất thỉnh cầu, do đó, ngôn ngữ trong công văn mang tính thỉnh cầu Người tiếp nhận văn bản loại này không bị ép buộc phải đáp ứng thỉnh cầu nhưng trên thực tế bao giờ người tiếp nhận văn bản cũng có hồi âm trả lời cho những thỉnh cầu đó
Trang 35b) Công văn không phân biệt vị thế giao tiếp: Đó chính là loại công văn mời họp Đây là loại công văn mà cả hai vị thế giao tiếp (cấp trên và cấp dưới) đều sử dụng
Số liệu cụ thể của các loại công văn này trong nguồn tư liệu chúng tôi thu thập được như sau:
Bảng 2.1: Số lượng và tỷ lệ các loại CVHC ngành giao thông
STT Loại công văn Số lượng
(công văn)
Tỷ lệ (%)
1 Công văn không phân biệt
là cấp trên
151 50,33
Công văn có vai giao tiếp
CV có vai giao tiếp là cấp trên
CV có vai giao tiếp là cấp dưới
CV không phân biệt vị thế giao tiếp
Hình 2.3: Biểu đồ tỷ lệ các loại CVHC ngành giao thông
Trang 36Các loại công văn này về cơ bản cũng tuân theo bố cục chung của thể loại CVHC Tuy nhiên, khi đi vào tìm hiểu từng loại, chúng tôi thấy rằng dù
có chung khuôn nhưng cấu trúc các công này không hoàn toàn giống nhau Đặc biệt là sự khác nhau giữa loại 1 và loại 2 Điều này sẽ được thấy rõ trong những mô tả rõ của chúng tôi sau đây
2.2.1 Cấu trúc công văn có phân biệt vị thế giao tiếp
CVHC thuộc loại này có nội dung rất đa dạng Đối tượng soạn thảo cũng khác nhau Do đó, khó có thể có một khuôn chung cứng nhắc cho tất cả các loại công văn CVHC ngành giao thông cũng rất đa dạng, không có một cấu trúc chung nghiêm ngặt Tuy nhiên, qua phân tích tư liệu, chúng tôi thấy rằng dù khác nhau nhưng về cơ bản có thể quy các CVHC về hai mô hình cấu trúc sau:
Mô hình 1: Cấu trúc công văn có phần dẫn
Phần 1: Phần dẫn (các căn cứ ban hành văn bản)
Phần 2: Nội dung chính của văn bản
Phần 3: Đưa ra các yêu cầu
Trang 37Mô hình 2: Cấu trúc công văn không có phần dẫn
Phần 2: Đưa ra các yêu cầu:
Như đã trình bày ở phần lý luận chung, CVHC có một đặc điểm là tính khuôn mẫu Đặc tính khuôn mẫu này chỉ ra rằng: CVHC có chung một khuôn và
Trang 38người ta chỉ việc dùng ngôn ngữ đổ đầy những khuôn thì sẽ cho ra những văn bản đồng loạt như nhau Chẳng hạn như “khuôn” chung của Quyết định là:
Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy rằng, không phải tất cả CVHC đều hoàn
Trang 39toàn giống một trong hai mô hình cấu trúc nêu trên Có thể thấy được một số điểm khác nhau cơ bản sau:
Thứ nhât, có sự khác nhau trong phần đầu của văn bản Sự khác nhau
này thể hiện ở chỗ:
+ Có công văn không có trích yếu nội dung (57/228 công văn)
+ Có công văn không có số công văn (13/228 công văn)
+ Có công văn không có cơ quan chủ quản (09/228 công văn)
+ Có công văn trình bày các thông tin về địa chỉ, điện thoại và fax ngay dưới các thông tin về quốc hiệu, cơ quan chủ quản và cơ quan ban hành văn bản (07/228 công văn)
Như vậy, sự khác nhau ở phần đầu là tương đối phổ biến Nhưng sự khác nhau này chỉ là những biểu hiện sai sót mà rất nhiều công văn ở các lĩnh vực khác nhau đều có chứ không riêng ở ngành giao thông
Thứ hai, sự khác nhau thể hiện ở phần nội dung
- Đối với những công văn thuộc mô hình 1, sự khác nhau ở phần nội dung được chia thành hai trường hợp:
+ Trường hợp thứ nhất: sau khi đưa ra căn cứ để ban hành văn bản, người tạo lập văn bản đưa ra một lý do chung chung (theo yêu cầu của chủ đầu tư hay để đáp ứng tiến độ dự án ) hoặc tình hình chung của dự án, rồi sau đó đưa ra yêu cầu cụ thể cho người tiếp nhận văn bản
+ Trường hợp thứ hai: sau khi đưa ra căn cứ để ban hành văn bản, người tạo lập văn bản đưa ra yêu cầu cụ thể cho người tiếp nhận văn bản
- Đối với những công văn thuộc mô hình 2, sự khác nhau trong phần nội dung cũng được chia thành hai trường hợp:
+ Trường hợp thứ nhất: sau khi đưa ra lý do, người tạo lập văn bản đưa
ra yêu cầu cụ thể cho người tiếp nhận văn bản
+ Trường hợp thứ hai: sau khi nêu ra tình hình chung của dự án, người ban hành văn bản đưa ra yêu cầu cụ thể cho người tiếp nhận văn bản
Trang 402.2.1.1 Cấu trúc công văn có vai giao tiếp là cấp trên
Công văn có vai giao tiếp là cấp trên thường là những công văn mang tính chất mệnh lệnh Tính chất này chi phối đến cấu trúc hình thức và ngôn ngữ sử dụng của công văn
a) Về mặt cấu trúc hình thức, các công văn thuộc loại này đều thuộc
vào 1 trong 2 mô hình nêu trên Tuy nhiên, cách thức trình bày nội dung giữa các CVHC cũng có sự khác nhau
Đối với những công văn thuộc mô hình 1, sự khác nhau ở phần nội
dung được thể hiện ở những ví dụ sau:
Ví dụ 1:
“Căn cứ biên bản thẩm tra hồ sơ bản vẽ thi công gói thầu 19 (km109+136.84-:-km111+744.76) thuộc dự án xây dựng tuyến Quản Lộ - Phụng Hiệp ngày 15/3/2008 giữa Ban Quản lý các dự án giao thông 9, Công
ty cổ phần Tư vấn xây dựng 533 (TVGS) và Công ty XDCTGT 874
Để đảm bảo nhà thầu thi công đúng hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công và
tiến độ của hợp đồng Công ty XDCTGT 874 đề nghị Công ty cổ phần Tư vấn
XDGT 8 hoàn chỉnh hồ sơ thiết kế BVTC gói thầu trên theo nội dung và thời gian của biên bản thẩm tra bản vẽ thi công kèm theo công văn này”
(Công văn số 143/KHKT ngày 16/3/2008 của Công ty XDCTGT 874)
Ví dụ 2:
“Căn cứ Quyết định số 2620/QĐ-BGTVT ngày 01/8/2005 của Bộ GTVT về việc đầu tư dự án nâng cấp QL4 đoạn Hà Giang- Lào Cai (giai đoạn 1)
Căn cứ Quyết định số 763/QĐ-BGTVT ngày 06/4/2007 của Bộ GTVT
về việc phân kỳ đầu tư dự án nâng cấp QL4 đoạn Hà Giang- Lào Cai
Căn cứ hồ sơ thiết kế kỹ thuật cắm mốc chỉ giới GPMB và LGĐB phục
vụ công tác GPMB dự án nâng cấp QL4 đoạn Hà Giang- Lào Cai (giai đoạn 1)
do Tổng công ty Tư vấn thiết kế GTVT (TEDI) lập;
Tiếp theo các công văn số 2576/GPMB ngày 19/12/2007, số 410/GPMB ngày 26/02/2008, số 618/GPMB ngày 19/3/2008 của Ban QLDA 5 về việc khẩn trương thực hiện công tác cắm mốc GPMB và mốc LGĐB các gói thầu số 1, 2,