1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Tài liệu ôn thi môn tín dụng ngân hàng

195 344 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 195
Dung lượng 1,03 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn vốn Tín dụng ngân hàng luôn là một nguồn tài chính quan trọng trong hoạt động kinh tế, đời sống của xã hội hiện đại. Tại Việt nam trong những năm qua hoạt động tín dụng đã ngày càng đa dạng, phong phú cả về lượng lẫn về chất. Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, hệ thống ngân hàng Việt nam đã cung cấp những dịch vụ trọn gói với sản phẩm cốt lõi là mộtvài loại hình cấp tín dụng, nhằm phục vụ cho những khách hàng có nhu cầu. Cuốn sách này được biên soạn trên cơ sở lý luận chung về tín dụng ngân hàng, từ đó đi vào các nghiệp vụ tín dụng cơ bản đang được thực hiện tại ngân hàng.Với mục tiêu là tài liệu nghiên cứu, học tập cho các sinh viên chuyên ngành Tài chính ngân hàng, Kế toán kiểm toán và những ai có nhu cầu tìm hiểu sâu các kỹ thuật cấp tín dụng tại ngân hàng, cuốn sách có bố cục 11 chương và được phân nhóm trong 3 phần lớn. Phần thứ nhất gồm chương 1 giới thiệu lại một cách tổng quát lý thuyết về các hình thức cấp tín dụng cơ bản do Thạc sĩ Bùi Diệu Anh đảm nhiệm. Phần thứ hai gồm 7 chương giới thiệu chi tiết các kỹ thuật cấp tín dụng đối với doanh nghiệp bao gồm cho vay, chiết khấu, bao thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính với những ví dụ thực tế sinh động, dễ hiểu do Tiến sĩ Hồ Diệu (1 chương) và Thạc sĩ Bùi Diệu Anh (6 chương) đảm nhiệm. Phần thứ ba gồm 3 chương giới thiệu các kỹ thuật cấp tín dụng đối với chủ thể ngoài doanh nghiệp. Trong đó phân biệt khách cá nhân tiêu dùng và kinh tế cá thểtiểu chủ do Tiến sĩ Lê Thị Hiệp Thương đảm nhiệm.Trong thực tiễn hình thức bảo lãnh và cho thuê tài chính cũng được áp dụng đối với khách hàng cá nhân, cá thể nhưng về kỹ thuật không có khác biệt lớn, chỉ khác ở phần thủ tục và tổ chức thực hiện nên nhóm tác giả đã không lặp lại ở phần này.Với kinh nghiệm tham gia đào tạo các chuyên gia ngành ngân hàng nhiều năm, nhóm tác giả mong muốn giới thiệu các nghiệp vụ tín dụng cơ bản để tạo tiền đề hình thành các kỹ năng tác nghiệp của một nhân viên ngân hàng. Vì thế cuốn sách không đi sâu bàn về những hoàn cảnh, điều kiện ứng dụng các kỹ thuật mà để người đọc tự tìm câu giải đáp cho mình trong điều kiện cụ thể của họ.Do quan điểm nhận thức cũng như thời gian chuẩn bị còn giới hạn, nên cuốn sách chắc chắn có những khiếm khuyết. Nhóm tác giả rất mong nhận được sự góp ý và phê bình của bạn đọc.Nhóm tác giả chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, người thân và nhà xuất bản đã nhiệt tình cung cấp các thông tin và hỗ trợ để viết nên cuốn sách này.

Trang 1

NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG

Các tác giả: Ths BÙI DIỆU ANH - TS HỒ DIỆU

TS LÊ THỊ HIỆP THƯƠNG

LỜI MỞ ĐẦUNguồn vốn Tín dụng ngân hàng luôn là một nguồn tài chính quan trọng trong hoạt động kinh tế, đời sống của xã hộihiện đại Tại Việt nam trong những năm qua hoạt động tín dụng đã ngày càng đa dạng, phong phú cả về lượng lẫn về chất.Bên cạnh những sản phẩm truyền thống, hệ thống ngân hàng Việt nam đã cung cấp những dịch vụ trọn gói với sản phẩm cốtlõi là một/vài loại hình cấp tín dụng, nhằm phục vụ cho những khách hàng có nhu cầu Cuốn sách này được biên soạn trên cơ

sở lý luận chung về tín dụng ngân hàng, từ đó đi vào các nghiệp vụ tín dụng cơ bản đang được thực hiện tại ngân hàng

Với mục tiêu là tài liệu nghiên cứu, học tập cho các sinh viên chuyên ngành Tài chính ngân hàng, Kế toán kiểm toán vànhững ai có nhu cầu tìm hiểu sâu các kỹ thuật cấp tín dụng tại ngân hàng, cuốn sách có bố cục 11 chương và được phânnhóm trong 3 phần lớn

- Phần thứ nhất gồm chương 1 giới thiệu lại một cách tổng quát lý thuyết về các hình thức cấp tín dụng cơ bản - doThạc sĩ Bùi Diệu Anh đảm nhiệm

- Phần thứ hai gồm 7 chương giới thiệu chi tiết các kỹ thuật cấp tín dụng đối với doanh nghiệp bao gồm cho vay, chiếtkhấu, bao thanh toán, bảo lãnh, cho thuê tài chính với những ví dụ thực tế sinh động, dễ hiểu - do Tiến sĩ Hồ Diệu (1 chương)

và Thạc sĩ Bùi Diệu Anh (6 chương) đảm nhiệm

- Phần thứ ba gồm 3 chương giới thiệu các kỹ thuật cấp tín dụng đối với chủ thể ngoài doanh nghiệp Trong đó phânbiệt khách cá nhân tiêu dùng và kinh tế cá thể/tiểu chủ - do Tiến sĩ Lê Thị Hiệp Thương đảm nhiệm

Trang 2

Trong thực tiễn hình thức bảo lãnh và cho thuê tài chính cũng được áp dụng đối với khách hàng cá nhân, cá thể nhưng

về kỹ thuật không có khác biệt lớn, chỉ khác ở phần thủ tục và tổ chức thực hiện nên nhóm tác giả đã không lặp lại ở phầnnày

Với kinh nghiệm tham gia đào tạo các chuyên gia ngành ngân hàng nhiều năm, nhóm tác giả mong muốn giới thiệu cácnghiệp vụ tín dụng cơ bản để tạo tiền đề hình thành các kỹ năng tác nghiệp của một nhân viên ngân hàng Vì thế cuốn sáchkhông đi sâu bàn về những hoàn cảnh, điều kiện ứng dụng các kỹ thuật mà để người đọc tự tìm câu giải đáp cho mình trongđiều kiện cụ thể của họ

Do quan điểm nhận thức cũng như thời gian chuẩn bị còn giới hạn, nên cuốn sách chắc chắn có những khiếm khuyết.Nhóm tác giả rất mong nhận được sự góp ý và phê bình của bạn đọc

Nhóm tác giả chân thành cảm ơn các đồng nghiệp, bạn bè, người thân và nhà xuất bản đã nhiệt tình cung cấp cácthông tin và hỗ trợ để viết nên cuốn sách này

Chương 1 LÝ THUYẾT VỀ TÍN DỤNG VÀ CÁC HÌNH THỨC CẤP TÍN DỤNG

Trang 3

Nội dung:

- Khái niệm - nội dung cơ bản của tín dụng ngân hàng

- Các hình thức cấp tín dụng

1.1 Khái niệm - nội dung cơ bản của tín dụng ngân hàng

Tín dụng là một quan hệ ra đời gắn liền với sản xuất và lưu thông hàng hóa trong nền kinh tế Tín dụng bắt nguồn từchữ Credit - Creditum - hay được hiểu đơn giản là một "quan hệ sử dụng sự tín nhiệm" Có thể xem xét khái niệm tín dụngdưới nhiều góc độ và trong những bối cảnh khác nhau, chẳng hạn: trên thị trường tài chính, theo nguồn gốc lịch sử Trongphạm vi tài liệu này chúng ta chỉ tập trung vào quan hệ tín dụng ngân hàng, trong đó tín dụng được nhìn nhận là một chứcnăng cơ bản của hệ thống ngân hàng thương mại

Khái niệm tín dụng ngân hàng như sau:

Tín dụng ngân hàng là một giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó bên cấp tín dụng (ngân hàng/ tổ chức tín dụng khác)chuyển giao một tài sản cho bên nhận tín dụng (doanh nghiệp, cá nhân hoặc các chủ thể khác) sử dụng theo nguyên tắc cóhoàn trả cả gốc và lãi

Từ khái niệm trên, để hiểu rõ hơn về tín dụng ngân hàng, ta đi sâu vào các nội dung sau đây:

* Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng đa dạng, có thể dưới dạng tiền tệ, tài sản thực hoặc chữ ký

Nếu xem xét về khía cạnh hình thái giá trị tín dụng, có thể nhận thấy trong các loại hình tín dụng khác, tài sản giao dịchthường là tiền tệ (trong quan hệ tín dụng giữa nhà nước và nhân dân), hoặc dưới dạng hàng hoá (trong tín dụng thươngmại) Tuy nhiên với ngân hàng thì khác, tín dụng ngân hàng có thể thông qua hình thái tiền tệ, tài sản thực hoặc bằng chữ ký

Do hệ thống ngân hàng không chỉ có chức năng trung gian tín dụng mà còn có chức năng trung gian thanh toán cho nền kinh

tế, nên giá trị tiền tệ mà tín dụng ngân hàng thực hiện chủ yếu dưới dạng bút tệ (tiền ghi sổ trên tài khoản) mà không nhấtthiết là tiền mặt Hành vi giải ngân tiền vay của ngân hàng có thể được thực hiện bằng cách chuyển khoản vào tài khoản củachính khách hàng vay hoặc đối tác của họ Đây là điểm khác biệt với việc cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng phi ngânhàng, theo đó tín dụng mà các tổ chức này chuyên giao cho khách hàng luôn dưới dạng tiền mặt

Cấp tín dụng bằng tài sản thực là một trong những loại hình tín dụng đang có xu hướng phổ biến trong nền kinh tế Cácdoanh nghiệp bán lẻ có thể cấp tín dụng bằng tài sản thực cho người tiêu dùng thông qua việc bán hàng trả góp (tài sản trả

Trang 4

góp có thể là căn hộ chung cư, xe cộ, đồ dùng gia đình ) Đối với các tổ chức tín dụng, cấp tín dụng bằng tài sản thực là việc

tổ chức tín dụng cho khách hàng thuê tài sản thông qua giao dịch cho thuê tài chính (Financial Lease) Hiện nay theo quyđịnh trong Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam, cho thuê tài chính là sản phẩm riêng có của các công ty cho thuê tài chính(một loại hình tổ chức tín dụng phi ngân hàng), ngân hàng không trực tiếp cung cấp loại hình sản phẩm này

Cùng với sự lớn mạnh về quy mô hoạt động, uy tín của các ngân hàng trong nền kinh tế cũng gia tăng, từ đó xuất hiệnmột loại hình tín dụng ngân hàng độc đáo với tên gọi là tín dụng chữ ký (Signature Credit) Thực chất của loại hình tín dụngnày là những cam kết thanh toán có điều kiện mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng của mình Trong các giao dịch đó,ngân hàng không chuyển giao tiền hoặc tài sản thực cho khách hàng, nhưng sự cam kết bảo đảm của ngân hàng có thể giúpcho các khách hàng những thuận lợi trong giao dịch với đối tác của họ Tín dụng chữ ký của ngân hàng có thể thực hiện dướicác hình thức cụ thể như bảo lãnh ngân hàng, tín dụng chứng từ với công cụ thư tín dụng, hối phiếu chấp nhận của ngânhàng

* Rủi ro trong tín dụng ngân hàng có tính tất yếu, không thể loại trừ hoàn toàn

Không chỉ tín dụng ngân hàng, tất cả các giao dịch tín dụng nói chung đều dựa trên cơ sở của lòng tin (credit) Rủi rotín dụng sẽ xảy ra khi một trong hai yếu tố: khả năng trả nợ và / hoặc thiện chí trả nợ không được hình thành đầy đủ Tronghai yếu tố đó thiện chí trả nợ là một yếu tố vô hình (không thể cân đong đo đếm được chúng!) do vậy rủi ro tín dụng là yếu tốxuất phát từ bản chất của quan hệ tín dụng, ngân hàng không thể triệt tiêu, loại bỏ hoàn toàn được rủi ro tín dụng Mặt kháctrong quá trình khách hàng sử dụng tín dụng, có rất nhiều biến cố khách quan ngoài tầm kiểm soát của cả ngân hàng lẫnkhách hàng, làm cho khả năng trả nợ thay đổi, vì vậy độ rủi ro tiềm ẩn trong quan hệ tín dụng là khá cao, các ngân hàng chỉ

có thể kiểm soát, giảm thiểu, hạn chế nó mà thôi Ở đây cũng cần phải nhấn mạnh thêm là các ngân hàng là những tổ chứckinh doanh chênh lệch lãi suất, nguồn vốn mà ngân hàng sử dụng để cấp tín dụng chủ yếu hình thành từ các khoản tiền huyđộng, vay mượn trong nền kinh tế và trong xã hội, vì vậy hơn bất kỳ một chủ thể cấp tín dụng nào, bảo đảm sự an toàn củađồng vốn tín dụng là yểu tố sống còn trong hoạt động tín dụng ngân hàng Chính vì ý thức được điều đó nên các ngân hànghết sức thận trọng trong quá trình cung cấp tín dụng Một loạt những biện pháp bảo đảm an toàn được các ngân hàng thiếtlập và thực hiện trong hoạt động tín dụng như: xây dựng chính sách tín dụng nhằm định hướng cho công tác quản trị rủi ro tíndụng, thiết lập quy trình cấp tín dụng, gồm nhiều bước, nhiều giai đoạn nhằm kiểm soát chặt chẽ quá trình cấp tín dụng, ápdụng các biện pháp bảo đảm thu hồi nợ thông qua thế chấp cầm cố tài sản, bảo lãnh của bên thứ ba, xây dựng chính sách lãi

Trang 5

suất thích hợp đảm bảo bù đắp rủi ro, quy định vốn đối ứng từ phía khách hàng, quy định các điều khoản ràng buộc chặt chẽtrong hợp đồng tín dụng, các biện pháp này sẽ được xem xét lần lượt trong các nội dung của môn học này.

* Sự hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi là bản chất của tín dụng nói chung và tín dụng ngân hàng nói riêng

Sự khác biệt giữa tín dụng và những giao dịch khác chính là ở sự hoàn trả Tuy nhiên trong tín dụng ngân hàng thì sựhoàn trả cực kỳ quan trọng (do bản chất hoạt động ngân hàng là kinh doanh chênh lệch lãi suất như đã phân tích ở trên) Đểđảm bảo hoàn trả đầy đủ cả gốc và lãi, trong nghiệp vụ tín dụng phải cân nhắc 2 yếu tố căn bản sau đây:

Thứ nhất là xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng phải hợp lý

Thời hạn tín dụng được xác định căn cứ vào các yếu tố sau:

- Thời gian luân chuyển của đối tượng cấp tín dụng là cơ sở khách quan cho việc xác định thời hạn tín dụng Đối tượngcấp tín dụng có thể là các thành phần của tài sản lưu động (chẳng hạn trong các hình thức tài trợ cho tồn kho, nợ phải thu )hoặc là tài sản cố định (trong các hình thức cho vay mua sắm tài sản cố định, xây dựng cơ sở vật chất ) Nếu đối tượng cấptín dụng là tài sản lưu động thì chu kỳ chuyển hóa tài sản từ Tiền - vật tư, nguyên liệu – sản phẩm dở dang, bán thành phẩm

— thành phẩm, hàng hoá — Tiền chính là khoảng thời gian tối đa để cấp tín dụng Còn trong các loại hình tín dụng có đốitượng là tài sản cố định, thì thời gian khấu hao tài sản / thời gian của một vòng quay tài sản cố định là cơ sở để ngân hàngcăn cứ vào đó tính toán thời hạn vay và trả nợ Đó là lý do vì sao thời hạn cấp tín dụng cho tài sản cố định là trung, dài hạn

và kỳ hạn thu nợ luôn được chia ra nhiều phân kỳ Mỗi khi giá trị tài sản cố định dịch chuyển vào giá thành sản phẩm dướidạng trích khấu hao là lúc ngân hàng có thể thu hồi một phần nợ, cho đến khi kết thúc toàn bộ khoản tín dụng

- Khả năng tài chính / thu nhập của khách hàng cũng là một yếu tố chi phối việc xác định thời hạn và kỳ hạn tín dụng.Ngoài nguồn thu nhập có liên quan đến đối tượng vay vốn mặc nhiên dùng trả nợ, trong nhiều trường hợp ngân hàng còndựa vào khả năng tài chính, nguồn thu nhập từ các hoạt động khác của người vay để xác định thời hạn và kỳ hạn cấp tíndụng Điều này sẽ giúp khách hàng rút ngắn thời hạn chịu lãi tín dụng và về phía ngân hàng mức độ rủi ro sẽ được giảm thiểuhơn Ta có thể thấy rõ điều này trong trường hợp cho vay mua nhà đối với cá nhân, theo đó, khả năng trả nợ chủ yếu hìnhthành từ tiền lương, phụ cấp có tính chất như lương của người vay Ngoài ra, các nguồn thu nhập khác như tiền làm thêm,tiền cho thuê tài sản, tiền lãi của người vay cũng được xem như là nguồn trả nợ bổ sung Ngân hàng sẽ dựa vào đây để xácđịnh thời hạn cho vay và định kỳ hạn thu nợ

Trang 6

Trong nghiệp vụ tín dụng, bên cạnh thời hạn cấp tín dụng, các nhân hàng còn phải quan tâm đến các kỳ hạn trả gốc vàlãi Điều này thể hiện trong phương pháp hoàn trả mà ngân hàng áp dụng Hiện tại, có các phương pháp hoàn trả nợ sauđây:

- Trả góp, tức là khoản nợ sẽ được hoàn trả thành nhiều kỳ hạn, mỗi kỳ hạn một phần nợ (gồm gốc và lãi) sẽ được trả,cho đến khi thời hạn vay chấm dứt, toàn bộ nợ sẽ được trả hết Thông thường trà góp xuất hiện trong phương thức cho vaytừng lần, cho vay trung dài hạn và cho vay tiêu dùng cá nhân Nội dung chi tiết sẽ được đề cập ở các chương nghiệp vụ kếtiếp

- Phi trả góp, tức là khoản nợ gốc sẽ được hoàn trả một lần, chia nhỏ như trong trả góp Còn lãi có thể được trả theonhiều định kỳ hoặc là trả một lần khi kết thúc thời hạn vay Phương pháp trả này thường áp dụng trong cho vay từng lần, chovay tiêu dùng cá nhân

- Trả tuần hoàn nhiều lần, không có kỳ hạn trả xác định Đây là phương pháp trả thường sử dụng trong kỹ thuật chovay theo hạn mức và thấu chi, theo đó tiền vay trả được sử dụng tuần hoàn theo diễn biến chi thu của khách hàng Chi tiết vềphương pháp này sẽ được nghiên cứu trong chương cho vay theo hạn mức tín dụng

Trong thực tế nếu ngân hàng áp dụng phương pháp trả không thích hợp thì việc khách hàng phá vỡ kế hoạch trả nợ rất

dễ xảy ra Chẳng hạn khi ngân hàng cho khách hàng vay để thực hiện một phương án chăn nuôi heo thịt, chu kỳ chăn nuôikhoảng từ 4 - 6 tháng, ngân hàng xác định thời hạn vay tối đa 6 tháng, nhưng kỳ hạn thu nợ được xác định làm 4 lần, mỗimột kỳ trả một phần gốc và lãi Do khách hàng chỉ có một hoạt động chăn nuôi heo là duy nhất nên nguồn trả nợ vay là tiềnbán heo, nguồn tiền này chỉ có được khi kết thúc chu kỳ chăn nuôi, heo đủ cân nặng xuất chuồng tiêu thụ và thu được tiềnbán heo về Với cách định kỳ hạn nợ chia nhỏ như trên, khách hàng sẽ không thể trả đúng hạn, đẫn đến chậm trả (ngoại trừtrường hợp khách hàng có một nguồn thu nhập khác ngoài chăn nuôi heo dùng để trả nợ)

Thứ hai là chính sách lãi suất tín dụng cần phải đảm bảo một cách hài hòa giữa mục tiêu lợi nhuận của ngân hàng vàđược nền kinh tế chấp nhận

Về nguyên tắc, lãi suất tín dụng phải bù đắp được các chi phí ngân hàng bỏ ra cho việc huy động nguồn tiền cho vay,các chi phí thực hiện khoản tín dụng, rủi ro tín dụng và tạo lợi nhuận cho ngân hàng Tuy nhiên, tín dụng không chỉ nhằmtạo ra lợi nhuận cho bản thân ngân hàng, mà quan trọng hơn, tín dụng còn là đòn bẩy phát triển kinh tế, do vậy lãi suất tíndụng phải thấp hơn tỷ suất lợi nhuận bình quân của nền kinh tế Nếu các yếu tố trên không được thỏa mãn, hệ thống ngân

Trang 7

hàng và / hoặc các khách hàng của họ sẽ gặp khó khăn, từ đó ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung Có thể thấy rõ điều nàytrong khoảng thời gian của năm 2008, khi lãi suất tiền vay của các ngân hàng Việt Nam ở mức cao, có thời điểm lên tới19.5%/ năm (do bị chi phối bởi lãi suất thực dương trong huy động vốn vào thời điềm lạm phát mạnh), mức lãi suất đó khiếncho các doanh nghiệp trong nhiều ngành kinh tế (có tỷ suất lợi nhuận ngành thấp) không thể vay vốn ngân hàng để hoạt độngđược Trong bối cảnh đó, chính sách ưu đãi lãi suất của Chính phủ là một trong các giải pháp tình thế nhằm dung hòa lợi íchchung cho cả ngân hàng và các doanh nghiệp trong nền kinh tế.

Cũng cần lưu ý rằng, lãi suất tiền vay chỉ là một phần trong giá cả của khoản tín dụng mà khách hàng phải trả cho ngânhàng, bên cạnh đó ngân hàng có thể áp dụng các yếu tố phi lãi chẳng hạn như phí cam kất (Commitment Fee), số dư tiền gửi

bù trừ (Compensating Balances) Các yếu tố phi lãi này cùng với cách thức tính lãi của ngân hàng (tính lãi trả trước, lãi trảsau, lãi gộp ) có thể làm cho lãi suất thực sự (lãi suất hiệu dụng- Effective Interest) mà người vay phải trả cao hơn tỷ lệ lãisuất công bố trong hợp đồng tín dụng Một số cách tính lãi suất hiệu dụng sẽ được trình bày trong các chương nghiệp vụ tiếptheo

* Sự hoàn trả trong tín dụng ngân hàng là vô điều kiện

Các chứng từ được hình thành trong quan hệ tín dụng ngân hàng như hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ, khế ước nợ đều thể hiện trên đó nội dung cam kết hoàn trả vô điều kiện cho ngân hàng khi khoản nợ đến hạn Đây chính là những ràngbuộc pháp lý mà khách hàng hải tuân thủ trong quá trình sử dụng tín dụng của ngân hàng

1.2 Các hình thức cấp tín dụng

Để cho người đọc có thể hình dung một cách khái quát về các sản phẩm tín dụng mà ngân hàng thương mại cung cấpcho các khách hàng của mình, phần này đi vào giới thiệu những đặc trưng cơ bản của các hình thức cấp tín dụng đang đượcquy định trong Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam, bao gồm: cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng và cho thuê tài chính

1.2.1 Cho vay (Advance)

Khi nói đến hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, người ta thường nghĩ tới cho vay và đôi khi đồng nhấtthuật ngữ "cho vay" với thuật ngữ "tín dụng" Thực ra khái niệm cho vay hẹp hơn tín dụng Như đã đề cập ở trên, tín dụng cóthể được thực hiện thông qua nhiều hình thức mà cho vay chỉ là một trong các hình thức cấp tín dụng mà thôi Theo quy địnhtrong Luật Các tổ chức tín dụng thì khái niệm cho vay được hiểu là:

Trang 8

Cho vay là một hình thúc cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng một số tiền để sử dụng vào mộtmục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận, với nguyên tắc có hoàn trả cả vốn gốc và lãi.

Từ khái niệm trên có thể nhận thấy một số đặc trưng cơ bản của cho vay như sau:

* Cho vay có hình thái tín dụng là tiền tệ.

Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng khác như bảo lãnh hoặc cho thuê tài chính Cho vay với hình tháitiền tệ được xem như một hình thức cấp tín dụng cổ điển của ngân hàng thương mại bởi vì nó xuất hiện từ rất sớm (ngay sau

sự xuất hiện của chiết khấu) Với hình thái là tiền tệ, cho vay nhiều lợi thế hơn so với các hình thức tín dụng khác bởi vì nó cóthể thỏa mãn mọi nhu cầu đa dạng của nhiều tầng lớp khác nhau trong nền kinh tế, trong xã hội Cho đến nay, mặc dù ngânhàng đã trải qua nhiều thời kỳ phát triển với sự xuất hiện của nhiều hình thức tín dụng khác nhau, cho vay vẫn chiếm một tỷ

lệ khá cao trong các loại hình tín dụng của ngân hàng

* Bản chất của hành vi cho vay là ứng trước - Advance nên độ rủi ro cao

Trong cho vay, ngân hàng chuyển tiền cho khách hàng dựa trên một dự định, một ý tưởng kinh doanh khách hàng sắpthực hiện, hay nói khác đi là tiền được đưa ra khi người vay chưa / hoặc mới bắt đầu thực hiện ý định của mình Việc cấp tíndụng được thực hiện sau khi ngân hàng xem xét, phân tích về tính khả thi, hiệu quả của ý tưởng, mục đích sử dụng tiền củakhách hàng Tuy nhiên trong thực tế từ ý tưởng cho đến hiện thực là một khoảng cách gian nan, không dễ gì rút ngắn Có thểxuất hiện rất nhiều biến cố tác động làm cho ý tưởng, dự định đó không thành công và nguồn trả nợ không hình thành Vì vậy,

độ rủi ro của cho vay là cao hơn so với các hình thức tín dụng khác Cứ thử hình dung trong trường hợp ngân hàng chokhách hàng vay để kinh doanh, tiền vay sẽ được khách hàng sứ dụng để mua vật tư, nguyên liệu, thanh toán các chi phí sảnxuất khi sản phẩm xuất bán và thu được tiền về khách hàng sẽ hoàn trả nợ Trong quá trình kinh doanh nói trên, có rấtnhiều rủi ro xảy ra từ khi khách hàng nhận tiền cho đến khi thực sự thu được hết nợ Chẳng hạn: khách hàng không muađược vật tư do những biến động của thị trường nguyên liệu, khách hàng không sản xuất được do các điều kiện sản xuất thayđổi, khách hàng không bán được sản phẩm do người mua phá vỡ hợp đồng tiêu thụ, người mua nhận sản phẩm nhưngchậm/ không trả tiền thậm chí kể cả việc khách hàng thay đổi mục đích sử dụng tiền ban đầu dẫn đến thất thoát tiền vay Tất cả những biến cố đó có thể làm cho một khoản vay không được hoàn trả như thỏa thuận ban đầu Điều tương tự cũng cóthể xảy ra cho một khoản vay tiêu dùng khi người vay bị bệnh tật, tử vong, thất nghiệp, nguồn thu nhập giảm sút, ý muốn trả

nợ thay đổi và cuối cùng là khoản vay một đi không trở lại Ngược lại trong chiết khấu thương phiếu khách hàng đã sản

Trang 9

xuất xong hàng hóa, đã chuyển giao cho người mua và chỉ còn chờ thu tiền về, tiền của ngân hàng đưa ra trong giai đoạnnày sẽ có độ rủi ro thấp hơn.

Rủi ro của một khoản cho vay còn có nguyên nhân xuất phát từ hình thái giá trị tiền tệ của nó Với chức năng làphương tiện thanh toán, tiền tệ có thể thỏa mãn mọi mục đích khác nhau cho mọi chủ thể trong nền kinh tế và trong xã hội.Chính do sự linh hoạt của mục đích sử dụng tiền nên thực sự rất khó kiểm soát khi tiền đã được chuyển vào tay khách hàng

và đây có thể là một trong những lý do dẫn đến thất thoát tiền, không trả nợ được cho ngân hàng Điều này hoàn toàn khôngtrong trong cho thuê tài chính Bởi vì trong hình thức cấp tín dụng bằng tài sản thực này, việc khách hàng sử dụng tiền vay saimục đích được giảm thiểu đến mức thấp nhất, do tài sản đã được tổ chức tín dụng mua về theo sự lựa chọn của khách hàng

và giao cho khách hàng quyền sử dụng

Chính vì cho vay có độ rủi ro cao nên các ngân hàng thường áp dụng rất nhiều biện pháp đa dạng để tăng thêm độ antoàn cho ngân hàng khi cho vay, chẳng hạn quy định về mức vốn đối ứng của phương án vay, quy định về bảo đảm chokhoản vay, quy định quy trình giải ngân, giám sát khoản vay Các quy định này không nhất thiết phải có trong các hình thứccấp tín dụng khác

* Đối tượng cho vay phong phú.

Đây là điểm khác biệt với các hình thức cấp tín dụng còn lại Đối tượng cho vay trả lời cho câu hỏi: ngân hàng cho vaycái gì? Sự phong phú đổi tượng cho vay xuất phát từ sự đa dạng về mục đích vay của khách hàng: có thể là vay để đầu tưxây dựng cơ bản, vay mua sắm máy móc thiết bị, vay kinh doanh, vay tiêu dùng, vay để hình thành nguồn vốn cho vay củacác định chế tài chính khác Những mục đích vay phong phú có thể dẫn đến những nhu cầu vay hết sức đa dạng về thờihạn, về quy mô nên phạm vi đối tượng cho vay của ngân hàng rất rộng lớn Chẳng hạn đối với một khoản vay kinh doanh,đối tượng cho vay có thể bao gồm nhu cầu phát sinh trong các giai đoạn của một chu kỳ hoạt động: giai đoạn mua vào là nhucầu thanh toán tiền vật tư hàng hóa, thuế nhập khẩu và các chi phí vận chuyến đi kèm, giai đoạn sản xuất có các chi phí tiềncông, tiền lương, chi phí sản xuất bằng tiền, giai đoạn tiêu thụ là các chi phí bao bì đóng gói, chi phí bán hàng, chí phí tiêu thụbàng tiền khác, giai đoạn thu tiền là giá trị các khoản nợ phải thu chưa đến hạn thanh toán Trong khi đó một khoản vay vớimục đích xây dụng cơ bản thì đối tượng cho vay có thể là các chi phí thanh toán vật liệu xây dựng, tiền công phát sinh trongquá trình xây dựng công trình trung, dài hạn Với mục đích vay tiêu dùng, đối tượng cho vay có thể là các chi phí thanh toántiền mua tài sản giá trị lớn như nhà, đất, xe cộ, các vật dụng gia đình, thanh toán chi phí sinh hoạt như: tiền ăn ở, đi lại, họctập, chữa bệnh

Trang 10

Trái ngược với sự đa dạng trong đối tượng cho vay, đối tượng cấp tín dụng trong chiết khấu, bảo lãnh và cho thuê tàichính đều khá hạn hẹp và thường chỉ giới hạn trong một số phạm vi nhất định (mặc dù đối tượng khách hàng trong các hìnhthức cấp tín dụng này không kém phần phong phú) Chẳng hạn trong cho thuê tài chính, đối tượng cấp tín dụng chỉ xoayquanh các nhu cầu về tài sản cố định như máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ với thời gian trung dài hạn Trong hìnhthức bảo lãnh ngân hàng, đối tượng cấp tín dụng là nhu cầu tăng cường uy tín của khách hàng trong quan hệ với đối tác của

họ, nhằm bảo đảm cho quan hệ giữa khách hàng và đối tác được thực hiện một cách suôn xẻ Trong chiết khấu đối tượngcấp tín dụng là giá trị các khoản nợ phải thu chưa đến hạn

* Kỹ thuật thực hiện cho vay đa dạng.

Có thể nói trong cho vay ngân hàng có rất nhiều cách thức để chuyển giao tiền cho khách hàng Điều này được quyđịnh trong các phương thức cho vay của ngân hàng Theo đó mỗi phương thức cho vay là một tập hợp các kỹ thuật tácnghiệp cụ thể của ngân hàng khi thực hiện khoản vay, bao gồm kỹ thuật xác định mức cho vay, thời hạn vay, định kỳ hạn nợ,giải ngân thu nợ và xử lý nợ Việc vận dụng phương thức cho vay nào là tuỳ thuộc vào quá trình tìm hiểu của ngân hàng vềđặc điểm hoạt động, khả năng tài chính, về rủi ro đặc trưng của người vay để từ đó chọn và áp dụng phương thức cho vaythích hợp, đảm bảo thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và hiệu quả của vốn tín dụng Theo quy định hiện nay (quychế cho vay ban hành kèm quyết định số 1627/2001/QĐ –NHNN ngày 31/12/2001 và các văn bản sửa đổi bổ sung của ngânhàng Nhà nước) có 8 phương thức cho vay Cụ thể như sau:

- Cho vay từng lần

- Cho vay theo hạn mức tín dụng

- Cho vay theo dự án đầu tư

- Cho vay trả góp

- Cho vay thông qua phát hành và sử dụng thẻ tín dụng

- Cho vay hợp vốn

- Cho vay theo hạn mức tín dụng dự phòng

- Cho vay theo hạn mức thấu chi

Trang 11

Chi tiết của các phương thức cho vay này sẽ lần lượt được nghiên cứu trong các chương kế tiếp.

1.2.2 Chiết khấu (Discount)

So với cho vay, chiết khấu là hình thức cấp tín dụng lâu đời hơn của ngân hàng Các ngân hàng thương mại đã thựchiện chiết khấu các giấy nợ cho khách hàng từ rất sớm, ngay khi thương phiếu (kỳ phiếu thương mại) xuất hiện ở châu Âuvào thế kỷ thứ 16 Trong thời điểm này, các hãng buôn ở Luân Đôn thường mua hàng và chuyển đi Đông Ấn (Ấn Độ), hànghóa hầu hết là mua chịu và phát hành kỳ phiếu xác nhận nợ Một chu kỳ chuyển hàng di phải 3 tháng sau mới thu được tiền

về, nên các kỳ phiếu thường có thời hạn 3 tháng Chiết khấu kỳ phiếu thương mại chính là cách thức phổ biến mà các ngânhàng thương mại ở đây tài trợ cho giao dịch này Từ đó cho đến nay chiết khấu vẫn được sử dụng rất nhiều trên thế giới vàđược xem như một công cụ hỗ trợ cho quan hệ tín dụng thương mại phát triển Sau này, do sự phát triển của nhiều loại giấy

tờ có giá khác như trái phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi nên nghiệp vụ chiết khấu được mở rộng, không chỉ có chiết khấuthương phiếu Theo quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam thì khái niệm chiết khấu như sau

Chiết khấu là hình thức cấp tín dụng qua đó tổ chức tín dụng mua lại các giấy tờ có giá chưa đến hạn thanh toán từkhách hàng

Nếu so sánh với cho vay thì chiết khấu cũng có hình thái tín dụng là tiền tệ, tuy nhiên kỹ thuật thực hiện có nhiều điểmkhác biệt Như đã đề cập ở trên, trong cho vay, cơ sở để ngân hàng cấp tín dụng chỉ là một ý tưởng, phương án/ dự án sắpthực hiện, khả năng thành công chưa rõ ràng, nhưng trong chiết khấu, khách hàng đang sở hữu một khoản nợ phải thu (tráiquyền - Claim) chưa đến hạn và vì nhu cầu cần tiền ngay nên khách hàng nhượng khoản phải thu đó cho ngân hàng để thutiền về trước hạn Việc cấp tín dụng dựa trên một khoản nợ phải thu đã hình thành, rõ ràng độ rủi ro thấp hơn so với mộtkhoản ứng trước, nhất là khi khoản phải thu đó hình thành trên cơ sở hàng hoá bán chịu (trong chiết khấu thương phiếu)

Căn cứ vào nguồn gốc của khoản nợ phải thu có thể phân biệt chiết khấu thành hai loại chủ yếu là: chiết khấu thươngphiếu và chiết khấu giấy tờ có giá khác Đối tượng cấp tín dụng trong hai loại này có sự khác biệt Trong chiết khấu thươngphiếu đối tượng cấp tín dụng là khoản nợ phải thu hình thành trong thương mại, thể hiện trong thương phiếu, bộ chứng từhàng hoá Còn trong chiết khấu giấy tờ có giá khác, đối tượng chiết khấu là các khoản nợ phải thu phi thương mại, thể hiệntrên các loại giấy nợ như trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu ngân hàng thường hình thành trong quan hệ vay mượn đadạng giữa tổ chức tín dụng, các pháp nhân kinh tế, Chính phủ với dân chúng

Hình 1.1: Sơ đồ chiết khấu chương phiếu

Trang 12

Quy trình chiết khấu thương phiếu được thực hiện như sau:

1) Giao dịch hàng hóa/ dịch vụ phát sinh thương phiếu

2) Người bán mang thương phiếu đến ngân hàng chiết khấu

3) Ngân hàng tính toán và chuyển tiền cho người bán

4) Ngân hàng thu hồi giá trị thương phiếu khi đến hạn

Chiết khấu được xem như một hình thức cấp tín dụng gián tiếp, thực chất chiết khấu là việc ngân hàng tái tài trợ chomột quan hệ tín dụng đã hình thành trước đó, mà trong quan hệ tín dụng này, người đề nghị chiết khấu là chủ nợ, đã tài trợvốn thông qua việc bán hàng hoá (nếu giấy nợ là thương phiếu) hoặc cho vay tiền, gửi tiền (nếu giấy nợ là các loại giấy tờ cógiá khác) Như vậy, trong chiết khấu, ngân hàng chuyển tiền/ giải ngân cho một người (người chiết khấu) và thu nợ từ mộtngười khác (người phải thanh toán khi đáo hạn) Theo quy định của pháp luật về chuyển nhượng các quyền đòi nợ thì ngườichuyển nhượng khoản nợ phải thu (ở đây là người chiết khấu) phải có trách nhiệm trong việc thanh toán nếu khoản nợ khôngđược trả khi đáo hạn Chính quy định pháp lý này làm giảm rủi ro cho ngân hàng trong chiết khấu Bởi lẽ ngân hàng có thểtruy đòi theo quy định của luật pháp nếu người mắc nợ không trả được, nói rõ hơn, chiết khấu là hình thức mua bán nợ cótruy đòi và đây là lý do để đảm bảo khả năng thanh toán cho khoán nợ trong chiết khấu

1.2.3 Bảo lãnh ngân hàng (Bank Guarantee)

Hoạt động bảo lãnh ngân hàng xuất hiện từ những năm 60 thế kỷ 20 trong thị trường nội địa nước Mỹ Sau đó vào đầunhững năm 70, bảo lãnh được phổ biến trong thương mại quốc tế, trong mối quan hệ giữa các nước phương Tây và cácnước sản xuất dầu mỏ Trung Đông Tại Việt Nam, bảo lãnh ngân hàng xuất hiện trong thời kỳ đầu những năm 90, chủ yếugiới hạn trong loại hình bảo lãnh vay nợ Cho tới khi quyết định số 196/QĐ-NHNN ngày 16/9/1994 của ngân hàng Nhà nướcđược ban hành, các hình thức bảo lãnh ngân hàng mới được đưa ra khá đa dạng Sự phát triển của nền kinh tế cùng với cáchoạt động xuất nhập khẩu, các giao dịch hợp đồng trong và ngoài nước đã tạo môi trường thuận lợi cho quá trình mở rộngbảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam Sau khi Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực, ngân hàng Nhà nước ban hành quyết định283/2000/QĐ-NHNN ngày 25/8/2000 kèm theo quy chế bảo lãnh ngân hàng Đến năm 2006 hành lang pháp lý cho bảo lãnhngân hàng một lần nữa thay đổi với sự ra đời của quyết định 26/2006/QĐ-NHNN, ngày 26/06/2006, thay thế cho quyết định

283 sau gần 6 năm thực hiện

Trang 13

Như đã đề cập ở trên, bảo lãnh là một trong các loại hình tín dụng chữ ký của ngân hàng Theo quy định trong luật,khái niệm bảo lãnh ngân hàng như sau:

Bảo lãnh ngân hàng là một hình thức cấp tín dụng được thực hiện thông qua sự cam kết bằng văn bản của ngân hàng/

tổ chức tín dụng (bên bảo lãnh) với bên có quyền (bên nhận bảo lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho kháchhàng (bên được bảo lãnh) khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với bên nhận bảolãnh Bên nhận bảo lãnh phải nhận nợ và hoàn trả cho ngân hàng/ tổ chức tín dụng số tiền đã trả thay

Sự khác biệt căn bản giữa bảo lãnh và các hình thức tín dụng khác của ngân hàng là ở hình thái giá trị tín dụng Trongbảo lãnh, các ngân hàng không cấp tiền cho khách hàng, mà chỉ chuyển giao (thông qua văn bản) một lời cam kết bảo đảmcho đối tác của khách hàng (bên được bảo lãnh) hưởng thụ Vì không thực hiện dưới dạng tiền tệ, nên khi phát hành lời camkết này, các ngân hàng coi đó là hoạt động ngoại bảng (tài sản có rủi ro ngoại bảng) Tuy nhiên những cam kết này đều tiềm

ẩn trong đó một mức độ rủi ro nhất định Đó là khi khách hàng vi phạm nghĩa vụ của họ thì ngân hàng bảo lãnh sẽ phải thựchiện thay, lúc này ngân hàng bảo lãnh bắt buộc phải xuất quỹ của mình và khoản trả thay này trở thành một khoản cho vaythực sự Chính vì lẽ đó nên việc phát hành bảo lãnh ngân hàng cũng đưọc giới hạn chặt chẽ, tương tự như khi cho vay Quyđịnh hiện tại trong quyết định số 26 là số dư bảo lãnh của ngân hàng không vượt quá 15% vốn tự có của ngân hàng bảo lãnh

Đối với các khách hàng được bảo lãnh, sự cam kết của ngân hàng tạo ra những thuận lợi cho họ về mặt ngân quỹkhông khác gì cho vay Chẳng hạn ngân hàng không cho khách hàng vay để thanh toán tiền hàng, nhưng sự cam kết bảolãnh của ngân hàng với người bán có thể giúp cho người mua (bên được bảo lãnh) kéo dài thời gian trả chậm tiền hàng, điềunày cũng có giá trị như cho khách hàng vay để thanh toán (trong bảo lãnh thanh toán) Cũng tương tự như vậy với bảo lãnhtiền đóng thuế khi thông qua sự cam kết của ngân hàng, khách hàng sẽ được kéo dài thời gian nộp tiền thuế và điều này giúpcho họ thoát khỏi những căng thẳng nhất thời về ngân quỹ hoạt động

1.2.4 Cho thuê tài chính (Financial Lease /Capital Lease)

Cho thuê tài chính là một phương thức tài trợ vốn ra đời vào năm 50 tại Mỹ, sau đó thâm nhập vào châu Âu nhữngnăm 60 và hiện nay được áp dụng rất rộng rãi tại nhiều nước trên thế giới Tại Việt Nam cho thuê tài chính được du nhập vào

từ những năm đầu của thập niên 90 Vào thời điểm này, nền kinh tế Việt Nam đang ở trong giai đoạn chuyển đổi từ cơ chế kếhoạch hoá tập trung sang cơ chế thị trường với sự ra đời của nhiều thành phần kinh tế ngoài sở hữu Nhà nước Các doanhnghiệp ngoài quốc doanh mới thành lập thì thiếu vốn, doanh nghiệp sở hữu Nhà nước thì máy móc già cỗi, lạc hậu, không

Trang 14

đáp ứng cho nhu cầu cạnh tranh trên thị trường Trong bối cảnh đó cho thuê tài chính với những lợi thế về việc tài trợ trựctiếp bằng tài sản, không cần có tài sản bảo đảm, tỷ lệ vốn tài trợ cao (100% nhu cầu không cần có vốn đối ứng tham gia),phương thức thanh toán linh hoạt, thời gian tài trợ phù hợp với khả năng thanh toán của khách hàng được xem là giải pháptài trợ thích hợp, thay thế cho hình thức cho vay trung dài hạn truyền thống các ngân hàng đang áp dụng.

Hành lang pháp lý cho hoạt động cho thuê tài chính tại Việt Nam được mở ra kể từ quyết định 64/CP ngày 9/10/1995của Chính phủ" Quy chế tạm thời về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam, sau đó là nghị định số16/2001/NĐ-CP ngày 02/05/2001 về tổ chức và hoạt động của công ty cho thuê tài chính; nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày19/05/2005 sửa đổi bổ sung nghị định 16 Cho đến nay, cho thuê tài chính vẫn ngày càng phát triển theo sự mở rộng của cáccông ty cho thuê tài chính Tính đến đầu năm 2009 số lượng các công ty cho thuê tài chính tại Việt Nam là 13 công ty trong

đó có 3 công ty là 100% vốn nước ngoài

Theo quy định trong luật Các tổ chức tín dụng, cho thuê tài chính được hiểu như sau:

Cho thuê tài chính là một hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, được thực hiện thông qua một hợp đồng cho thuê tàisản, Theo đó bên cho thuê chuyển giao tài sản thuộc sở hữu của mình cho bên đi thuê sử dụng Bên đi thuê có trách nhiệmhoàn trả tiền thuê (gồm gốc và phí) trong suốt thời gian thuê

So sánh với hình thức cho vay, đối tượng cấp tín dụng trong cho thuê tài chính hẹp hơn, chỉ xoay quanh những tài sản

cố định, bao gồm nhà xưởng máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ sản xuất Khi một doanh nghiệp cần vốn trung dàihạn để thay thế tài sản cố định, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai hình thức: vay vốn ngân hàng để mua tài sản(cho vay theo dự án đầu tư / cho vay trung dài hạn) hoặc là ký hợp đồng thuê tài sản dài hạn để sử dụng (cho thuê tài chính).Mỗi hình thức tín dụng có một lợi thế riêng và lựa chọn hình thức nào cho thích hợp đòi hỏi khách hàng phải hiểu rõ đặc điểmcủa từng hình thức, khả năng tài chính cũng như đặc điểm kinh doanh của mình Ở đây vai trò tư vấn của ngân hàng có tầmquan trọng không nhỏ

Đối với ngân hàng, việc cấp tín dụng trực tiếp bằng tài sản thực mang lại những lợi thế nhất định Đó là việc giảm rủi ro

sử dụng sai mục đích từ phía khách hàng Với quyền của chủ sở hữu tài sản, ngân hàng có thể kiểm tra, giám sát chặt chẽtài sản thuê trong qúa trình sử dụng và đưa ra hiện pháp xử lý kịp thời khi khách hàng vi phạm những cam kết trong hợpđồng

Trang 15

Tóm lại: tín dụng ngân hàng là một trong các hình thức tín dụng của nền kinh tế, tuy nhiên đó là một hình thức tín dụngchiếm ưu thế Tín dụng ngân hàng có những đặc trưng riêng biệt so với các hình thức tín dụng khác trên các điểm: hình tháigiá trị tín dụng, độ rủi ro Luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam quy định có 4 hình thức cấp tín dụng chủ yếu là cho vay, chiếtkhấu, bảo lãnh ngân hàng và cho thuê tài chính Các hình thức này được xem như những sản phẩm tín dụng riêng biệt màngân hàng có thể cung cấp cho các khách hàng của mình Sự khác biệt căn bản giữa các hình thức tín dụng này là hình tháigiá trị tín dụng, đối tượng cấp tín dụng, kỹ thuật cấp tín dụng và mức độ rủi ro cho ngân hàng Sự lựa chọn hình thức cấp tíndụng xuất phát từ việc tìm hiểu nhu cầu, đặc điểm hoạt động của khách hàng, đặc tính của từng hình thức cấp tín dụng, saocho đảm bảo thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân hàng.

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1/ Phân tích những đặc trưng của tín dụng ngân hàng so với các hình thức tín dụng khác trong nền kinh tế

2/ Tại sao bảo lãnh ngân hàng lại được xếp vào nhóm tín dụng chữ ký

3/ Thảo luận về đối tượng cấp tín dụng của các hình thức cho vay, chiết khấu, bảo lãnh ngân hàng và cho thuê tàichính, từ đó cho thấy sự khác biệt giữa các hình thức này

4/ Những cơ sở để lựa chọn hình thức cấp tín dụng?

5/ Nói “chiết khấu là hình thức cho vay gián tiếp” có đúng không? Giải thích?

6/ Có ý kiến cho rằng cho thuê tài chính là hình thức cấp tín dụng ít rủi ro vì nó được thực hiện bằng tài sản thực Hãycho ý kiến bình luận nhận xét nói trên

7/ Phân tích những đặc trưng của cho vay? Vì sao nói cho vay rủi ro cao hơn các hình thức tín dụng khác?

Phần 2 NGHIỆP VỤ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP

Nội dung:

- Dẫn nhập: Luân chuyển vốn và sự hình thành nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp

Trang 16

- Chương 2: Cho vay từng lần

- Chương 3: Cho vay theo hạn mức tín dụng

- Chương 4: Bao thanh toán

- Chương 5: Cho vay trung dài hạn

- Chưong 6: Bảo lãnh ngân hàng

- Chương 7: Cho thuê tài chính

Dẫn nhập LUÂN CHUYỂN VỐN VÀ SỰ HÌNH THÀNH NHU CẦU TÍN DỤNG CỦA DOANH NGHIỆP

Doanh nghiệp là một trong các thị trường chủ yếu của ngân hàng thương mại Ở hầu hết các ngân hàng dư nợ cho vaydoanh nghiệp thường chiếm một tỷ trọng rất đáng kể Do vậy việc tìm hiểu về doanh nghiệp và những đặc điểm trong hoạtđộng của doanh nghiệp là một trong những công việc cần thiết để các ngân hàng có thể hiểu rõ về đối tác trước khi cung cấpcác sản phẩm thích hợp, thỏa mãn nhu cầu của họ Nội dung phần Luân chuyển vốn và sự hình thành nhu cầu tín dụng củadoanh nghiệp mang ý nghĩa dẫn nhập trước khi đi vào các sản phẩm tín dụng đặc trưng dành riêng cho các doanh nghiệptrong nền kinh tế

* Đặc điểm luân chuyển vốn của doanh nghiệp

Từ cơ cấu tài sản của một doanh nghiệp điển hình (Xem bảng số liệu bên dưới) có thể rút ra nhận xét là tại một thờiđiểm nhất định trong năm, ở doanh nghiệp luôn xuất hiện hai dạng nhu cầu vốn căn bản là:

- Nhu cầu vốn có tính chất ổn định thường xuyên nhằm tài trợ cho bộ phận tài sản cố định và bộ phận tài sản lưu độngthường xuyên gối đầu liên tục trong doanh nghiệp (trong hình minh họa nhu cầu vốn thường xuyên là 19.800 triệu đồng trong

đó 18.000 triệu đồng là nhu cầu của tài sản cố định và 1.800 triệu đồng là nhu cầu tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên).Cũng cần lưu ý rằng sự ổn định của loại nhu cầu này chỉ mang tính tương đối bởi vì theo đà mở rộng, tăng trưởng hoạt động,tài sản cố định và tài sản lưu động gối đầu cũng phải được gia tăng quy mô cho phù hợp Tuy nhiên sự sia tăng này có tínhvững chắc trong một khoảng thời gian tương đối dài (thường tính theo năm)

CƠ CẤU TÀI SẢN VÀ NHU CẦU VỐN - CÔNG TY X

Đơn vị: Triệu đồng

Trang 17

Tháng TSLĐ TSCĐ Tổng TS Nhu cầu vốn

thường xuyên

Nhu cầu vốntạm thời

Có thể quan sát cơ cấu tài sản của doanh nghiệp trong hình 01 (trang 26)

Để đáp ứng cho các nhu cầu vốn nói trên, doanh nghiệp phải tìm nguồn tài trợ thích hợp Muốn xác định nhu cầu tíndụng của doanh nghiệp, ngân hàng không chỉ tìm hiểu về đặc điểm luân chuyển vốn, chu kỳ kinh doanh mà còn phải tìm hiểu

Trang 18

về các chiến lược tài trợ mà doanh nghiệp đang theo đuổi bởi vì thông qua các chiến lược này có thể hiểu rõ hơn về quanđiểm của doanh nghiệp trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ, trong đó có vốn tín dụng ngân hàng.

Hình 01: Cơ cấu tài sản của doanh nghiệp

Các doanh nghiệp có thể lựa chọn theo đuổi một trong các loại chiến lược tài trợ sau đây:

- Chiến lược bảo thủ (Conservative Financial Strategy)

- Chiến lược năng động (Aggressive Financial Strategy)

- Các chiến lược trung dung (Acepptable Financial Strategy)

Một doanh nghiệp theo đuổi chiến lược bảo thủ sẽ ít khi tiếp cận vốn vay ngân hàng mà chủ yếu sử dụng vốn chủ sởhữu và tận dụng các khoản chiếm dụng hợp pháp từ nợ phải trả, tiền ứng trước của người mua Trong thực tế, không cónhiều doanh nghiệp theo đuổi chiến lược bảo thủ một cách lâu dài Bởi vì đa phần các doanh nghiệp Việt Nam đều thiếu vốnhoạt động, không ít doanh nghiệp mở rộng quy mô, khuếch trương hoạt động trong điều kiện không đủ vốn, do đó việc vaymượn vốn diễn ra khá phổ biến

Hình 02: Sơ đồ chiến lược tài trợ bảo thủ

Tuy vậy, cũng có thời điểm các doanh nghiệp ở trong tình trạng của chiến lược bảo thủ, chẳng hạn năm 2007, do tìnhhình thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển, nhiều doanh nghiệp tận dụng được cơ hội, phát hành một lượng lớn cổphiếu gia tăng vốn chủ sở hữu, nhằm phục vụ cho việc mở rộng quy mô hoạt động Nhưng sang năm 2008, do những khókhăn của khủng hoảng kinh tế thế giới nên cơ hội mở rộng kinh doanh chưa thực hiện được, nhiều doanh nghiệp ở trong tìnhtrạng quy mô nguồn vốn chủ sở hữu lớn, đủ thỏa mãn cho toàn bộ hoặc phần lớn nhu cầu vốn hoạt động, tức là doanhnghiệp tạm thời trong tình trạng của chiến lược bảo thủ) Bất lợi cho doanh nghiệp là ở chỗ doanh nghiệp sẽ phải chịu một chiphí vốn khá lớn, trong khi lợi ích thu về do việc sử dụng vốn thấp, hoặc là bấp bênh Nói khác đi là doanh nghiệp sử dụng vốnthiếu hiệu quả

Tuy nhiên, thời gian tới, khi điều kiện kinh tế cho phép, quy mô kinh doanh được mở ra, nhu cầu vốn hoạt động sẽ tănglên (ít nhất là phù hợp với quy mô vốn chủ sở hữu đã có), tình trạng bảo thủ sẽ chấm dứt, doanh nghiệp sẽ chuyển sang cácdạng chiến lược khác (như chiến lược năng động hoặc là trung dung 2, thậm chí là trung du 3)

Hình 03: Sơ đồ chiến lược tài trợ năng động

Trang 19

Chiến lược năng động là chiến lược khá lý tưởng đứng ở góc độ hiệu quả sử dụng vốn, bởi vì có sự phù hợp giữa thờihạn của nguồn tài trợ và thời hạn của nhu cầu cần tài trợ Chỉ có những nhu cầu dài hạn (liên quan đến tài sản cố định và tàisản lưu động thường xuyên) doanh nghiệp mới sử dụng nguồn vốn dài hạn, còn nhu cầu ngắn hạn (liên quan đến tài sản lưuđộng tạm thời), thì doanh nghiệp chỉ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn Những doanh nghiệp theo đuổi chiến lược năng động cóthể đồng thời vừa vay vốn ngắn hạn vừa vay dài hạn Tuy nhiên điểm bất lợi cho doanh nghiệp là có thể bị động về vốn nếukhông kiếm được nguồn vốn đáp ứng một cách kịp thời khi nhu cầu phát sinh.

Trong thực tế, ít có những doanh nghiệp hoàn toàn theo đuổi chiến lược tài trợ bảo thủ hoặc năng động, mà thường ởtrong tình trạng của các chiến lược trung dung (dung hòa giữa bảo thủ và năng động)

Hình 04: Sơ đồ chiến lược trung dung 1

Các doanh nghiệp có chiến lược trung dung 1 thì trong tình trạng quy mô của nguồn vốn dài hạn lớn hơn nhu cầu vốn

có tính thường xuyên Do vậy, có những thời điểm doanh nghiệp tạm thời thừa vốn (nhu cầu vốn tạm thời không phát sinh,nhưng đồng vốn vẫn được duy trì - xem hình 04) Để sử dụng hiệu quả đồng vốn vào những thời điểm này, doanh nghiệp cóthể đầu tư ngắn hạn trên thị trường

Trái ngược với những doanh nghiệp trong chiến lược trung dung 1, các doanh nghiệp đang ở trong chiến lược trungdung loại 2 lại bị thiếu nguồn vốn dài hạn so với nhu cầu vốn dài hạn Hình 05 mô tả một doanh nghiệp có nguồn vốn chủ sởhữu và nợ dài hạn thấp hơn so với nhu cầu vốn thường xuyên Do vậy, doanh nghiệp phải sử dụng nguồn vốn ngắn hạn vàotài trợ cho nhu cầu dài hạn

Hình 05: Sơ đồ chiến lược trung dung 2

Trong thực tế rất nhiều doanh nghiệp Việt Nam trong tình trạng của chiến lược trung dung 2, tức là vốn luân chuyển/vốn lưu động của doanh nghiệp lớn hơn 0 nhưng thấp hơn nhu cầu của tài sản lưu động thường xuyên Tình trạng này đượcgọi là thiếu vốn lưu động, nhưng ở mức độ thấp Sở dĩ có tình trạng này là vì, khi doanh nghiệp bắt đầu hoạt động có thể đủvốn (tình trạng chiến lược năng động) nhưng khi quy mô của doanh nghiệp gia tăng, vốn chủ sở hữu không tăng tương ứng,dẫn đến thiếu vốn một cách dài hạn Đây là mô hình doanh nghiệp rất phổ biến trong thời kỳ bao cấp, do các doanh nghiệphầu hết đều thuộc sở hữu Nhà nước, vốn hoạt động (trang trải cho tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên) đều dongân sách cấp phát, tuy nhiên hiếm khi được cấp đủ, nên có tình trạng vốn thiếu triền miên

Trang 20

Những doanh nghiệp có chiến lược trung dung 3 (hình 06) là doanh nghiệp không chỉ thiếu vốn ngắn hạn mà cả vốndài hạn Đây là dạng doanh nghiệp mà cơ cấu tài chính trong trạng thái bất ổn, bởi vì doanh nghiệp sử dụng các nguồn vốnngắn hạn (như phải trả, vay ngân hàng ) để tài trợ cho tài sản dài hạn Điều này có thể dẫn đến tình trạng mất khả năngthanh toán Đối với các doanh nghiệp này cần phải có những cam kết bảo lãnh/ tài sản bảo đảm chắc chắn hoặc là có cácphương án/ dự án khả thi, tạo ra dòng tiền đủ trả nợ mới có thể được ngân hàng chấp nhận/ tiếp tục tài trợ.

Hình 06: Sơ đồ chiến lược trung dung 3

* Các nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp

Nếu căn cứ theo thời gian, nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp có thể chia thành hai dạng sau đây:

- Nhu cầu tín dụng ngắn hạn

Nhu cầu ngắn hạn của doanh nghiệp thường liên quan đến thời vụ hoạt động của từng loại hình doanh nghiệp Trongnhững khoảng thời gian nhất định của năm, tại doanh nghiệp có thể phát sinh các nhu cầu mua vật tư, nguyên liệu, trả chí phínhân công, thanh toán chi phí sản xuất nhiều hơn các thời điểm khác trong năm Nhu cầu vốn tín dụng của các doanhnghiệp sản xuất thời vụ thường tồn tại trong một thời gian ngắn (từ 1 năm trở xuống nhưng không nhất thiết trùng với nămdương lịch)

Chẳng hạn như thời vụ sản xuất 3 tháng (khoảng thời gian từ tháng 6 cho đến đầu tháng 8 âm lịch) đối với các doanhnghiệp sản xuất bánh Trung thu, thời vụ 4 tháng (thu mua mía cây để ép ra đường kết tinh) của các doanh nghiệp míađường, thời vụ từ 4-7 tháng (thu mua cá và sản xuất) của các doanh nghiệp sản xuất nước mắm Do nhu cầu tín dụng ngắnhạn luôn luôn gắn với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp nên muốn xác định được loại nhu cầu này, ngân hàng phải tìmhiểu kỹ về chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp, trên cơ sở đó mà xác định thời hạn tài trợ và các kỳ hạn thu nợ cho thích hợp

Ngoài các doanh nghiệp sản xuất theo thời vụ cố định, trên thực tế cũng có những doanh nghiệp chuyên sản xuất theocác đơn đặt hàng từ thị trường tiêu thụ Các đơn hàng này có thể thay đổi tùy thuộc vào khả năng tìm kiếm của doanhnghiệp Khi nhận được một đơn hang, doanh nghiệp bước vào một phương án kinh doanh (thường là ngắn hạn) Các nhucầu mua vật tư nguyên liệu, chi trả lương, chi phí khác đòi hỏi phải có một số vốn nhất định để thỏa mãn Doanh nghiệp cóthể có sẵn một số vốn tự có, được ứng trước bởi người mua sản phẩm, được trả chậm tiền mua vật tư từ người cungcấp Tuy nhiên, những khoản vốn này thông thường chỉ đáp ứng được một phần nhu cầu nói trên, phần thiếu hụt còn lại bắt

Trang 21

tín dụng Trong những trường hợp này, quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp thường chấm dứt sau khi phương án đãhoàn thành, tiền bán hàng thu về bù đắp cho những chi phí bỏ ra (kể cả việc trả gốc và lãi khoản vay) và tạo ra lợi nhuận chodoanh nghiệp.

- Nhu cầu tín dụng trung / dài hạn

Đối với hầu hết các doanh nghiệp trong nền kinh tế, do áp lực cạnh tranh trên thị trường, yêu cầu đổi mới tài sản cốđịnh, đầu tư mở rộng cơ sở sản xuất, hiện đại hoá trang thiết bị là những nhu cầu hết sức cần thiết và bức xúc mà thôngthường ít khi doanh nghiệp có đủ vốn để thực hiện Mặc dù có thể tìm kiếm nguồn tài trợ từ những con đường khác, nhưngvay ngân hàng vẫn là cách thức phổ biến nhất đối với phần lớn các doanh nghiệp Để thỏa mãn các nhu cầu nói trên, ngânhàng sẽ cho doanh nghiệp vay trung, dài hạn và doanh nghiệp sẽ hoàn trả nợ bằng nguồn vốn tích lũy từ kết quả kinh doanhhoặc từ phần vốn chủ sở hữu gia tăng do phát hành cổ phiếu/ được cấp thêm

Tuy nhiên, nhu cầu tín dụng trung dài hạn của doanh nghiệp không chỉ liên quan tới việc mua sắm máy móc thiết bị,xây dựng nhà xưởng mà còn đáp ứng cho cả bộ phận vốn luân chuyển thiếu hụt so với quy mô hoạt động của doanhnghiệp Ta đã biết vốn luân chuyển / hay còn gọi là vốn lưu động là số vốn cần thiết mà doanh nghiệp bỏ ra nằm trong cáckhâu của một chu kỳ sản xuất kinh doanh bình thường Lúc bắt đầu hoạt động, một doanh nghiệp có thể đủ vốn luân chuyển,nhưng khi quy mô kinh doanh mở rộng, bộ phận vốn có thể không được gia tăng tương ứng, dẫn đến thiếu hụt Tuy nhiênđây là phần thiếu hụt mang tính cơ cấu lâu dài chứ không phải thiếu hụt mang tính thời vụ tạm thời, vì vậy nguồn vốn bù đắpcho thuộc về dài hạn Trong thời kỳ bao cấp (trước thập niên 90) nhu cầu vốn này được xác định hàng năm (gọi là vốn lưuđộng định mức) Hầu hết các doanh nghiệp thời kỳ này là xí nghiệp quốc doanh (thuộc sở hữu Nhà nước) nên được ngânsách cấp phát một tỷ lệ nhất định, phần còn lại sẽ được ngân hàng tài trợ theo hình thức cho vay trong định mức vốn lưuđộng Theo quy định của ngân hàng Nhà nước vào thời điểm này, đây là một loại cho vay ngắn hạn, tuy nhiên do tính chấtcủa nhu cầu là dài hạn, nên dư nợ của loại cho vay này thực tế tồn tại liên tục trong năm và được ngân hàng tái tài trợ bằnghạn mức tín dụng gối đầu theo quý Thực chất đây là một dạng đảo nợ được cho phép bởi quy định của ngân hàng Nhànước Hiện nay, mặc dù nhận thức đã thay đổi, nhưng với dạng nhu cầu này thực tế các ngân hàng thương mại ít khi tài trợtrung dài hạn, mà chỉ chấp nhận ký những hợp đồng ngắn hạn, đây là điều khó khăn cho doanh nghiệp do thường bị động vềvốn nếu không được tái tài trợ liên tục

Tóm lại nhu cầu vốn của doanh nghiệp thường phát sinh do các nguyên nhân sau đây:

Trang 22

Thứ nhất: do chênh lệch thiếu nguồn vốn do với nhu cầu cần thiết.

Như trên đã đề cập, sự thiếu hụt nguồn vốn của doanh nghiệp có thể mang tính chất cơ cấu (khi muốn mở rộng quy

mô tài sản cố định và tài sản lưu động để đáp ứng sự tăng trưởng lâu dài) hoặc là tính chất tạm thời (khi cần vốn để mở rộngkinh doanh theo thời vụ) Cả hai trường hợp này doanh nghiệp đều cần vay vốn ngân hàng Để tạo điều kiện cho ngân hàngtính toán thời hạn tài trợ hợp lý, các doanh nghiệp cần phải tách bóc nhu cầu thiếu hụt thời vụ và nhu cầu thiếu hụt có tính cơcấu, không nên để lẫn lộn vì thực chất nguồn hoàn trả cho hai loại nhu cầu vay này là khác nhau (chi tiết phần này sẽ đượcnghiên cứu trong các chương kế tiếp)

Thứ hai: do sự hình thành độ lệch tiền tệ hay khoảng cách thời gian giữa thời điểm thu và chi trong hoạt động củadoanh nghiệp

Ngoài nguyên nhân vay vốn để đáp ứng các nhu cầu phân tích ở trên, trong quá trình hoạt động, do sự vận động củavật tư hàng hoá và sự vận động của tiền tệ có thể không ăn khớp với nhau nên tại doanh nghiệp phát sinh những khoảng thờigian thiếu hụt cần nguồn tài trợ Điều này thể hiện trong sự khác biệt giữa chu kỳ hoạt động/ kinh doanh (Operating /Bussiness Cycle) và chu kỳ ngân quỹ (Cash Cycle) của doanh nghiệp

Hình 07: Sơ đồ chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp

Chu kỳ hoạt động/ chu kỳ kinh doanh/ chu kỳ chuyển hóa tài sản của doanh nghiệp bắt đầu từ khi xuất hiện nguyên vậtliệu do mua vào, qua các giai đoạn dự trữ, đưa vào sản xuất, xuất bán và thu tiền về

Chu kỳ hoạt động (H - H’ - T') được tính như sau:

Chu kỳ hoạt động = Thời gian tồn kho + thời gian thu tiền

Trong đó:

- Thời gian tồn kho (H - H’) tính từ khi nhập vật tư hàng hoá về kho, cho đến khi xuất bán thành phẩm hàng hóa

- Thời gian thu tiền (H' - T’) là khoảng thời gian từ khi xuất bán hàng hóa nhưng chưa thu được tiền (ghi nợ cho tàikhoản phải thu) cho đến khi toàn bộ tiền thu bán hàng về

Chu kỳ hoạt động chưa phải là khoảng thời gian doanh nghiệp cần vốn, bởi vì do tập quán mua bán trả chậm, lúcdoanh nghiệp nhập vật tư hàng hoá thường không phải trả tiền ngay, đồng thời khi xuất bán sản phẩm hàng hoá cũng hiếm

Trang 23

khi được trả tiền toàn bộ Điều đó nghĩa là trong hoạt động của doanh nghiệp, tiền vận động không đồng thời với vận độngcủa vật tư hàng hoá Sự vận động của tiền phục vụ cho quá trình hoạt động tại doanh nghiệp biểu hiện ở chu kỳ ngân quỹ(xem hình 08 trang 36)

Chu kỳ ngân quỹ là khoảng thời gian tính từ khi doanh nghiệp phải chi tiền ra (T) cho đến khi xuất hiện dòng tiền thuvào (T’) Sự hình thành chu kỳ ngân quỹ trong hoạt động của doanh nghiệp là lý do chủ yếu khiến hầu hết các doanh nghiệpxuất hiện nhu cầu tài trợ ngắn hạn, kể cá các doanh nghiệp có đủ vốn cho quy mô hoạt động của mình Chu kỳ ngân quỹ là

cơ sở để ngân hàng xác định khoảng thời gian cho vay tối đa nhằm bù đắp sự thiếu hụt vốn tạm thời trong kinh doanh củadoanh nghiệp

Mối quan hệ giữa chu kỳ hoạt động và chu kỳ ngân quỹ biểu hiện như sau:

Chu kỳ ngân quỹ = Chu kỳ hoạt động —thời gian thanh toán

Trong đó:

- Thời gian thanh toán (H - T) là khoảng thời gian từ lúc nhập hàng hóa, vật tư mua vào cho đến khi thực sự phải trảtiền

Hình 08: Chu kỳ ngân quỹ của doanh nghiệp

Tuy nhiên trong trường hợp doanh nghiệp có hành vi ứng trước tiền hàng thì mối quan hệ đó thể hiện như sau:

Chu kỳ ngân quỹ = thời gian ứng tiền hàng + chu kỳ hoạt động

Ví dụ: Doanh nghiệp may mặc có khoảng thời gian từ khi nhập nguyên liệu bất đầu sản xuất cho đến khi hoàn thànhsản phẩm là 45 ngày Doanh nghiệp xuất bán theo hình thức trả chậm, tối đa 30 ngày kể từ khi giao hàng doanh nghiệp mớinhận được toàn bộ tiền thanh toán của người mua Trong khâu nhập nguyên liệu doanh nghiệp thường xuyên được trả chậmtrong vòng 20 ngày

Chu kỳ hoạt động của doanh nghiệp = 45 ngày + 30 ngày = 75 ngày

Chu kỳ ngân quỹ của doanh nghiệp = 75 ngày – 20 ngày = 55 ngày

Trong ví dụ trên giả sử doanh nghiệp không được trả chậm mà do nguồn nguyên liệu bị hạn chế nên doanh nghiệpthường xuyên phải ứng trước 25 ngày sau đó mới nhập nguyên liệu Chu kỳ ngân quỹ của danh nghiệp được tính như sau:

Trang 24

Chu kỳ ngân quỹ = 75 ngày + 25 ngày = 100 ngày

Hiểu biết về chu kỳ ngân quỹ của doanh nghiệp là một trong những kiến thức cần thiết của ngừơi cho vay để có thể xácđịnh khoảng thời gian tài trợ hợp lý Trên thực tế vẫn có những nhân viên cho vay tính toán một cách duy ý chí, không xuấtphát từ đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, dẫn đến việc khách hàng không hoàn trả được nợ theo kỳ hạn đã xác định

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1/ Hãy phân tích các dạng nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp trong các chiến lược tài trợ bảo thủ; năng động, trungdung 1; 2 và 3

2/ Phân tích hai nguyên nhân vay vốn của các khách hàng doanh nghiệp

3/ Trình bày mối quan hệ giữa chu kỳ hoạt động và chu kỳ ngân quỹ của doanh nghiệp, mô tả bằng sơ đồ, cho ví dụminh họa cụ thể

4/ Chu kỳ ngân quỹ có liên quan như thế nào với việc xác định thời han vay của doanh nghiệp?

5/ Bệnh viện đa khoa Hoàn Cầu là một công ty cổ phần chuyên cung cấp các dịch vụ khám chữa bệnh, chăm sóc sứckhỏe cộng đồng Trong năm 2008, bệnh viện dự kiến vay ngân hàng để bổ sung vốn hoạt động Các số liệu dự kiến về thờigian hoạt động của bệnh viện như sau: thời gian tồn kho 7 ngày, thời gian các khoản phải thu 28 ngày, thời gian các khoảnphải trả 43 ngày Hãy xác định chu kỳ hoạt động, chu kỳ ngân quỹ của bệnh viện và cho nhận xét về đề xuất vay vốn củabệnh viện

6/ Công ty cổ phần Hoàng Mỹ có số liệu về cơ cấu tài sản và nguồn vốn trong ba năm 2006; 2007 và 2008 như sau:

Trang 25

CT giaonhận VT

CT vật tưbưu kiện

- Khái niệm - đặc trưng của cho vay từng lần

- Kỹ thuật cho vay từng lần

- Các sản phẩm tín dụng sử dụng phương thức cho vay tứng lần

2.1 Khái niệm – đặc trưng của cho vay từng lần:

2.1.1 Thế nào là cho vay từng lần?

Theo quy chế cho vay ban hành kèm quyết định 1627/2001/QĐ- NHNN ngày 31/12/2001 của Ngân hàng Nhà nước thìcho vay từng lần là một trong 8 phương thức cho vay mà tổ chức tín dụng có thể cung ứng cho khách hàng Trong phươngthức này mỗi lần vay vốn khách hàng và ngân hàng làm thủ tục cần thiết và ký kết hợp đồng tín dụng

Trang 26

Cho vay từng lần là phương pháp cho vay giản đơn (Simple Loans) có thể được áp dụng cho nhiều chủ thể vay khácnhau Tuy nhiên, trong phạm vi của chương này, chúng xem xét cho vay từng lần trong quan hệ giữa ngân hàng và doanhnghiệp Với phạm vi nghiên cứu như vậy, cho vay từng lần được hiểu như sau

Cho vay từng lần là phương thức cho vay được ngân hàng tài trợ theo từng phương án kinh doanh, từng thương vụ,từng giao dịch riêng biệt và cụ thể

Với khái niệm như trên, trong thực tế cho vay từng lần còn được gọi là cho vay theo món Phần lớn các khoản cho vaytừng lần được ngân hàng tài trợ khi người vay đã ký được một hợp đồng cụ thể hoặc nhận được một đơn đặt hàng từ phíangười tiêu thụ, nhưng các khoản vốn người vay hiện có không cho phép họ tự mình thực hiện được toàn bộ quá trình kinhdoanh Vì vậy, việc tài trợ của ngân hàng cho phần nhu cầu thiếu hụt này có thể được hiểu như là dạng cho vay theo hợpđồng (Transactions Loans)

2.1.2 Đặc trưng của cho vay từng lần:

- Đối tượng cho vay thường giới hạn trong các nhu cầu vốn thuộc từng giao dịch cụ thể của khách hàng vay, điều nàychi phối đối tượng và mục đích giải ngân của ngân hàng

- Phương thức cho vay này dựa trên phương pháp trả góp (trả dần gốc và lãi theo các kỳ hạn xác định) hoặc phi trảgóp (trả gốc và lãi một lần khi đáo hạn)

- Tiền vay có thể được phát ra/ giải ngân một hoặc nhiều lần, luôn có kỳ hạn cụ thể cho mỗi lần giải ngân Tổng số tiềngiải ngân bị giới hạn trong mức cho vay đã xác định

- Thời điểm giải ngân và thu nợ luôn có sự tách biệt với nhau

- Nguồn hòan trả của các khoản vay từng lần về nguyên tắc là từ chính nguồn thu hình thành từ việc hòan thành đơnđặt hàng/ hợp đồng mà khách hàng vay đã ký kết với người tiêu thụ Do vậy, có thể nói cho vay từng lần là khoản vay tựthanh khoản (Self Liquydatina)

- Đối tượng khách hàng vay từng lần thường là các doanh nghiệp dạng vừa và nhỏ, kinh doanh ít mặt hàng, các dạngkhách hàng quan hệ không thường xuyên với ngân hàng (ví dụ các doanh nghiệp chỉ sản xuất theo từng đơn hàng) Do vậy,quy định bảo đảm cho khoản tiền vay và quy định mức vốn đối ứng phải có là yêu cầu gần như bất buộc đối với phương thứccho vay này

Trang 27

2.2 Kỹ thuật cho vay từng lần:

2.2.1 Kiểm soát bộ hồ sơ vay vốn

Như trên đã đề cập, cho vay từng lần liên quan đến từng phương án kinh doanh cụ thể Vì vậy, ngoài phương án kinhdoanh, tất cả các loại giấy tờ liên quan như: hợp đồng cung cấp nguyên liệu, hàng hóa đầu vào, hợp đồng/ đơn đặt hàng từphía người tiêu thụ, các giấy phép xuất, nhập khẩu vật tư hàng hóa (nếu có) người vay đều buộc phải xuất trình, cho dù giá trịkhoản vay có thể chỉ chiếm một tỷ lệ không cao trong tổng, nhu cầu vốn của phương án

Về thủ tục vay vốn, sẽ có sự khác biệt giữa khách hàng mới quan hệ tín dụng lần đầu và khách hàng đã từng có quan

hệ vay vốn trước đó Cụ thể, đối với khách hàng lần đầu vay vốn thì những giấy tờ trong bộ hồ sơ pháp lý là thành phầnkhông thể thiếu được Trong khi các khách hàng đã vay trước đó thì chỉ cần bổ sung khi có sự thay đổi, chẳng hạn về ngườiđại diện doanh nghiệp, người được ủy quyền, ngành nghề kinh doanh Một thành phần nữa của bộ hồ sơ vay từng lần làcác giấy tờ có liên quan đến loại hình bảo đảm tiền vay mà ngân hàng yêu cầu khách hàng phải có Thành phần của các loạigiấy tờ này phụ thuộc vào hình thức bảo đảm tín dụng mà ngân hàng áp dụng đối với khoản vay

2.2.2 Xác định mức cho vay

Mức cho vay được hiểu là giới hạn tối đa số tiền cho vay mà ngân hàng chấp nhận cho khách hàng sử dụng trongkhoảng, thời gian hiệu lực của hợp đồng tín dụng

Mức cho vay được xác định dựa trên các yếu tố sau:

- Nhu cầu vay hợp lý và khả năng hoàn trả nợ của khách hàng

- Giới hạn cung ứng vốn của ngân hàng

Mức cho vay là chỉ tiêu bắt buộc được ghi trong hợp đồng tín dụng, xuất phát từ sự thỏa thuận của cả hai phía ngânhàng và khách hàng, do vậy mức cho vay sẽ được ấn định bằng con số thấp nhất trong các yếu tố đã xác định nói trên

Căn cứ vào cách tham gia của ngân hàng, có hai phương pháp xác định phần nhu cầu vay hợp lý:

Thứ nhất: Ngân hàng tham gia 100% vào từng đối tượng cụ thể (chẳng hạn chi phí mua vật tư, nguyên liệu; chi phímua hàng hóa; chi phí trả tiền nhân công ) trong tổng nhu cầu của phương án kinh doanh Các đối tượng khác (ngân hàng

Trang 28

không cho vay) khách hàng sẽ dùng vốn tự có / vốn khác tự trang trải Trường hợp này đối tượng khi giải ngân phải phù hợpvới đối tượng xét cho vay ban đầu.

Thứ hai: Ngân hàng tính toán phần cho vay dựa vào tổng nhu cầu cần thiết của phương án kinh doanh trừ đi vốn tự có/ vốn khác tham gia vào phương án Cách tài trợ này gọi là tài trợ theo phần, tức là trong tổng nhu cầu vốn của phương án,ngân hàng có thể tài trợ một tỷ lệ % nhất định, không phân biệt rạch ròi đối tượng cho vay và đối tượng không cho vay khigiải ngân, miễn sao đối tượng đề nghị giải ngân là một trong các loại chi phí tham gia vào phương án vay là hợp lệ

Ngoài vốn tự có doanh nghiệp có thể được chiếm dụng hợp pháp từ số nợ chậm trả người bán / tiền ứng trước củangười mua hoặc các khoản nợ tích lũy như: tiền lương, thuế chưa đến kỳ sử dụng Đây là những nguồn vốn không phải trảlãi nên tận dụng nó vào kinh doanh rất có lợi cho doanh nghiệp, điều này sẽ làm giảm nhu cầu vay phải trả lãi cho ngân hàng

Hình 2.1 Nhu cầu vay theo phương án

CÁC CHI PHÍ CẦNTHIẾT ĐỂ THỰC HIỆN

THƯƠNG VỤ

VỐN TỰ CÓ THAM GIA VÀO PHƯƠNG ÁN

NỢ PHẢI TRẢ NGƯỜI CUNG CẤP, TIỀN ỨNGTRƯỚC CỦA NGƯỜI MUA…

NHU CẦU VAY NHKhi tính toán nhu cầu vay trong, cho vay từng lần, thời hạn của khoản trả chậm có thể ảnh hưởng tới việc xác định sốtiền dự kiến vay ngân hàng Nếu doanh nghiệp được chấp nhận trả chậm khi mua hàng nhưng thời điểm phải thanh toán rơivào lúc doanh nghiệp vẫn đang thực hiện phương án, chưa có tiền thu bán hàng hoặc thu nhập khác để trả, thì số tiền trảchậm đó không được tính như nguồn vốn được chiếm dụng Vì vậy nó vẫn là một nhu cầu vay của doanh nghiệp

Trong hình 2.2, trường hợp thời điểm thanh toán T1 nằm trong khoảng A – B, là lúc doanh nghiệp chưa có thu nhập đểtrả cho người cung cấp, nên số tiền trả chậm vẫn là một nhu cầu cần vay Còn nếu thời điểm thanh toán khoản trả chậm màdiễn ra vào lúc kết thúc phương án (T3), hoặc khi doanh nghiệp đã có tiền thu bán hàng (T2) có thể để tự thanh toán chongười bán thì số tiền trả chậm được coi là một nguồn chiếm dụng hợp pháp làm giảm nhu cầu đề nghị vay của khách hàng

Hình 2.2: Thời điểm thanh toán tiền trả chậm

Trong đó:

Trang 29

- Thời gian thực hiện phương án vay từ A - C (từ khi bất đầu mua vật tư cho đến khi thu toàn hộ tiền hàng về)

- Thời gian từ B - C là giai đoạn thu tiền bán hàng của phương án

Nhu cầu vay mặc dù được xác định hợp lý, nhưng chưa phải là mức cho vay, bởi vì nó còn phụ thuộc vào giới hạncung ứng vốn của ngân hàng thương mại Giới hạn cung ứng vốn của ngân hàng cho vay bị chi phối bởi các yếu tố như: khảnăng nguồn vốn cho vay; giới hạn phân tán rủi ro theo luật quy định (hiện nay cho một khách hàng vay không vượt quá 15%vốn tự có của ngân hàng) và các giới hạn phân tán rủi ro trong chính sách tín dụng của ngân hàng cho vay

Trong thực tế các ngân hàng thương mại thường phân loại khách hàng vay thông qua một hệ thống xếp hạng tín nhiệmnội bộ Độ rủi ro tổng thể của từng khách hàng sẽ được đánh giá bằng cách cho điểm Căn cứ vào kết quả này, ngân hàng sẽ

có một chính sách quản lý phù hợp đối với từng khách hàng Chẳng hạn như yêu cầu về vốn đối ứng/ vốn tự có tham gia vàotổng nhu cầu cần thiết hay yêu cầu về tài sản đảm bảo Những điều kiện này có thể không giống nhau giữa các khách hàngnếu độ rủi ro tổng thể thông qua điểm số của họ khác nhau Tỷ lệ quy định về số tiền cho vay tối đa trên giá trị tài sản bảođảm có thể dao động từ 50 - 80% tùy từng loại tài sản bảo đảm và hình thức đảm bảo Điều này cũng không bắt buộc phảithống nhất giữa các ngân hàng

Ví dụ 2.1: Tháng 6/2008 doanh nghiệp thương mại dịch vụ Huy Hoàng có nhu cầu vay để nhập một lô hàng hóa với giágốc là 600 triệu đồng, thuế VAT 10% tính trên giá gốc hàng hóa, chi phí vận chuyển, bốc xếp hàng đến kho là 150 triệu đồng.Trong tổng số tiền phải thanh toán cho người bán, sau khi thương lượng, doanh nghiệp được trả chậm 20% cho đến khi tiêuthụ xong toàn bộ lô hàng Để bảo đảm cho nợ vay, doanh nghiệp sử dụng bất động sản thế chấp với giá ước tính là 1.8 tỷđồng Ngân hàng cho vay có vốn tự có là 500 tỷ đồng Chính sách tín dụng của ngân hàng quy định: tỷ lệ cho vay tối đa trêngiá trị tài sản bảo đảm là 50% với bất động sản, 70% với động sản Vốn tự có doanh nghiệp tham gia vào phương án là 100triệu đồng

Với các dữ kiện đã biết, ngân hàng xác định mức cho vay như sau:

- Nhu cầu vay từ phía doanh nghiệp:

{[600 + (600 * 10%)] + 150} - 100 - [600 + (600 * 10%)] * 20% = 578 triệu đồng

- Giới hạn cho vay của ngân hàng:

15% * 500 tỷ = 75 tỷ = 75.500 triệu đồng

Trang 30

50% * 1.800 triệu = 900 triệu đồng

- Mức cho vay của ngân hàng là 578 triệu đồng

Việc xác định mức cho vay không hợp lý mang lại những bất lợi cho cả ngân hàng và doanh nghiệp Nếu số tiền chovay được xác định thấp hơn mức cần thiết, doanh nghiệp vẫn không thoát khỏi tình trạng thiếu vốn, từ đó không thể hoànthành kế hoạch kinh doanh dự kiến và ngân hàng sẽ bị động trong việc phải tiếp tục cung cấp thêm vốn để doanh nghiệphoàn thành phương án kinh doanh và có tiền trả Nhưng nếu số tiền cho vay cao hơn mức cần thiết sẽ khuyến khích doanhnghiệp sử dụng vào những hoạt động ngoài mục đích vay vốn và hậu quả của nó rất khó lường Điều này cũng tạo tâm lý dễdãi, nếu chặt chẽ trong việc xác định nhu cầu vay của doanh nghiệp Để hạn chế điều này, một số ngân hàng thương mại ápdụng phí cam kết phần tiền vay không sử dụng hết, đây là biện pháp buộc doanh nghiệp phải tính toán chặt chẽ nhu cầu vaycủa họ khi ký hợp đồng tín dụng

Ngoài nhu cầu vay, để xác định mức cho vay của phương án, ngân hàng còn phải dựa vào khả năng trả nợ hình thành

từ dòng tiền mà phương án vay vốn tạo ra Chẳng hạn khi ngân hàng cho doanh nghiệp sản xuất đường vay vốn để thựchiện một đơn hàng thì nguồn tiền bán hàng thu được từ phía người mua sản phẩm đường là nguồn tiền chủ yếu để trả nợkhoản vay Trong trường hợp ngân hàng không xác định được dòng tiền này hoặc là dòng tiền dự kiến thu về quá thấp,không đủ trang trải toàn bộ gốc và lãi khi thời hạn vay kết thúc, thì ngân hàng sẽ phải tính toán lại mức cho vay cho phù hợp,đảm bảo khi phương án kinh doanh kết thúc toàn bộ tiền vay phải được hoàn trả đầy đủ Trong ví dụ 2.1 nói trên ngân hàng

sẽ không thể cho vay toàn bộ 578 triệu đồng nếu số tiền bán hàng thực thu của phương án thấp hơn con số này

Trang 31

khi xuất hiện dòng tiền ra cho đến khi có dòng tiền vào được gọi là chu kỳ ngân quỹ (T - T') Chu kỳ ngân quỹ là giới hạn tối

đa của thời hạn vay Trên thực tế, thời hạn cho vay không nhất thiết phải bằng thời gian của chu kỳ ngân quỹ, mà có thể ngắnhơn do thời điểm bất đầu giải ngân tiền vay có thể chậm hơn so với thời điểm khách hàng chi tiền Tuy nhiên thời điểm thu

nợ của phương án phải trùng hợp với thời điểm khách hàng có thực thu về bán sản phẩm (trừ trường hợp doanh nghiệp cónguồn thu nhập khác dùng trả nợ sớm hơn) Phương pháp giải ngân và thu nợ như vậy thực chất là dựa vào dòng tiền đểthực hiện

Trong cho vay từng lần, thu nợ có thể được thực hiện một lần duy nhất hoặc chia ra làm nhiều kỳ hạn nợ cụ thể, về mặt

lý thuyết, kỳ hạn nợ có thể hiểu là các khoảng thời gian nằm trong thời hạn vay, mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó kháchhàng hoàn trả toàn bộ một phần tiền gốc và lãi Các ngân hàng thường ưa thích cách trả nợ theo nhiều kỳ hạn vì như vậy tạo

ra một nguồn thanh khoản đều đặn cho ngân hàng, từ đó có thể tiếp tục sử dụng để cho vay các khoản mới Tuy nhiên trongviệc xác định các kỳ hạn trả nợ, ngân hàng không nên chỉ dựa vào ý muốn của mình mà cần căn cứ vào tính chất của nguồnthu nhập do khách hàng tạo ra, hay nói khác đi là căn cứ diễn biến của dòng tiền vào để lựa chọn thời điểm thu nợ thích hợp.Đây là yếu tố quan trọng trong kỹ thuật tác nghiệp của ngân hàng Bởi lẽ rủi ro chậm trả có thể xuất phát từ việc định kỳ thu

nợ không phù hợp, thiếu căn cứ khoa học Nếu dòng tiền vào tập trung 1 đợt (thường đối với thu hoạch sản phẩm nôngnghiệp) thì toàn bộ thời hạn vay chỉ cần 1 kỳ hạn nợ duy nhất, thu nợ vào lúc khoản vay đáo hạn Nhưng nếu dòng tiền vàodiễn biến tương đối đều đặn, ổn định (các công ty bán lẻ hàng hóa) thì ngân hàng có thể thu nợ nhiều lần vào các thời điểm

có thực thu bán hàng Trường hợp này, thời hạn vay sẽ được chia thành nhiều định kỳ ngắn, khớp với thời điểm có tiền bánhàng

Để nắm chắc nguồn trả nợ trong cho vay từng lần, ngân hàng cho vay cần phải quản lý được nguồn thu bán hàng từphương án kinh doanh vay vốn, (có thể đặt điều kiện tiền bán hàng phải thanh toán chuyển khoản qua ngân hàng) đồng thờihiểu rõ thời điểm nào tiền sẽ về để tiến hành thu nợ đúng lúc Quản lý được nguồn thu một cách chắc chắn cũng là mấu chốt

để ngân hàng quyết định có cần thiết phải áp dụng biện pháp bảo đảm tín dụng hay không? Tuy nhiên, trên thực tế quản lýnguồn thu hán hàng và xác định thời điểm thu nợ là một 1 vấn đề không đơn giản, vì thị trường tiêu thụ sản phẩm của cácdoanh nghiệp Việt Nam diễn ra rất bất ổn, không đúng như dự kiến kế hoạch Vì vậy, khi xét duyệt hồ sơ vay vốn ban đầu,ngân hàng bắt buộc phải dựa vào các kế họach bán hàng, hợp đồng tiêu thụ đã ký kết để xác định kỳ hạn nợ và mức thu nợ

dự kiến Nếu sau này, thị trường diễn biến khác đi ngân hàng sẽ điều chỉnh lại các kỳ hạn nợ và mức thu nợ cho phù hợp

Trang 32

Ví dụ 2.2: trong ví dụ 2.1 nói trên để chứng minh nguồn trả nợ, doanh nghiệp xuất trình một hợp đồng tiêu thụ đã ký vớibên mua trị giá 920 triệu đồng, theo đó hàng hóa sẽ được giao làm 3 đợt: đợt 1 giá 40% hợp đồng, các đợt sau 30%, bắt đầu

từ cuối tháng 8, mỗi đợt giao hàng cách nhau một tháng, tiền bán hàng sẽ được thanh toán đầy đủ theo từng đợt nhận hàng.Dựa vào diễn tiến của tiền thu bán hàng nêu trên, ngân hàng có thể xác định thời hạn vay và kỳ hạn nợ như sau:

Căn cứ vào các đợt thu tiền về sẽ có 3 kỳ hạn nợ với các mức thu nợ gốc dự kiến:

- Tháng 8 thu (920 * 40%) * 71% = 261 triệu đồng

- Tháng 9 thu (920 * 30%) * 71% = 196 triệu đồng

- Tháng 10 thu nốt phần nợ gốc còn lại (121 triệu đồng) trong mức thu bán hàng là 276 triệu đồng

Lưu ý: 71% là tỷ lệ thu nợ gốc hai bên cùng thỏa thuận, giả sử ở đây là căn cứ vào tỷ lệ tham gia của vốn vay trongtổng nhu cầu vốn của phương án (578/810)

- Thời hạn cho vay sẽ là 5 tháng: tính từ đầu tháng 6 (lúc bắt đầu nhập hàng và giải ngân) cho đến cuối tháng 10 khi thu hết gốc và lãi.

Trong cho vay từng lần, cần lưu ý là kỳ hạn trả gốc và kỳ hạn trả lãi không, phải lúc nào cũng diễn ra đồng thời Trongmột số trường hợp, lãi có thể được hòan trả theo các kỳ hạn cố định (ví dụ hàng tháng) nhưng toàn bộ nợ gốc thì chỉ thu hồikhi kết thúc hợp đồng (trong cho vay sản xuất nông nghiệp có thể áp dụng kiểu thu nợ này) Ở ví dụ 2.2 nói trên ngân hàngxác định kỳ hạn thu gốc trùng với kỳ hạn thu lãi

2.2.4 Giải ngân:

Mục tiêu của giải ngân là giảm thiểu ở mức thấp nhất hành vi sử dụng tiền vay sai mục đích từ phía khách hàng, do vậygiải ngân được xem như một nội dung kiểm soát trong khi cho vay của ngân hàng Trên thực tế các ngân hàng thương mạithường xây dựng một quy trình giải ngân khá chặt chẽ, trong đó chỉ rõ nội dung công việc và sự phối hợp giữa các bộ phậntrong quá trình giải ngân

Cũng tương tự như khi xác định các kỳ hạn nợ, ngân hàng phải tìm hiểu từ phía khách hàng để quyết định giải ngânnhư thế nào: một lần hay nhiều lần? tiền mặt hay chuyển khoản? Giải ngân trong phương thức cho vay từng lần có thểđược thực hiện một lần (toàn bộ mức cho vay) hoặc chia ra thành nhiều đợt Điểm lưu ý trong kỹ thuật giải ngân của cho vay

Trang 33

từng lần là tổng số tiền giải ngân tối đa bằng mức cho vay, doanh nghiệp không được nhận nhiều hơn số tiền này (đây làđiểm khác biệt với kỹ thuật giải ngân trong cho vay theo hạn mức tín dụng).

Cơ sở để thực hiện giải ngân là mục đích và tiến trình sử dụng tiền của khách hàng Nếu giải ngân là để thanh toántiền mua vật tư, nguyên liệu thì căn cứ giải ngân sẽ là các hóa đơn chứng từ thanh toán theo đúng tiến độ khách hàng phảitrả cho người cung cấp Hình thức giải ngân (tiền mặt hoặc chuyển khoản) cũng tùy theo phương thức thanh toán giữa haibên mà lựa chọn cho thích hợp Nếu giải ngân là để thanh toán tiền công, lao động thì bảng kê theo từng đợt thanh toán cônglao động là căn cứ để ngân hàng giải ngân Trong trường hợp việc trả lương tại doanh nghiệp đã được thực hiện thông quatài khoản sử dụng thẻ ATM thì hình thức giải ngân không thể là tiền mặt

Thông thường mỗi lần có nhu cầu giải ngân, khách hàng sẽ xuất trình các giấy tờ cần thiết minh chứng cho mục đíchgiải ngân Về phía ngân hàng sau khi xét thấy đối tượng giải ngân hợp lý (phù hợp mục đích vay vốn ban đầu) và số tiền yêucầu giải ngân trong giới hạn cho phép (nhỏ hơn hoặc bằng mức cho vay còn lại) thì chấp nhận cho khách hàng rút tiền Thủtục bắt buộc đi kèm với việc nhận tiền vay là khách hàng phải ký vào giấy nhận nợ Giấy nhận nợ là căn cứ pháp lý xác nhận

số tiền giải ngân và cam kết hòan trả số tiền đó khi đến hạn của khách hàng Số tiền giải ngân sẽ được ghi nợ vào tài khoảnvay của khách hàng, và tuỳ mục đích sử dụng, ngân hàng có thể chuyển thẳng vào tài khoản của người cung cấp (nếu mụcđích thanh toán tiền hàng) hoặc ghi có vào tài khoản của chính người vay (tuy nhiên đây là cách giải ngân ít được ngân hàng

ưa chuộng)

Trong quá trình giải ngân, có thể có các trường hợp sau:

- Giải ngân 1 lần nhưng trả nợ nhiều lần theo các kỳ hạn Trường hợp này chỉ lập một giấy nhận nợ có ghi các kỳ hạntrả như thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng

- Giải ngân nhiều lần sẽ có nhiều giấy nhận nợ được lập phù hợp với mỗi lần giải ngân Trường hợp thu nợ gốc chỉdiễn ra một lần thì các giấy nhận nợ sẽ có cùng một kỳ hạn nợ Tuy nhiên trong trường hợp kỳ hạn trả của từng giấy nhận nợ

là khác nhau thì hạn trả của các giấy nhận nợ phải nằm trong thời hạn cho vay đã xác định (không được vượt quá) Việc xácđịnh chúng là dựa vào các kỳ hạn trả nợ và khả năng trả nợ đã được dự kiến cùng với thời hạn cho vay ngay khi ký hợp đồngtín dụng

- Giải ngân 1 lần thu nợ 1 lần (vay gọn trả gọn) Trường hợp này cũng sẽ chỉ có một giấy nhận nợ

Trang 34

Ví dụ 2.3: Trường hợp doanh nghiệp Huy Hòang nêu trên, với mức cho vay là 578 triệu đồng, khi tiến hành giải ngândoanh nghiệp xuất trình hóa đơn thanh toán cho người bán với số tiền 528 triệu đồng (80% tổng số tiền thanh toán) cùng vớibảng kê chi phí vận chuyển bằng tiền mặt 50 triệu đồng Ngân hàng sẽ giải ngân một lần toàn bộ mức cho vay 578 triệu đồngsau khi kiểm soát chứng từ, trong đó 528 triệu đồng chuyển khoản cho người cung cấp, còn 50 triệu đồng bằng tiền mặt đểthanh toán chi phí vận chuyển theo bảng kê chi phí.

2.2.5 Thu nợ và xử lý nợ

Thu nợ là một nội dung của bước giám sát tín dụng, ở đây cần phải có sự phối hợp giữa bộ phận tín dụng và bộ phận

kế toán để cho quá trình thu nợ được diễn ra suôn sẻ và có hiệu quả cao nhất Mặc dù nhân viên kế toán là người trực tiếpthu, nhưng nhân viên cho vay là người đôn đốc nhắc nhở khách hàng trả nợ và kiểm tra tiến trình thu nợ Sự phối hợp giữa

bộ phận tín dụng và bộ phận kế toán thu nợ sẽ tạo điều kiện để có những đề xuất xử lý kịp thời khi việc trả nợ không theođúng cam kết trong hợp đồng tín dụng và giấy nhận nợ

Như trên đã đề cập, căn cứ để ngân hàng thu nợ trong cho vay từng lần là các giấy nhận nợ đã được lập ra mỗi khikhách hàng nhận tiền vay Thông thường số nợ gốc thu hồi được trích chuyển (ghi nợ) từ tài khoản tiền gửi của khách hàng,đồng thời ghi có vào tài khoản vay để ghi giảm dư nợ Lãi thu cùng nợ gốc Cách tính lãi tùy thuộc vào thỏa thuận giữa ngânhàng và khách hàng trong hợp đồng tín dụng, trên cơ sở quy định của từng ngân hàng Nhưng thông thường có hai cách phổbiến sau:

- Lãi tính theo số dư nợ tồn tại ở đầu kỳ hạn nợ, được gọi là lãi tính trên dư nợ thực tế giảm dần

- Lãi tính theo nợ gốc thu hồi trong từng kỳ hạn trả, theo cách tính này số lãi trả sẽ tăng dần

(Xem sơ đồ trả lãi và cách tính lãi trong chương cho vay trung dài hạn)

Các ngân hàng có thể quy định lãi suất tiền vay cố định trong suốt thời gian ký hợp đồng tín dụng, nhưng cũng có thểđiều chỉnh lãi suất theo từng kỳ hạn nhất định (ví dụ 3 tháng, 6 tháng) hoặc theo từng giấy nhận nợ Quy định như vậy sẽgiúp cho ngân hàng và cả doanh nghiệp dễ ứng phó với những thay đổi lãi suất trên thị trường

Liên quan đến quá trình thu nợ, một số kỹ thuật xử lý có thể được ngân hàng áp dụng, cụ thể:

- Cơ cấu lại thời hạn trả nợ: bao gồm 2 phương thức cơ bản là điều chỉnh kỳ hạn trả nợ và gia hạn nợ Trong đó:

Trang 35

- Điều chỉnh kỳ hạn trả nợ là thay đổi kỳ hạn trả nợ gốc và/ hoặc lãi vốn vay trong phạm vi thời hạn cho vay đã thỏathuận trong hợp đồng tín dụng trước đó, mà kỳ hạn trả nợ cuối cùng không thay đổi Ví dụ một khoản vay có thời hạn 12tháng, từ đầu tháng 1 cho đến cuối tháng 12, kỳ hạn trả lãi là hàng tháng, trả gốc là 1 quý 1 lần Tuy nhiên sau đó khách hàngđược ngân hàng chấp thuận điều chình kỳ hạn trả như sau: trả lãi hàng tháng, trả gốc 2 qúy 1 lần, nhưng thời hạn cuối cùngcủa khoản vay vẫn chấm dứt vào cuối tháng 12.

- Gia hạn nợ: là kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ gốc và / hoặc lãi vốn vay, vượt quá thời hạn cho vay đã thoảthuận trước đó trong hợp đồng tín dụng Ví dụ khoản vay có thời hạn 12 tháng nói trên Trong quá trình khách hàng sử dụngtiền vay, do những thay đổi ngoài dự kiến của thị trường tiêu thụ (dẫn đến khó khăn trong việc hoàn trả nợ như thỏa thuậnban đầu), khách hàng làm đơn đề nghị gia hạn nợ và ngân hàng chấp thuận gia hạn thêm 3 tháng, cuối tháng 3 năm sau làchấm dứt thời hạn của khoản vay đã được gia hạn

- Chuyển nợ quá hạn là việc chuyển dư nợ vay (gồm gốc và lãi) sang tài khoản nợ quá hạn và dùng lãi suất cao(thường bằng 150% lãi suất trong hợp đồng) để kích thích khách hàng trả nợ Trong ví dụ trên, giả sử sau 3 tháng gia hạn,khách hàng vẫn không thể hoàn trả nợ, ngân hàng sẽ chuyển toàn bộ nợ vay chưa trả được sang tài khoản quá hạn và ápdụng lãi suất 15%/ năm kể từ thời điểm chuyển quá hạn (giả sử lãi suất ban đầu là 10%/ năm)

Trên đây là những biện pháp xử lý của ngân hàng khi khoản nợ vay có dấu hiệu bất thường, cảnh báo rủi ro tín dụng,

vì vậy chúng cần được ngân hàng áp dụng một cách cẩn trọng

Nhìn chung cho vay từng lần là một phương pháp cho vay khá đơn giản về kỹ thuật, quá trình giải ngân và quá trìnhthu nợ thường tách biệt nên dễ theo dõi, giám sát Tuy nhiên thủ tục hồ sơ vay được xuất trình và xem xét trong từng mónvay cụ thể Do vậy, nếu doanh nghiệp kinh doanh nhiều mặt hàng sản phẩm, nhu cầu vốn thiếu hụt thuộc nhiều phương ánkhác nhau, phát sinh liên tục thì phương pháp cho vay này không thích hợp

2.3 Một số sản phẩm sử dụng phương thức cho vay từng lần

Trong thực tế phương thức cho vay từng lần được áp dụng trong một số sản phẩm sau đây

2.3.1 Tài trợ nhập khẩu

Với nhiều ngân hàng, sản phẩm này được biết đến như là một loại hình cung cấp vốn chủ yếu cho các đơn vị nhậpkhẩu nhằm mục đích thanh toán tiền hàng cho người cung cấp nước ngoài Phương thức thích hợp với sản phẩm này là cho

Trang 36

vay theo món/ từng lần Tiền vay trong trường hợp này được xác định căn cứ vào giá trị hợp đồng mua bán do người mua(khách hàng vay) xuất trình Hầu hết phương thức thanh toán giữa người bán và người mua là sử dụng tín dụng chứng từ đikèm với thư tín dụng thương mại Do vậy mức cho vay thường dựa vào giá trị L/C (Letter of Credit) phát hành trừ đi phần vốn

tự có (tương đương với mức ký quỹ) của người nhập khẩu Toàn bộ tiền vay được giải ngân một lần vào thời điểm bộ chứng

từ do người xuất khẩu xuất trình chuyển đến ngân hàng phát hành Ngân hàng phát hành L/C đồng thời cũng là ngân hàngcho vay Thời hạn cho vay thông thường không quá 180 ngày, tính từ khi giải ngân tiền vay cho đến khi thu tiền bán hàng về.Nguồn trả nợ cho khoản vay này hình thành từ nguồn tiền bán hàng mà người nhập khẩu có được sau khi xuất bán lô hànghoá nhập khẩu hoặc đã sử dụng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất Khoản vay này có thể đảm bảo bằng tài sản hiện có củangười nhập khẩu Ngoài ra, ngân hàng còn yêu cầu người nhập khẩu ký quỹ một tỷ lệ % trên giá trị L/C phát hành, đây đượcxem như vốn tự có mà người nhập khẩu tham gia vào phương án vay vốn Có thể tham khảo ví dụ dưới đây để hiểu rõ hơn

Đối với sản phẩm tài trợ nhập khẩu, để tạo sự thuận lợi cho các doanh nghiệp (nhất là các doanh nghiệp vừa và nhỏthường hạn chế về tài sản đảm bảo), các ngân hàng có thể cho vay thế chấp bằng chính lô hàng nhập Hình thức đảm bảonày được gọi là đảm bảo trực tiếp hay đảm bảo bằng tài sản hình thành từ tiền vay Khi tiến hành cho vay, ngân hàng thườngxác định số tiền vay tối đa theo tỷ lệ nhất định trên giá trị của lô hàng mua vào (tỷ lệ này dao động theo từng loại hàng nhập).Chẳng hạn, ngân hàng ACB có sản phẩm cho vay thế chấp lô hàng nhựa, là sản phẩm dành riêng cho các doanh nghiệp

Trang 37

chuyên kinh doanh hạt nhựa và sử dụng làm nguyên liệu cho sản xuất, mức cho vay tối đa có thể lên tới 70-75% giá trị lôhàng.

Để giảm thiểu rủi ro trong hình thức tài trợ này, các ngân hàng còn quy định một mức giá xử lý tài sản đảm bảo mứcgiá này tương đương tỷ lệ phần trăm nhất định trên giá trị của lô hàng, được tính toán đảm bảo độ an toàn cho ngân hàng.Trong thời gian dư nợ vay đang tồn tại, ngân hàng sẽ thẩm định lại giá trị lô hàng (cũng chính là tài sản bảo đảm) theo định

kỳ hoặc mỗi khi có sự biến động giá trên thị trường Nếu giá thực tế của lô hàng trog kho thấp hơn mức giá xử lý (do giảmgiá, do xuất vào sử dụng, xuất bán) thì ngân hàng sẽ buộc khách hàng phải bổ sung tài sản bảo đảm / thu hồi một phần nợtương ứng hoặc là thực hiện quyền của chủ nợ có đảm bảo theo thỏa thuận trong hợp đồng

2.3.2 Tài trợ xuất khẩu trước khi giao hàng

Đây là sản phẩm được ngân hàng cung cấp cho khách hàng (người xuất khẩu) với mục đích để mua hàng hoặc sảnxuất hàng hoá theo đơn đặt hàng xuất khẩu Các ngân hàng thường cung cấp sản phẩm tín dụng này cho các khách hàng có

uy tín, có quá trình hoạt động xuất khẩu tốt và các khoản thanh toán thường xuyên được ngân hàng đáp ứng

Với mục đích vay này, đối tượng cho vay có thể là các chi phí doanh nghiệp bỏ ra trong khâu mua như: tiền thanh toáncho người cung cấp nguyên liệu, các chi phí bằng tiền phát sinh trong khâu mua như trả công thuê vận chuyển, thuế VAT đầuvào trong khâu sản xuất như: tiền lương, tiền công sản xuất, chi phí sản xuất khác bằng tiền, trong khâu bán như: chi phíbao bì, quảng cáo tiếp thị, chi phí bán hàng bằng tiền Nhìn chung tất cả các chi phí bằng tiền cấu thành trong sản phẩm và

để đưa sản phẩm tới người mua đều có thể là đối tượng cho vay / giải ngân của ngân hàng

Thời hạn cho vay trong loại hình này thường tính từ khi ngân hàng giải ngân lần đầu tiên cho tới khi tiền bán hàngđược người nhập khẩu nước ngoài thanh toán Thông thường điều kiện để cung cấp sản phẩm này là ngân hàng cho vaycũng đồng thời là ngân hàng nhận thanh toán, do vậy người xuất khẩu (khách hàng vay) phải mở tài khoản thanh toán tạichính ngân hàng cho vay Điều này thường được quy định ngay trong hợp đồng thương mại giữa người bán và người mua.Với quy định như vậy, ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc giám sát nguồn tiền bán hàng để thu nợ khoản vay

Thực ra với loại hình tài trợ xuất khẩu trước giao hàng, ngân hàng không nhất thiết phải tài trợ theo phương thức chovay từng lần mà có thể tài trợ theo phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng Lựa chọn phương thức nào tùy thuộc vàocác yếu tố: phương thức thanh toán cho người cung cấp, tiến độ sử dụng tiền cho khâu mua vào và sản xuất, thời gian sảnxuất dài hay ngắn, cách thức và tiến độ thu tiền bán hàng… Các yếu tố này hình thành nên chu kỳ hoạt động và chu kỳ ngân

Trang 38

quỹ của doanh nghiệp Lựa chọn đúng phương thức tài trợ sẽ tạo thuận lợi cho quá trình sư dụng tiền vay của doanh nghiệp:giảm chi phí, tiết kiệm vốn và giảm rủi ro cho ngân hàng.

2.3.3 Cho vay dự trữ hàng tồn kho/tài trợ hàng tồn kho

Là sản phẩm tài trợ thương mại trong nước, với mục đích cung cấp vốn tạm thời cho các doanh nghiệp nhỏ, cửa hàngbán lẻ, hộ buôn bán Do tính chất thời vụ của việc bán hàng (ví dụ tập trung bán vào dịp lễ 30/4: dịp 2/9 hoặc dịp Noel, nămmới và Tết Nguyên đán) đòi hỏi phải nhập vào một lượng lớn hàng hoá để chuẩn bị bán Ngân hàng sẽ cho vay để dự trữ sốhàng hóa tồn kho vượt mức này thông qua một hợp đồng cho vay từng lần Số tiền cho vay thường được giải ngân một lần

để thanh toán cho người cung cấp Thời hạn vay kéo dài khi trả tiền mua hàng hóa (trùng với thời điểm nhập hàng hoặc cóthể chậm hơn) cho đến khi kết thúc thời vụ bán và toàn bộ lô hàng nhập đã được tiêu thụ Do việc xuất bán hàng hoá thườngdiễn ra một cách đều đặn nên thời hạn vay được chia ra nhiều kỳ hạn trả nợ cụ thể phù hợp với mức tiêu thụ của người vay

2.3.4 Một số sản phẩm khác:

Cho vay bù đắp thiếu hụt tài chính tạm thời, cho vay bắc cầu, cho vay hỗ trợ triển khai các đề tài nghiên cứu khoa học,công nghệ đây là những sản phẩm tài trợ cho các nhu cầu không thường xuyên, đôi khi ngoài dự kiến kế hoạch của kháchhàng Do vậy các sản phẩm này thường áp dụng kỹ thuật cho vay từng lần

CÂU HỎI HƯỚNG DẪN ÔN TẬP

1/ Phân tích các đặc trưng của cho vay từng lần Tại sao trong cho vay từng lần ngân hàng thường yêu cầu có bảođảm tín dụng? Có cách thức nào thay thế cho bảo đảm tín dụng không? Giải thích

2/ Cho vay từng lần dựa trên các phương pháp hoàn trả nào? Cho ví dụ minh họa về tình huống áp dụng thích hợp vớimỗi phương pháp hoàn trả đã nêu

3/ Nói cho vay từng lần là phương thức cho vay tự thanh khoản có đúng không? Tại sao?

4/ Phân tích những lợi thế của phương thức cho vay từng lần đối với ngân hàng và khách hàng

5/ Hãy chỉ ra ít nhất 3 tình huống doanh nghiệp áp dụng vay từng lần, phân tích lý do để thấy sự hợp lý trong việc chọnphương thức cho vay đó

6/ Phân tích cơ sở xác định thời hạn vay và các kỳ hạn trả nợ trong phương thức cho vay từng lần

Trang 39

7/ Cho ví dụ để thấy rõ thời hạn chậm trả tiền nguyên vật liệu cho người cung cấp sẽ ảnh hưởng đến việc xác định nhucầu vay và mức cho vay từng lần của doanh nghiệp.

Chương 3 CHO VAY THEO HẠN MỨC TÍN DỤNG

Nội dung:

- Khái niệm - đặc trưng của cho vay theo hạn mức tín dụng

-Hạn mức tín dụng

- Kỹ thuật cho vay theo hạn mức tín dụng

- Một số sản phẩm sử dụng phương thức cho vay theo hạn mức tín dụng

3.1 Khái niệm – đặc trưng của cho vay theo hạn mức tín dụng:

Trong cho vay theo hạn mức tín dụng, doanh nghiệp có thể ký hợp đồng theo năm, theo quý, theo mùa, vụ sản xuất,kinh doanh Ví dụ doanh nghiệp sản xuất bánh trung thu có thể ký hợp đồng hạn mức trong khoảng 3-4 tháng, từ tháng 5-6đến tháng 8 âm lịch; doanh nghiệp sản xuất đường thường ký hợp đồng tín dụng hạn mức trong vụ thu hoạch mía cây Đốivới các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh tương đối bình ổn thì hợp đồng hạn mức có thể ký kết theo năm, ví dụ như cácsiêu thị, các công ty cung ứng vật tư, dịch vụ bưu điện, vận tải

5.1.2 Đặc trưng của cho vay theo hạn mức tín dụng:

Trang 40

- Đối tượng cho vay tổng hợp, toàn bộ các yếu tố thuộc tài sản lưu động/ ngắn hạn như: tồn kho, phải thu, ngân quỹ đều có thể được tài trợ từ ngân hàng, không phân biệt theo từng đối tượng nhóm đối tượng riêng biệt như trong cho vay từnglần.

- Nguồn hoàn trả của cho vạy hạn mức là toàn bộ nguồn thu mà doanh nghiệp tạo ra trong kỳ, không gới hạn trongnguồn thu của từng phương án kinh doanh riêng lẻ nào

- Quá trình giải ngân và thu nợ luôn diễn ra đan xen với nhau, dư nợ biến động trong phạm vi hạn mức tín dụng đã xácđịnh

- Đối tượng khách hàng vay thường là các doanh nghiệp hội đủ hai điều kiện: về đặc điểm kinh doanh phải là nhữngdoanh nghiệp có chu kỳ kinh doanh ngắn, vốn luân chuyển nhanh, mặt khác phải có uy tín trong quan hệ với ngân hàng.Chính vì lẽ đó bảo đảm tín dụng không phải là điều kiện bắt buộc, có không ít các khách hàng được ngân hàng cho vay theohạn mức không có bảo đảm hoặc bảo đảm bằng tài sản hình thành từ tiền vay

3.2.1 Phương pháp chênh lệch nguồn và sử dụng nguồn

Phương pháp này hiện đang được áp dụng phổ biến tại hầu hết các ngân hàng thương mại Việt Nam Đây là phươngpháp tính toán phù hợp với thực tế và trình độ kế toán của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay Theo phương pháp này, cơ

sở chủ yếu để khách hàng và ngân hàng xác định nhu cầu vốn và hạn mức tín dụng năm kế hoạch của doanh nghiệp là dựavào số liệu trên bảng cân đối kế toán, báo cáo kết quả kinh doanh kỳ trước, kết hợp với những dự kiến thay đổi trong kỳ kếhoạch Trong trường hợp ký hợp đồng hạn mức theo năm thì thời điểm tính toán thường vào cuối năm hiện hành (tháng 12hàng năm)

Tiến trình tính toán của phương pháp này như sau:

Ngày đăng: 31/10/2018, 15:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w