Mỗi người lao động phải quyết định làm việc hay không và làm bao nhiêu giờ. Cung lao động trong kinh tế theo nghĩa rộng là nơi tiếp nhận hàng triệu lao động tăng thêm từ dân số, những người mong muốn làm việc vì lợi ích của họ. Tổng cung lao động phụ thuộc vào quyết định làm việc của các lao động hiện tại, và được quyết định bởi quy mô và tốc độ tăng dân số. Chương này và chương tiếp theo sẽ trình bày khung nội dung được các nhà kinh tế sử dụng để nghiên cứu quyết định cung lao động. Trong khung nội dung này, các cá nhân tìm cách tối đa lợi ích của mình qua lựa chọn tiêu dùng cả hai hàng hoá dịch vụ (như mua lượng thực thực phẩm, đi du lịch nước ngoài, quần áo đẹp, nhà mới..) và hoạt động nghỉ ngơi (đọc sách, nấu ăn … ). Hàng hoá – dịch vụ được mua trên thị trường hàng hóa. Vì đa số chúng ta không giàu có nên muốn làm việc để nhận được thu nhập và thoả mãn yêu cầu tiền bạc giúp chúng ta có thể mua những hàng hoá mong muốn. Trong nền kinh tế thị trường, nếu lao động không làm việc, họ sẽ có nhiều thời gian nhàn rỗi, vì thế sẽ không có ô tô, nhà cửa, những gì cuộc sống đòi hỏi nhiều hơn. Nếu làm việc, chúng ta sẽ có những hàng hoá đó, vì thế sẽ phải giảm bớt thời gian cho hoạt động nghỉ ngơi. Trong chương này khung nội dung được sử dụng nhằm phân tích thống kê quyết định cung lao động, quyết định này sẽ ảnh hưởng tới mỗi cá nhân sẽ làm việc bao nhiều giờ trong một tuần, nghĩa là quyết định đưa ra tại một thời điểm nhất định, do tính chất thời điểm được coi như trong ngắn hạn. Sau đó chúng ta xem xét xu hướng của tổng cung lao động trong nền kinh tế. Chương tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu sự thay đổi cung lao động cá nhân hay hộ gia đình trong cả cuốc đời của họ và được gọi là cung trong dài hạn. Khung nội dung kinh tế này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ xu hướng chẳng hạn giảm dần số giờ làm việc của lao động cũng như cho phép chúng ta giải đáp một số câu hỏi quan trọng trong chính sách và lĩnh vực xã hội. Chẳng hạn, chương trình trợ cấp có tác động làm giảm động cơ làm việc của những người nhận trợ cấp không? Giảm thuế thu nhập có tăng động cơ lao động hay không? 2.1 Cung lao động xã hội Đo lường lực lượng lao động Các nước đều thống kê tình hình thất nghiệp theo từng tháng hay năm. Số liệu thống kê tỷ lệ thất nghiệp được quan tâm rộng rãi vì nó đo lường sức khỏe của kinh tế. Thông thường tất cả những cá nhân bắt đầu bước vào độ tuổi lao động khi họ 15 tuổi và kéo dài cho đến tuổi về hưu trong dân số, họ được chia theo một trong các tiêu thức: làm việc, không làm việc, và nhóm còn lại là những người ngoài lực lượng lao động. Người có việc làm là người nhất thiết phải làm việc với tiền công tối thiểu 1giờ, hay phải làm việc tối thiểu 15 giờ với công việc không nhận lương giống như công việc nội trợ. Người thất nghiệp là người không có việc làm vì lý do nào đó như chờ đợi công việc trong thời gian thất nghiệp hay những người không có việc nhưng tích cực tìm việc làm trong 4 tuần liên tiếp cho đến tuần điều tra (theo quy định của một số nước phát triển). Giới hạn tuổi lao động này tùy thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước mà người ta quy định. Tại Việt Nam giới hạn dưới là 15 tuổi, giới hạn trên với nam giới là 60 tuổi và phụ nữ là 55.
Trang 1Chương 2
CUNG LAO ĐỘNG TRONG NGẮN HẠN
Mỗi người lao động phải quyết định làm việc hay không và làm bao nhiêu giờ Cung laođộng trong kinh tế theo nghĩa rộng là nơi tiếp nhận hàng triệu lao động tăng thêm từ dân số,những người mong muốn làm việc vì lợi ích của họ Tổng cung lao động phụ thuộc vào quyếtđịnh làm việc của các lao động hiện tại, và được quyết định bởi quy mô và tốc độ tăng dân số
Chương này và chương tiếp theo sẽ trình bày khung nội dung được các nhà kinh tế sửdụng để nghiên cứu quyết định cung lao động Trong khung nội dung này, các cá nhân tìm cáchtối đa lợi ích của mình qua lựa chọn tiêu dùng cả hai hàng hoá - dịch vụ (như mua lượng thựcthực phẩm, đi du lịch nước ngoài, quần áo đẹp, nhà mới ) và hoạt động nghỉ ngơi (đọc sách, nấu
ăn … ) Hàng hoá – dịch vụ được mua trên thị trường hàng hóa Vì đa số chúng ta không giàu cónên muốn làm việc để nhận được thu nhập và thoả mãn yêu cầu tiền bạc giúp chúng ta có thểmua những hàng hoá mong muốn Trong nền kinh tế thị trường, nếu lao động không làm việc, họ
sẽ có nhiều thời gian nhàn rỗi, vì thế sẽ không có ô tô, nhà cửa, những gì cuộc sống đòi hỏi nhiềuhơn Nếu làm việc, chúng ta sẽ có những hàng hoá đó, vì thế sẽ phải giảm bớt thời gian cho hoạtđộng nghỉ ngơi
Trong chương này khung nội dung được sử dụng nhằm phân tích thống kê quyết địnhcung lao động, quyết định này sẽ ảnh hưởng tới mỗi cá nhân sẽ làm việc bao nhiều giờ trong mộttuần, nghĩa là quyết định đưa ra tại một thời điểm nhất định, do tính chất thời điểm được coi nhưtrong ngắn hạn Sau đó chúng ta xem xét xu hướng của tổng cung lao động trong nền kinh tế.Chương tiếp theo, chúng ta sẽ nghiên cứu sự thay đổi cung lao động cá nhân hay hộ gia đìnhtrong cả cuốc đời của họ và được gọi là cung trong dài hạn
Khung nội dung kinh tế này không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ xu hướng chẳng hạn giảmdần số giờ làm việc của lao động cũng như cho phép chúng ta giải đáp một số câu hỏi quan trọngtrong chính sách và lĩnh vực xã hội Chẳng hạn, chương trình trợ cấp có tác động làm giảm động
cơ làm việc của những người nhận trợ cấp không? Giảm thuế thu nhập có tăng động cơ lao độnghay không?
2.1 Cung lao động xã hội
Đo lường lực lượng lao động
Các nước đều thống kê tình hình thất nghiệp theo từng tháng hay năm Số liệu thống kê
tỷ lệ thất nghiệp được quan tâm rộng rãi vì nó đo lường sức khỏe của kinh tế Thông thường tất
cả những cá nhân bắt đầu bước vào độ tuổi lao động khi họ 15 tuổi và kéo dài cho đến tuổi vềhưu trong dân số, họ được chia theo một trong các tiêu thức: làm việc, không làm việc, và nhómcòn lại là những người ngoài lực lượng lao động Người có việc làm là người nhất thiết phải làmviệc với tiền công tối thiểu 1giờ, hay phải làm việc tối thiểu 15 giờ với công việc không nhậnlương giống như công việc nội trợ Người thất nghiệp là người không có việc làm vì lý do nào đónhư chờ đợi công việc trong thời gian thất nghiệp hay những người không có việc nhưng tích cựctìm việc làm trong 4 tuần liên tiếp cho đến tuần điều tra (theo quy định của một số nước pháttriển) Giới hạn tuổi lao động này tùy thuộc vào điều kiện chính trị, kinh tế xã hội của mỗi nước
mà người ta quy định Tại Việt Nam giới hạn dưới là 15 tuổi, giới hạn trên với nam giới là 60tuổi và phụ nữ là 55
Trang 2Gọi E là số lượng những người đang làm việc, U là số lượng những người thất nghiệp.Những người đang tham gia vào lực lượng lao động nếu có việc việc hay thất nghiệp Quy môcủa lực lượng lao động (LF) được xác định bởi:
LF = E + U (2-1)Điểm đáng chú ý ở đây là phần lớn những người có việc làm được tính vào lực lượng laođộng hiện tại bất chấp họ làm việc bao nhiêu giờ Quy mô lực lượng lao động, vì thế, không nóitới cường độ công việc
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động cho biết tỷ lệ dân số hiện đang ở trong lực lượng laođộng (LF) so với tổng dân số (P) và được xác định
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động = LF/P (2-2)
Tỷ lệ dân số đang làm việc được xác định bằng tỷ lệ phần dân số đang được thuê làmviệc (E) so với tổng dân số, hay
Tỷ lệ dân số đang làm việc = E / P (2- 3)
Cuối cùng, tỷ lệ thất nghiệp được xác định bằng phần trăm giữa những người thất nghiệp(E) và số lượng lực lượng lao động
Tỷ lệ thất nghiệp = U / LF (2 - 4)
Xu hướng thay đổi cung lao động.
Trong thống kê như đã nói tới ở trên để đo lường lực lượng lao động chúng ta đã sử dụngkhái niệm dân số trong độ tuổi lao động Tại Việt Nam, nếu theo khái niệm này thì quy mô lựclượng lao động qua 3 cuộc tổng điều tra dân số như sau: năm 1979 số người trong độ tuổi laođộng là 26,57 triệu, năm 1989 là 35 triệu và 1999 là 44,5 triệu Như vậy trong khoảng 10 năm1979-1989 số lượng tăng thêm khoảng 8,5 triệu và trong khoảng 1989-1999 tăng thêm 9,5 triệungười Nhưng tốc độ tăng trung bình từng thời kỳ giảm dần, nếu giai đoạn 1979-1989 tốc độbình quân là 3,3% năm thì giai đoạn 1989-1999 chỉ còn 2,71% Từ 1999 tới 2009, dân số tăng9.47 triệu, bình quân 947 ngàn 1 năm Tốc độ tăng bình quân trong thời kỳ này bình quân 1.2%năm Như vậy tốc độ tăng dân số của Việt Nam đã chậm dần trong 40 năm qua
Trong thực tế ở Việt Nam, một nước đang phát triển thì người lao động có thể tham gia làmviệc sớm hơn tuổi 15 và kéo dài thời kỳ này sau tuổi về hưu Nếu mở rộng phạm vi tính toán ranhư vậy cung lao động chính là chỉ tiêu “dân số hoạt động kinh tế” Trong tổng điều dân số năm
1989 dân số hoạt động kinh tế là 41,5 triệu người và năm 1999 là 54,4 triệu người và năm 2009
là 58,6 triệu người Như việc dùng chỉ tiêu này để xác định thì số lượng cung lao động sẽ tănglên đáng kể
Biểu 2-1 Tỷ lệ tham gia LLLĐ theo nhóm tuổi của Việt Nam qua 3 cuộc điều tra
Trang 350-54 75.4 81.5 70.6 73.4 83.9 64.8 80.1 84.4 77.1
( Nguồn: Số liệu năm 1989 tính từ: Tổng điều tra dân số Việt Nam 1989, Kết quả điều tra toàn diện, Tập
IV, Hà Nội-1991, Biểu 5.4 a/Từ 15 tuổi trở lên, bao gồm những người làm việc dưới 6 tháng nhưng có việc làm vào thời gian TĐTDS Thông tin của nhóm tuổi 60-64 không được tổng hợp riêng trong cuộc TĐTDS 1989 Số liệu tổng điều tra dân số 1999, 2009 )
Cung lao động còn được xem xét dưới góc độ nhóm tuổi, giới tính, phân bố theo thành thịnông thôn, trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật Nếu theo nhóm tuổi thường chia thành 3nhóm 15-24, 25-55, và 55-59 Nhóm đầu 15-24 là nhóm tuổi trong đó có nhiều người trẻ tuổiđang học tập trong các trường học phổ thông, dạy nghề, cao đẳng và đại học Nhóm 25-55 lànhóm những người đã nhận được nghề nghiệp của mình, nhóm 55-59 là nhóm cuối cùng của dân
số trong độ tuổi lao động Sử dụng số liệu của các kỳ tổng điều tra dân số của Việt Nam, chúng
Đồ thị 2.1 Tỷ lệ tham gia LLLĐ theo nhóm tuổi ở Việt Nam qua 3 cuộc điều tra dân số
Năm 1999 Năm 1989 Năm 2009
Chất lượng của cung lao động được thể hiện qua trình độ chuyên môn kỹ thuật của lao động.Tại nước ta qua thời gian dài cho thấy xu hướng thay đổi rõ ràng Nhóm lao động không cóchuyên môn giảm từ 95% năm 1979 xuống còn 92,7% năm 1989 và 91,9% năm 1999 và 86%năm 2009, nhưng rõ ràng đa số lao động của nước ta không có trình độ chuyên môn, nó ảnh
Trang 4hưởng xấu đến năng suất lao động Đáng chú ý trong số lao động có chuyên môn nghiệp vụ thì
cơ cấu không hợp lý, tỳ lệ giữa cao đẳng trở lên/ trung cấp/ công nhân kỹ thuật năm 1979 là 3,19, thì năm 1999 là 1-1,1-0,8
1-2-Bây giờ chúng ta xem xét những số liệu thống kê về cung lao động trên thế giới Ngoàinhững chỉ tiêu về số lượng và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và thất nghiệp, người ta cònthống kê số giờ làm việc bình quân trong tuần Theo số liệu của Việt Nam về tỷ lệ số giờ làmviệc bình quân theo các nhóm trong một tuần như sau:
Biểu 2-1.1 Tỷ lệ số giờ làm việc bình quân theo các nhóm trong một tuần năm 2002(1)
Từ bảng trên đây chúng ta thấy tỷ lệ số giờ làm việc của lao động Việt Nam tăngdần theo chủ yếu trong khoảng 40-50 giờ/ tuần, nhưng tỷ lệ số giờ làm việc trên 50 giờvẫn rất lớn chứng tỏ nhu cầu làm việc vẫn cao- đặc điểm của một nước đang phát triển
Số liệu từ điều tra mức sống 2008 cũng cho thấy số giờ làm việc trung bình tuần của laođộng Việt Nam khoảng 40 giờ Tuy nhiên giữa khu vực thành thị và nông thôn có sựkhác nhau, tỷ lệ số giờ trong khoảng 30-50 giờ của khu vực nông thôn cao hơn khu vựcthành thị Nhưng tỷ lệ làm việc trên 50 giờ ở thành thị cao hơn nông thôn Tình hình này
là vì khu vực thành thị có nhiều việc thu hút lao động nhập cư từ nông thôn ra và khu vựcnông thôn thiếu việc Tại sao người ta lại làm việc với số giờ trung bình khác nhau, câutrả lời sẽ có khi chúng ta nghiên cứu hành vi của người lao động dưới đây
2.2 Đường bàng quan (đẳng ích) của người lao động
Mô hình tân cổ điển về lựa chọn lao động - nghỉ ngơi sẽ được sử dụng để phân tích hành
vi cung lao động của cá nhân Hãy bắt đầu từ tình huống ở đó một cá nhân quyết định phân phốithời gian của anh ta giữa thị trường lao động và hoạt động nghỉ ngơi, tạm thời không tính tới khuvực sản xuất hộ gia đình Mục tiêu ở đây là xác định các nhân tố ảnh hưởng tới quyết định của sốgiờ làm việc của một cá nhân điển hình Qua các nhân tố chủ yếu này, chúng ta hiểu nhiều hơn
về những số liệu thống kê cơ bản ở trên và có thể dự báo trước những ảnh hưởng từ sự thay đổitrong điều kiện kinh tế và chính sách của chính phủ tới động cơ làm việc
Người lao động điển hình trong mô hình này sẽ nhận được sự thoả mãn cả hai từ tiêudùng hàng hoá (chúng ta biểu thị bằng C) và thoả mãn nghỉ ngơi là (L) Hiển nhiên, cá nhân tiêudùng nhiều hàng hoá khác nhau trong một thời gian đã định Để đơn giản hóa vấn đề, coi C bằnggiá trị bằng tiền của tất cả hàng hoá mà người đó mua được trong thời kỳ đó Ví dụ, một ngườichi tiêu 400 ngàn đồng một tuần cho hàng hóa dịch vụ tiêu dùng như thực phẩm, phương tiện đilại, xem phim…thì C sẽ là 400 ngàn đồng Còn L coi như số giờ nhàn rỗi mà cá nhân sử dụngnghỉ ngơi trong một thời kỳ nào đó
Trang 5Hàm lợi ích (2-5) đo lường mức độ hài lòng hay thích thú của cá nhân khi thay đổi sự kếthợp tiêu dùng hàng hóa và nghỉ ngơi Mức U cao, nghĩa là cá nhân hài lòng và thích thú hơn.Việc tiêu dùng nhiều hơn hàng hoá dịch vụ hay dành cho thời gian hoạt động nghỉ ngơi nhiềuhơn sẽ tăng thêm lợi ích cho cá nhân Trong kinh tế học, C và L là hàng hóa thông thường
Hãy giả định về hành vi của cá nhân: mỗi cá nhân mong muốn lựa chọn kết hợp giữa C
và L có thể tối đa hoá lợi ích của mình Bằng cách này cá nhân sẽ lựa chọn một mức tiêu dùnghàng hoá và thời gian hoạt động nghỉ ngơi để đạt tới mức cao có thể của lợi ích U
Một dạng đơn giản của hàm lợi ích là U = C x L (2 -6)
Ví dụ một người chi tiêu 500 ngàn đồng cho hàng hoá tiêu dùng và 100 giờ nghỉ ngơimỗi của tuần, thì lợi ích là 50 triệu đơn vị và nếu người đó chi tiêu 400 ngàn đồng cho hàng hoátiêu dùng và 125 giờ nghỉ ngơi của tuần, thì lợi ích là 50 triệu đơn vị
Đường bàng quan
Phương trình (2-6) cho thấy đặc trưng cơ bản của hàm lợi ích: có nhiều cách kết hợp C và
L để đem lại cho người tiêu dùng sự thoả mãn hài lòng như nhau Tập hợp các điểm trên trục toạ
độ vuông góc cho biết mức độ lợi ích như nhau khi kết hợp tiêu dùng hai loại hàng hoá gọi làđường đường bàng quan hay đẳng ích Trong ví dụ của chúng ta, một người nhận được lợi íchnhư nhau từ việc tiêu dùng giỏ hàng hoá bao gồm 500 ngàn đồng giá trị hàng hoá và 100 giờnghỉ ngơi tương đương như giỏ hàng bao gồm 400 ngàn đồng giá trị hàng hoá và 125 giờ nghỉngơi Nếu bắt buộc phải lựa chọn giữa hai giỏ hàng hoá này, thì người đó có lẽ bàng quan giữachúng
Giả sử rằng khi đó chúng ta cố định mức lợi ích là 50 triệu đơn vị Hình 2-1 mô tả nhiều cách kếthợp của C và L cho cùng một mức lợi ích này Tập hợp của tất cả các điểm này nằm trên cùngmột đường bàng quan Như hình vẽ, cả hai điểm X và Y đem lại 50 triệu đơn vị lợi ích
Người ta cũng có thể chọn một mức lợi ích khác chẳng hạn 67,5 triệu đơn vị Điểm Z ở trênđường đẳng ích cao hơn xác định giỏ hàng hoá cho phép người chủ đạt tới mức lợi ích này bằngviệc kết hợp 450 ngàn đồng giá trị hàng hoá và 150 giờ nghỉ ngơi
Đường đẳng ích này có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, đường bàng quan (đẳng ích) dốc xuống Vì các cá nhân ưa thích cả hai C và L.
Nếu đường đẳng ích dốc lên, việc tiêu dùng giỏ hàng với C và L mang lại mức lợi ích như nhau
và ngang bằng sự tiêu dùng giỏ hàng với C thấp hơn và L thấp hơn Điều này trái với giả địnhcủa chúng ta rằng các cá nhân muốn cả hai hàng hóa và nghỉ ngơi Chỉ có một cách để giữ mứclợi ích không đổi nếu một người dùng ít hơn thời gian nghỉ ngơi thông qua việc tăng thêm hànghóa tiêu dùng
Hình 2.1
500 450 400
Z Y
X
100 125 150
67.5 50.
Sè giê nghØ ng¬i
Trang 6Thứ hai, đường bàng quan (đẳng ích) biểu hiện mức độ của lợi ích hay đường đẳng ích
cao xác định mức lợi ích cao Việc tiêu dùng giỏ hàng hoá nằm trên đường đẳng ích mang lại
67.5triệu đơn vị lợi ích được ưa thích hơn giỏ hàng nằm trên đường đẳng ích chỉ mang lại 50triệu đơn vị lợi ích Trên hình vẽ điểm Z mang lại nhiều lợi ích hơn điểm X, đơn giản vì ở điểm
Z người ta tiêu dùng nhiều hàng hoá và nghỉ ngơi nhiều hơn
Thứ ba, các đường bàng quan không cắt nhau Để thấy tại sao, giả định rằng các đường
bàng quan cắt nhau như hình 2.1.1 Vì các điểm X và Y nằm trên cùng một đường bàng quan, lợiích thu được tại X và Y bằng nhau Vì các điểm Z và Y nằm trên cùng một đường đẳng ích, lợiích tại Z và Y bằng nhau Nghĩa là lợi ích tại X và Z bằng nhau Như vậy các đường bàng quannày cắt nhau không thể và các điểm X,Y và Z phải nằm trên cùng một đường bang quan
Thứ tư, đường đẳng ích lõm về gốc toạ độ Thể hiện sự đánh đổi trong tiêu dùng C và
L, vì C và L hai hàng hoá thay thế nên nếu tiêu dùng C nhiều thì sẽ giảm tiêu dùng L
Lợi ích biên
Lợi ích của người lao động thay đổi thế nào nếu anh ta mua hàng hóa để tiêu dùng thêm
hay dành nhiều thời gian hơn để nghỉ ngơi? Lợi ích biên của việc tiêu dùng hàng hóa tăng thêm
là sự thay đổi của tổng lợi ích từ mỗi đồng chi tiêu tăng thêm cho hàng hóa, khi thời gian nghỉngơi không thay đổi Hay chính là đạo hàm bậc nhất với hàm lợi ích theo C Chúng ta có thể viếtnhư sau:
50 triệu50,125 triệu50,400 triệu
0,125-
-0,400
-Độ dốc của đường bàng quan
Nếu di chuyển dọc theo đường đẳng ích, ví dụ như từ điểm Y đến X trên hình 2-1, độ dốccủa đường bàng quan đo lường tỷ lệ đánh đổi khi một người vui lòng từ bỏ một lượng thời giannghỉ ngơi để được tiêu dùng thêm một lượng hàng hóa, trong khi tổng lợi ích không thay đổi
Trang 7Giả định rằng hai điểm này rất gần nhau, do di chuyển từ X tới Y, người đó sẽ từ bỏ Lgiờ để nghỉ ngơi, và mỗi giờ nghỉ ngơi người đó giảm lợi ích một lượng MUL Do vậy, mức lợiích giảm do di chuyển từ X tới Y bằng L x MUL (2 - 9)
Di chuyển từ X tới Y, người ta lại được tiêu dùng C giá trị hàng hoá tăng thêm Mỗiđồng tiêu dùng thêm sẽ tăng lợi ích bằng MUC Mức lợi ích đạt được sẽ do sự thay đổi từ X tới Ybằng C x MUC (2-10)
Do tất cả các điểm trên đường bàng quan nhận được cùng mức lợi ích, nghĩa là mất mát
do di chuyển từ X tới Y phải bằng những gì nhận thêm hay:
(L x MUL ) + (C x MUC) = 0 (2-11)
Độ dốc = (2-12)
Giá trị tuyệt đối của độ dốc đường bàng quan cho biết mức thay thế biên trong tiêu dùng.
Độ dốc của đường bàng quan còn được gọi là tỷ lệ đánh đổi giữa thời gian nghỉ ngơi và giá trị
hàng hoá tiêu dùng.
2 3 Thời gian và đường giới hạn ngân sách
Mức tiêu dùng hàng hoá hay thời gian nghỉ ngơi của người lao động bị giới hạn bởi quỹ
thời gian nên thu nhập của họ cũng bị giới hạn Nếu gọi h là số giờ một người sẽ làm việc trên thị
trường lao động trong một thời kỳ nhất định Giới hạn thời gian được xác định bằng:
T = L + h (2-13)
Ở đây T là tổng thời gian của mỗi tuần bao hàm 110 giờ, trừ thời gian ngủ trong một tuần(1 cá nhân cần ngủ 8 giờ một ngày), và số thời gian này được dùng hết cho hoặc để nghỉ ngơihay để làm việc trên thị trường lao động Giới hạn thời gian trong công thức 2-13 cho thấy một
cá nhân phân phối thời gian của anh ta chỉ giữa hoạt động nghỉ ngơi và cho thị trường lao động,
và không tính tới sự hiện diện của khu vực hộ gia đình
Mỗi cá nhân cũng đều đối mặt với giới hạn ngân sách Phần thu nhập của cá nhân (như
sổ số, thừa kế ) không phụ thuộc vào số lượng thời gian lao động Chúng ta biểu thị thu nhậpngoài thị trường lao động này là V Cộng với việc cá nhân có thể tăng thêm thu nhập của anh tabởi lao động Nếu w là mức tiền lương giờ Phương trình đường giới hạn ngân sách có thể viết:
Hình 2-2 Đường ngân sách là gianh giới của tập hợp các cơ hội cho người lao động
Trang 8Giá trị bằng tiền của hàng hoá tiêu dùng (C) ngang bằng với tổng thu nhập từ lao động
(wh) và thu nhập ngoài thị trường lao động (V).
Trong các nhân tố mà chúng ta xem xét ảnh hưởng của chúng tới quyết định làm việc và
số giờ làm việc thì mức tiền lương giữ vai trò trung tâm Đầu tiên, giả định rằng, mức tiền lương
là không đổi, vì thế một cá nhân sẽ nhận được mức lương giờ như nhau bất chấp anh ta làm việc
bao nhiêu giờ Vì thế, mức tiền lương biên nói chung, phụ thuộc vào số giờ làm việc của cá nhân.
Để dễ nhớ ta gọi điểm E là điểm lười, điểm này cho biết một cá nhân có thể tiêu dùng baonhiêu nếu anh ta không tham gia vào thị trường lao động Một người di chuyển theo đường ngânsách để anh ta kết hợp tốt nhất số thời gian cho nghỉ ngơi để tiêu dùng hàng hoá tăng thêm
Từ (2-13) và (2-14) ta có wT+ V = C + wL (2-15)
Vế trái của phương trình chính là thu nhập đầy đủ, đó là tổng thu nhập nếu người laođộng dành toàn bộ thời gian của anh ta trên thị trường lao động Thu nhập đầy đủ bằng tổng củacác thu nhập từ lao động nếu người đó làm việc T giờ (hay wT VNĐ) và thu nhập ngoài lao động(V, VNĐ) Vế phải của phương trình biểu hiện cách thức chi tiêu thu nhập đầy đủ đó Người laođộng sẽ mua C trị giá hàng tiêu dùng, và chi tiêu nghỉ ngơi (wL) thời gian Sự giải thích này củagiới hạn ngân sách nói lên rằng, mỗi giờ nghỉ ngơi có giá của nó, và bằng mức tiền lương Vì thế
có thể viết:
C = (wT+ V) - wL (2-16)
Phương trình này là phương trình đường thẳng, ở đây phần chặn là thu nhập đầy đủ hay
wT+ V và hệ số góc là mức tiền lương nhưng có dấu âm (hay –w) Đường ngân sách được mô tả
2.4 Quyết định làm việc
Đường bàng quan mô tả các khả năng kết hợp giữa mức tiêu dùng hàng hoá và sử dụngthời gian nghỉ ngơi khác nhau quyết định mức lợi ích, và đường ngân sách cũng mô tả mô tậphợp của thời gian nghỉ ngơi và cơ hội tiêu dùng hàng hoá luôn sẵn sàng đối với cá nhân Nhưngnhân tố nào thúc đẩy con người ta tham gia lực lượng lao động? Để mô tả quyết định làm việc,hãy xem xét đồ thị 2-3 Trên đồ thị đường đẳng ích đi qua điểm lười E Đường đẳng ích này chobiết một người sẽ không làm việc sẽ nhận được UO đơn vị lợi ích Một người có thể lựa chọntham gia vào thị trường lao động và từ bỏ thời gian cho nghỉ ngơi của mình Quyết định làm việcđược đưa ra dựa vào câu trả lời: mức đánh đổi giữa thời gian nghỉ ngơi và tiêu dùng hàng hoá làbao nhiêu để khích thích người lao động khiến anh ta tham gia vào thị trường lao động
Hình 2-3 Tiền lương tới hạn tạo ra sự bàng quang của người lao động giữa làm việc và không làm việc
G
Số giờ nghỉ ngơi
H
Y X
Đô dốc -
0 T
Tiêu dùng hàng hóa 1000 đ
Trang 9Đầu tiên giả định rằng, mức tiền lương của cá nhân được xác định bằng wthấp, như vậy một laođộng sẽ đứng trước đường ngân sách GE trên đồ thị 2-3 Không có điểm nào trên đường ngânsách cho người lao động đó nhiều lợi ích hơn U0 Tại mức tiền lương thấp, người ta nhận được
cơ hội không tốt Nếu một người lao động vượt qua điểm E tới một điểm nào đó trên đường ngânsách GE, thì anh ta có sẽ đến đường đẳng ích thấp hơn Ví dụ, tại điểm X một người nhận được
UG đơn vị lợi ích Tại mức tiền lương wthấp người ta lựa chọn không làm việc
Ngược lại, giả sử mức tiền lương đưa ra wcao, vì thế người lao động đứng trước đường ngân sách
HE trên đồ thị 2-3 Điều đó là rõ ràng, có nhiều điểm trên đường ngân sách cao này có thể chophép người lao động tăng thêm lợi ích của mình, ví dụ tại điểm Y người lao động nhận được UH
đơn vị lợi ích, tại mức lương wcao người lao động sẽ khấm khá hơn nhờ lao động
Tiền lương tới hạn
Sự phân tích trên cho thấy người ta nhận được các mức lợi ích khác nhau tương ứng vớimỗi mức lương Do đó tại mức lương thấp như wthấp người lao động không tham gia vào thịtrường lao động, và tại mức lương cao bằng wcao người lao động sẽ làm việc Như vậy đườngngân sách sẽ được xoay quanh từ wthấp đến wcao Chúng ta sẽ gặp mức lương đặc trưng được gọi
là mà nó tạo ra sự bàng quan giữa làm việc và không làm việc Mức lương này được đặt tên làtiền lương tới hạn Như vậy, tiền lương tới hạn là tiền lương tạo cho người ta sự bàng quan giữalàm việc và không làm việc Tiền lương giới hạn cho biết mức tăng thêm tối thiểu trong thu nhập
để tạo sự bàng quan giữa ở lại tại điểm lười E và làm việc giờ thứ nhất Trên hình 2-3, tiền lươnggiới hạn được xác định bằng giá trị tuyệt đối độ dốc của đường bàng quan tại điểm E
Tiền lương giới hạn thể hiện đặc điểm quan trọng Một cá nhân sẽ không làm việc hoàntoàn nếu mức lương ít hơn mức lương giới hạn, và sẽ tham gia vào thị trường lao động nếu mứclương thị trường vượt quá tiền lương giới hạn Vì vậy, mức tiền lương tới hạn là cơ sở cho việc
so sánh giữa mức lương thị trường - mức lương chủ lao động vui lòng trả cho giờ làm việc, vớimức tiền lương tới hạn - mức lương người lao động yêu cầu được trả để mua chuộc anh ta vào
Trang 10làm việc giờ lao động thứ nhất Hay tiền lương tới hạn là cái giá thấp nhất của mỗi lao động đặt
ra để họ chấp nhận làm việc
Chí phí thay đổi và tiền lương tới hạn
Giả sử rằng Nam có 200 ngàn đồng giá trị thu nhập ngoài thị trường lao động mỗi tuần.Nếu quyết định không làm việc, thì lợi ích của cô ta được xác định trên đường đẳng ích UG,đường này đi qua điểm lười EG trên hình 2-4 Nếu quyết định làm việc, khi đó cô ta phải chịu chiphí để nhận được công việc của mình Cụ thể, giả định rằng chí phí của Nam là 100 ngàn đồngmỗi tuần để đổi lấy công việc, bao gồm các chi phí đi lại, bảo hiểm và lệ phí chỗ đậu xe của cô.Ngay phút giây bước vào thị trường lao động, điểm lười của cô dịch chuyển tới 100 ngàn giá trịcủa tiêu dùng hàng hoá (Thu nhập ngoài thị trường lao động của Nam 200 ngàn đồng trừ đi 100ngàn đồng chi phí đổi lấy việc làm) Điểm lười mới được xác định bằng điểm E1 trên hình vẽ Nếu không có chi phí đánh đổi, tiền lương tới hạn của Nam được xác định bằng độ dốc củađường đẳng ích UG tại điểm lười gốc E0 Bây giờ hãy xác định ảnh hưởng của chi phí đánh đổitới tiền lương tới hạn của Nam Tiền lương giới hạn tạo cho Nam sự bàng quan giữa làm việc (vàchịu chi phí đánh đổi) và hoàn toàn không làm việc Điều đó cho thấy đường ngân sách tạo choNam sự bàng quan giữa làm việc (và chịu chi phí đánh đổi) và hoàn toàn không làm việc được
xác định bằng đường FE 1 Có nhiều đường ngân sách với độ dốc thấp hơn độ dốc gốc của điểmlười E1 không cho phép Nam nhận UG đơn vị lợi ích Cũng vậy, nhiều đường ngân sách với độ
dốc lớn hơn có thể tạo cho Nam khá hơn Như vậy đường ngân sách FE 1 tạo ra sự bàng quangiữa không làm việc hoàn toàn và tránh được chi phí đánh đổi (và tại điểm E0), hay giữa laođộng và gánh chịu giá trị 100 ngàn đồng của chi phí đánh đổi (tại điểm X trên đường đẳng ích).Giá trị tuyết đối của độ dốc đường ngân sách, hay , là tiền lương tới hạn với sự tồn tại chi phíđánh đổi
Đường bàng quan lõm về gốc tọa độ cho biết rằng chi phí đánh đổi sẽ làm tăng tiền lương tớihạn của Nam Điều này nghĩa là mức tiền lương giới hạn đo lường số lượng lương đủ để xuikhiến người lao động làm việc Người ta gánh chịu chi phí đánh đổi khi tham gia vào lực lượnglao động sẽ đòi hỏi phải đút lót cao hơn những người không tham gia Nhớ rằng, người ta thamgia vào thị trường lao động khi mức lương thị trường vượt quá tiền lương giới hạn Vì tăng chi
Số giờ nghỉ ngơi
Hình 2-4 Chi phí thay đổi làm tăng tiền lương giới hạn
UG E0 E1 X
Trang 11phí đánh đổi làm tăng tiền lương giới hạn, cũng vì thế mà hạ thấp khả năng tham gia lực lượnglao động.
2-5 Quyết định số giờ làm việc
Những phân tích ở phần trên đã hình thành quy luật quyết định tham gia vào lực lượng lao
động của cá nhân: mức lương thị trường lớn hơn mức tiền lương tới hạn Bây giờ xem xét quyết
định tham gia thị trường lao động của cá nhân cũng như quyết định số giờ làm việc của anh ta.Hình 2-5 mô tả cách giải quyết vấn đề này Như hình trên, đường ngân sách FE mô tả tập hợp cơhội dành cho lao động có 100 ngàn đồng thu nhập ngoài lao động mỗi tuần, anh ta nhận đượcmức lương thị trường bằng 10 ngàn đồng mỗi giờ, và 110 giờ để phân phối giữa lao động và nghỉngơi
Điểm P cho biết giỏ hàng hoá tiêu dùng và số giờ để nghỉ ngơi được lựa chọn bởi người laođộng tối đa hoá lợi ích Đường đẳng ích cao đặt người lao động vào điểm P và cho anh ta U* đơn
vị lợi ích Bằng cách này, người lao động sử dụng 70 giờ nghỉ ngơi và làm việc 40 giờ một tuần,
và tiêu dùng 500 ngàn đồng giá trị hàng hoá mỗi tuần Người lao động cũng mong muốn tiêudùng giỏ hàng hoá ở trên đường đẳng ích U1 cho mức lợi ích cao hơn Nhưng với giỏ hàng nàyvượt quá xa khả năng của người lao động Ví dụ anh ta lựa chọn điểm Y trên đường U1, tại đâyanh ta làm việc 40 giờ và có thể mua 1100 ngàn đồng giá trị hàng hoá tiêu dùng, nếu cộng tiềnlương của anh ta và thu nhập ngoài lao động cũng không thể đạt được Ngược lại, anh ta có thểlựa chọn điểm A trên đường ngân sách (có thể đảm bảo) nhưng có thể anh ta không làm vậy, vìđiểm A cho anh ta ít lợi ích hơn so với điểm P
Mức tiêu dùng tối ưu hàng hoá và thời gian đối với người lao động được xác định tại điểm ở đóhai đường ngân sách và bàng quan tiệm cận nhau Cách giải quyết này được gọi là giải pháp tiếptuyến vì người lao động không có điểm nào khác trong tập hợp cơ hội (đó là, tại F người laođộng làm việc toàn bộ thời gian, còn tại E không làm việc giờ nào) Giải pháp tiếp tuyến đòi hỏitiền lương thị trường phải vượt quá tiền lương giới hạn tức là tại điểm P trong ví dụ này
Hình 2-5 Giải pháp tiếp tuyến đối với quyết định làm việc và nghỉ ngơi
E
Số giờ nghỉ ngơi UO
U1 U*
P
Y A
F 1200
hóa (1000đ)
Trang 12Điều kiện tiếp tuyến
Tại điểm tối ưu P, đường ngân sách tiếp tuyến với đường đẳng ích Ở đó, độ dốc của đườngngân sách bằng với độ dốc của đường đẳng ích Hay
(2-17)
Với mức tiêu dùng hàng hoá và thời gian nghỉ ngơi được lựa chọn, tỷ lệ biên thay thếngang bằng với mức tiền lương (mức tại đó thị trường bằng lòng để cho lao động đổi một giờnghỉ ngơi để lấy tiêu dùng hàng hoá.)
]Biến đổi công thức 2-17, ta có
(2-18)
Khối lượng MUL cho biết lợi ích thay đổi nhận được từ tiêu dùng thêm một giờ nghỉ ngơi.Giờ tăng thêm này trị giá w đồng Việt Nam Vế trái của công thức 2-18, cho biết số lượng đơn vịlợi ích nhận được bởi việc chi tiêu thêm một đồng cho nghỉ ngơi Vì C được xác định như giá trịbằng Việt Nam đồng của việc tiêu dùng hàng hóa, MUC cho số lợi ích nhận được từ chi tiêu thêmmột đồng tiêu dùng hàng hoá Giải pháp tiếp tuyến chỉ ra rằng, một đồng cuối cùng chi tiêu vàothời gian nghỉ ngơi đem lại một số lợi ích như một đồng chi tiêu vào hàng hoá tiêu dùng Nếucông thức này không giữ được như vậy (vì thế, ví dụ như một đồng đã chi tiêu vào thời gian nghỉngơi đem lại một số lợi ích nhiều hơn một đồng chi tiêu với hàng hoá tiêu dùng) người lao động
sẽ không tối đa hoá lợi ích của mình Người lao động đó có thể sẽ bố trí lại kế hoạch chi tiêu củamình chẳng hạn như mua nhiều hơn mặt hàng hoá nào đó, mà nó mang lại nhiêu lợi ích hơn chomỗi đồng chi tiêu
Điều kiện để tỷ lệ biên thay thế ngang bằng với mức tiền lương không chỉ là một phươngtrình, nó quy định rõ đặc điểm vị trí của điểm tối ưu P trên hình 2-5 Điểm P cũng cần phải nằmtrên đường ngân sách Nếu chúng ta biểu thị sự mua sắm tiêu dùng hàng hoá tối ưu là C* và sốlượng giờ nghỉ ngơi tốt nhất là L*, thì ràng buộc được viết:
C* = wL* + V (2-19)
Vì vậy, mức tiêu dùng hàng hoá này ngang bằng với tổng thu nhập,
Phương trình 2-17 và 2-19 cho chúng ta biết vị trí điểm P được xác định trong hình 2-5,điểm này nằm trên đường ngân sách mà tiếp tuyến với đường đẳng ích Hai phương trình có haibiến số chưa biết là C* và L* Giải hệ hai phương trình này cho giá trị của mỗi ẩn số Điều đókhông khó để thấy về nguyên tắc có thể giải thích các biến số chưa biết C*và L* nhờ hàm số vớibiến số tiền lương cá nhân và thu nhập ngoài lao động Hay:
L* = L (w, V) (2-20)
C* = C (w, V) (2-21)
Các phương trình này được gọi là hàm cầu đối với nghỉ ngơi và tiêu dùng hàng hoá mộtcách tương ứng Hàm cầu cho biết số lượng thời gian nghỉ ngơi và khối lượng hàng hoá tiêudùng mà người lao động mong muốn mua từ giá trị cụ thể của tiền lương và thu nhập ngoài laođộng
Số giờ làm việc tối ưu của lao động được xác định là h* = T - L* Vì số giờ nghỉ ngơi phụthuộc vào mức lương và thu nhập ngoài lao động, số giờ dành để lao động sẽ phụ thuộc vàonhiều biến số, chúng ta có thể viết khi đó:
h* = h (w,V) (2-22)
Trang 13Phương trình này được gọi hàm cung lao động Hàm này cho ta biết số giờ lao động muốn
cung ứng cho thị trường lao động để nhận được mức tiền lương nhất định và thu nhập ngoàilương
Sự thay đổi thu nhập ngoài lao động và số giờ làm việc
Bây giờ hãy xem xét số giờ làm việc phản ứng ra sao khi thu nhập ngoài lao động của cá
nhân (V) tăng lên Sự tăng lên của V có thể do lãi suất từ tiền tiết kiệm hay cổ tức cao từ cổ
phiếu, trúng sổ số hay có thể thừa hưởng tài sản theo di chúc của họ hàng bà con
Hình 2-6 mô tả sự thay đổi thời gian làm việc khi thu nhập ngoài lao động của cá nhântăng lên khi giữ mức lương không đổi Đầu tiên, thu thu nhập ngoài lao động của cá nhân là 100ngàn đồng một tuần từ đó ta có thể xác định được điểm lười EO Mức lương của người lao độngcho trước, đường ngân sách khi đó được xác định bằng đường E0 F0 Người lao động tối đa hóalợi ích bằng lựa chọn giỏ hàng hóa tại P0 Tại điểm này người lao động tiêu dùng 70 giờ cho nghỉngơi và 40 giờ làm việc
Sự gia tăng thu nhập ngoài lao động lên 200 ngàn đồng một tuần sẽ dịch chuyển điểm lười
E0 tới E1, vì thế đường ngân sách mới được xác định bằng đường E1F1 Lưu ý vì mức tiền lương
của lao động được cố định, độ dốc của đường ngân sách gốc tại E1 bằng độ dốc của đường ngânsách bắt đầu từ điểm gốc E0 Sự gia tăng thu nhập ngoài thị trường lao động khi cố định tiềnlương mở rộng tập hợp cơ hội của lao động nhờ di chuyển song song trên đường ngân sách
Do kết quả của sự gia tăng trong thu nhập ngoài lao động (V), người lao động bây giờ
“nhảy lên” đường đẳng ích cao, như điểm P1 trong hình 2-6 Thu nhập ngoài lao động tăng lên tất
U1 F1
FO
0 60 70 110
E1 EO
P1
UO
UO U1
P1
a, Thờigian nghỉ ngơi là hàng hoá thông thường
b, T hời gian nghỉ ngơi là hàng hoá tồi (thứ cấp)
Hình 2-6 Tác động của sự thay đổi thu nhập ngoài lao động tới số giờ làm việc
Trang 14yếu sẽ làm cho người lao động khấm khá hơn Cuối cùng, sự mở rộng tập hợp các cơ hội tạo rathêm nhiều sự lựa chọn cho người lao động Trên hình 2-6 (a) mô tả điểm P1 tại đó cho thu nhậpngoài lao động tăng thêm nên họ tăng cả hai chi tiêu vào hàng hoá dịch vụ và thời gian nghỉngơi Vì thế, độ dài thời gian tuần làm việc xuống 30 giờ Trên hình 2-6 (b), mô tả điểm P1 tại đócho thu nhập ngoài lao động tăng thêm nên người ta cắt giảm cầu thời gian nghỉ ngơi, tăng thêm
độ dài thời gian tuần làm việc lên 50 giờ
Cả hai đường bàng quan đều đi xuống và không cắt nhau và lõm về gốc tọa độ Điều nàylàm cho dự đoán trực tiếp ảnh hưởng từ sự gia tăng thu nhập ngoài lao động tới thời gian làmviệc Để thuận lợi dự báo chúng ta giới hạn thêm sự thể hiện của đường bàng quan bằng cách coithời gian nghỉ ngơi như hàng hoá thông thường
Từ những phân tích trên chúng ta có thể mô ta kết quả trên như sau:
và (2-23)
Tác động của thay đổi thu nhập ngoài lao động (giữ cố định mức tiền lương) tới nhu cầu
nghỉ ngơi hay tới cung của thời gian lao động được gọi là tác động thu nhập Nghỉ ngơi là hàng
hóa thông thường, tác động thu nhập là dương, nên tác động thu nhập lên số giờ làm việc là âm
Thu nhập ngoài lao động và tiền lương tới hạn
Hãy xem xét trường hợp thu nhập ngoài thị trường lao động của cá nhân tăng lên ngoài sựmong đợi Trong trường hợp người lao động tối đa hoá lợi ích giải pháp tiếp tuyến cho thấyngười đó sẽ làm việc ít thời gian hơn Như vậy, khi đó điều gì sẽ xảy ra với tiền lương tới hạncủa người lao động
Do thời gian nghỉ ngơi là hàng hoá thông thường, khi tiền lương tới hạn tăng lên giống nhưtăng thu nhập ngoài lao động Điều này được mô tả trên đồ thị 2-6, khi kẻ đường thẳng đứng quađiểm P0 Dọc theo đường thẳng đứng, đường đẳng ích U1 dốc hơn đường U0 Vì vậy, tiền lươngtới hạn (hay độ dốc của đường đẳng ích mà nó đi qua điểm lười E0 và E1 trên hình) tăng lên dotăng thu nhập ngoài lao động, tạo ra ít sự thích thú để người ta tham gia vào lực lượng lao động.Bằng trực giác sau kết quả này có thể không có điều gì ngạc nhiên Vì người lao động có thể tiêudùng thời gian cho nghỉ ngơi nhiều hơn khi thu nhập ngoài lao động tăng thêm, điều này cũngđòi hỏi khoản kích thích lớn hơn để thuyết phục cá nhân có thu nhập cao tham gia vào thị trườnglao động
Sự tăng lên trong thu nhập ngoài lao động, vì thế, tạo ra tác động thu nhập với những ảnh
hưởng tới động cơ làm việc của lao động Thứ nhất là giảm khả năng cá nhân tham gia vào thịtrường lao động Thứ hai là rút ngắn thời gian làm việc của lao động
Lưu ý trong trường hợp thời gian nghỉ ngơi là hàng hóa thứ cấp hay tồi thì ngược lại thờigian làm việc tăng và thời gian nghỉ ngơi giảm
Sự tác động của những thay đổi tiền lương tới số giờ làm việc
Bây giờ chúng ta sẽ phân tích phản ứng của số giờ lao động khi tiền lương thay đổi Chẳnghạn, bây giờ mức tiền lương tăng lên từ 10 ngàn/ giờ lên 20 ngàn / giờ, và thu nhập ngoài lao
động hiện thời V không đổi Mức tiền lương tăng sẽ xoay đường ngân sách đi ngang qua điểm
lười như mô tả trên hình 2-7 Độ dốc của đường ngân sách thay đổi tập hợp cơ hội từ EF tới GE.Trên hai hình vẽ trình bày trong hình 2-7 mô tả tác động của việc tăng tiền lương tới số giờlàm việc Trên hình 2-7 (a), sự tăng lên của tiền lương thay đổi giỏ hàng hóa và thời gian nghỉngơi được tiêu dùng tối ưu từ P tới R Tại điểm cân bằng mới người ta tiêu dùng thời gian nghỉ
Trang 15ngơi nhiều hơn (sự tăng này là từ 70 lên 75 giờ), vì thế giờ làm việc giảm từ 40 giờ xuống 35giờ.
Trên hình 2-7 (b), mô tả kết quả trái ngược lại Sự tăng lên của tiền lương lại di chuyển người laođộng tới đường đẳng ích cao hơn và thay đổi giỏ tiêu dùng hàng hóa và thời gian nghỉ ngơi tối
ưu từ P tới R Sự tăng lên của tiền lương trong trường hợp này làm giảm bớt số giờ nghỉ ngơi (từ
70 xuống 65 giờ), vì thế độ dài thời gian tuần làm việc tăng từ 40 lên 45 giờ Có điều gì mâuthuẫn dẫn đến khó khăn giải thích mối quan hệ tương quan giữa tiền lương và số giờ làm việc
Cả hai đồ thị của hình 2-7 cho thấy, người lao động có được thu nhập lớn hơn khi anh ta nhậnmức lương 20 ngàn đồng mỗi giờ so với khi chỉ nhận được mức lương 10 ngàn đồng một giờ.Chúng ta biết rằng, thu nhập lớn hơn sẽ tăng cầu với toàn bộ số hàng hoá thông thường, bao gồm
cả thời gian nghỉ ngơi Mức tiền lương lớn hơn làm tăng cầu với nghỉ ngơi và rút ngắn số giờlàm việc
Tuy nhiên điều đó không phải là tất cả những gì diễn ra do kết quả của sự tăng lương Sựtăng lương cũng làm tăng giá của thời gian nghỉ ngơi Khi người lao động thu nhập 20 ngàn đồng/ giờ, anh ta sẽ từ bỏ 20 ngàn đồng tại mọi thời điểm khi anh ta tiêu dùng thêm một giờ cho hoạtđộng nghỉ ngơi Như vậy, giá cả của thời gian nghỉ ngơi sẽ đắt hơn đối với người lao động cómức lương cao và rẻ hơn đối với lao động có mức tiền lương thấp Lao động với tiền lương cao,
Hình 2- 7 (a) U1
U0
E
Tiêu dùng HH(1000đ) G
F V
Thời gian nghỉ ngơi
Thời gian nghỉ ngơi
Hình 2-7 Tác động của việc thay đổi
mức lương với số giờ làm việc
Trang 16vì thế, có động lực mạnh để cắt giảm việc tiêu dùng thời gian nghỉ ngơi Tăng tiền lương sẽ giảmcầu nghỉ ngơi và tăng số giờ lao động
Có hai tác động được miêu tả trên hình 2-7a Như phần trên, ban đầu mức lương là 10ngàn mỗi giờ Người lao động tối đa hoá lợi ích của mình bằng cách lựa chọn giỏ hàng hóa tiêudùng tại điểm P ở đó anh ta sẽ dành 70 giờ cho nghỉ ngơi, và làm việc 40 giờ mỗi tuần Khi tiềnlương tăng lên 20 ngàn đồng giờ Đường ngân sách xoay đi và giỏ tiêu dùng mới được thể hiệnbởi điểm R Người lao động bây giờ sẽ tiêu dùng 75 giờ nghỉ ngơi và sẽ làm việc 35 giờ Nhưmiêu tả, cá nhân sẽ làm việc ít thời gian hơn ở mức lương cao
Sự gia tăng mức tiền lương tạo 2 tác động: tăng thu nhập lao động và kéo giá cả cho nghỉngơi tăng lên Để tách riêng tác động của thu nhập, hãy kẻ đường ngân sách song song với đườngngân sách cũ (độ dốc của đường này cũng là - ngàn 10), nhưng đường này tiếp tuyến với đườngđẳng ích mới tại Q Đường ngân sách (DD) cũng được mô tả trên hình 2-8 (a)
Chuyển động từ vị trí đầu tiên P tới vị trí cuối R có thể được phân tích thành hai giai đoạnchuyển động, chuyển động thừ nhất từ P tới Q và chuyển động thứ hai từ Q tới R Chuyển động
từ P tới Q là do tác động của thu nhập Cụ thể hơn, chuyển động từ P tới Q phát sinh từ thay đổi
65 70 80 110
E
Hình 2-8 Phân tích sự tác động của thay đổi tiền lương thành tác động thu nhập và thay thế
Tiêu dùng hàng hóa (1000đ)
P D
Hình 2-8 (b) tác động thay thế chi phối
Thời gian nghỉ ngơi
Trang 17thu nhập của lao động, khi thu nhập ngoài thị trường lao động cố định Sự tác động của thu nhậpđược tách biệt khỏi sự thay đổi trong giỏ tiêu dùng đã được sinh ra từ thu nhập tăng thêm từ tănglương Bởi vì cả hai thời gian nghỉ ngơi và tiêu dùng hàng hóa dịch vụ là hàng hoá thông thường,điểm Q phải nằm ở phía đông bắc từ điểm P (do vậy điểm đó mà người ta được tiêu dùng caohơn cả hai thời gian và hàng hoá) Tác động thu nhập vì thế tăng cầu với nghỉ ngơi (từ 70 lên 85giờ) và cắt giảm số giờ làm việc 15 giờ mỗi tuần
Giai đoạn hai của chuyển động từ Q tới R được gọi là sự tác động thay thế, nó miêu tả sựthay đổi của giỏ tiêu dùng tối ưu do tăng lương, khi lợi ích không đổi Bằng việc di chuyển dọctheo đường đẳng ích, thu nhập thực tế của người lao động không đổi Tác động thay thế tách tácđộng tăng lên mức giá của thời gian nghỉ ngơi với giờ làm việc khỏi ảnh hưởng của thu nhập, giữthu nhập thực thế cố định
Sự chuyển động từ Q tới R tạo ra cách thức thay thế từ thời gian nghỉ ngơi hướng tới tiêudùng hàng hoá khác Nói một cách khác, cũng giống như tiền lương tăng, người lao động dành ítthời gian chi tiêu cho nghỉ ngơi (từ 85 giờ còn 75 giờ) và tăng tiêu dùng hàng hoá của họ Dướitác động của sự thay thế, nên sự tăng lên của tiền lương giảm cầu đối với nghỉ ngơi và tăng sốgiờ làm việc bằng 10 giờ
Như biểu diễn trên hình 2-8a, việc giảm số giờ làm việc sinh ra bởi tác động thu nhập(15giờ) và nó vượt quá sự tăng thêm số giờ làm việc kết hợp với tác động thay thế (10 giờ) Tácđộng mạnh của thu nhập đưa tới tương quan âm giữa số giờ làm việc và tiền lương Trên hình 2-8b, tác động thu nhập (trở lại chuyển động từ P tới Q) giảm số giờ làm việc xuống 10 giờ, trongkhi tác động thay thế (chuyển động từ Q tới R) tăng số giờ làm việc 15 giờ Vì thế tác động thaythế chi phối tạo ra tương quan thuận giữa số giờ làm việc và tiền lương
Nguyên nhân đối với sự không rõ ràng trong mối tương quan giữa tiền lương và số giờlàm việc bây giờ được làm sáng tỏ Do tăng tiền lương, người ta có tập hợp cơ hội to lớn và tácđộng thu nhập tăng cầu đối với nghỉ ngơi và giảm cung lao động Do tăng lương, giá cả nghỉngơi trở thành đắt đỏ hơn và tác động thay thế tạo ra động lực với người lao động để chuyển từtiêu dùng thời gian để nghỉ ngơi sang hình thức tiêu dùng tích cực khác Sự thay đổi vị trí nàygiải phóng một số giờ nghỉ ngơi và vì vậy tăng số giờ làm việc
Từ đó có thể mô tả mối quan hệ giữa giữa mức lương và số giờ lao động như:
, nếu tác động của thu nhập chi phối
, nếu tác động thay thế chi phối
2.6 Đường cung lao động
Tập hợp các điểm phản ánh quan hệ giữa số giờ lao động và mức tiền lương được gọi là
đường cung lao động Một trong những đường cung lao động đã thể hiện bằng lý thuyết được
miêu tả qua hình 2-9 Chúng ta biết rằng số giờ làm việc sẽ là zero giờ đối với các mức tiềnlương dưới mức tiền lương tới hạn Người ta sẽ tham gia vào thị trường lao động một khi mứclương thị trường vượt qua mức tiền lương giới hạn, và số giờ làm việc sẽ tỷ lệ thuận với mức tiềnlương vượt quá mức lương tới hạn Tại mức tiền lương vượt quá không nhiều so với tiền lươnggiới hạn, đường cung lao động phải có độ dốc dương, vì vậy tác động thay thế chi phối tác độngcủa thu nhập Nếu ở điểm, tình huống trái nghịch lại và tác động của thu nhập bắt đầu chi phối,
số giờ làm việc giảm xuống do mức lương tăng lên, tạo ra khúc của đường cung lao động có độdốc âm Đường cung lao động mô tả trên hình 2-9 được gọi là đường cung lao động uốn cong vềphía sau
(2-24)
Trang 18Điều đó rất quan trọng để nhấn mạnh rằng sự không rõ ràng giữa số giờ lao động và mứclương nảy sinh chỉ giữa những cá nhân mà họ sẵn sàng phân phối một số thời gian cho thị trườnglao động Như đã biết, mức tiền lương cao tăng khả năng để mức tiền lương thị trường vượt quátiền lương tới hạn sẽ tạo ra cho mỗi cá nhân thích thú hơn tham gia vào thị trường lao động Sựtăng lên trong tiền lương rõ ràng tăng tỷ lệ người tham gia vào lực lượng lao động, nhưng số giờlàm việc đối với lao động cụ thể có thể tăng lên hay giảm xuống phụ thuộc vào tác động thay thếhay thu nhập chi phối.
Chúng ta có thể vận dụng khung lý thuyết thu được từ đường cung lao động cá nhân vàotrong nền kinh tế Cung lao động trên thị trường khi đó được tạo bằng việc cộng số giờ của tất cảnhững cá nhân trong kinh tế vui lòng làm việc ở mức lương đã cho Trong hình 2-10 thể hiện
“phép cộng” này đã được tạo ra trong kinh tế như thế nào với 2 lao động, A và B, A đã có mứctiền lương tới hạn , trong khi B có tiền lương tới hạn Điều đó rõ ràng rằng không có ai làm việcnếu mức lương thấp hơn và rằng chỉ có A làm việc hA giờ, nếu tiền lương nằm giữa và Tại mứclương cao hơn cung thị trường lao động là tổng số giờ được cung ứng bởi A và B hay hA + hB
Để đo lường sự phản ứng của giờ làm việc so đối với thay đổi trong mức tiền lương,chúng ta có thể sử dụng hệ số co dãn cung lao động như:
(2-25)
Hệ số co dãn cung lao động cho biết phần trăm thay đổi số giờ làm việc liên quan với một
% thay đổi trong mức lương Sự biểu hiện của hệ số co dãn này phụ thuộc vào hoặc đường cunglao động dốc lên ( ) hay dốc xuống (), và từ đó là thuận (dương) khi tác động thay thế chiếm ưuthế, và nghịch biến (âm) khi tác động thu nhập chiếm ưu thế
Hình 2-10 Miêu tả nguồn gốc của đường cung thị trường lao động từ đường cung laođộng cá nhân
0 20 30 40
Đường cung lao động
W*= 10 U W=13
.w=20
.w =25
0 70 80 90 110 Thời gian nghỉ ngơi
E Tiêu dung HH (1000đ)
(a) Tiêu dung giỏ hàng tối ưu (b) Mối quan hệ giữa số giờ làm việc tối ưu và
mức lương
Hình 2-9 Quyết định cung lao
động đối với một lao động.
Thời gian làm việc