Lý do lựa chọn đề tài Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay đang đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ sĩ quan Quân đội phải có phẩm chất, năng lực toàn
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM - -
NGUYỄN THỊ DUNG
ĐẶC ĐIỂM NGÔN NGỮ TRONG GIAO TIẾP
Ở TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUÂN SỰ VIỆT NAM
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Mã số : 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGÔN NGỮ
Người hướng dẫn khoa học : GS TS Lý Toàn Thắng
Thái Nguyên, năm 2011
Trang 21 Lý do lựa chọn đề tài
Nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay đang đặt ra yêu cầu đối với đội ngũ cán bộ sĩ quan Quân đội phải có phẩm chất, năng lực toàn diện, trong đó việc rèn luyện khả năng giao tiếp tốt đạt hiệu quả cao trong học tập và công tác là một vấn đề đặc biệt được các Học viện, Nhà trường Quân đội hết sức quan tâm
Giáo dục trong nhà trường có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của con người Đặc biệt là trong Quân đội thì Trường Đại học Quân sự (ĐHQS) là môi trường giáo dục, rèn luyện tốt nhất đối với Quân nhân, một trong số đó là Trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1)
Trường Đại học Trần Quốc Tuấn với mục tiêu đào tạo những thanh niên, quân nhân có đủ tiêu chuẩn qui định, trở thành sĩ quan chỉ huy - Tham mưu Lục quân cấp phân đội, có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ đại học, năng lực toàn diện về chỉ huy, lãnh đạo, quản lý và huấn luyện bộ đội, có thể lực tốt, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ
Học viên của Trường tốt nghiệp được cấp bằng cử nhân quân sự ngành chỉ huy - Tham mưu Lục quân, đảm nhiệm chức vụ ban đầu là trung đội trưởng, phát triển lên đại đội trưởng và các chức vụ tương đương, có tiềm năng phát triển lâu dài
Để trở thành người sĩ quan chỉ huy tương lai trong quá trình học tập, rèn luyện tại Trường, HV được huấn luyện nhiều nội dung Đặc biệt việc rèn luyện khả năng giao tiếp cho HV luôn được đội ngũ GV nhà trường chú trọng bồi dưỡng trong công tác giảng dạy và hỏi thi vấn đáp
Trong Trường Đại học Quân sự (ĐHQS) nói chung hoạt động giao tiếp giữa
GV và HV mang tính đặc thù Trong giao tiếp, các vai giao tiếp được xác định rõ ràng; sự xưng hô phải tuân theo cấp bậc, chức vụ; ngôn ngữ sử dụng là ngôn ngữ hành chính quân sự Đối với HV, thì GV có nhiều tư cách khác nhau: vừa là người thầy, người lãnh đạo, đồng thời vừa là người đồng chí, đồng đội của người học
Trang 3Nói riêng về hoạt động giao tiếp giữa GV và HV trong thi vấn đáp ở
Trường ĐHQS Việt Nam thì tuy đây cũng là một kiểu loại giao tiếp (nó cũng có cấu trúc, chức năng như hoạt động giao tiếp thông thường ) nhưng bên cạnh đó nó cũng chứa đựng nhiều nét khác biệt Đó là những hành động nói năng trong giao tiếp được Điều lệnh hóa, theo chuẩn mực Quân sự nhất định
Khảo sát về hoạt động giao tiếp giữa GV và HV ở Trường ĐHQS Việt Nam
nói chung và cụ thể trong thi vấn đáp nói riêng, đang là một vấn đề, một đề tài
nghiên cứu có tính cấp thiết liên quan đến mục tiêu, nhiệm vụ nâng cao khả năng giao tiếp cho HV
Về phương diện lý luận, đề tài này có liên quan mật thiết với các nội dung nghiên cứu của Ngữ dụng học, đặc biệt là các vấn đề về hội thoại có vị trí rất quan trọng vì nó chính là nội dung phản ánh vai trò của ngôn ngữ trong thực tế giao tiếp giữa GV và HV trong thi vấn đáp
Bước sang thế kỷ XXI, ở Việt Nam ngành Ngôn ngữ học nói chung và ngành Việt ngữ học nói riêng ngày càng quan tâm đến vấn đề như sự hành chức của ngôn ngữ trong các hoạt động xã hội, văn bản, phát ngôn, các vấn đề tương tác trong hội thoại, mối tương quan giữa phương tiện giao tiếp bằng ngôn từ và phi ngôn từ, hiệu quả lời nói trong nghi thức giao tiếp trong những hoàn cảnh giao tiếp khác nhau
Trong thời gian qua có một số tác giả đã vận dụng lý thuyết Ngữ dụng học vào việc nghiên cứu ngôn ngữ trong các hoạt động giao tiếp khác nhau Tuy nhiên, chưa có tác giả nào vận dụng lý thuyết Ngữ dụng học vào việc tìm hiểu và nghiên cứu hội thoại trong thi vấn đáp ở Trường ĐHQS Việt Nam
Bản thân tôi có niềm yêu thích Ngôn ngữ học nói chung và Ngữ dụng học nói riêng, luôn có ước muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực này nhằm phục vụ cho việc học tập, rèn luyện và giảng dạy trong môi trường Quân đội
Vì những lý do trên, chúng tôi đã lựa chọn "Đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp ở Trường ĐHQS Việt Nam (trên ngữ liệu thi vấn đáp)" để làm đề tài nghiên
cứu cho luận văn của mình
Trang 4Quân đội Nhân dân Việt Nam cho đến hôm nay đã kinh qua gần bảy mươi năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành dưới lá cờ vẻ vang của Đảng Nói đến Quân đội nhân dân Việt Nam, người ta nghĩ ngay đến các vị tướng lĩnh tài ba, đến những chiến công hiển hách, về hình ảnh anh "bộ đội Cụ Hồ" và "Nghệ thuật chiến tranh nhân dân " Vì vậy các đề tài nghiên cứu về lịch sử Quân sự Việt Nam, hay lịch sử Quân đội nhân dân Việt Nam rất đa dạng và phong phú
Bên cạnh đó, mảng đề tài về khoa học ngôn ngữ Quân sự cũng nhận được quan tâm của nhiều tác giả Theo tìm hiểu của chúng tôi, mảng đề tài này có một số công trình nghiên cứu cụ thể như sau:
- Hệ thuật ngữ Quân sự tiếng Việt (Luận án PTS Ngữ văn chuyên ngành ngôn ngữ các dân tộc Việt Nam; Hà Nội 1994 của tác giả Vũ Quang Hào)
- Từ điển thuật ngữ Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 1997
- Từ điển Bách khoa Quân sự Việt Nam, NXB Quân đội nhân dân Việt Nam, năm 2004
Đặc biệt về góc độ giao tiếp có công trình khoa học "Giao tiếp của bác sỹ Quân y với người bệnh" của tác giả T.S Nguyễn Thị Thanh Hà, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2003 Tuy nhiên công trình này chỉ đề cập đến mảng giao tiếp riêng ở lĩnh vực Quân y
Mới đây trên số báo Quân đội nhân dân Việt Nam ra ngày 20/12/2010 có bài viết của tác giả Sơn Hà với tựa đề "Kỹ năng giao tiếp mở ra cơ hội" Qua bài viết, tác giả Sơn Hà muốn nêu lên thực trạng nhiều sĩ quan trẻ học tập, rèn luyện trong môi trường Quân đội tuy có kết quả học tập, rèn luyện tốt, nhưng những sĩ quan trẻ này lại có hạn chế là chưa thực sự tự tin trong giao tiếp
Cũng trong số báo này có ý kiến của tác giả Đinh Thị Thủy Bình về vấn đề:
"Văn hóa chào hỏi nét đẹp của người quân nhân" Tác giả cho rằng: "Trong môi trường quân đội, việc chào hỏi giữa các quân nhân không chỉ là thực hiện điều lệnh
mà còn thể hiện tinh thần đồng chí, đồng đội, sự tôn trọng lẫn nhau, đồng thời là nét
Trang 5đẹp văn hóa của người quân nhân cách mạng Chào hỏi như thế nào, để vừa đúng điều lệnh, vừa có văn hóa, đòi hỏi mỗi quân nhân phải có ý thức, hiểu biết và hình thành cho mình thói quen Nguyên tắc chung của việc chào hỏi là: Quân nhân gặp nhau phải chào, cấp dưới phải chào cấp trên trước, người được chào phải chào đáp lễ "
Qua những ý kiến trên, chúng tôi càng nhận thức rõ hơn về tính cấp bách của
đề tài luận văn của mình là: chưa có tác giả nào đi vào tìm hiểu, nghiên cứu về "Đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp ở Trường ĐHQS Việt Nam" mà cụ thể là về hội thoại trong thi vấn đáp ở Trường ĐHQS Việt Nam,
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo sát và tìm hiểu 54 hội thoại trong thi vấn đáp ở một số phương diện và khía cạnh, luận văn nhằm chỉ ra đặc điểm và vai trò của hội thoại trong thi vấn đáp ở Trường ĐHQS Việt Nam dưới ánh sáng của Ngữ dụng học Từ
đó luận văn góp phần khẳng định những nét đặc thù ngôn ngữ sử dụng trong giao tiếp ở Trường ĐHQS Việt Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xác định cơ sở lý thuyết về Ngữ dụng học, đặc biệt là về hội thoại với các khái niệm hội thoại, cấu trúc hội thoại, qui tắc hội thoại, v.v làm điểm tựa cho việc tìm hiểu hội thoại trong thi vấn đáp
- Dựa trên cơ sở lý thuyết này, chúng tôi tiến hành khảo sát, thu thập và xử
lý tư liệu về hội thoại trong thi vấn đáp
- Miêu tả những đặc điểm cơ bản của hội thoại (như hình thức hội thoại, cấu trúc cuộc thoại, tính chất đoạn thoại, v.v.), vai trò của hội thoại với việc thể hiện chủ đề và tính giao tiếp
- Góp phần định ra phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong thi vấn đáp nói riêng và trong giao tiếp ở môi trường Quân đội nói chung
Trang 64.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là 54 cuộc thoại giữa GV và HV Trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1) với 9 môn học:
1 Điều lệnh đội ngũ (Cuộc thoại 1 đến 10)
2 Điều lệnh Quản lý bộ đội (Cuộc thoại 11 đến 13)
3 Võ thuật và Đâm lê (Cuộc thoại 14 đến 22)
4 Lý thuyết bắn súng (Cuộc thoại 23 đến 31)
5 Chiến thuật (Cuộc thoại 32 đến 36)
6 Tâm lý và giáo dục học Quân sự (Cuộc thoại 37 đến 45)
7 Kỹ thuật hỏa khí (Cuộc thoại 46 đến 48)
8 Công tác đảng công tác chính trị (Cuộc thoại 49 đến 51)
9 Tin học (Cuộc thoại 52 đến 54)
Các đối tượng HV được chúng tôi tiến hành khảo sát là HV các năm từ năm thứ nhất đến năm cuối của Trường
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Có thể nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp ở Trường ĐHQS Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, chúng tôi tập trung tìm hiểu nghiên cứu đặc điểm hội thoại trong thi vấn đáp
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp miêu tả (với hai thủ pháp chính là phân tích và tổng hợp)
Phương pháp này được sử dụng để miêu tả các cấu trúc hội thoại, hình thức hội thoại, vai trò của hội thoại với việc thể hiện chủ đề trong thi vấn đáp
- Phương pháp thống kê, phân loại
Phương pháp này vận dụng vào việc tính đếm tần số xuất hiện và phân loại cấu trúc hội thoại, các kiểu quan hệ của nó v.v làm cơ sở phân tích, nhận xét các đặc điểm của hội thoại, đánh giá vai trò của hội thoại trong thi vấn đáp
- Phương pháp điền dã: Phương pháp này được vận dụng khi đi khảo sát thực tế thu thập tư liệu làm cơ sở dữ liệu cho luận văn
Trang 76 Đóng góp của luận văn
6.1 Về lý luận
Áp dụng các tri thức về Ngữ dụng học nói chung, về hội thoại nói riêng, dựa trên ngữ liệu thi vấn đáp, luận văn có thể làm sáng tỏ hơn một số đặc điểm ngôn ngữ trong giao tiếp nói chung và hội thoại nói riêng ở môi trường ngôn ngữ ĐHQS Việt Nam
Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể đặt ra phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ trong thi vấn đáp nói riêng và trong giao tiếp ở môi trường Quân đội nói chung
6.2 Về thực tiễn
Qua kết quả nghiên cứu, luận văn sẽ giúp độc giả hiểu rõ hơn về tính đặc thù
vô cùng thú vị của ngôn ngữ trong giao tiếp ở Trường ĐHQS Việt Nam Đồng thời, dựa trên kết quả nghiên cứu của luận văn, chúng tôi cũng mong muốn rằng có thể chia sẻ với cán bộ, GV, HV trong các Học viện, Nhà trường Quân đội một số kinh nghiệm thực tiễn giúp cho hoạt động giao tiếp nói chung và giao tiếp trong thi vấn đáp nói riêng đạt hiệu quả như mong muốn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung chính của luận văn gồm ba chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết và thực tế
Chương 2: Đặc điểm của ngôn ngữ hội thoại trong thi vấn đáp
Chương 3: Thăm dò ý kiến về việc sử dụng từ ngữ trong thi vấn đáp ở trường ĐHQS Việt Nam
Trang 8CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ THỰC TẾ
1.1 Khái niệm giao tiếp
Giao tiếp (Communication) là sự tiếp xúc giữa các cá thể trong một cộng đồng để truyền đạt một thông tin nào đó Đối với xã hội loài người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện, trong đó phương tiện ngôn ngữ (bao gồm cả ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết) là phương tiện quan trọng nhất Giao tiếp bằng ngôn ngữ là đối tượng thu hút sự chú ý của các nhà nghiên cứu với những mối quan tâm khác nhau Theo Beger 1994 [2, tr.164] giao tiếp được hiểu theo một số cách như sau:
Hiểu theo cách đơn giản và chung nhất, giao tiếp là quá trình thông tin diễn ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định Cách định nghĩa này phù hợp với các cuộc trao đổi bằng lời trong cuộc sống thường nhật của con người, do đó nó liên quan tới xã hội học
Theo cách hiểu có tính chuyên môn giao tiếp được định nghĩa như một thuật ngữ chỉ loại, bao gồm tất cả những thông điệp được phát ra trong những ngữ cảnh và tình huống khác nhau Theo cách hiểu này, giao tiếp là cách gọi chung cho tất cả các hành động ngôn ngữ trong xã hội
Theo một cách định nghĩa khác, khái niệm giao tiếp được giải thích thông qua tính từ “thuộc về giao tiếp” hay “có tính giao tiếp” Một tín hiệu có tính giao tiếp nếu nó nhằm báo cho người nhận về một cái gì đó mà cho đến lúc bây giờ người đó chưa biết Như vậy, giao tiếp được xem xét có sự phân biệt trong quan hệ một bên là người phát (người nói, người viết) với những
Trang 9chủ định nhất định, một bên là người nhận (người nghe, người đọc) với những giá trị nhất định
Căn cứ theo những cách hiểu vừa trình bày trên, thì ngôn ngữ giao tiếp giữa giáo viên và học viên trong thi vấn đáp ở Trường ĐHQS Việt Nam không phải là “ngôn ngữ trao đổi bằng lời trong cuộc sống thường nhật” cũng không mang “tính chất đại diện chung” cho tất cả các hành động ngôn ngữ trong xã hội Mặt khác nội dung thông tin giao tiếp trong thi vấn đáp không hoàn toàn là “một cái gì đó” mà người nhận chưa biết
Ở đây giao tiếp ngôn ngữ trong thi vấn đáp được nhìn nhận như là những cái vốn có trong các bình diện nội dung và bình diện biểu hiện (hình thức) của các thông điệp bằng ngôn ngữ, giáo viên và học viên trao đổi lời (nói) với nhau, hướng đến mục đích mà cả hai cùng quan tâm
Với quan niệm như vậy, trong luận văn này chúng tôi tạm thời đưa ra
một định nghĩa để làm việc về khái niệm giao tiếp như sau: giao tiếp được
hiểu là sự trao đổi thông tin qua lại bằng lời nói giữa ít nhất hai người với những thông điệp bằng ngôn ngữ trong một ngữ cảnh nhất định Nhờ có giao tiếp bằng ngôn ngữ mà con người có thể thuận lợi trao đổi thông tin, bày tỏ quan điểm, cảm xúc, thiết lập hoặc gỡ bỏ những sợi dây liên hệ tình cảm
Nói cụ thể hơn vào giao tiếp trong mối trường quân đội và trong thi vấn đáp ở Trường ĐHQS thì chúng ta cần thấy thêm rằng sự trao đổi thông tin qua lại bằng lời nói giữa học viên và giáo viên ở đây còn có những nét đặc thù riêng khác với giao tiếp thông thường như: ngôn ngữ có tính điều lệnh hóa cao hơn, quy trình bài bản hơn, ngôn từ lựa chọn chuẩn mực hơn
Về phương diện lý thuyết chung, từ lâu các nhà ngôn ngữ học đã xác định được tầm quan trọng hàng đầu của chức năng giao tiếp đối với ngôn ngữ,
và trong quá trình giao tiếp - theo các nhà phân tích diễn ngôn - ngôn ngữ
Trang 10nhân Chức năng giao dịch (hay còn gọi là chức năng biểu hiện, quy chiếu, quan niệm, miêu tả) là “mệnh đề” Chức năng liên nhân (hay còn được gọi là chức năng tương tác, hoặc bộc lộ, hoặc bộc lộ - xã hội) là chức năng của ngôn ngữ được dùng trong việc diễn đạt các quan hệ xã hội và thái độ của cá nhân (7, tr 21)
1.2 Lý thuyết hội thoại
Có thể nói rằng thi vấn đáp ở Trường ĐHQS về bản chất là một cuộc hội thoại giữa giảng viên và học viên, cho nên chúng ta cần tìm hiểu sâu về lí thuyết hội thoại dưới đây
1.2.1 Khái niệm hội thoại
Như chúng ta đã biết, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu đặc biệt, là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Trong thực tiễn, giao tiếp ngôn ngữ được thể hiện dưới hai dạng cơ bản là hội thoại và độc thoại Theo cách hiểu thông thường, giản đơn thì hội thoại nghĩa là hai hay nhiều người nói chuyện với nhau, tác động đến nhau bằng lời
Hội thoại, từ khi trở thành đối tượng của Ngữ dụng học, đã được nhiều tác giả như C.K Orecchioni, H.P.Goice, G.Leach, D Wilson, quan tâm tìm
hiểu và đưa ra nhiều định nghĩa khác nhau Theo GS Đỗ Hữu Châu, “Hội
thoại” là hình thức giao tiếp thường xuyên, phổ biến của ngôn ngữ, và cũng
là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác” [3, 201] Chức năng làm
môi trường sống của ngôn ngữ của hội thoại đã được nhà lý luận ngôn ngữ Xô
Viết M Bakhtin nhấn mạnh: “Đối thoại là bản chất của ý thức, bản chất của
cuộc sống con người… Sống tức là tham gia và đối thoại: hỏi, nghe, trả lời, đồng ý… Con người tham gia vào cuộc đối thoại ấy bằng toàn bộ con người mình và toàn bộ cuộc đời mình: bằng mắt, tay, tâm hồn, tinh thần và hành vi
Nó trút hết con người vào lời nói và tiếng nói của nó gia nhập dàn đối thoại
Trang 11của cuộc sống con người, gia nhập cuộc hội thảo thế giới… Bản ngã không chết, cái chết chỉ là sự ra đi Con người ra đi khi đã nói lời của mình, nhưng bản thân lời nói ấy còn lại mãi mãi trong cuộc thoại không bao giờ kết thúc… Đối thoại là một phương diện của tồn tại con người, nó cho thấy có cả một bộ mặt tự nhiên sinh động của hiện thực” [32,tr 11]
Một cuộc hội thoại sẽ chịu sự chi phối của các yếu tố sau:
- Thoại trường: Thoại trường chính là hoàn cảnh không gian, thời gian nơi diễn ra cuộc thoại Thoại trường có thể mang tính công cộng, ví dụ như trong cuộc họp, buổi hội thảo, trên giảng đường, trong lớp học… Thoại trường cũng có thể mang tính riêng tư, ví dụ như trong nhà bếp, phòng ngủ… Không chỉ có không gian, thời gian mà khả năng có mặt của những người mới tham gia vào cuộc thoại đang diễn ra cũng được xem là đặc điểm của thoại trường Một cuộc đối thoại mang tính riêng tư, ví dụ như đôi trai gái đang yêu nhau, sẽ thay đổi ít nhiều về nội dung, cách thức khi có mặt thêm ngưòi thứ ba, dù sự xuất hiện đó là khách quan và người thứ ba kia không hề xen vào cuộc thoại [3]
- Thoại nhân: Thoại nhân là những người tham gia vào cuộc thoại Trước hết, các cuộc thoại khác nhau ở số lượng người tham gia Căn cứ theo tiêu chí này, các nhà nghiên cứu đã chia hội thoại thành các dạng: song thoại (cuộc thoại gồm hai thoại nhân), tam thoại (cuộc thoại gồm ba thoại nhân) và
đa thoại (cuộc thoại gồm ba thoại nhân trở lên), trong đó, song thoại là dạng
cơ bản, phổ biến nhất Không chỉ số lượng mà cương vị và tư cách của thoại nhân, ví dụ như tính chủ động hay bị động của các đối tác (đối ngôn), cũng ảnh hưởng rất lớn đến các cuộc thoại [3]
- Đích giao tiếp: Đích giao tiếp là mục tiêu cần đạt đến trong mỗi cuộc thoại Có cuộc thoại đích rõ ràng, được xác định từ trước khi diễn ra hội thoại (ví dụ như hội thảo khoa học, thương thuyết ngoại giao…) Ngược lại,cũng có
Trang 12dụ như các cuộc tán gẫu, nói chuyện phiếm…) [3]
- Hình thức cuộc thoại: các cuộc thoại còn khác nhau ở chỗ có hay không có hình thức cố định, chặt chẽ, mang tính nghi lễ Trong khi đó, các cuộc trò chuyện trong đời thường sẽ không bị bó buộc bởi bất kỳ nghi lễ, hình thức nào [3]
1.2.2 Vận động hội thoại
Hội thoại là một vận động bằng ngôn ngữ, là cách các thoại nhân sử dụng các yếu tố ngôn ngữ để tác động qua lại lẫn nhau, nhằm đạt được mục đích nhất định Bất cứ một cuộc thoại nào cũng gồm ba vận động: trao lời, trao đáp và tương tác Trong đó hai vận động trao lời và trao đáp là do từng thoại nhân thực hiện và phối hợp với nhau tạo thành vận động thứ ba – tương tác
Trao lời là hoạt động của người phát (kí hiệu SP1) tạo ra diễn ngôn và hướng diễn ngôn của mình đến người nhận (kí hiệu SP2)
Trao đáp là quá trình người nhận chuyển thành vai người phát đáp lại lời thoại
Sự thay đổi luân phiên vai người phát – nhận giữa các thoại nhân làm nên hoạt động trao – đáp trong hội thoại Qua hoạt động này, thoại nhân thông qua diễn ngôn và các biểu hiện phi ngôn ngữ của mình để tác động qua lại lẫn nhau, làm thay đổi nhau Hoạt động tác động qua lại lẫn nhau của các nhân vật trong giao tiếp chính là sự tương tác trong hội thoại
Chính nhờ sự tương tác mà hội thoại trở thành hoạt động giao tiếp đặc
biệt thú vị và hấp dẫn của con người, trong đó “mỗi nhân vật tương tác là
những nhạc công trong bản giao hưởng vô hình mà phần nhạc họ chơi không đựơc biên soạn từ trước, mỗi người tự soạn ra trong diễn tiến của cuộc hoà nhạc, một cuộc hoà nhạc không có nhạc trưởng” [3,tr.219]
1.2.3 Quy tắc hội thoại
Trang 13Để hội thoại thành công, các thoại nhân bắt buộc phải tuân theo một số quy tắc nhất định Qua nghiên cứu thực tế, K Orecchioni đã hệ thống các quy tắc thành ba nhóm như sau:
- Các quy tắc điều hành sự luân phiên lượt lời
- Các quy tắc chi phối cấu trúc hội thoại
- Các quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại
Cụ thể như sau:
1.2.3.1 Quy tắc luân phiên lượt lời
Mỗi lần SP1 hay SP2 nói là một lượt lời Các lượt lời có thể được một người điều chỉnh hoặc do các thoại nhân tự thương lượng ngầm với nhau Khi tham gia hội thoại, các thoại nhân phải ý thức rõ ràng về vai trò nói và nghe của nhau Để tiến trình hội thoại không bị gián đoạn, giao tiếp thuận lợi, mỗi thoại nhân phải tuân thủ các quy tắc sau:
Vai nói thường xuyên thay đổi nhau trong một cuộc thoại
Mỗi lần chỉ một người nói
Lượt lời của mỗi người thường thay đổi về độ dài, do đó cần có những biện pháp để nhận biết khi nào một lượt lời chấm dứt
Vị trí ở đó nhiều người cùng nói một lúc tuy thường gặp nhưng không bao giờ kéo dài
Nhường lời cho người hội thoại với mình, không được cướp lời người khác khi người đó chưa kết thúc
Nối tiếp lời của người tham gia hội thoại kịp thời, tránh không được để khoảng yên lặng giữa các lượt lời quá dài
Trật tự của người nói không cố định, ngược lại luôn thay đổi
1.2.3.2 Quy tắc điều hành nội dung hội thoại
Các quy tắc điều hành nội dung hội thoại chính là các quy tắc điều hành quan hệ giữa nội dung của các lượt lời tạo nên cuộc hội thoại
Trang 14Nguyên tắc này được Grice nêu ra năm 1967, được thể hiện qua 4 phương châm:
- Phương châm về lượng:
Hãy làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin đáp ứng đủ như đòi hỏi của đích hội thoại
Đừng làm cho phần đóng góp của anh có lượng tin lớn hơn đòi hỏi
- Phương châm về chất:
Hãy làm cho những đóng góp của anh là đúng, đừng nói những điều mà anh tin rằng không đúng
Đừng nói những điều mà anh không đủ bằng chứng xác thực
- Phương châm quan hệ:
Hãy làm cho phần đóng góp của anh có liên quan đến vấn đề đang đề ra
(ii) Nguyên tắc quan yếu:
Theo Wilson và Sperber, một phát ngôn chỉ quan yếu khi nó có hiệu lực nào đó với ngữ cảnh và trong những điều kiện giống nhau, hiệu lực với ngữ cảnh càng cao thì tính quan yếu của phát ngôn càng lớn Từ nền tảng đó, K.Orecchioni đã tìm ra bốn phương diện mà phát ngôn có thể quan yếu: quan yếu về ngữ dụng, quan yếu về lập luận, quan yếu về hứng thú và quan yếu về
đề tài Một phát ngôn được xem là quan yếu về ngữ dụng khi nó có hệ quả với hành động, cách cư xử của những người tham gia hội thoại; quan yếu về lập luận khi nó làm cơ sở để người nghe rút ra những suy ý làm thay đổi hiểu biết
Trang 15hay tín điều của người nghe, quan yếu về hứng thú khi thu hút được sự quan tâm của người nghe, quan yếu về đề tài khi nó có quan hệ với nhau và cùng quan hệ với đề tài của cuộc hội thoại mà nó tham gia vào
Để cuộc hội thoại thành công các thoại nhân luôn phải tác động, ảnh hưởng qua lại lẫn nhau Một trong những khía cạnh của sự ảnh hưởng đó là thương lượng hội thoại Thương lượng hội thoại thể hiện ở các bình diện sau:
- Về phương diện hình thức hội thoại, các thoại nhân thỏa thuận với nhau về ngôn ngữ được dùng
- Về cấu trúc hội thoại, các thoại nhân thương lượng về sự mở đầu, kết thúc và lượt lời của các nhân vật
- Về nội dung hội thoại, các thoại nhân thương lượng với nhau về vấn
đề đưa ra hội thoại
- Về thời gian, thương lượng hội thoại có thể diễn ra từ đầu, trong quá trình hội thoại hoặc trong một số trường hợp cá biệt, thương lượng hội thoại
có thể diễn ra trước khi cuộc hội thoại bắt đầu
- Về cách thức, thương lượng hội thoại có thể diễn ra một cách trực tiếp hoặc gián tiếp
1.2.3.3 Quy tắc chi phối quan hệ liên nhân trong hội thoại
Khi tham gia vào một cuộc hội thoại, ngoài các quy tắc ngôn ngữ, thoại nhân cần phải tuân thủ những quy ước của xã hội như quy tắc thẩm mĩ, quy tắc đạo đức, quy tắc lịch sự…
“Lịch sự”, theo cách hiểu thông thường, là cách giao tiếp đúng mực, theo
khuôn phép, khiến cho người giao tiếp với mình hài lòng Từ góc độ ngữ dụng học, lịch sự còn được xem xét với thể diện để đảm bảo tính toàn vẹn và đầy đủ Phép lịch sự là tổng thể những cách thức mà thoại nhân dùng để giữ gìn thể diện cho nhau
Lịch sự gồm hai bình diện:
Trang 16tuân theo những quy ước, nghi thức giao tiếp được cộng đồng chấp nhận
và tuân theo
- Lịch sự chiến lược: khác với lịch sự quy ước, lịch sự chiến lược mang tính riêng biệt cho từng cuộc hội thoại cụ thể Lịch sự chiến lược được thể hiện thộng qua việc chọn đề tài hội thoại và thực hiện các hành động ngôn ngữ [3, tr.226-228]
1.2.4 Cấu trúc hội thoại
Có nhiều quan niệm khác nhau về cấu trúc hội thoại, đi kèm với mỗi dạng cấu trúc là các đơn vị hội thoại tương ứng
Theo trường phái phân tích hội thoại, đơn vị hội thoại là các lượt lời Dưới các lượt lời không còn đơn vị nào khác ngoài các phát ngôn Dù khác nhau về kiểu loại các lượt lời thường đi với nhau tạo thành từng cặp tự động Hai phát ngôn được cọi là cặp kế cận phải thỏa mãn các điều kiện sau: kế cận nhau, do hai thoại nhân nói ra, được tổ chức thành bộ phận thứ nhất và bộ phận thứ hai, có tổ chức riêng sao cho bộ phận riêng thứ nhất phải có bộ phận riêng thứ hai Những cặp kế cận thường thấy là: cặp chào - chào, cặp hỏi - trả lời, cặp trao - nhận, cặp đề nghị - đáp ứng, Cốt lõi của lý thuyết phân tích hội thoại là cặp kế cận
Theo trường phái phân tích diễn ngôn, đơn vị hội thoại là phát ngôn và cặp thoại Trường phái này cho rằng: Hội thoại là một đơn vị lớn được cấu trúc theo các bậc: tương tác, đoạn thoại, cặp thoại, bước thoại và hành vi 1.2.4.1 Cuộc thoại
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất Đó là cuộc tương tác bằng lời, tính từ khi các thoại nhân gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến khi kết thúc quá trình này Cuộc thoại được xác định theo:
Trang 17+ Sự thống nhất về thoại nhân: khi thoại nhân thay đổi thì cuộc thoại thay đổi
+ Sự thống nhất về thoại trường, tức là sự thống nhất về thời gian và địa điểm diễn ra cuộc thoại
+ Sự thống nhất về chủ đề
Như vậy, trong cuộc trò chuyện, các nhân vật có thể tham gia trao đổi nhiều vấn đề khác nhau, hết vấn đề này đến vấn đề khác, nhưng bao giờ cũng phải có mở đầu và kết thúc Điểm bắt đầu và kết thúc đó chính là ranh giới của cuộc thoại Thời đoạn bắt đầu được gọi là “mở thoại” và thời đoạn kết thúc được gọi là “kết thoại” Phần trung tâm cuộc thoại gọi là “thân thoại”
Cấu trúc tổng quát của một thân thoại bao gồm:
Đoạn thoại mở thoại
Đoạn thoại thân thoại
Đoạn thoại kết thoại
Với một số cuộc thoại, chúng ta có thể nhận thấy các dấu hiệu phân định ranh giới cuộc thoại như dấu hiệu mở đầu (chào hỏi, giới thiệu, …), dấu hiệu kết thúc (chào tạm biệt, …) Mặc dù vậy, những dấu hiệu như thế không thể xem là bắt buộc, đặc biệt là trong trường hợp giao tiếp giữa những người thân quen
1.2.4.2 Đoạn thoại
“Đoạn thoại là một phần của cuộc thoại bao gồm các diễn ngôn có sự liên kết chặt chẽ với nhau về ngữ nghĩa (thống nhất về chủ đề) và về ngữ dụng (thống nhất về đích) [5,tr.555]… Nói cách khác, đó là một số cặp trao đáp có mối quan hệ mật thiết về ngữ nghĩa hoặc ngữ dụng Về ngữ nghĩa, đó
là đơn vị có một chủ đề duy nhất Về ngữ dụng, đó cũng là đơn vị có đích hội thoại duy nhất Căn cứ vào chức năng, có các loại đoạn thoại sau: đoạn thoại
Trang 18của các đoạn thoại này là khác nhau
Đoạn mở thoại và kết thoại có cấu trúc tương đối đơn giản và ổn định,
dễ nhận ra Đoạn thân thoại thường có cấu trúc phức tạp và dung lượng lớn
Tổ chức của đoạn thoại mở đầu và đoạn thoại kết thúc thường được nghi thức hóa và lệ thuộc vào nhiều yếu tố như mối quan hệ giữa các tham thoại, hoàn cảnh giao tiếp, mục đích cuộc thoại, …
Đoạn thoại mở đầu phần lớn được công thức hóa mang nhiều tính chất nghi thức Ngoài chức năng mở ra cuộc thoại, đoạn thoại mỏ đầu còn thực hiện vai trò thương lượng hội thoại như là thống nhất về chủ đề, thăm dò đối phương, thử điệu hội thoại, … Thông thường, trong đoạn mở thoại người ta thường tránh sự xúc phạm thể diện của người nghe, chuẩn bị một hòa khí cho cuộc thoại Tuy nhiên trong những trường hợp đặc biệt, người mở thoại cố tình xúc phạm thể diện nhằm một mục đích hội thoại nào đó
Đoạn thoại kết thúc thường có chức năng tổ chức sự kết thúc cuộc gặp
gỡ, để các thoại nhân cảm ơn, hứa hẹn, chúc tụng… Theo nguyên tắc lịch sự, cần tránh tiếp xúc đơn phương, đột ngột, trừ trong những tình huống đặc biệt
Có thể nói, ranh giới phân định các đoạn thoại còn chưa rõ ràng, gây nhiều khó khăn cho người nghiên cứu Mặc dù vậy, đây vẫn là đơn vị thực có,
và đôi khi, để phân biệt đoạn thoại này với đoạn thoại kia, người nghiên cứu ngoài các dấu hiệu hình thức bắt buộc phải dựa vào trực cảm của mình
1.2.4.3 Cặp thoại
“Cặp thoại là đơn vị lưỡng thoại nhỏ nhất của cuộc thoại do các tham thoại tạo nên” [3,tr.320] Xét về mặt cấu trúc, cặp thoại thường do hai tham thoại tạo nên, được gọi là cặp thoại tham thoại Trong cặp thoại này, mỗi tham thoại ứng với một chức năng cụ thể Tham thoại thứ nhất được gọi là
“tham thoại dẫn nhâp”, tham thoại thứ hai được gọi là “tham thoại hồi đáp”
Trang 19Ở cặp thoại này, lượt lời trùng khớp với tham thoại, tham thoại trùng khớp với hành động ngôn ngữ Cặp thoại hai tham thoại là dạng đơn giản, dễ nhận biết nhất trong thực tế giao tiếp ngôn ngữ
Các trường hợp đặc biệt:
+ Cặp thoại một tham thoại: Thường xảy ra dạng cặp thoại này khi SP2 thay cho hành động ngôn ngữ lại thực hiện hành động vật lý (mỉm cười, lắc đầu, vẫy tay) hoặc im lặng, hoặc không có hành động gì, khiến cho cặp thoại rơi vào trạng thái “hẫng”
+ Cặp thoại phức tạp: là cặp thoại có hơn hai tham thoại tham gia, có nhiều hành vi ngôn ngữ trong quan hệ ràng buộc lẫn nhau Cặp thoại phức tạp
có rất nhiều dạng phức tạp khác nhau Đó có thể là cặp thoại có nhiều tham thoại dẫn nhập nhưng chỉ có một tham thoại hồi đáp Ngược lại đó cũng có thể là cặp thoại chỉ có một tham thoại dẫn nhập với rất nhiều tham thoại hồi đáp Trường hợp khác là dạng cặp thoại phức tạp do nhiều tham thoại tham gia ở cả hai phía
Xét về mặt tính chất, có cặp thoại chủ hướng/cặp thoại phụ thuộc, cặp thoại tích cực/cặp thoại tiêu cực
Cặp thoại chủ hướng là cặp thoại chủ đạo, giữ vai trò trung tâm, chứa nội dung chính của đoạn thoại Cặp thoại phụ thuộc là cặp thoại không tồn tại độc lập mà phụ thuộc vào cặp thoại khác Cặp thoại phụ thuộc có chức năng
bổ trợ, giải thích cho những khía cạnh hay chi tiết nào đó của các tham thoại trong cặp thoại chủ hướng
Cặp thoại tích cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp thỏa mãn đích của tham thoại dẫn nhập Ngược lại, cặp thoại tiêu cực là cặp thoại có tham thoại hồi đáp không thỏa mãn đích của tham thoại dẫn nhập
1.2.4.4 Tham thoại
Trang 20nhất định.” [3,tr.316] Tham thoại là đơn vị cơ sở tạo nên cặp thoại, nó không đồng nhất với lượt lời “Lượt lời là lần nói xong của người này khi người khác không nói” [7,tr.87] Lượt lời là đơn vị phát ngôn mang tính hình thức, trong khi đó tham thoại là đơn vị chức năng chỉ được xác định trong cặp thoại Một lượt lời có thể chứa hết hoặc không hết tham thoại: nó có thể trùng khít, hoặc nhỏ hơn (trong trường hợp tham thoại gồm nhiều lượt lời), hoặc lớn hơn (trường hợp lượt lời chứa nhiều tham thoại) một tham thoại
Tham thoại được cấu thành từ hai phần: phần cốt lõi và phần mở rộng Phần cốt lõi của tham thoại bao gồm hành vi chủ hướng và hành vi phụ thuộc Hành vi chủ hướng quyết định hướng của tham thoại và quyết định hành vi hồi đáp thích hợp của người đối thoại Hành vi phụ thuộc giữ vai trò biện minh, củng cố, đánh giá…hỗ trợ cho hành vi chủ hướng Phần
mở rộng là các thành phần nằm ngoài khung tham thoại Các thành phần này không tham gia vào nội dung các mệnh đề mà chỉ thực hiện liên kết các phát ngôn với nhau Mặc dù không tham gia vào mệnh đề nhưng chúng có vai trò khá quan trọng đó là đưa đẩy, rào đón, tạo lập quan hệ để cuộc thoại thành công một cách thuận lợi hơn
1.2.4.5 Hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ là đơn vị nhỏ nhất của cấu trúc hội thoại Để hiểu được các tham thoại, cặp thoại, đoạn thoại, chúng ta đều phải căn cứ vào hành vi ngôn ngữ
Hành vi ngôn ngữ, hiểu một cách đơn giản, là hành động được thực hiện nhờ phương tiện là ngôn ngữ Đó là “một đoạn lời có tính mục đích nhất định được thực hiện trong những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện tiết tấu - ngữ điệu và hoàn chỉnh, thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói và người nghe đều có liên hệ với một ý nghĩa như nhau
Trang 21trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó” [43,tr 107] Theo Austin, có ba loại hành
vi ngôn ngữ lớn, đó là: Hành vi tạo lời, hành vi mượn lời, hành vi ở lời
- Hành vi tạo lời: Là hành vi sử dụng các yếu tố ngôn ngữ với quy tắc của ngôn ngữ để tạo ra các phát ngôn, diễn ngôn với hình thức nhất định và nội dung tương ứng trong một cuộc giao tiếp
- Hành vi mượn lời: Là hành vi phát ra lời nói để nhằm đạt đến một hiệu quả nằm ngoài lời nói đó, tức là mượn phương tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả nào đó ngoài ngôn ngữ ở các nhân vật giao tiếp
- Hành vi ở lời: Là hành vi mà người nói thực hiện ngay trong lời nói của mình Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ, tức là chúng gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng với chúng ở người nhận [5, tr.514- 515]
Chủ yếu dựa vào động từ ngữ, Austin chia hành vi ngôn ngữ thành năm phạm trù khác nhau:
- Phán xử: Đây là những hành vi đưa ra những lời phán xét về một sự kiện hoặc một giá trị dựa trên những chứng cứ hiển nhiên hoặc dựa vào lý lẽ vững chắc
- Hành xử: đây là hành vi đưa ra những quyết định thuận lợi hay chống lại một hành động nào đó
- Cam kết: Đây là những hành vi ràng buộc người nói vào một chuỗi hành động nhất định
- Trình bày: đây là hành vi dùng để trình bày các quan niệm, dẫn dắt, lập luận, giải thích cách dùng từ ngữ
- Ứng xử: đây là hành vi phản ứng đối với cách xử sự của người khác, đối với các sự kiện có liên quan
Khác với J.Austin, dựa trên mười hai tiêu chí trong đó quan trọng nhất
là đích ở lời, hướng khớp lượng ghép lời - hiện thực, trạng thái tâm lý, nội
Trang 22sau:
- Tái hiện: Gồm một số hành động tiêu biểu sau: miêu tả, kể, xác nhận, khẳng định, thông báo…
- Điều khiển: gồm các hành động: yêu cầu, đề nghị, ra lệnh, sai…
- Cam kết gồm các hành động : hứa, đe dọa,
- Biểu cảm: Gồm các hành động: khen, chê, phê bình…
- Tuyên bố: Gồm các hành động: tuyên bố, tuyên án, buộc tội,…
Hành vi ngôn ngữ xét trong mối quan hệ giữa mục đích diễn đạt và cách thức diễn đạt còn được chia thành hành vi ngôn ngữ trực tiếp và hành vi ngôn ngữ gián tiếp
Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là “những hành vi chân thực, có nghĩa là các hành vi được thực hiện đúng với điều kiện sử dụng, đúng với cái đích ở lời của chúng” [3,tr 256]
Hành vi ngôn ngữ gián tiếp còn được gọi là hành vi tại lời tái sinh Một hành vi ngôn ngữ được gọi là gián tiếp khi dạng thức ngôn ngữ tại lời không phản ánh trực tiếp mục đích của điều muốn nói Mỗi hành vi ngôn ngữ gián tiếp đều chứa đựng nhiều lớp ý nghĩa, nhiều ý tứ mà không phải người tiếp nhận nào cũng có thể phát hiện ra một cách dễ dàng
Như vậy, có sự phân biệt rõ ràng về cách thức nói năng giữa hành vi ngôn ngữ gián tiếp Hành vi ngôn ngữ trực tiếp là cách nói thẳng, nói trắng, nói toạc ra Ngược lại, hành vi ngôn ngữ gián tiếp là cách nói úp mở, quanh
co, bóng gió
1.3 Ngôn ngữ và giới tính
Vì thi vấn đáp ở Trường ĐHQS về bản chất là một cuộc hội thoại giữa giảng viên và học viên, và một trong hai thoại nhân này có thể là nữ giới, cho
Trang 23nên chúng ta cần tìm hiểu sâu về lí thuyết giới tính trong ngôn ngữ học như dưới đây
Khái niệm giới chỉ mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể Nói đến giới là nói đến điều kiện
và yếu tố xã hội quy định vị trí, vai trò, hành vi xã hội của mỗi giới trong hoàn cảnh cụ thể và vị trí, vai trò, hành vi xã hội của mỗi giới không phải bất biến mà thay đổi khi các điều kiện quy định chúng thay đổi
1.4 Đôi nét về Trường ĐHQS Việt Nam và việc thi cử
1.4.1 Giới thiệu về Trường ĐHQS Việt Nam
Dân tộc Việt Nam có truyền thống thượng võ Các triều đại phong kiến trước đây rất coi trọng đào tạo đội ngũ quan võ Nhiều triều mở khoa thi bác
cử để tuyển chọn nhân tài Trong nhân dân có nhiều thầy dạy võ, nhiều người luyện võ nghệ, học võ kinh, thi trúng tuyển trở thành quan võ Nhà Trần mở Giảng võ đường bồi dưỡng dưỡng vương, hầu, tướng, hiệu về quân sự Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn soạn sách dạy binh sĩ Thế kỷ XV, khi cờ nghĩa Lam Sơn mới dựng "nhân tài như lá mùa thu, tuấn kiệt như sao buổi sáng", Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã tập hợp bốn phương manh lệ, hun đúc những điều nhân nghĩa, rèn luyện các môn võ nghệ, truyền đạt các sách lược thao nên nhiều nghĩa quân đã trở thành những nhà chỉ huy tài giỏi
Không chỉ quan võ mà nhiều quan văn cũng ham tập võ nghệ, đọc võ kinh, người tài kiêm văn võ là quan văn đồng thời là danh tướng
Nhờ coi trọng đào tạo quan võ, dân tộc ta có đội ngũ cốt cán để xây dựng lực lượng vũ trang hùng mạnh, chiến thắng giặc dữ Trong lịch sử Việt Nam xuất hiện nhiều tướng soái lỗi lạc
Thế kỷ XIX chế độ phong kiến suy tàn Triều đình nhà Nguyễn thi hành các chính sách "bế quan tỏa cảng", "trọng văn khinh võ", "quan văn cửu phẩm đã sang, quan võ nhất phẩm vẫn mang gươm hầu" Không canh tân
Trang 24tài năng và lực lượng vũ trang hùng mạnh, nên nhà Nguyễn đã để mất nước
Trong tám mươi năm thống trị nước ta, thực dân Pháp đã tổ chức lực lượng quân sự để đàn áp nhân dân Tuy 90 phần trăm binh lính là dân bản xứ, nhưng toàn bộ sĩ quan chỉ huy là người Pháp được đào tạo từ chính quốc Chính quyền thực dân chỉ mở lớp đào tạo hạ sĩ quan là người thuộc địa tại Việt Nam Mãi những năm đầu của thập kỷ bốn mươi chúng mới mở trường đào tạo sĩ quan Bị mất nước, dân tộc ta không có lực lượng vũ trang, không
có một đội ngũ cán bộ quân sự đông đảo và một hệ thống trường quân sự như nhiều dân tộc khác Cuộc cách mạng giải phóng của nhân dân ta gặp khó khăn
to lớn về cán bộ quân sự
Bác Hồ của chúng ta – tức đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã sớm nhận thấy khó khăn đó Ngay từ những năm hai mươi, trong khi chuẩn bị thành lập Đảng, đồng chí đã chú ý đến việc đào tạo đội ngũ cán bộ, trong đó có cán bộ quân sự Nhân việc Tôn Trung Sơn - nhà cách mạng Trung Quốc thi hành chính sách liên Nga, liên Cộng, lập trường quân sự Hoàng Phố, mời cố vấn Liên Xô đến dạy, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã chỉ một số người Việt Nam đến học Một số đồng chí đang học ở Liên Xô cũng được bồi dưỡng thêm về quân sự
Năm 1930, Đảng Cộng sản được thành lập Trong Luận cương chính trị tháng 10 năm 1930, Trung ương Đảng chủ trương "Làm cho Đảng viên được quân sự huấn luyện"
Tiếp nối truyền thống quân sự của cha ông, thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng chỉ đạo trong luận cương tháng 10 năm 1930 Với sự kiện ngày mùng 9 tháng 3 năm 1945, Nhật đảo chính Pháp Ngày 12 tháng 3, Thường vụ Trung ương Đảng kịp thời ra chỉ thị: "Nhật, Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta", phát động chiến tranh du kích ở những nơi có đủ
Trang 25điều kiện, nhanh chóng phát triển các đoàn thể trong mặt trận Việt Minh, phát triển lực lượng tự vệ, du kích, gấp rút tiến tới tổng khởi nghĩa dành chính quyền Việc đào tạo quân sự trở nên bức thiết Hội nghị quân sự Bắc Kỳ (từ
15 đến 20 tháng 4 năm 1945) do Trung ương Đảng triệu tập, dưới sự chủ trì của đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh xác định:
- "Chọn ngay trong bộ đội một số đội viên khá huấn luyện thành đại đội trưởng và chính trị viên
Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc xây dựng trường và giao đồng chí Võ Nguyên Giáp trực tiếp phụ trách Đồng chí Hoàng Văn Thái được Bác cử làm Giám đốc trường, đồng chí Thanh Phong làm Phó giám đốc
Địa điểm được chọn xây dựng trường là khu vực xóm Khuổi Kịch, xã Tân Trào, châu Tự Do (nay là huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang), trên một quả đồi bằng phẳng hai nhà có sạp bương, để làm nhà ở cho học viên, một hội trường và một nhà nhỏ của Hiệu bộ Tất cả đều bằng tre nứa Ngọn đồi được san bằng, chặt bớt cây cối để làm bãi tập
Đồng chí Hoàng Văn Thái cùng Ban giám hiệu xác định chương trình và kế hoạch giảng dạy gồm cả quân sự và chính trị Do trường đào tạo
cả cán bộ quân sự và chính trị để đánh Nhật nên được gọi là Trường quân chính kháng Nhật
Trang 26đâm lê Về chiến thuật, dạy cá nhân, tiểu đội, trung đội chiến đấu du kích Cuốn sách "Cách đánh du kích" do Chủ tịch Hồ Chí Minh biên soạn được dùng làm tài liệu cơ bản để dạy chiến thuật Đây là tài liệu giáo khoa quân sự đầu tiên của Đảng ta, quân đội ta
Về chính trị, dạy tình hình thế giới, tình hình trong nước, chương trình
và điều lệ Việt Minh, công tác vũ trang tuyên truyền, công tác vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, mười lời thề danh dự, mười hai điều kỷ luật của đội Quân giải phóng Việt Nam
Tổ tu thư biên soạn các bài giảng Tài liệu nhất thiết phải viết bằng tiếng Việt Vì từ ngữ quân sự Việt Nam hiện đại chưa hình thành cho nên trường phải tự xây dựng lấy, có khi phải tạm dùng một số từ Hán Việt Ví dụ
"lập chính" về sau mới đổi thành "đứng nghiêm" rồi "nghiêm", "cơ bẩm" về sau mới đổi thành "khóa nòng"
Sau một thời gian phấn đấu tích cực, trường làm lễ khai giảng khóa 1 vào ngày 25 tháng 6 năm 1945 Buổi lễ được tổ chức đơn giản nhưng rất trang nghiêm Đồng chí Võ Nguyên Giáp thay mặt Ủy ban lâm thời khu giải phóng nói chuyện với học viên Chiều tối hôm đó, toàn trường ăn một bữa cơm không muối để cùng nhau giữ một kỷ niệm sâu sắc, mở đầu cho truyền thống chịu đựng gian khổ của nhà trường quân sự cách mạng
Tuy cuối tháng 5 năm 1945, Trường Quân chính kháng Nhật mới khai giảng khóa I, nhưng Đại hội đại biểu Đảng bộ nhà trường lần thứ nhất (1960)
đã quyết nghị lấy ngày 15 tháng 4 năm 1945, ngày Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ quyết định mở Trường Quân chính, làm ngày chính thức thành lập trường Ngày 15 tháng 4 hàng năm trở thành ngày truyền thống của Trường Sĩ quan Lục quân 1
Trang 27Trong kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I, cuối tháng 2 năm 1946, Chính phủ Liên hiệp kháng chiến được thành lập Bộ Quốc phòng nắm quyền quản
lý quân đội; việc chỉ huy quân đội do Quân ủy hội phụ trách Bộ có cống hiến quan trọng trong việc xác định những thể chế đầu tiên để xây dựng quân đội của một quốc gia độc lập như tổ chức biên chế, quân phong, quân kỷ, chế độ quân hàm, trang phục, chế độ sinh hoạt phí, công tác phí Về đào tạo cán bộ, ngày 17 tháng 4 năm 1946, Bộ ra nghị định thành lập Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ thị phải có biện pháp để thực hiện được sự lãnh đạo của Đảng đối với trường, tôn trọng lòng yêu nước của mọi học viên, giáo dục họ trở thành cán bộ tốt
Chấp hành chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bộ Tổng Tham mưu, Quân ủy hội quyết định lấy Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam để xây dựng thành trường Võ bị Chủ tịch Hồ Chí Minh bổ nhiệm đồng chí Hoàng Đạo Thúy làm Giám đốc của trường Đồng chí Trần Tử Bình nguyên Chính ủy kiêm Giám đốc Trường cán bộ Việt Nam vẫn giữ chức Chính ủy Trường Võ
bị Toàn bộ trường sở, cơ quan hiệu bộ, giáo viên, cán bộ khung của Trường huấn luyện cán bộ Việt Nam trở thành của Trường Võ bị Bộ Tổng Tham mưu quyết định giữ lại một số học viên khóa 7 và bổ sung một số sĩ quan cũ làm cán bộ khung và giáo viên Có thể nói Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn chính là Trường Quân chính, Trường Cán bộ Việt Nam phát triển lên một bước mới Trường được mang tên vị anh hùng kiệt xuất trong lịch sử dân tộc
là Hưng Đạo đại vương Trần Quốc Tuấn - người đã lãnh đạo và chỉ huy quân
và dân ta ba lần chiến thắng oanh liệt quân Nguyên Mông hùng mạnh trong thế
kỷ thứ XIII, giữ vững nền độc lập của đất nước
Bên cạnh Trường Võ bị, Quân ủy hội quyết định xây dựng Trường Quân chính Bắc Sơn, Ủy ban kháng chiến miền Nam Việt Nam tổ chức
Trang 28đội, đoàn thể cứu quốc và các tổ chức cơ sở của Đảng
Thời gian đào tạo mỗi khóa của Trường Võ bị dự định sáu tháng
Ba cơ quan huấn luyện quân sự, chính trị, quản trị được tăng thêm một
số cán bộ Việc bảo đảm vật chất tiến bộ rõ rệt Các học viên được phát quân phục theo quy định thống nhất của Bộ Quốc phòng: mũ ca lô, áo sơ mi, áo trấn thủ, quần túm dưới có ghệt, giày da, bít tất và một huy hiệu của trường
Khóa 8 (khóa 1 Võ bị) có 288 học viên Lúc đầu được tổ chức thành một tiểu đoàn gồm ba đại đội, chín trung đội Đồng chí Vương Thừa Vũ được chỉ định làm tiểu đoàn trưởng, phụ trách điều khiển việc huấn luyện Giữa thời gian dự khóa tiểu đoàn được biên chế lại còn bảy trung đội trực thuộc Ban giám đốc Toàn trường tổ chức một chi bộ Đảng do đồng chí Trần Tử Bình làm bí thư Trường còn tổ chức "xung phong đoàn" kết nạp những đồng chí tốt, xung phong, gương mẫu trong công tác và học tập
Ngày 26 tháng 5 năm 1946, khóa 8 Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn khai giảng Toàn thể cán bộ, học viên hàng ngũ chỉnh tề, tập họp ở sân trường Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Quân Ủy hội Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Phan Anh, một số đại biểu Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban hành chính tỉnh Sơn Tây đã đến dự
Nghị quyết Hội nghị cán bộ mở rộng của Trung ương Đảng tháng 1 năm 1948 xác định:
"Phải nâng cao trình độ kỹ thuật quân sự và nghệ thuật tác chiến cho bộ đội đào tạo cán bộ trong bộ đội một cách thận trọng và chu đáo Cán bộ này phải là con đẻ trung thành của nhân dân"
Thực hiện chủ trương của Đảng, Bộ Tổng Tham mưu quyết định chấn chỉnh và phát triển Trường Võ bị Trần Quốc Tuấn Đồng chí Lê Viết Hùng,
Ủy viên Hội đồng quân sự toàn quốc, Tổng thanh tra quân đội, Cục trưởng
Trang 29Cục Quân huấn, được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Thường vụ Trung ương Đảng
bổ nhiệm làm Giám đốc của trường Trong một cuộc họp của Hội đồng quân
sự đầu năm 1948, có đồng chí Tổng Bí thư Trường Chinh và đồng chí Tổng chỉ huy Võ Nguyên Giáp tham dự, đồng chí Lê Thiết Hùng đề nghị cần xác định lại chức năng của trường Trường Võ bị chỉ mới đào tạo cán bộ bộ binh Tác chiến chính quy là tác chiến hiệp đồng binh chủng Quân đội ta tiến lên chính quy phải xây dựng một số binh chủng cho nên phải đào tạo cả cán bộ binh chủng Ta chưa thể mở trường riêng để đào tạo cán bộ binh chủng Do
đó, trước mắt nên đổi tên Trường Võ bị thành Trường Lục quân để vừa đào tạo cán bộ bộ binh vừa đào tạo cán bộ cho một số binh chủng khác của lục quân Tương lai khi các binh chủng đã trưởng thành sẽ dựa trên cở các chuyên khoa ở Trường Lục quân mà xây dựng trường riêng của từng binh chủng Đề nghị của đồng chí Lê Thiết Hùng được Hội đồng quân sự toàn quốc chấp nhận Trường được mang tên mới: "Trường Lục quân trung học Trần Quốc Tuấn" và được chấn chỉnh lại Cơ quan hiệu bộ có ba phòng chính là: phòng huấn luyện quân sự, phòng chính trị, phòng quản trị
Sau khi khóa 16 kết thúc thắng lợi, tháng 1 năm 1956, Bộ Quốc phòng quyết định đổi tên Trường Lục quân Việt Nam thành Trường sĩ quan Lục quân Việt Nam và chỉ thị mở tiếp khóa 17; đồng thời, Bộ lệnh cho trường chuyển về nước để huấn luyện Đây là lần thứ 9, trường di chuyển địa điểm, nhưng lần này là từ nước ngoài chuyển về Tổ quốc, đây là một thuận lợi rất lớn Nhà trường có điều kiện sát hơn với thực tế nước ta, quân đội ta, được sự quan tâm đầy đủ hơn của Trung ương Đảng, Chính phủ, Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự chỉ đạo kịp thời của Bộ Quốc phòng, Bộ Tổng Tham mưu và các cơ quan khác của Bộ
Năm học 1988 - 1989, Trường tiếp tục thực hiện nhiệm vụ cơ bản là đào tạo sĩ quan chỉ huy binh chủng hợp thành cấp phân đội Các chuyên
Trang 30viên quân sự sơ cấp và đào tạo cán bộ giúp bạn tiếp tục được thực hiện theo chương trình thường xuyên
Chấp hành nghị quyết 115 về công tác nhà trường trong quân đội của Thường vụ Đảng ủy quân sự Trung ương, từ khóa 55 đối tượng tuyển sinh của trường là quân nhân Sau thời gian học dự khóa, các quân nhân được cử
đi học sẽ thi tuyển theo quy chế do Bộ Quốc phòng ban hành Từ năm 1992 -
1993, qui chế tuyển sinh được bổ sung Bên cạnh đối tượng chính là quân nhân, Trường được tuyển chọn thanh niên đã tốt nghiệp phổ thông trung học Sau khi trúng tuyển, số học sinh này sẽ qua một năm học tập tạo nguồn, sau
đó mới vào học chính khóa Năm học này, trường tiếp nhận 534 quân nhân về
ôn luyện văn hóa để dự thi vào khóa 59 Hơn 1500 học sinh vừa tốt nghiệp phỏ thông trung học ở các tỉnh từ Thừa Thiên - Huế trở ra được sơ tuyển, sau
đó thi tuyển vào hai trường Sĩ quan Lục quân 1 và Sĩ quan Lục quân 2 Các học sinh trúng tuyển được gửi về Trung đoàn 36 (Sư đoàn 308) huấn luyện tạo nguồn từ khóa 60 trở đi Tháng 3 năm 1993, Trường tiếp tục nhận quân nhân về ôn văn hóa để dự thi vào khóa 60 cùng với số học sinh thi tuyển tạo nguồn khóa 61 (năm học 1994 - 1995) Yêu cầu bổ túc trình độ văn hóa cho học viên dự khóa ngày càng tăng, nên sau khi tiếp nhận Trường Văn hóa Quân khu Thủ Đô (tháng 4 năm 1990), Trường tổ chức hệ văn hóa làm nhiệm
vụ quản lý học viên dự khóa, tạo nguồn
Theo chỉ thị của Bộ, từ năm học 1990 - 1991 trường mang tên Trường
Sĩ quan Lục quân 1 có nhiệm vụ tiếp nhận học viên các trường sĩ quan của các binh chủng đào tạo thống nhất những vấn đề cơ bản của sĩ quan chỉ huy cấp phân đội trong thời gian sáu tháng đến một năm gồm hệ thống kiến thức
cơ bản của bộ binh, tạo cơ sở cho học viên các trường sĩ quan binh chủng đi sâu vào chuyên ngành đào tạo Cũng theo chỉ thị của Bộ, trường tiếp nhận học
Trang 31viên đã tốt nghiệp Trường Sĩ quan Phòng hóa, đào tạo chuyển loại chuyên ngành hỏa khí đi cùng Sau khóa này, từ năm học 1992 - 1993, trường thành lập khoa binh chủng, đào tạo chuyên ngành hỏa khí
Ngày 28 tháng 10 năm 2010 Phó thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân kí Quyết định số 1972/QĐ - TTg, Quyết định về việc thành lập Trường Đại học Trần Quốc Tuấn trên cơ sở nâng cấp Trường Sĩ quan Lục quân 1
Trường Sĩ quan Lục quân 1 hơn 60 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành vinh dự được Đảng, Quốc hội, Chính phủ tặng nhiều huân chương cao quý đặc biệt nhân kỷ niệm 40 năm Cách mạng tháng 8 và Quốc khánh 2 -9, Chủ tịch hội đồng nhà nước Trường Chinh ký lệnh tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho 218 đơn vị và 125 cá nhân, trong đó có
175 đơn vị và 25 cá nhân thuộc Quân đội nhân dân Việt Nam.(Lệnh số 375
- KT/HĐNN, ngày 29 tháng 8 năm 1985) Trường Sĩ quan Lục quân 1 là trường quân sự đầu tiên được vinh dự nhận phần thưởng cao quý này Hiện nay Trường có 13 khoa trong đó có 11 khoa hoạt động tại trường và 2 khoa biệt phái ở Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1 và Trường Đại học Sư phạm Ngoại ngữ Hà Nội
1.4.2 Việc thi cử và thi vấn đáp trong Nhà trường Quân sự Việt Nam
Trang 32NHỮNG ĐOẠN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN):
Hình thức kiểm tra, thi
Kiểm tra thường kỳ:
- Kiểm tra thường kỳ là kiểm tra sau khi kết thúc một đến hai đơn vị
học trình, theo hình thức viết, vấn đáp, thực hành hoặc trắc nghiệm, do bộ
môn tổ chức, khoa và đơn vị học viên quản lý chất lượng
Thi học phần:
Thi học phần để đánh giá kết quả học phần của học viên làm cơ sở tính điểm trung bình chung, xét phân loại học lực học kỳ, năm học, khóa học, do Phòng Đào tạo điều hành, các khoa tổ chức thực hiện
Tổ chức ôn, thi học phần
- Tổ chức thi học phần sau khi học hết nội dung không quá bảy ngày Mỗi lớp trong mỗi tuần bố trí không quá hai lần thi; các lần thi cách nhau ít nhất hai ngày Thời gian ôn thi học phần được xác định trong lịch huấn luyện
- Hình thức thi kết thúc học phần được xác định cụ thể trong chương
trình môn học; có thể thi viết, vấn đáp, thực hành hoặc trắc nghiệm Thi viết mỗi phòng thi do hai giảng viên đảm nhiệm Thi vấn đáp hoặc thi thực hành mỗi bàn thi hai giảng viên
Điều kiện dự thi kết thúc học phần
- Học viên được dự thi kết thúc học phần phải đủ các điều kiện sau đây:
+ Dự học từ 90% trở lên thời gian quy định cho học phần đó, trừ những trường hợp có lý do đặc biệt được Hiệu trưởng cho phép
+ Tham gia đủ số lần kiểm tra theo quy định cho mỗi học phần và ít nhất có 50% số lần kiểm tra đạt yêu cầu Đối với học phần có một lần kiểm tra thì kết quả phải đạt từ 5 điểm trở lên
Trang 33- Học viên bỏ học các học phần có lý do chính đáng (như: thi đấu thể thao, hội diễn văn nghệ, hoặc thực hiện các nhiệm vụ khác của Nhà trường), được đơn vị quản lý học viên kết hợp với các khoa tổ chức học bù vào các ngày nghỉ và các buổi chiều tự học, sau đó Phòng Đào tạo tổ chức cho thi ở buổi thi riêng
Đề thi học phần
1 Đề thi học phần do bộ môn biên soạn, chủ nhiệm khoa duyệt
2 Mỗi đề thi phải co ít nhất hai nội dung (câu hỏi) trở lên, với dung lượng vừa đủ để đánh giá kết quả học tập của học viên
3 Số lượng đề thi của từng học phần tùy thuộc vào phạm vi nội dung (số đơn vị học trình) của học phần và số đầu lớp dự thi nhưng phải đáp ứng yêu cầu:
- Nội dung của các đề thi bao quát hết những nội dung chủ yếu của học phần
- Thi viết mỗi học phần phải chuẩn bị từ tám đề trở lên
- Thi vấn đáp, số lượng phiếu thi nhiều hơn số lượng học viên trong
một bàn thi ít nhất là hai
- Thi thực hành chiến thuật (BB, BBCG, TS, HKĐC, ĐTGV) tại thực địa, mỗi học phần xây dựng ít nhất hai bộ đề thi, trên hai địa hình
Một số quy định trong buổi thi
1 Ban (tiểu ban) coi thi phải nhận đề thi đúng thời gian quy định;
kiểm tra, nhắc nhở học viên chấp hành nghiêm quy chế thi Khi thi vấn đáp
hoặc thực hành, Tiểu ban coi thi phải quy định cụ thể: vị trí chờ đợi, vị trí chuẩn bị, bàn thi, vị trí sau khi thi; không cho người chưa thi tiếp xúc với người đã thi
Trang 34rút đề thi lần hai kết quả phải hạ một cấp (trường hợp điểm trung bình hạ tới điểm 5)
3 Quá trình thi, học viên được phép hỏi giảng viên những điểm chưa
rõ trong đề thi Thi viết, sau khi hết 2/3 thời gian làm bài học viên mới được xin ra ngoài trong phạm vi quy định, có sự giám sát của cán bộ coi thi Chỉ giải quyết ra ngoài từng người một Khi người ra trước đã vào, người sau mới được ra
hình thức thi vấn đáp hoặc thực hành, mỗi bàn thi hai giảng viên
3 Điểm thi học phần của học viên là trung bình cộng điểm của các giảng viên chấm thi, lấy đến một số thập phân Trường hợp không thống nhất được điểm (sai số từ 1 điểm trở lên) thì các giảng viên chấm thi báo cáo Chủ nhiệm bộ môn, hoặc Chủ nhiệm khoa quyết định
Công bố kết quả thi học phần và lưu giữ bài thi
- Điểm thi vấn đáp và thi thực hành phải công bố cho học viên ngay
tại bàn thi, khi kết thúc học phần thi của từng người
- Điểm thi viết phải báo cáo về Phòng Đào tạo và công bố cho học viên chậm nhất bày ngày sau khi thi
- Các bài thi viết sau khi chấm xong phải gửi xuống đơn vị để từng học viên đọc xem kết quả, sau đó thu lại và được lưu giữ tại khoa tới khi kết thúc khóa học
Trang 351 Đồng chí Trưởng ban coi chấm thi
2 Các đồng chí Trưởng tiểu ban coi chấm thi
3 Các đồng chí ủy viên coi chấm thi
Trước khi bắt đầu vào hỏi thi vấn đáp đồng chí Trưởng ban coi chấm thi quán triệt một số nội dung như mục đích, yêu cầu, đặc điểm đơn vị cho các tiểu ban Tiếp đến khi đến giờ thi theo quy định, cán bộ đơn vị tập trung
Trang 36báo cáo như sau:
+ Đồng chí cán bộ đơn vị sau khi tập hợp học viên theo điều lệnh xong, chạy đều về phía đồng chí trưởng tiểu ban coi chấm thi cách 5 bước Làm động tác giơ tay chào báo cáo theo điều lệnh, đồng chí Trưởng tiểu ban coi chấm thi chào đáp lễ
+ Đồng chí cán bộ đơn vị nói:
- Tôi Nguyễn Văn A, Đại đội trưởng Đại đội 18 Tiểu đoàn 6, báo
cáo đồng chí Trưởng ban coi chấm thi quân số dự thi 100 đồng chí Hết
+ Đồng chí Trưởng ban coi chấm thi nói:
trả lời "Có" Đồng thời Trưởng ban coi chấm thi giao nhiệm vụ cho từng
người trong ban
Sau khi mọi người nhận nhiệm vụ xong về vị trí quy định, Trưởng ban tiếp tục làm việc với học viên như quy định học viên nào sẽ dự thi ở tiểu ban nào
Trưởng tiểu ban sau khi nhận học viên dự thi ở tiểu ban mình quy định
vị trí đặt vật chất, vị trí chuẩn bị, vị trí chờ đợi, vị trí trả lời, vị trí nghe đồng đội trả lời sau khi đã thi xong, phổ biến quy chế thi; kiểm tra danh sách học viên; cho học viên bố trí bia, bảng, vật chất vào vị trí quy định
Trang 37Theo quy chế "Quản lý, điều hành giáo dục - đào tạo của Trường Sĩ quan Lục quân 1" quy định tiểu ban coi chấm thi hết học phần có hai giảng viên, một giảng viên là Trưởng tiểu ban, giảng viên còn lại ủy viên Tiểu ban coi chấm thi tốt nghiệp có từ ba giảng viên đến năm giảng viên Trong quá trình thi vấn đáp, Thủ trưởng nhà trường, các phòng ban có liên quan thường xuyên kiểm tra, giám sát thi chặt chẽ
Trang 38ĐẶC ĐIỂM CỦA NGÔN NGỮ HỘI THOẠI TRONG THI VẤN ĐÁP
2.1 Dẫn nhập
2.1.1 Ngôn ngữ giao tiếp sử dụng trong thi vấn đáp giữa GV và HV ở Trường
ĐHQS Việt Nam ngoài những đặc điểm chung, thông thường, còn có nhiều điểm riêng, khác biệt Sự khác biệt này là nhiệm vụ trọng tâm mà chúng tôi đặt ra trong
yêu cầu nghiên cứu của luận văn
Có một điểm đáng chú ý ở đây là giao tiếp trong Trường ĐHQS Việt Nam nói riêng và giao tiếp trong môi trường Quân đội nói chung được quy định rõ ràng
cụ thể trong Điều lệnh Quản lý bộ đội Quân đội nhân dân Việt Nam.[5] Ví dụ:
Tại chương III: Lễ tiết tác phong Quân nhân, mục 2: Xưng hô, Điều 39 quy định như sau: “Quân nhân gọi nhau bằng “Đồng chí” và xưng “Tôi” Sau tiếng
“Đồng chí” có thể gọi tiếp cấp bậc, chức vụ, họ tên mà người mình định tiếp xúc Đối với cấp trên có thể gọi là “Thủ trưởng” Nghe gọi đến tên, quân nhân phải trả lời “có” Khi nhận lệnh hoặc trao đổi trong công việc quân nhân phải nói “rõ”
Trong lúc nghỉ ngơi, quân nhân có thể xưng hô với nhau theo tập quán thông
thường” Điều 40 quy định “Khi trực tiếp báo cáo, quân nhân phải chào và tự giới
thiệu đầy đủ họ, tên, chức vụ, đơn vị của mình trên một cấp và báo cáo theo chức vụ của cấp trên, khi không biết chức vụ thì báo cáo theo cấp bậc, báo cáo xong nội
dung phải nói “hết”
Đối với cấp trên trực tiếp khi báo cáo, quân nhân không phải tự giới thiệu họ, tên, chức vụ, đơn vị của mình ”
Điều 43 quy định chào hỏi như sau: “Quân nhân phải chào hỏi khi gặp nhau
Cấp dưới chào cấp trên trước, người được chào phải chào đáp lễ”
Tuy nhiên qua việc khảo sát thực tế tại các buổi thi vấn đáp ở trường Đại học Trần Quốc Tuấn (Trường Sĩ quan Lục quân 1), do sự chi phối một số nhân tố khác nhau, sự thể hiện ngôn ngữ hội thoại cụ thể theo Điều lệnh quy định trên trong thi vấn
Trang 39đáp giữa GV và HV có nhiều điểm lý thú, tạo động lực thúc đẩy cho chúng tôi nghiên cứu, tìm hiểu và mong muốn đưa những vấn đề thú vị này vào trong luận văn
Trước hết cần thấy rằng trong Trường ĐHQS Việt Nam nói riêng và Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp mang đặc
điểm Hành chính Quân sự Đặc điểm này biểu hiện cụ thể trong nội dung, chương
trình giáo dục của các Học viện, Nhà trường Quân đội
Mỗi thí sinh khi trải qua kì thi tuyển sinh Đại học trở thành HV trong các Học viện, Nhà trường Quân đội, ngay từ những ngày đầu bước vào môi trường Quân đội, HV sẽ nhận được sự giúp đỡ của cán bộ đơn vị và GV trong huấn luyện
để quen với môi trường Quân đội Nội dung huấn luyện mang tính thống nhất toàn Quân như các môn học:
Điều lệnh quản lý bộ đội
Ví dụ, Quân nhân gọi nhau bằng "đồng chí" và xưng "tôi" Ý nghĩa của việc
xưng hô này thể hiện nét đẹp của người Quân nhân, thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau giữa các quân nhân trong môi trường Quân đội Sự xưng hô như vậy áp dụng đối với mọi đối tượng từ người lính mới nhập ngũ (binh nhất) đến Đại tướng Bộ trưởng
Bộ Quốc phòng Qua sự xưng hô "đồng chí - tôi" còn thể hiện sự tôn trọng lẫn nhau
giữa cấp trên và cấp dưới bảo đảm tính nguyên tắc, tính tổ chức của Quân đội Tương tự như vậy, một sinh viên ưu tú khi tốt nghiệp Đại học Dân sự ở ngoài Quân đội, đủ điều kiện được tuyển dụng trở thành GV trong các Học viện, Nhà trường
Trang 40các trường Đại học dân sự khi được tuyển dụng làm nhiệm vụ giảng dạy trong các Học viện, Nhà trường Quân đội sẽ được dự một khóa học về "Bồi dưỡng kiến thức Quân sự" Thời gian tham dự khóa học từ bốn đến sáu tháng Kết thúc khóa học,
HV sẽ ứng xử - trong đó có giao tiếp ngôn ngữ - phù hợp với môi trường Quân đội
2.1 2 Đặc điểm hội thoại trong thi vấn đáp
Hội thoại được xét đến ở đây bao gồm: cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại và tham thoại
Cuộc thoại là đơn vị hội thoại lớn nhất Đó là cuộc tương tác bằng lời, tính từ khi các thoại nhân (GV và HV) gặp nhau, khởi đầu nói và nghe cho đến khi kết thúc quá trình này Nhìn chung, các cuộc thoại trong thi vấn đáp ở Trường ĐHQS Việt Nam đáp ứng được các yêu cầu về mặt lý thuyết đã nói đến ở trên
Như vậy trong cuộc thi vấn đáp, các thoại nhân có thể thay đổi nhiều vấn đề khác nhau, nhưng bao giờ cũng phải có mở đầu và kết thúc Điểm bắt đầu và kết thúc đó chính là ranh giới của cuộc thoại Thời đoạn bắt đầu được gọi là "mở thoại"
và thời đoạn kết thúc được gọi là "kết thoại" Phần trung tâm cuộc thoại được gọi là
"thân thoai"
2.2 Cấu trúc của hội thoại trong thi vấn đáp
2.2.1 Cấu trúc của các cuộc thoại
Các cuộc thoại trong thi vấn đáp thường là cuộc thoại ngắn, cơ bản là ba đoạn thoại (chiếm 96,3%), có ba cuộc thoại chứa hai đoạn thoại (chiếm 3,7%)
Theo lý thuyết một cuộc thoại thường gồm 3 phần: Đoạn thoại mở thoại, đoạn thoại thân thoại và đoạn thoại kết thoại Trong thực tế, phần lớn các cuộc thoại trong thi vấn đáp (96,3%) đều đáp ứng yêu cầu này về mặt lý thuyết, cuộc thoại chỉ
có 2 phần/đoạn thoại chiếm 3,7%