Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu những sự lựa chọn mà các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ và toàn xã hội đưa ra khi trong thực tế họ không có được mọi thứ như mong muốn. Theo truyền thống , kinh tế học được chia thành hai nhánh chính: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô. Đối với sinh viên khối kinh tế, đây là môn học cơ sở, cung cấp khung lý thuyết cho các môn định hướng ngành và kinh tế ngành. Cuốn sách này bao gồm 10 chương. Chương 1: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô Chương 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản Chương 3: Tăng trưởng kinh tế Chương 4: Thất nghiệp Chương 5: Tổng cầu và tổng cung Chương 6: Tổng cầu Chương 7: Tiền tệ và hoạt động ngân hàng Chương 8: Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa Chương 9: Lạm phát Chương 10: Kinh tế học vĩ mô về nền kinh tế mở
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Kinh tế học là môn khoa học xã hội nghiên cứu những sự lựachọn mà các cá nhân, doanh nghiệp, chính phủ và toàn xã hội đưa rakhi trong thực tế họ không có được mọi thứ như mong muốn
Theo truyền thống , kinh tế học được chia thành hai nhánh chính:kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô Đối với sinh viên khối kinh tế,đây là môn học cơ sở, cung cấp khung lý thuyết cho các môn địnhhướng ngành và kinh tế ngành
Cuốn sách này bao gồm 10 chương
Chương 1: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của kinh tế học vĩ
mô
Chương 2: Đo lường các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản
Chương 3: Tăng trưởng kinh tế
Chương 4: Thất nghiệp
Chương 5: Tổng cầu và tổng cung
Chương 6: Tổng cầu
Chương 7: Tiền tệ và hoạt động ngân hàng
Chương 8: Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa
Chương 9: Lạm phát
Chương 10: Kinh tế học vĩ mô về nền kinh tế mở
Kinh tế học là lĩnh vực khoa học phức tạp và còn nhiều mới mẻ.Mặc
dù tác giả đã hết sức cẩn trọng trong quá trình biên soạn, nhưng chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi mong nhận được sựđóng góp và phê bình từ các độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơntrong các lần tái bản sau
Trang 3và độc lập Nhiều nội dung trong chương này không chỉ bó hẹp trongphạm vi nghiên cứu của kinh tế học vĩ mô mà chúng ta xem xét trongmột khung khổ rộng hơn của kinh tế học Trước tiên chúng ta cần hiểukinh tế học là gì và tại sao kinh tế học thường được chia thành hai phânnhánh: kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô.
I Kinh tế học là gì ?
Vấn đề kinh tế mà cá nhân cũng như xã hội phải đối mặc là nhu cầuthường vượt quá khả năng đáp ứng Chẳng hạn một trong những vấn đềkinh tế mà mỗi cá nhân phải giải quyết là sử dụng nguồn thu nhập cóhạn như thế nào Trừ một vài trường hợp ngoại lệ, nhìn chung chúng takhông thể mua được mọi thứ như mong muốn Hầu hết mọi người đềumuốn tăng số lượng và chất lượng hàng hóa, dịch vụ mà họ tiêu dùng -
ăn ngon hơn, mặc đẹp hơn, ở trong các căn hộ sang trọng và đầy đủ tiệnnghi hơn, đi du lịch nhiều hơn, Sở dĩ chúng ta tiêu dùng ít hơn mứcmong muốn là do tiêu dùng của chúng ta bị giới hạn bởi thu nhập Nóicách khác, người tiêu dùng vấp phải giới hạn về khả năng chi trả đượcgọi là giới hạn ngân sách Khi quyết định đi du lịch nhiều hơn, thì phầnngân sách của bạn còn lại để chi cho các nhóm hàng khác sẽ ít hơn
Xã hội cũng phải đối mặt với những vấn đề nan giải tương tự; nhucầu của các thành viên luôn lớn hơn khả năng đáp ứng những nhu cầunày Để thỏa mãn nhu cầu cho mọi người dân, xã hội phải sử dụng cácnguồn lực, tức các đầu vào được sử dụng để sản xuất ra hàng hóa vàdịch vụ Theo truyền thống, các nhà kinh tế thường chia các nguồn lực
Trang 4này thành 4 loại: lao động, tư bản, tài nguyên thiên nhiên và tri thứccông nghệ Lao động là hoạt động của con người – cả trí óc và chân tay– phục vụ cho quá trình sản xuất Tư bản phản ánh những phương tiện
do con người sản xuất ra, bao gồm trang thiết bị và nhà xưởng Tàinguyên thiên nhiên bao gồm các nguyên vật liệu như gỗ, nước, khoángsản và các yếu tố đầu vào khác mà tự nhiên ban cho, tri thức công nghệ
là sự hiểu biết của xã hội về cách tốt nhất để sản xuất ra hàng hóa vàdịch vụ
Khi xét trong mối quan hệ với mong muốn vô hạn của các thànhviên, thì nguồn lực của mọi xã hội đều có giới hạn, hay khan hiếm.Tạibất kỳ thời điểm nào, ngay cả các nền kinh tế giàu có nhất thế giới cũngchỉ sẵn có một lượng nhất định về nguyên liệu thô, lao động và trangthiết bị tại một trình độ công nghệ xác định để phục vụ cho quá trìnhsản xuất hàng hóa và dịch vụ Do vậy, khả năng của một nền kinh tếtrong việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ là có giới hạn
Do không thể thoải mãn được mọi nhu cầu buộc chúng ta phải lựachọn sử dụng tốt nhất các nguồn lực khan hiếm Đó chính là mối quantâm hàng đầu của kinh tế học Do vậy chúng ta có thể định nghĩa kinh
tế học là môn học nghiên cứu cách thức xã hội sử dụng các nguồn lựckhan hiếm nhằm thoải mãn các mong muốn vô hạn theo cách tốt nhất
có thể
Phân tích chi phí – lợi ích và chi phí cơ hội
Để có được sự lựa chọn tốt, chúng ta phải so sánh các chi phí và lợiích gắn với mỗi phương án có thể lựa chọn Một quyết định hay lựachọn cụ thể sẽ cải thiện phúc lợi của chúng ta chỉ khi lợi ích đem lại lớnhơn chi phí thực hiện quyết định đó, tức là chỉ khi những gì mà chúng
ta thu được lớn hơn những gì mà chúng ta bỏ qua Mọi cá nhân, doanh
nghiệp, và thậm chí mọi chính phủ đều quan tâm đến phân chi phí – lợi
ích – một sự so sánh chi phí và lợi ích giữa các phương án khác nhau –
trước khi quyết định có thực hiện một hoạt động hay không
So sánh chi phí và lợi ích dường như là một quá trình tương đối đơngiản tuy nhiên, thực tế không phải bao giờ cũng như vậy Trong một sốtrường hợp, chi phí và lợi ích mang tính chủ quan và rất khó so sánh
Trang 5Trong một số trường hợp khác, có những chi phí hoặc lợi ích ẩn và do
có được những cơ hội làm việc tốt hơn trong cả cuộc đời Nhưng chiphí của nó là gì ? Có thể bạn sẽ cộng số tiền chi tiêu cho học phí, sách
vở và ăn uống lại với nhau Nhưng con số này không thực sự biểu thịnhững gì bạn từ bỏ để theo học đại học
Câu trả lời trên có vấn đề vì nó bao gồm cả một số thứ không thực
sự là chi phí của việc học đại học ngay cả khi không học đại học, bạnvẫn cần một chỗ để ngủ và lương thực, thực phẩm để ăn Tiền ăn ở tạitrường đại học chỉ là chi phí của việc học đại học khi nó đắt hơn nhữngnơi khác Dĩ nhiên, tiền ăn ở tại trường đại học cũng có thể rẻ hơn tiềnthuê nhà và tiền ăn mà bạn tự lo liệu Trong trường hợp này các khoảntiết kiệm được về ăn ở lại là một lợi ích của việc theo học đại học.Các tính toán chi phí như trên có một khiếm khuyết khác nữa là nó
bỏ qua khoản chi phí lớn nhất của việc theo học đại học – đó là thờigian của bạn Khi dành bốn năm để nghe giảng, đọc giáo trình, tài liệutham khảo và viết tiểu luận, bạn không thể sử dụng quãng thời gian này
để làm việc kiếm tiền Đối với nhiều sinh viên, khoản tiền lương phải từ
bỏ để đi học đại học chính là khoản chi phí lớn nhất
Khi hội đồng thành phố hay thị trấn nơi bạn ở họp để quyết địnhphân bổ ngân sách cho việc xây dựng một công viên, họ có thể phải từ
bỏ việc mua sách cho thư viện cộng đồng, lắp đèn đường hoặc xâydựng hay nâng cấp trường học Bất kì những gì mà hội đồng có thể lựachọn nếu không xây dựng công viên này đều được xem là chi phí cơhội của việc xây dựng công viên đó Khi Quốc hội tranh luận về quy
Trang 6mô ngân sách dành cho quốc phòng, kết quả của cuộc tranh luận này sẽảnh hưởng đến mỗi chúng ta Nếu các nguồn lực của mỗi quốc gia được
sử dụng hết thì việc tăng hàng hóa và dịch vụ quân sự sẽ dẫn đến việcgiảm sản lượng của các hàng hóa khác Tăng chi tiêu quân sự có thểdẫn tới cắt giảm chi tiêu cho đào tạo nghề, làm đường hay hổ trợ giáodục; nó có thể dẫn tới việc tăng thuế và làm giảm chi tiêu của khu vực
tư nhân và giảm mức sản xuất hàng tiêu dùng Tuy nhiên, đều nàykhông có nghĩa là chúng ta phải cắt giảm chi tiêu quân sự Thông điệpchủ yếu rút ra là chúng ta nên nhận thức đầy đủ việc tăng chi tiêu quân
sự sẽ gây ra cho chúng ta những chi phí gì đối với việc sản xuất cáchàng hóa và dịch vụ cá nhân, hoặc đối với các chương trình khác củachính phủ Quan điểm của các nhà kinh tế ở đây là chúng ta không thểđưa ra được những lựa chọn tốt nhất về việc sử dụng các nguồn lựckhan hiếm của mình, nếu như chúng ta không biết các chi phí và lợi íchđích thực của các quyết định đó
Ba vấn đề kinh tế cơ bản
Thực tế là nhu cầu không có giới hạn trong khi nguồn lực kinh tế chỉ
có hạn đã buộc các xã hội phải đưa ra các quyết định liên quan đến ba
sự lựa chọn cơ bản sau : (1) Chúng ta sẽ sản xuất những loại hàng hóa
và dịch vụ nào? (2) sản xuất những hàng hóa và dịch vụ này như thếnào? (3) những hàng hóa và dịch vụ này được sản xuất ra cho ai – tức
là, những hàng hóa này được phân phối như thế nào?
Sản xuất cái gì ?
Bởi vì không một xã hội nào có thể sản xuất được mọi thứ như mongmuốn, nên mỗi xã hội phải sắp xếp, đánh giá nhiều nhu cầu khác nhau
và sau đó quyết định đem sản xuất những hàng hóa và dịch vụ nào với
số lượng bao nhiêu Trong đều kiện nguồn lực khan hiếm xã hội khôngchỉ cần phân bổ nguồn lực giữa sản xuất hàng hóa cho tiêu dùng hiệntại và để đầu tư cho tương lai, mà đồng thời còn phải xác định một cáchchính xác những hàng đầu tư và tiêu dùng cụ thể nào sẽ được sản xuất
Ví dụ, xã hội phải quyết định xem nền sản xuất quần áo hay sử dụngnguồn lực khan hiếm của mình cho các mục đích khác Tiếp đó xã hộiphải quyết định loại quần áo nào sẽ được sản xuất - bao nhiêu sơ mi,quần âu, áo khoác và những loại khác Cuối cùng, xã hội phải quyết
Trang 7định sản xuất những kích cở nào và mỗi loại với số lượng bao nhiêu.Chỉ sau khi đã xem xét các phương án có thể mới quyết định nền sảnxuất những hàng hóa và dịch vụ nào
Sản xuất như thế nào ?
Sau khi quyết định hàng hóa gì, mỗi xã hội còn phải quyết định sửdụng những nguyên vật liệu và phương pháp sản xuất nào Trong hầuhết các trường hợp, người ta có thể sản xuất ra một hàng hóa hoặc dịch
vụ nào đó bằng nhiều cách khác nhau Ví dụ, áo sơ mi có thể sử dụngchất lượng vải là cô-tông, len hoặc sợi tổng hợp Nó có thể được khâuhoàn toàn bằng tay, một phần bằng tay, hoặc toàn bộ bằng máy Nó cóthể đóng gói bằng giấy ni-lông hoặc kết hợp nhiều vật liệu khác nhau
Nó có thể được vận chuyển bằng xe tải, tàu hỏa, tàu thủy hoặc máy bay.Nói tóm lại nhà sản xuất phải lựa chọn một trong nhiều phương án khácnhau về chất liệu, phương pháp sản xuất và phương tiện vận chuyển
Sản xuất cho ai
Cuối cùng, mỗi xã hội phải quyết định phân phối, tức phân chia sốhàng hóa có hạn của mình như thế nào cho các thành viên muốn sửdụng chúng Mỗi người sẽ nhận được một phần như nhau trong tổnghàng hóa của xã hội? hay người nào đóng góp nhiều hơn sẽ nhận đượcnhiều hơn? thế còn những người không tham gia sản xuất thì sao, do họkhông thể lao động hoặc không muốn lao động? họ sẽ nhận được baonhiêu? trong việc quyết định như thế nào – hàng hóa sẽ được phân chia
ra sao – các xã hội khác nhau chịu ảnh hưởng của truyền thống và cácgiá trị văn hóa của họ
Thị trường hay chính phủ
Sự sụp đổ của mô hình kế hoạch hóa tập trung với sự tuyệt đối hóavai trò của chính phủ trong nền kinh tế có lẽ là thay đổi quan trọng nhấttrên thế giới trong nửa thế kỷ qua Ngày nay, hầu hết các nước đã từngthực hiện mô hình kế hoạch hóa tập trung đều đã từ bỏ hệ thống này vàđang nổ lực phát triển kinh tế thị trường Trong nền kinh tế thị trường,quyết định của các nhà làm kế hoạch trung ương được thay thế bằngquyết định của hàng triệu doanh nghiệp và hộ gia đình Các doanhnghiệp quyết sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào,
Trang 8và bán hàng hóa cho ai Người lao động quyết định làm cái gì, chodoanh nghiệp nào và dành bao nhiêu thu nhập cho tiêu dùng hiện tại và
để lại bao nhiêu cho tương lai Các doanh nghiệp và hộ gia đình tươngtác với nhau trên thị trường, nơi mà giá cả và lợi ích riêng định hướngcho các quyết định của họ
Mới nhìn qua thì thật khó có thể hình dung thành công vượt trội củacác nền kinh tế thị trường so với mô hình kế hoạch hóa tập trung Xétcho cùng thì trong nền kinh tế thị trường, không ai phụng sự cho lợi íchchung của toàn xã hội Thị trường tự do bao gồm nhiều người mua vànhiều người bán vô số hàng hóa và dịch vụ khác nhau, và tất cả mọingười quan tâm trước hết đến lợi ích riêng của họ Song cho dù ra quyếtđịnh có tính chất phân toán và những người ra quyết định chỉ quan tâmtới lợi ích riêng của mình, thì nền kinh tế thị trường đã chứng tỏ sựthành công lạ thường trong việc tổ chức hoạt động kinh tế theo hướngthúc đẩy phúc lợi kinh tế chung của cả xã hội
Nếu như bàn tay vô hình của thị trường có sức mạnh kỳ diệu đến
vậy, thì tại sao chúng ta lại cần chính phủ ? Một lý do là bàn tay vô hìnhcần được chính phủ bảo vệ thị trường chỉ hoạt động nếu như quyền sởhữu được tôn trọng Tất cả chúng ta đều dựa vào công an và tòa án dochính phủ cung cấp để thực thi quyền của chúng ta đối với những thứ
do chúng ta tạo ra
Một lý do khác cần đến chính phủ là mặc dù thị trường cần là mộtphương thức tốt để tổ chức hoạt động kinh tế, nhưng quy tắc cũng cómột số ngoại lệ quan trọng Có hai nguyên nhân chủ yếu để chính phủcan thiệp vào nền kinh tế là thúc đẩy hiệu quả và sự công bằng Nghĩa
là, hầu hết các chính sách đều hoặc nhằm vào mục tiêu làm cho nềnkinh tế tăng trưởng, hoặc làm thay đổi cách thức phân chia thu nhập tạo
ra
Bàn tay vô hình thường dẫn dắt thị trường phân bổ nguồn lực mộtcách có hiệu quả Song trong một số trường hợp, bàn tay vô hình khôngvận hành tốt Các nhà kinh tế học sử dụng thuật ngữ thất bại thị trường
để chỉ tình huống mà thị trường tự nó thất bại trong việc phân bố nguồnlực có hiệu quả Thị trường có thể thất bại do hành động của một cánhân (hay một tổ chức ) tác động đến phúc lợi của người ngoài cuộc
Trang 9như ô nhiễm; hoặc một người (hay một nhóm người) có sức mạnh thịtrường; hay giá cả không linh hoạt gây ra biến động kinh tế trong ngắnhạn,
Bàn tay vô hình thậm chí có ít khả năng hơn trong việc đảm bảorằng trong sự thịnh vượng kinh tế được phân phối một cách công bằng.Nền kinh tế thị trường thưởng công cho mọi người dựa thên năng lựccủa họ trong việc sản xuất ra những thứ mà người khác sẵn sàng trả giá.Tuy nhiên, bàn tay vô hình không thể đảm bảo rằng tất cả mọi người có
đủ lương thực để ăn, quần áo để mặc và sự chăm sóc y tế cần thiết mộtmục tiêu của chính sách công cộng, chẳng hạn chính sách thuế thu nhập
và hệ thống các phúc lợi xã hội, là đạt được sự phân phối các phúc lợikinh tế một cách công bằng hơn
Hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều phát triển theo mô hình
kinh tế hỗn hợp, trong đó cả nhà nước và thị trường cùng điều tiết nền
kinh tế nhằm khai thác triệt để những lợi thế, đồng thời tránh được hoặcgiảm thiểu những thất bại của chính phủ lẫn thị trường
II Kinh tế học vi mô và kinh tế học vĩ mô
Theo truyền thống, kinh tế học được chia thành kinh tế học vi mô vàkinh tế học vĩ mô Kinh tế học vi mô là môn học nghiên cứu cách thức
ra quyết định của hộ gia đình và doanh nghiệp cũng như sự tương tácgiữa họ trên các thị trường cụ thể Kinh tế học vi mô nhấn mạnh đến sự
ôm hiểu chi tiết về các thị trường cụ thể Để có được mức độ chi tiếtnày, nhiều tương tác với thị trường khác bị bỏ qua
Kinh tế học vĩ mô ngjhiên cứu hoạt động của tổng thể nền kinh tế.Hàng ngày tại mỗi quốc gia có hàng triệu quyết định kinh tế đượcngười tiêu dùng, các hãng sản xuất, công nhân, các viên chức chính phủđưa ra Kinh tế học vĩ mô xem xét, phân tích và đánh giá kết quả tổnghợp của tất cả các hoạt động cá nhân này Ví dụ, trong một tháng nào
đó, hàng ngàn doanh nghiệp có thể tăng giá cho các sản phẩm củamình, trong khi nhiều doanh nghiệp khác lại giảm giá Để hiểu được sựthay đổi giá cả nói chung, kinh tế học vĩ mô sẽ xem xét sự biến độngcủa mức giá
Trang 10Trung bình chứ không phải giá cả của từng mặt hàng hay từng nhómhàng Tương tự như vậy, trong kinh tế học vĩ mô chúng ta quan tâm đếntổng sản lượng của nền kinh tế, chứ không phải là sản lượng của từnghàng hóa đơn lẻ
Như vậy, cách tiếp cận cơ bản trong kinh tế học vĩ mô là xem xétnhững xu hướng chung của nền kinh tế chứ không phải là các vấn đềliên quan đế từng đơn vị kinh tế đơn lẻ hoặc từng đơn vị hành chính.Các câu hỏi lớn của đời sống kinh tế được kinh tế vĩ mô tìm cách giảiđáp như điều gì làm cho một nước giàu hơn hay nghèo đi theo thờigian? Các công dân của một nước sẽ tiết kiệm bao nhiêu cho tương lai?Tại sao mức giá ở một số nước có xu hướng tăng trong khi ở các nướckhác giá cả lại ổn định hoặc tăng chậm? Điều gì quyết định giá trịtương đối giữa tiền của các quốc gia khác nhau? Tại sao Việt Namthường nhập khẩu nhiều hơn so với xuất khẩu?
Một nội dung lớn trong nền kinh tế học vĩ mô là nghiên cứu cácchính sách của chính phủ có ảnh hưởng như thế nào tới hoạt độngchung của nền kinh tế Đa số các nhà kinh tế vĩ mô cho rằng nhữngthay đổi trong các chính sách kinh tế học vĩ mô có ảnh hưởng rộngkhắp và có thể dự tính được đến chiều hướng chung trong mức sảnxuất, việc làm , mức giá chung và thương mại quốc tế Nhiều nhà kinh
tế cho rằng chính phủ cần chủ động sử dụng các chính sách kinh tế vĩ
mô để cải thiện thành tựu kinh tế vĩ mô Tuy nhiên, một số các nhà kinh
tế khác lại cho rằng mối liên kết giữa các chính sách này với nền kinh
tế là không ổn định và không dự tính được nên không thể sử dụng đểquản lý nền kinh tế
Kinh tế học vĩ mô và kinh tế vi mô có mối quan hệ gắn bó chặt chẽvới nhau Vì những thay đổi trong nền kinh tế phát sinh từ các quyếtđịnh của hàng triệu cá nhân, nên chúng ta không thể hiểu được các hiệntượng kinh tế vĩ mô nếu không tính đến các quyết định kinh tế vi mô.Chẳng hạn, một nhà kinh tế vĩ mô có thể nghiên cứu ảnh hưởng củabiện pháp cắt giảm thuế thu nhập đối với mức sản xuất hàng hóa vàdịch vụ của nền kinh tế Để phân tích vấn đề này, anh ta phải xem xétảnh hưởng của biện pháp cắt giảm thuế đối với quyết định chi tiêu muahàng hóa và dịch vụ của các hộ gia đình
Trang 11Mặt dù có mối liên kết chặt chẽ giã kinh tế học vĩ mô với kinh tế học
vi mô, hai lĩnh vực nghiên cứu này vẫn có sự khác biệt kinh tế học vi
mô và kinh tế học vĩ mô xử lý các vấn đề khác nhau, đôi khi họ sử dụngnhững phương pháp tiếp cận hoàn tòan khác nhau và thường đượcgiảng dạy thành hai môn riêng biệt trong các khóa học
III Một số vấn đề kinh tế vĩ mô then chốt :
Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiêncứu bao gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cânthương mại của một nền kinh tế Phân tích kinh tế vĩ mô hướng vào giảiđáp các câu hỏi như: Điều gì quyết định giá trị hiện tại của các biến sốnày? Điều gì làm cho các biến số này thay đổi theo thời gian ? Thựcchất chúng ta khảo sát mỗi biến số này trong những khoản thời giankhác nhau: hiện tại, ngắn hạn và dài hạn Mỗi khoản thời gian đòi hỏichúng ta phải sử dụng các mô hình thích hợp để tìm ra các nhân tốquyết định các biến kinh tế vĩ mô này
Một trong những thước đo quan trọng nhất về thành tựu kinh tế vĩ
mô của quốc gia là tổng sản lượng trong nước (GDP) GDP đo lường
tổng sản lượng và tổng thu nhập của mỗi quốc gia Phần lớn các nước
trên thế giới đều có tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Các nhà kinh tế
vĩ mô tìm cách giải thích sự tăng trưởng này Nguồn gốc của tăngtrưởng kinh tế trong dài hạn là gì ? Tại sao một nước tăng trưởngnhanh hơn các nước khác ? Liệu chính sách của chính phủ có thể ảnhhưởng đế tăng trưởng kinh tế dài hạn của một nền kinh tế hay không ? Mặt dù tăng trưởng kinh tế là hiện tượng phổ biến trong dài hạnnhưng sự tăng trưởng này có thể không ổn định giữa các năm Trênthực tế, GDP có thể giảm trong một thời kì Nhũng biến động ngắn hạn
của GDP được gọi là chu kỳ kinh doanh Hiểu biết về chu kỳ kinh
doanh là một mục tiêu chính của kinh tế học vĩ mô Tại sao các chu kỳkinh doanh lại xuất hiện ? Các lực lượng kinh tế nào gây ra sự suy giảmtạm thời trong mức sản xuất, các lượng nào làm cho nền kinh tế phụchồi ? phải chăng các chu kỳ kinh doanh gây ra bởi các sự kiện không
dự tính được hay chúng bắt nguồn từ các lực lượng nội tại có thể dự
tính trước được ? Liệu chính sách của chính phủ có thể sử dụng để làm
dịu bớt hay triệt tiêu những biến động ngắn hạn trong nền kinh tế hay
Trang 12không ? Đây là những vấn đề lớn đã được đưa ra và ít nhất cũng đãđược giải đáp một phần bởi kinh tế học vĩ mô hiện đại
Thất nghiệp là biến số then chốt thứ hai mà kinh tế học vĩ mô quan
tâm nghiên cứu Tỷ lệ thất nghiệp đo lường số người không có việc làm
và đang tích cực tìm việc tính theo tỷ lệ phần trăm so với lực lượng laođộng Sự biến động nhắn hạn của tỷ lệ thất nghiệp liên quan đến nhữngdao động theo chu kỳ kinh doanh Những thời kỳ sản lượng giảmthường đi kèm với tăng thất nghiệp và ngược lại
Biến số then chốt thứ ba mà các nhà kinh tế vĩ mô đề cập đến là lạm
phát Lạm phát là hiện tượng phổ biến trên toàn thế giới trong những
thập kỷ gần đây Vấn đề đặt ra là điều gì quyết định tỷ lệ lạm phát dàihạn và những dao động ngắn hạn của lạm phát trong một nền kinh tế?
Sự thay đổi tỷ lệ lạm phát có liên quan như thế nào đến chu kỳ kinhdoanh ? lạm phát có tác động đến nền kinh tế như thế nào và phải chăngngân hàng trung ương nên theo đuổi mục tiêu lạm phát bằng không ? Trong bối cảnh toàn cầu hóa và khu vực hóa đã trở thành một trongnhững xu thế phát triển chủ yếu của quan hệ kinh tế quốc tế hiện đại, tất
cả các nước trên thế giới đều điều chỉnh chính sách theo hướng mở cửa,giảm và tiến tới dỡ bỏ hàng rào thuế quan và phi thuế quan, làm choviêc trao đổi hàng hóa, luân chuyển các yếu tố sản xuất như vốn , laođộng và kỷ thuật trên thế giới ngày càng thông thoáng hơn, một vấn đề
được kinh tế học vĩ mô hiện đại quan tâm nghiên cứu là cán cân
thương mại Tầm quan trọng của các cân thương mại là gì và điều gì
quyết định sự biến động của nó trong ngắn hạn và dài hạn ? Để hiểu cáncân thương mại vấn đề then chốt cần nhận thức là mất cân bằng thươngmại liên quan chặt chẽ với dòng chu chuyển vốn quốc tế Nhìn chung,khi một nước nhập khẩu nhiều hàng hóa hơn từ thế giới bên ngoài sovới xuất khẩu, nước đó cần phải trang trải cho phần nhập khẩu dôi ra
đó bằng cách vay tiền từ thế giới bên ngoài, hoặc phải giảm lượng tàisản quốc tế hiện đang nắm giữ Ngược lại, khi xuất khẩu nhiều hơnnhập khẩu thì nước đó sẽ tích tụ thêm tài sản của thế giới bên ngoài.Như vậy, nghiên cứu về mất cân bằng thương mại liên quan chặt chẽvới việc xem xét tại sao các công dân một nước lại đi vay hoặc cho cáccông dân nước khác vay tiền
Trang 13IV Các nhà kinh tế tư duy như thế nào
Cũng như các lĩnh vực nghiên cứu khác, kinh tế học nói chung vàkinh tế vĩ mô nói riêng có những cách nói và tư duy riêng Điều cầnthiết là phải học được các thuật ngữ của kinh tế học bởi vì nắm đượccác thuật ngữ này sẽ giúp cho bạn trao đổi với những người khác về cácvấn đề kinh tế một cách chính xác Phần này sẽ điểm qua phương pháptiếp cận của các nhà kinh tế khi nghiên cứu thế giới
Nhà kinh tế với tư cách là nhà khoa học
Các nhà kinh tế cố gắng nghiên cứu đối tượng của mình với tínhkhách quan của một nhà khoa học Phương pháp nghiên cứu nền kinh tếcủa họ về cơ bản giống như phương pháp nghiên cứu vật chất của cácnhà vật lý, phương pháp nghiên cứu cơ thể sống của các nhà sinh học:
họ đưa ra các lý thuyết, thu nhập số liệu và sau đó phân tích dữ liệu đểkhẳng định hay bác bỏ lý thuyết của mình
Phương pháp khoa học: quan sát, lý thuyết, tiếp tục quan sát
Tính khoa học của một môn khoa học được quyết định bởi cách tiếpcận vấn đề chứ không phải bởi công cụ sử dụng nghĩa là phải phát triển
và kiểm định các lý thuyết về phương thức vận hành của thế giới mộtcách khách quan và vô tư Cũng như các ngành khoa học khác, các nhàkinh tế quan sát sự kiện, phát triển các lý thuyết và thu nhập dữ liệu đểkiểm định chúng Ví dụ, khi quan sát lạm phát, các nhà kinh tế pháthiện thấy lạm phát xuất hiện là do lượng tiền cung ứng quá nhiều Sau
đó, họ phải thu nhập số liệu về tốc độ tăng cung tiền và lạm phát ởnhiều quốc gia để xét xem liệu có thực sự tồn tại mối quan hệ giữachúng không Song việc thu nhập số liệu để kiểm định các lý thuyếtkinh tế khó khăn vì các nhà kinh tế thường không tạo ra được số liệu từcác thực nghiệm Nghĩa là, các nhà kinh tế không thể thay đổi nền kinh
tế đơn thuần chỉ để kiểm định một lý thuyết Bởi vậy, các nhà kinh tếthường sử dụng số liệu được thu nhập từ các sự kiện trong quá khứ
Vai trò của các giả thiết
Giả thiết được đưa ra để làm cho thế giới dễ hiểu hơn Nhà vật lý giảthiết một vật rơi trong chân không khi đo lường gia tốc do lực hấp dẫntạo ra Giả thiết này tương đối chính xác với một hòn đá, nhưng không
Trang 14đúng với một quả bóng Tương tự như vậy, nhà kinh tế sử dụng nhữnggiả thiết khác nhau để lý giải các vấn đề khác nhau Nghệ thuật trong tưduy khoa học là quyết định đưa ra những giả thiết nào Giả sử chúng tamuốn nghiên cứu thêm điều gì sẽ xảy ra đối với nền kinh tế khi chínhphủ thay đổi lượng tiền trong lưu thông Khi nghiên cứu chúng ta thấyrằng một điều trong vấn đề quan trọng trong phân tích này là cách thứcphản ứng của giá cả.Nhiều loại giá cả trong nền kinh tế không thay đổithường xuyên : giá bán trong các siêu thị khá ổn định, các nhà hàngkhông tăng giá vào buổi trưa khi đông khách và giảm giá vào buổichiều khi vắng khách ,… Nắm được thực tế này sẽ đưa chúng ta tớinhững giả thiết khác nhau khi nghiên cứu ảnh hưởng của sự thay đổichính sách trong các khoản thời gian khác nhau Để nghiên cứu nhữngảnh hưởng ngắn hạn của sự thay đổi chính sách, chúng ta có thể giảthiết rằng giá cả không thay đổi đáng kể Thậm chí, chúng ta có thể sửdụng giả thiết cực đoan là giá cả hoàn toàn không thay đổi Nhưng đểnghiên cứu những ảnh hưởng dài hạn của chính sách, chúng ta có thểgiả thiết rằng tất cả các loại giá cả đều linh hoạt, tức là thay đổi đủmạnh để đảm bảo cho mọi thị trường đều cân bằng Tương tự như cácnhà vật lý sử dụng các giả thiết khác nhau khi nghiên cứu trạng thái rơicủa hòn đá và quả bóng, nhà kinh tế sử dụng các giả thiết khác nhau khinghiên cứu ảnh hưởng ngắn hạn và dài hạn của sự thay đổi cung ứngtiền tệ
Các mô hình kinh tế
Mô hình là sự trừu tượng hóa thế giới hiện thực để làm cơ sở chophân tích Các giáo viên dạy sinh vật ở trường sử dụng bản sao cơ thểcon người làm bằng chất dẻo để giảng phần đại cương về giải phẩu.Các mô hình này đơn giản hơn cơ thể của con người thực, nhưng chính
sự đơn giản hóa này làm cho chúng trở nên hữu ích Các nhà kinh tế môphỏng lại nền kinh tế bao gồm các biến quan trọng và loại bỏ các biếnkhông quan trọng Họ sử dụng mô hình kinh tế được tạo thành bởi các
đồ thị và phương trình đại số Chúng dựa trên các các giả thiết quantrọng đơn giản hóa hiện thực kinh tế khi sử dụng các mô hình để phântích các vấn đề khác nhau trong suốt cuốn sách này, chúng ta sẽ thấyrằng tất cả các mô hình đều được xây dựng trên cơ sở các giả thiết.Cũng giống như nhà vật lý bắt đầu phân tích trạng thái rơi của hòn đá
Trang 15bằng các giả thiết không tồn tại ma sát, các nhà kinh tế bỏ qua nhiều chitiết của nền kinh tế có vai trò thứ yếu đối với vấn đề mà họ quan tâm.Tất cả các mô hình cho dù trong lĩnh vực vật lý, sinh học hay kinh tế-đều là sự đơn giản hóa hiện thực để giúp chúng ta dể nắm bắt đốitượng Việc xác định điều gì nên đưa vào và điều gì không nên đưa vàotrong một mô hình là một nghệ thuật của các nhà kinh tế ; nó đòi hỏikhả năng đánh giá và kỷ sảo của các nhà kinh tế
Nhà kinh tế với tư cách nhà tư vấn chính sách
Thông thường các nhà kinh tế được yêu cầu lý giải nguyên nhân gây
ra các hiện tượng kinh tế Chẳng hạn, họ phải giải thích tại sao lạm phátlại dâng cao trong năm 2004 ? Đôi khi các nhà kinh tế được đề nghịđưa ra những khuyến nghị chính sách nhằm cải thiện các kết cục kinh
tế Khi các nhà kinh tế tìm cách lý giải thế giới, họ đóng vai trò là cácnhà khoa học, còn khi tìm cách thay đổi thế giới, họ đóng vai trò là nhà
tư vấn chính sách
Phân tích thực chứng và chuẩn tắc
Các nhà kinh tế tìm cách khám phá xem thế giới kinh tế vận hànhnhư thế nào, và để theo đuổi mục tiêu này, họ phân biệt giữa hai loạinhận định: thế giới là gì ? và thế giới cần phải như thế nào ?
Những nhận định mô tả về sự sự vận hành của thế giới được gọi là
nhận định thực chứng Chúng khẳng định rằng thế giới là như thế nào.
Một nhận định thực chứng có thể đúng hoặc sai Chúng ta có thể kiểmđịnh một nhận định thực chứng bằng cách đối chứng với thực tế Khimột nhà hóa học làm thí nghiệm trong phòng thí nghiệm, anh ta dùngcác bằng chứng thực nghiệm để kiểm định một nhận định thực chứng
Những nhận định có tính chất khuyến nghị và trả lời cho câu hỏi thế
giới cần phải như thế nào được gọi là nhận định chuẩn tắc Khi quốc
hội tranh luận về một đề nghị, suy cho cùng họ tìm cách quyết địnhđiều đó cần phải như thế nào Họ đang đưa ra một nhận định chuẩn tắc.Những nhận định này phụ thuộc vào giá trị và không thể đánh giáchúng chỉ bằng số liệu việc quyết định xem chính sách nào tốt và chínhsách nào tồi không phải đơn thuần chỉ là một vấn đề thuần túy khoa
Trang 16học Nó còn gắn với quan điểm của chúng ta về đạo đức, tôn giáo vàtriết lý chính trị
Để phân biệt giữa nhận định tực chứng và nhận định chuẩn tắc,chúng ta hãy xét ví dụ sau Chẳng hạn có hai sinh viên đang tranh luận
về tiền tệ và lạm phát Dưới đây là một phần trong cuộc trao đổi của họ:
Hùng : Tăng cung ứng tiền tệ gây ra lạm phát
Hương : Chính phủ cần tăng cung tiền
Nhận định của Hùng và Hương khác nhau ở điều mà hai sinh viênnày tìm cách làm Hùng đang nói như một nhà khoa học : bạn ấy khẳngđịnh phương thức vận hành của thế giới Hương đang nói như một nhà
tư vấn chính sách: bạn ấy khẳng định điều mà thế giới cần thay đổi.Nhận định của Hùng là nhận định thực chứng, còn nhận định củaHương là nhận định chuẩn tắc
Nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc có mối quan hệ vớinhau Quan điểm thực chứng của chúng ta về phương thức vận hànhcủa thế giới ảnh hưởng tới quan điểm chuẩn tắc của chúng ta về việcnhững chính sách nào là đáng mong muốn Nếu nhận định của Lan rằngtăng cung tiền gây ra lạm phát là đúng, nó có thể đưa chúng ta đến bác
bỏ khuyến nghị của Hương là chúng ta nên tăng cung tiền Song kếtluận chuẩn tắc không phải chỉ được rút ra từ các phân tích thực chứng
Nó cần tới cả phân tích thực chứng và các đánh giá giá trị
Trong thực tế, các nhà kinh tế hoạt động với tư cách nhà tư vấn chochính phủ ở nhiều lĩnh vực khác nhau Thủ tướng được các nhà kinh tếtrong Ban Cố Vấn, Bộ Tài Chính, Bộ kế hoạch và đầu tư, Ngân hàngNhà Nước Việt Nam, Bộ Tư Pháp,…tư vấn Quốc hội nhận được sự tưvấn của các nhà kinh tế trong văn phòng Quốc hội, Ủy ban kinh tế vàngân sách,…
Tại sao các nhà kinh tế lại bất đồng ?
Việc hoạch định các chính sách nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế
là một trong những ứng dụng quan trọng nhất của lý thuyết kinh tế và làchức năng quan trọng nhất của các nhà kinh tế Tuy nhiên nếu xem bảntin trên ti vi hoặc đọc báo bạn sẽ thấy rằng các nhà kinh tế không phảilúc nào cũng nhất trí với nhau về các chính sách kinh tế Do vậy, những
Trang 17người thiếu hiểu biết sẽ hoài ngjhi về những đóng góp mà kinh tế họcđem lại trong việc giải quyết các vấn đề xã hội Các nhà kinh tế bấtđồng với nhau vì họ có những quan điểm khác nhau về nó là gì hoặc cái
gì nên làm
Chúng ta đã giải thích rằng các nhà kinh tế không có những chuyênmôn đặc biệt trong việc lựa chọn các mục tiêu để quyết định điều gì nênlàm và nên làm như thế nào Tuy nhiên, cũng như những học giả khác,các nhà kinh tế cũng có những quan niệm khác nhau về giá trị và cóquan điểm riêng về việc đánh giá mục tiêu kinh tế nào của xã hội làquan trọng nhất Hãy xét vấn đề hút thuốc Nhiều nhà kinh tế ủng hộmức thuế cao hơn đánh vào thuốc lá nhằm ngăn chặn việc hút thuốc,đặc biệt đối với giới trẻ Tuy nhiên, những người khác lại lập luậnrằngmột chính sách như vậy sẽ gây ra gánh nặng tài chính quá lớn đối vớinhững người nghiện thuốc lớn tuổi, những người thường nghèo hơnnhững người không hút thuốc lại không có khả năng thay đổi hành vicủa mình khi thuế tăng Đây chính là sự bất đồng về mục tiêu Điều gìquan trọng hơn : giảm việc hút thuốc cho giới trẻ hay bảo vệ mức sốngcủa những người nghiện thuốc lớn tuổi ? Rõ ràng, các nhà kinh tế vớinhững triết lý khác nhau về những gì mà một xã hội cần đạt được sẽ cónhững đề xuất chính sách kinh tế khác nhau
Các nhà kinh tế có thể cũng có những bất đồng về chính sách kinh tế
vì họ không nhất trí với nhau phương thức hoạt động của thế giới – về
cơ chế hoạt động của nền kinh tế hoặc về những cơ chế tác động củamột chính sách cụ thể Ví dụ, thậm chí các nhà kinh tế, những ngườiủng hộ mức thuế cao hơn đánh vào thuốc lá nhằm ngăn chặn thanhthiếu niên hút thuốc có thể cũng không thống nhất với nhau về mứcthuế suất Ở đây, sự khác nhau trong số liệu thống kê liên quan đếnphản ứng của người tiêu dùng đối với sự thay đổi giá thuốc lá cũng cóthể gây ra một sự bất đồng quan điểm nữa Do các ước tính khác nhaunày, các nhà kinh tế có thể đưa ra các khuyến nghị khác nhau về mứcthuế cần tăng – các đề xuất đó phản ánh các kết luận khác nhau về phảnứng của thanh niên đối với việc tăng thuế
Tóm lại, các nhà kinh tế có thể bất đồng với nhau hoặc do họ cónhững quan điểm khác nhau về cái gì nên làm hoặc do họ có nhữngquan điểm khác nhau về cơ chế hoạt động của nền kinh tế Tất nhiên
Trang 18những lĩnh vực tranh cãi này thường được chú ý hơn những lĩnh vực
mà mọi người đã thống nhất Tuy nhiên, việc các nhà kinh tế giống nhưcác nhà khoa học xã hội, quan tâm đến việc khám phá và tranh luậnnhững vấn đề mà họ bất đồng với nhau không có nghĩa là họ khôngbao giờ đi đến kết luận chung Thực ra, các nhà kinh tế đã thống nhấtvới nhau ở rất nhiều vấn đề và câu trả lời do vậy, không thể vì nhữngbất đồng về những chính sách cụ thể nào đó mà bạn có cái nhìn sailệch Việc nghiên cứu kinh tế học có một đóng góp rất lớn vào nhậnthức của bạn về thế giới và nhiều vấn đề xã hội của nó Tiếp cận nghiêncứu với một tư duy mở sẽ giúp bạn hiểu được các sự kiện mà bạn chưatừng biết trước đó
V Cấu trúc của cuốn sách
Với tư cách là nhà khoa học các nhà kinh tế học gặp nhiều khó khănbởi vì họ không thể làm các thí nghiệm có kiểm soát Để hiểu hành vicủa nền kinh tế, các nhà kinh tế học cần có các số liệu kinh tế.Chúng ta
có tiến bộ trong kinh tế vĩ mô trên cơ sở quan sát số liệu, phát hiệnnhững xu hướng và mối quan hệ, xây dựng mô hình để giải thích các xuhướng và mối quan hệ đó , và sau đó kiểm định xem các mô hình cóphù hợp với số liệu mới cập nhật không Do đó phần đầu của cuốnsách giới thiệu định nghĩa và cách đo lường các biến số kinh tế vĩ mô
cơ bản bao gồm tổng sản phẩm trong nước, mức giá chung, và tỷ lệ thấtnghiệp Chúng là nền tảng quan trọng cho các lý thuyết được giới thiệutrong các chương sau Trong hai chương tiếp theo, chúng ta phát triển
mô hình giải thích hành vi của nền kinh tế thực trong dài hạn, khi giá cảlinh hoạt Tiếp theo, chúng ta xem xét các mô hình của nền kinh tếtrong ngắn hạn, khi giá cả có thể cứng nhắc Chương 5 đưa ra khung cơbản để nghiên cứu những biến động kinh tế vĩ mô ngắn hạn Trongchương này, chúng ta mô tả những tư tưởng trung tâm về tổng cung,tổng cầu và mối cân bằng kinh tế vĩ mô Chương 6, chương 7 vàchương 8 đi sâu phân tích tổng cầu của nền kinh tế với sự nhấn mạnhđặc biệt vào hai chính sách kinh tế vĩ mô cơ bản là chính sách tài khóa
và chính sách tiền tệ Chương 9 đề cập với một vấn đề then chốt trongphân tích kinh tế vĩ mô cơ bản là lạm phát Chương cuối cùng giới thiệucác khái niệm và chính sách kinh tế vĩ mô trong một nền kinh tế mở với
sự nhấn mạnh vào tỷ giá hối đoái
Trang 19 Ba vấn đề cơ bản mà mọi xã hội phải đối mặt là sản xuất cái gì ? sảnxuất cho ai ? sản xuất như thế nào ?
Thi trường thường là cách tốt để tổ chức các hoạt động kinh tế đồngthời chính phủ đôi khi cũng có thể cải thiện được các kết cục thịtrường khi kết quả do thị trường tạo ra là không hiệu quả hay khôngcông bằng
Kinh tế học được chia làm hai phân nhánh: kinh tế vi mô và kinh tế
vĩ mô Kinh tế vi mô nghiên cứu quá trình ra quyết định của các hộgia đình và doanh nghiệp, cũng như sự tương tác giữa hộ gia đình vàdoanh nghiệp trên các thị trường đơn lẻ Kinh tế vĩ mô nghiên cứucác lực lượng và xu thế tác động tới nền kinh tế với tư cách một tổngthể
Những vấn đề then chốt được kinh tế học vĩ mô quan tâm nghiên cứubao gồm mức sản xuất, thất nghiệp, mức giá chung và cán cânthương mại của một nền kinh tế Kinh tế vĩ mô quan tâm đến cả giảithích hành vi của nền kinh tế và đưa ra khuyến nghị về các chínhsách kinh tế vĩ mô
Các nhà kinh tế tìm cách nghiên cứu đối tượng của mình với tínhkhách quan của một nhà khoa học Giống như các nhà khoa học, họđưa ra các giả thiết thích hợp và thiết lập các mô hình đơn giản đểgiải thích thế giới xung quanh họ
Nhận định thực chứng là khẳng định về việc thế giới là như thế nào
Nhận định chuẩn tắc là sự khẳng định về việc thế giới cần phải như
thế nào Khi các nhà kinh tế đưa ra nhận định chuẩn tắc, họ hànhđộng giống nhà nhà tư vấn chính sách hơn một nhà khoa học
Trang 20 Nhà kinh tế tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách thường đưa ranhững lời khuyên mâu thuẫn nhau do có sự khác biệt trong các đánhgiá khoa học hoặc do có sự khác biệt trong giá trị
Câu hỏi ôn tập
1 Hãy nêu ba ví dụ về sự đánh đổi quan trọng mà bạn phải đối mặttrong cuộc đời
2 Chi phí cơ hội của việc đi xem một bộ phim là gì ?
3 Ba vấn đề kinh tế cơ bản mà mọi xã hội phải đối mặt là gì ?
4 Tại sao các nền kinh tế hiện đại đều được tổ chức theo mô hìnhkinh tế hỗn hợp trong đó cả thị trường và nhà nước đều điều tiếtcác hoạt động kinh tế ?
5 Kinh tế học là gì ? Kinh tế học chia thành hai phân ngành gì ?Hãycho biết mỗi phân ngành nghiên cứu vấn đề gì
6 Kinh tế học giống các môn khoa học khác ở điểm nào ?
7 Tại sao các nhà kinh tế lại đưa ra các giả định ?
8 Mô hình có cần mô tả hiện thực một cách chính xác không ?
9 Sự khác nhau giữa nhận định thực chứng và nhận định chuẩn tắc là
gì ?Hãy nêu ví dụ cho mỗi loại nhận định
10 Tại sao đôi khi các nhà kinh tế đưa ra những lời tư vấn mâu thuẫnnhau cho các nhà hoạch định chính sách ?
Trang 21CHƯƠNG II
ĐO LƯỜNG CÁC BIẾN SỐ KINH TẾ VĨ MÔ CƠ BẢN
Các nhà hoạch định chính sách tìm cách cải thiện hoạt động của nềnkinh tế Các mục tiêu hàng đầu mà họ theo đuổi là kinh tế tăng trưởngnhanh và bền vững, thất nghiệp thấp và ổn định lạm phát ở mức hợp lý
Để đo lường mức độ nền kinh tế thực hiện các mục tiêu này, các nhàkinh tế cần có các chỉ tiêu định lượng phản ánh hoạt động của nền kinh
tế Trong chương này chúng ta sẽ thảo luận về cách thức đo lường sảnlượng và tăng trưởng , lạm phát và thất nghiệp cho một nền kinh tế
I Ba mục tiêu then chốt về thành tựu kinh tế vĩ mô của một quốc gia
Một thước đo then chốt về thành tựu của một nền kinh tế là tỷ lệ
tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế góp phần làm tăng mức sống, và do
vậy đó là mục tiêu kinh tế vĩ mô hàng đầu Trong hai thập niên qua, kể
từ khi áp dụng những chính sách cải cách kinh tế toàn diện với nội dungcốt lõi là tự do hóa, ổn định hóa, thay đổi thể chế, chuyển dịch cơ cấutheo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Và mở cửa ra nền kinh tế thếgiới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng ghi nhận về tăngtrưởng kinh tế Từ chỗ hầu như không có tăng trưởng, thì ngay sau đổimới, trong giai đoạn 1986-1990, nền kinh tế có dấu hiệu phục hồi vàphát triển, tuy tốc độ chưa cao Trong những năm 1990, nền kinh tế liêntục tăng tốc Tuy nhiên, sau khi đạt đỉnh cao nhất vào năn 1995(9,54%), tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã bị giảm sút vàxuống mức đáy vào năm 1999 (1999 : 4,77%), chủ yếu do tác động củacuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ khu vực Bắt đầu từ năm 2000,tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã liên tục cao lên Với đà tăngtrưởng bình quân hàng năm 7,3% như trong suốt giai đoạn từ năm 1990đến nay, thì tổng sản phẩm trong nước của Việt Nam sẽ gấp đôi saukhoản 1 thập kỷ
Trang 22Hình 1.1 Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hằng năm ở Việt Nam, 1986-2004
Hình 1.2 Tỷ lệ thất nghiệp hàng năm ở Việt Nam, 1998-2004
Tỷ lệ thất nghiệp, một thước đo cơ bản về cơ hội tìm việc làm vàhiện trạng của thị trường lao động, cho chúng ta một thước đo khác vềhoạt động của nền kinh tế Một mục tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản đối vớimọi quốc gia là đảm bảo trạng thái đầy đủ việc làm,cho mọi lao độngsẵn sàng và có khả năng làm việc tại mức tiền lương hiện hành đều cóviệc làm Số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam đãliên tục giảm xuống trong tiến trình cải cách và hội nhập kinh tế quốc
tế Đây là một nguồn quan trọng đóng góp tích cực cho tăng trưởngkinh tế cao ở Việt Nam trong thời gian qua
Lạm phát là thước đo then chốt thứ ba về thành tựu vĩ mô của mộtnền kinh tế Ngay sau khi thực hiện đổi mới, nước ta đã vấp phải tháchthức lớn : nền kinh tế bị mất ổn định nghiêm trọng Giá cả hàng hóa vàdịch vụ bắt đầu tăng tốc Giai đoạn 1986-1988 là những năm lạm phátphi mã, tỷ lệ lạm phát tăng lên ba con số (1986: 774,7% ; 1987:223,1% ; 1998: 393,8%) với những hậu quả khôn lường: triệt tiêu động
Trang 23lực tiết kiệm và đầu tư, làm đình trệ sự phát triển lực lượng sản xuất,thất nghiệp tăng nhanh, đời sống của đại bộ phận dân cư - đặc biệt là
là những người làm trong bộ máy nhà nước bị suy giảm nghiêm trọng.Năm 1989, với chương trình ổn định mà nội dung chủ yếu là áp dụngchính sách lãi suất thực dương Việt Nam đã thành công trong việc chặnđứng siêu lạm phát Song, kết quả này đã không bền vững: lạm phát cao
đã quay trở lại trong hai năm sau đó vì thâm hụt ngân sách quá lớn vàđược tài trợ chủ yếu bằng phát hành tiền Từ năm 1992, chính phủ ViệtNam theo đuổi chính sách tài khóa và tiền tệ thận trọng: Thâm hụt ngânsách được duy trì ở mức thấp và đặc biệt đã không tài trợ bằng pháthành tiền; lãi xuất thực dương liên tục được duy trì Những giải phápnày được thực hiện trong bối cảnh đẩy mạnh cải cách kinh tế và chủđộng hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã đưa đến nhữngthành công đáng khích lệ : lạm phát được kiểm soát và kinh tế tăngtrưởng cao Tuy nhiên từ năm 1999, nước ta lại phải đối mặt với mộtthách thức mới : lạm phát quá thấp đi cùng với đà tăng trưởng kinh tếchậm Với chủ trương kích cầu kịp thời, nền kinh tế nước ta khởi sắcvới tốc độ tăng trưởng kinh tế ngày càng cao Bước sang năm 2004,lạm phát đột ngột tăng tốc trở thành mối quan tâm chung cho sự pháttriển kinh tế ở nước ta : chỉ số giá tiêu dùng tăng 9,5% Đây là mứctăng giá cao nhất trong 9 năm qua và cũng là năm đầu tiên kể từ năm
1999 tỷ lệ lạm phát vượt ngưỡng do Quốc hội đề ra là 5% Điều nàyhoàn toàn nằm ngoài dự kiến của các nhà hoạch định chính sách, cácnhà kinh tế và của mọi người dân
Hình 1.3 Tỷ lệ lạm phát hàng năm ở Việt Nam, 1986-2004
Trang 24Tăng trưởng, thất nghiệp và lạm phát là ba mối quan tâm hàng đầucủa các nhà kinh tế vĩ mô Hiểu được các vấn đề đó là bước đầu tiên đểđưa ra các chính sách thích hợp nhằm cải thiện thành tựu kinh tế vĩ môhướng tới các mục tiêu: tăng trưởng nhanh, đầy đủ việc làm và ổn địnhlạm phát ở mức hợp lý Tuy nhiên, để hiểu các vấn đề này trước hếtchúng ta cần biết cách đo lường chúng.
II Đo lường sản lượng và tăng trưởng
Để đánh giá thành công của nền kinh tế trong việc nâng cao mứcsống cho mọi người dân, trước hết chúng ta cần hiểu tổng sản lượngcủa nền kinh tế được đo lường như thế nào Chúng ta sẽ thấy tổng thunhập của một nền kinh tế đúng bằng tổng sản lượng hàng hóa và dịch
vụ mà nền kinh tế tạo ra Do vậy, việc đo lường sản lượng chính làđiểm xuất phát để đánh giá hoạt động của cả hệ thống kinh tế
Tổng sản phẩm trong nước : (Gross Domestic Product – GDP)
Sản lượng của nền kinh tế bao gồm hàng triệu hàng hóa và dịch vụkhác nhau Chúng ta có thể ghi chép sản lượng của từng hàng hóa vàdịch vụ mà nền kinh tế tạo ra Số liệu này có thể hữu ích cho một sốmục tiêu, nhưng đó không phải là thông tin mà chúng ta cần Nếu nhưtrong năm vừa qua, sản lượng gạo tăng 4%, thịt gà giảm 5%, cà phêtăng 3%, và phân đạm giảm 2%, thì tổng sản lượng của nền kinh tế đãtăng hay giảm ? Và tăng hay giảm bao nhiêu ?
Chúng ta cần một con số duy nhất tổng hợp sản lượng của cả nềnkinh tế Tuy nhiên làm thế nào chúng ta có thể tổng hợp các sản phẩmkhác nhau lại với nhau ?
Ý nghĩa của khái niệm GDP
Tổng sản phẩm trong nước, gọi tắt là GDP, là một thước đo về tổng
sản lượng và thu nhập của một quốc gia Khi đánh giá xem liệu một nềnkinh tế hoạt động tốt hay không, một cách tự nhiên, người ta thườngnhìn vào tổng thu nhập mà mọi người trong nền kinh tế nhận được Đóchính là vai trò của GDP
Tổng sản phẩm trong nước là tổng giá trị thị trường của tất cả hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi một nước trong một thời kỳ nhất định là một năm.
Trang 25GDP cùng một lúc đo lường hai chỉ tiêu: tổng thu nhập mà mọi cánhân trong nền kinh tế nhận được và tổng chi tiêu cho những hàng hóa
và dịch vụ mà nền kinh tế tạo ra Lý do mà GDP có thể đo lường cảtổng thu nhập và tổng chi tiêu là vì hai chỉ tiêu này thực ra phản ánh haimặt của cùng một quá trình Đối với toàn bộ nền kinh tế thì tổng thunhập phải bằng giữa thu nhập và chi tiêu thông qua biểu đồ vòng chuchuyển trong Hình 2.1
Biểu đồ này mô tả tất cả các giao dịch giữa các hộ gia đình và cácdoanh nghiệp trong một nền kinh tế giản đơn chỉ bao gồm các hộ giađình và các doanh nghiệp, không có khu vực chính phủ và quan hệthương mại và tài chính với thế giới bên ngoài Trong nền kinh tế này,các hộ gia đình hoặc là trực tiếp sở hữu các nhân tố sản xuất hoặc giántiếp sở hữu các nhân tố sản xuất thông qua việc nắm giữ cổ phiếu trongcác công ty cổ phần và nhận được toàn bộ thu nhập tạo ra từ việc sửdụng các nhân tố sản xuất đó Các doanh nghiệp thuê các nhân tố sảnxuất từ các hộ gia đình và sử dụng chúng để sản xuất hàng hóa và dịch
vụ nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường
Toàn bộ giá trị thị trường do các doanh nghiệp tạo ra được sử dụng
để trả cho các hộ gia đình tương ứng các nhân tố sản xuất dưới các hìnhthái thu nhập như tiền công, tiền lương, tiền thuê và lợi nhuận, Đếnlượt mình, các hộ gia đình lại sử dụng thu nhập này để mua hàng hóa vàdịch vụ từ các doanh nghiệp
Hình 2.1 Biểu đồ vòng chu chuyển
Trang 26Trên thực tế các giao dịch trong nền kinh tế phức tạp hơn nhiều sovới mô hình đơn giản được minh họa trong Hình 2.1 Cụ thể, các hộ giađình không chi tiêu toàn bộ thu nhập tạo ra Các hộ gia đình nộp mộtphần thu nhập nhận được cho chính phủ dưới dạng thuế, đồng thời họtiết kiệm một phần thu nhập để sử dụng trong tương lai Ngoài ra, các
hộ gia đình không phải là người mua hàng duy nhất trong nền kinh tế.Một số hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra do chính phủ mua, và một
số khác do các doanh nghiệp mua để mở rộng năng lực sản xuất trongtương lai Tuy nhiên, bất kể hộ gia đình, chính phủ, hay doanh nghiệpmua một hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, thì giao dịch đó vẫn có một bênmua và một bên bán Do vậy, khi xem xét toàn bộ nền kinh tế thì tổngchi tiêu và tổng thu nhập luôn luôn bằng nhau
Một điều nữa mà các bạn cần biết là trong thực tế không phải toàn
bộ thu nhập tạo ra đều được trả cho các hộ gia đình Các doanh nghiệpgiữ lại một phần lợi nhuận để tái đầu tư vào hàng tư bản mà không phânphối hết dưới dạng cổ tức cho các cổ đông Tuy nhiên các doanh nghiệpchỉ có thể thực hiện điều đó khi các cổ đông chấp nhận sự gia tăng giátrị cổ phần của họ (do số lượng tư bản mà họ sở hữu tăng lên) thay vìnhận thu nhập cao hơn dưới dạng cổ tức Để đơn giản cho việc trìnhbày chúng ta giả thiết toàn bộ lợi nhuận được trả hết cho các cổ đôngdưới dạng cổ tức, và sau đó các doanh nghiệp tài trợ cho các dự án đầu
tư của họ bằng cách phát hành cổ phiếu mới hay đi vay từ các hộ giađình
Các phương pháp tính GDP
Hệ thống hạch toán mà chúng ta sử dụng để đo lường GDP có tên
gọi là hệ thống tài khoản quốc gia (System of National Accounts-SNA).
Theo hệ thống này, có ba cách tiếp cận được sử dụng để đo lường GDP
và cả ba cách đều cho cùng một kết quả Hai cách dựa vào số liệu sảnlượng Cách thứ ba sử dụng số liệu về thu nhập để đo lường mức sảnxuất bởi vì trên thực tế giá trị sản xuất tạo ra sẽ được phân phối cho chủ
sở hữu các nhân tố sản xuất
Cách tiếp cận hàng hóa cuối cùng hay còn gọi là cách tiếp cận chi tiêu Mới nhìn thoáng qua, chúng ta thấy đo lường GDP mặc dù là một
công việc đồ sộ nhưng dễ dàng Người ta thu nhập số liệu tính bằng tiền
Trang 27của mọi hàng hóa và dịch vụ được bán trong nước và sau đó cộngchúng lại với nhau Tuy nhiên, thực tế không đơn giản như vậy, bởi vìtrước hết chúng ta cần phải phân biệt hàng hóa cuối cùng và hàng hóa
trung gian Hàng hóa cuối cùng – như gạo, thịt lợn, quần áo,…- được
bán cho người sử dụng cuối cùng bao gồm hộ gia đình, hãng, chính phủ
hoặc người nước ngoài Các hàng hóa trung gian được sử dụng để sản
xuất ra các hàng hóa và dịch vụ khác – như than được sử dụng để chếtạo thép, cao su để làm săm, lốp, vải được sử dụng để may quần áo,…Một hàng hóa như gạo có thể là hàng hóa cuối cùng hoặc hàng hóatrung gian, tùy thuộc vào việc sử dụng nó như thế nào Cách tiếp cậnhàng hóa cuối cùng được sử dụng để đo lường GDP cộng tổng giá trịtính bằng tiền của mọi hàng hóa và dịch vụ được tạo ra, phân loại theongười cuối cùng sử dụng chúng
Chúng ta cần phân biệt hàng hóa cuối cùng và trung gian là do giá trịcủa hàng hóa cuối cùng đã bao gồm giá trị của hàng hóa trung gianđược sử dụng để chế tạo hàng hóa cuối cùng Khi Công ty xe đạpThống Nhất bán một chiếc xe đạp trị giá 500 nghìn đồng, thì con số này
có thể bao gồm 20 nghìn đồng tiền săm lốp mua của công ty cao su SaoVàng Sẽ là tính trùng khi chúng ta tổng hợp cả giá trị của xe đạp và giátrị của săm lốp trong GDP Điều tương tự xảy ra với thép, nhựa và cáclinh kiện khác được sử dụng để sản xuất xe đạp Trên thực tế, nhữngtrường hợp trong đó một số hàng hóa trung gian được sử dụng để chếtạo các hàng hóa trung gian khác có thể dẫn đến việc tính trùng khôngchỉ hai mà tới ba hoặc bốn lần
Một cách để tính giá trị của hàng hóa cuối cùng được tạo ra trongnền kinh tế là xem xét các hàng hóa này được sử dụng vào mục đích gì
Có bốn khả năng Thứ nhất, một số hàng hóa cuối cùng được tiêu dùng
bởi các cá nhân – chúng ta gọi là tổng tiêu dùng (Consumption-C) Đó
là các khoản chi tiêu mà các cá nhân thực hiện hàng ngày cho lươngthực, thực phẩm, quần áo, xem phim, tủ lạnh, xe máy…Thực phẩm,quần áo, và các hàng hóa khác sử dụng trong một thời gian ngắn được
phân loại là những hàng hóa không lâu bền ; trong khi tủ lạnh, xe máy
và các hàng hóa tương tự được xếp vào nhóm hàng hóa lâu bền Đồng
thời cũng có một nhóm tiêu dùng thứ ba, dịch vụ; đây là việc mua hoạtđộng của các cá nhân, chẳng hạn như bác sĩ, luật sư và nhà môi giới
Trang 28Thứ hai, một số hàng hóa được các cá nhân mua để sử dụng cho
tương lai được gọi là tổng đầu tư (Investment-I) Đầu tư chủ yếu do các
doanh nghiệp thực hiện, bao gồm chi tiêu cho việc xây dựng nhà xưởng
mới, mua sắm trang thiết bị mới ; được gọi là đầu tư cố định cho kinh
doanh Các hàng hóa được các doanh nghiệp bổ sung thêm trong kho
cũng được tính là một phần của chi tiêu và được gọi là đầu tư vào hàng
tồn kho Khoản mục này có thể mang giá trị âm nếu các doanh nghiệp
giảm lượng hàng trong kho chứ không tăng chúng Thành phần thứ bacủa đầu tư trên thực tế cho các hộ gia đình và chủ kho thuê nhà thực
hiện – đầu tư cố định vào nhà ở Đây là việc mua nhà mới.
Chúng ta cần phân biệt hai bộ phận cấu thành của tổng đầu tư: đầu
tư thay thế và đầu tư ròng Đầu tư thay thế là bộ phận đầu tư tương ứngvới giá trị tư bản bị hao mòn trong thời kì nghiên cứu và do đó đơnthuần để duy trì khối lượng tư bản hiện có Tổng đầu tư trừ đi đầu tưthay thế được gọi là đầu tư ròng Đầu tư ròng phản ánh sự thay đổi khốilượng tư bản giữa cuối kì so với đầu kì Khi tổng đầu tư lớn hơn đầu tưthay thế, thì đầu tư ròng sẽ mang giá trị dương và do vậy khối lượng tưbản có thể sử dụng trong thời kì tới sẽ nhiều hơn so với hiện tại Ngượclại, khi đầu tư không đủ để thay thế số tư bản cho hao mòn, thì đầu tưròng mang giá trị âm và khối lượng tư bản trong nền kinh tế sẽ giảm
I N = I – Khấu hao
Toàn bộ tổng đầu tư được tính vào trong GDP bởi vì toàn bộ hànghóa đầu tư là một phần của sản lượng quốc dân, và việc sản xuất chúngtạo ra thu nhập (và việc làm) bất kể hàng hóa đó là phần của đầu tưròng hay đơn thuần là đầu tư thay thế
Thứ ba, một số hàng hóa được chính phủ (ở tất cả các cấp – chínhphủ trung ương và chính quyền địa phương) mua và được gọi là chi tiêuchính phủ (Government purchases - G) Nó bao gồm chủ yếu là chi tiêuquốc phòng, chi cho việc duy trì hoạt động của bộ máy chính phủ cũngnhư chi tiêu cho hoạt động đầu tư phát triển như xây dựng đường caotốc, cầu cống, bến cảng… Điều quan trọng cần nhận thức là nó chỉ tínhcác khoản chính phủ chi cho hàng hóa và dịch vụ vào GDP Điều này
có nghĩa là nó không tính các khoản chi trả trợ cấp thất nghiệp, bảohiểm xã hội, và các khoản chuyển giao thu nhập khác Khi chính phủ
Trang 29chi chuyển giao thu nhập cho các cá nhân, hoạt động này không ảnhhưởng trực tiếp, nhưng lại tác động gián tiếp đến GDP thông qua ảnhhưởng đến tiêu dùng của các hộ gia đình.
Cuối cùng, một số hàng hóa được đưa ra bán ở nước ngoài và đượcgọi là xuất khẩu (X) Nếu như chúng ta không nhập khẩu bất kỳ hànghóa nào (tức là mua hàng hóa được sản xuất ở các nước khác), thì GDPđơn giản bao gồm các hàng hóa được sử dụng cho tiêu dùng cá nhân,đầu tư tư nhân, chính phủ mua hoặc xuất khẩu Tuy nhiên, không phảimọi hàng hóa tiêu dùng, đầu tư tư nhân, chính phủ mua đều được sảnxuất trong nước Ví dụ nhiều hàng điện tử, ôtô, xe máy mà các cá nhânmua được sản xuất tại các nước khác Do đó, bước cuối cùng để tínhGDP sử dụng cách tiếp cận hàng hóa cuối cùng là khấu trừ sản lượngnhập khẩu (IM) Như vậy,
GDP = C + I + X – IM
Sự chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu được gọi là xuất khẩu
ròng (NX = X - IM) Phương trình này là một đồng nhất thức; tức là, nó
luôn đúng (theo định nghĩa) : GDP bằng tiêu dùng cộng đầu tư cộng chitiêu chính phủ và cộng xuất khẩu ròng
Cách tiếp cận giá trị gia tăng Cách thứ hai để tính giá trị GDP là xử
lý hàng hóa trung gian một cách trực tiếp Việc sản xuất hầu hết các sảnphẩm đều trải qua một số công đoạn Chẳng hạn xét quá trình sản xuấtôtô Ở công đoạn 1, quặng sắt, than, và cao su được khai thác Ở côngđoạn 2, các nguyên liệu thô này được vận chuyển đến các nhà máyluyện thép Công đoạn 3 liên quan đến việc nhà máy luyện thép sửdụng các đầu vào này để chế tạo thép Cuối cùng, thép, cao su và cácđầu vào khác được nhà máy ôtô sử dụng để chế tạo ôtô Sự khác nhau
về giá trị giữa cái mà nhà sản xuất ôtô nhận được từ ôtô thành phẩm và
cái mà nó trả cho các hàng hóa trung gian là giá trị gia tăng của doanh
nghiệp
Giá trị Doanh thu của Chi phí về hàng
gia tăng doanh nghiệp hóa trung gian
GDP có thể được tính bằng cách cộng giá trị gia tăng từ tất cả các côngđoạn sản xuất
Trang 30GDP = Tổng giá trị giá tăng của mọi doanh nghiệp
Cách tiếp cận thu nhập Phương pháp thứ ba được sử dụng để tính
GDP liên quan tới việc đo lường thu nhập tạo ra từ việc sản xuất và tiêuthụ sản phẩm, chứ không phải là giá trị của bản thân các sản phẩm đó
Đó chính là cách tiếp cận thu nhập Doanh nghiệp sử dụng doanh thunhận được để chi cho bốn mục đích Họ phải trả thù lao cho các laođộng mà họ thuê, trả lãi cho vốn vay, trả chi phí về các hàng hóa trunggian mua ngoài, và họ phải nộp thuế gián thu như thuế giá trị gia tăngcho chính phủ Cái còn lại là thu nhập của doanh nghiệp Một số thunhập của doanh nghiệp phải để lại để thay thế thiết bị đã hao mòn trongquá trình sản xuất (được gọi là khấu hao, mà chúng ta sẽ thảo luận phầnsau), và phần còn lại là của doanh nghiệp
Doanh thu = tiền lương + tiền lãi + chi phí về các đầu vào trung
gian + thuế gián thu + khấu hao + lợi nhuận
Tuy nhiên, như chúng ta đã biết giá trị gia tăng của doanh nghiệpchính là doanh thu của doanh nghiệp trừ đi chi phí về các hàng hóatrung gian Do đó,
Giá trị gia tăng = tiền lương + tiền trả lãi + thuế gián thu + khấu hao + lợi nhuận
Và vì GDP bằng tổng giá trị gia tăng của mọi doanh nghiệp, nó cũngcần phải bằng tổng giá trị của tất cả các khoản thanh toán tiền lương,thanh toán tiền lãi, thuế gián thu, khấu hao, và lợi nhuận đối với mọidoanh nghiệp :
GDP = tiền lương + tiền lãi + thuế gián thu + khấu hao + lợi nhuận
Dân cư được thu nhập từ tiền lương, tiền lãi vốn, và từ lợi nhuận củacác doanh nghiệp do họ sở hữu Và khi các doanh nghiệp chi tiêu dểthay thế các thiết bị cũ, giao dịch thu nhập đối với những người tạo rathiết bị mới Như vậy, vế phải của đồng nhất thức này là tổng thu nhậpcủa mọi cá nhân và thu nhập của chính phủ từ thuế gián thu Đây là mộtkết quả cực kỳ quan trọng mà các nhà kinh tế thường sử dụng, đó là
tổng sản lượng bằng tổng thu nhập.
Trang 31Sự khác nhau giữa thu nhập cá nhân và thu nhập quốc dân.
Khái niệm thu nhập được sử dụng để tính GDP khác đôi chút vớicách mà các cá nhân quan niệm trong đời sống thường nhật, và các bạncần nhận thức được sự khác nhau này
Thứ nhất, dân cư thường tính vào thu nhập bất kỳ khoản lãi vốn nào
mà họ nhận được từ các tài sản Lãi vốn là sự gia tăng giá trị của tài sản
và do không biểu thị giá trị sản xuất hiện tại theo bất kỳ cách nào Cáctài khoản thu nhập quốc dân được sử dụng để tính GDP nhằm phản ánhgiá trị sản xuất hiện tại và do đó không bao gồm các khoản lãi vốn
Thứ hai, lợi nhuận mà doanh nghiệp giữ lại được tính trong thu nhập
quốc dân, nhưng các cá nhân không coi lợi nhuận giữ lại như là mộtphần trong thu nhập của họ Một lần nữa, đó là vì GDP đo lường giá trịsản xuất, cho dù lợi nhuận này được phân phối dưới dạng cổ tức chocác cổ đông hay được công ty giữ lại để tái đầu tư
So sánh cách tiếp cận hàng hóa cuối cùng và cách tiếp cận thu nhập Trong cách tiếp cận hàng hóa cuối cùng chúng ta đã chia sản
lượng của nền kinh tế thành bốn thành tố - tiêu dùng, đầu tư, chi tiêuchính phủ và xuất khẩu ròng Chúng ta cũng chia thu nhập của nền kinh
tế thành ba thành tố : thanh toán cho công dân, bao gồm chủ yếu là tiềncông và tiền lương nhưng cũng bao gồm cả tiền nộp bảo hiểm y tế vàhưu trí ; thanh toán cho chủ sở hữu tư bản, bao gồm lợi nhuận, tiền lãi
và tiền thuê; và thuế Các nhà kinh tế coi tổng thanh toán cho côngnhân như là thù lao lao động
Không phải ngẫu nhiên mà giá trị sản lượng bằng giá trị thu nhập –GDP là như nhau theo bất kỳ cách tính nào Đó là kết quả từ vòng chuchuyển của nền kinh tế Cái mà mỗi doanh nghiệp nhận được từ việcbán hàng hóa tạo ra cần phải trở lại một nơi nào khác trong nền kinh tế,với tư cách là tiền lương, lợi nhuận, tiền lãi, tiền thuê, hay thuế Đếnlượt nó, thu nhập của các hộ gia đình hoặc là quay trở lại các doanhnghiệp dưới hình thái chi tiêu mua hàng tiêu dùng hoặc là tiết kiệm màcuối cùng được các doanh nghiệp sử dụng để mua hàng đầu tư như lànhà máy và thiết bị, hay đến chính phủ dưới hình thái thuế hoặc tráiphiếu mà chính phủ mới hình thành
Trang 32Tương tự tiền mà chính phủ sử dụng cần phải bắt nguồn từ một nơinào khác trong nền kinh tế - hoặc từ các hộ gia đình hoặc từ các doanhnghiệp dưới hình thái thuế hay là đi vay.
Sản lượng tiềm năng
GDP thực tế là một thước đo về giá trị sản suất thực tế của nền kinh
tế Tuy nhiên, đôi khi nền kinh tế có năng lực sản xuất nhiều hơn so vớimức thực hiện trong thực tế Một chỉ tiêu kinh tế vĩ mô quan trọng khác
về sản lượng của nền kinh tế, GDP tiềm năng, chỉ ra mức sản xuất mà
nền kinh tế có thể duy trì nếu như toàn bộ nguồn lực (lao động, nhàxưởng và trang thiết bị) được sử dụng tại mức thông thường GDP thực
tế có thể giảm xuống dưới mức tiềm năng khi các nguồn lực khôngđược sử dụng cao hơn mức thông thường: công nhân có thể không có
đủ việc làm, và một số nhà máy và thiết bị có thể hoạt động thấp hơncông suất thiết kế Vào một số giai đoạn khác, nền kinh tế có thể sảnxuất nhiều hơn mức bình thường có thể duy trì Các doanh nghiệp cóthể yêu cầu tăng ca, làm thêm giờ, trì hoãn việc bảo dưỡng thiết bị đểtăng sản lượng tạm thời trong ngắn hạn Bằng cách sử dụng các nguồnlực cao hơn mức thông thường như vậy, GDP thực tế của nền kinh tế cóthể tạm thời vượt quá mức tiềm năng
Các thước đo khác về tổng thu nhập
Ngoài GDP, các nhà thống kê cũng tính các thước đo khác về thunhập nhằm đưa ra một bức tranh hoàn chỉnh hơn về những gì đang xảy
ra trong nền kinh tế Những thước đo này khác với GDP ở chỗ chúng
bổ sung thêm hoặc loại bỏ một số khoản mục thu nhập nhất định Sauđây là mô tả tóm tắt về những thước đo thu nhập này
Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product –GNP) là tổng
thu nhập mà các công dân của một quốc gia kiếm được Nó khác vớiGDP bằng cách cộng thêm khoản thu nhập mà dân cư trong nước kiếmđược ở nước ngoài và trừ đi khoản thu nhập mà người nước ngoài kiếmđược ở trong nước
GNP = GDP + Thu nhập nhân tố ròng từ nước ngoài
Trong đó :
Thu nhập nhân tố = Thu nhập nhận _ Chi phí về hàng
Trang 33ròng từ nước ngoài được từ nước ngoài hóa trung gian
Ví dụ, khi một công dân Việt Nam làm việc tạm thời ở Nhật, thunhập của anh ta là một phần thuộc GDP của Nhật, nhưng nó lại khôngthuộc GNP của Nhật, mà là một phần của GNP của Việt Nam Đối vớihầu hết các nước đang phát triển, GDP lớn hơn GNP do khoản mục thunhập nhân tố ròng từ nước ngoài thường mang giá trị âm
Sản phẩm quốc dân ròng (Net National Product – NNP) Sự phân biệt
giữa GNP và NNP giống như sự phân biệt giữa tổng đầu tư và đầu tư
ròng NNP chính là chênh lệch giữa GNP và khấu hao Khấu hao là
phần giá trị của tư bản đã hao mòn trong quá trình sản xuất sản phẩmcuối cùng Do đó, khấu hao không phải là thu nhập nhận được bởi bất
kỳ một nhân tố sản xuất nào Trái lại nó là phần giá trị cần tái đầu tư đểduy trì khối lượng tư bản như hiện tại
NNP = GNP - Khấu hao
Thu nhập quốc dân (National Income –NI) là tổng thu nhập mà công
nhân một nước kiếm được trong quá trình sản xuất hàng hóa và dịch vụ
Nó khác với sản phẩm quốc dân ròng ở chỗ khấu trừ đi khoản mục thuếgián thu (ví dụ như thuế giá trị gia tăng đang áp dụng ở Việt Nam) vàcộng với các khoản trợ giá cho các nhà sản xuất Nói cách khác, NIđược tính bằng cách khấu trừ khoản mục thuế gián thu ròng khỏi NNP
NI = NNP - Thuế gián thu ròng
Trong đó thuế gián thu ròng chính là chênh lệch giữa thu nhập mà chính phủ nhận được từ thuế gián thu và các khoản chính phủ chi cho trợ giá sản xuất
Thu nhập cá nhân (Personal Income –PI) là thu nhập mà các hộ gia
đình và các đơn vị kinh doanh cá thể nhận được Không giống như thunhập quốc dân, nó khấu trừ các khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp giữlại, đây là khoản thu nhập mà các doanh nghiệp kiếm được nhưngkhông trả cho chủ sở hữu Nó cũng khấu trừ các khoản thuế thu nhậpdoanh nghiệp và các khoản đóng bảo hiểm xã hội Ngoài ra, thu nhập
cá nhân còn bao gồm tiền lãi mà các hộ gia đình nhận được từ cáckhoản cho chính phủ vay và thu nhập mà các hộ gia đình nhận được từ
Trang 34các chương trình chuyển giao thu nhập của chính phủ, ví dụ như trợ cấpthất nghiệp.
Thu nhập cá nhân khả dụng (Disposable Personal Income – Yd) là
thu nhập cuối cùng mà các hộ gia đình và các hộ kinh doanh cá thểnhận được Nó bằng thu nhập cá nhân trừ đi thuế thu nhập cá nhân Thu
nhập cá nhân khả dụng được sử dụng vào hai mục đích : tiêu dùng ( C )
và tiết kiệm ( S ).
Yd = C + S
Mặc dù các thước đo thu nhập có thể khác nhau về chi tiết, nhưng về
cơ bản chúng phản ánh cùng một nội dung về các điều kiện kinh tế KhiGDP đang tăng trưởng nhanh thì các thước đo thu nhập khác cũng tăngnhanh Và khi GDP giảm thì những thước đo thu nhập này cũng giảmtheo Điều đó hàm ý để giám sát sự biến động của toàn nền kinh tế, thìviệc chúng ta sử dụng thước đo nào thực ra không quan trọng
Một cách tóm tắt, chúng ta có thể mô tả mối liên hệ giữa các chi tiêunày qua Hình 2.2
GDP danh nghĩa và thực tế
GDP danh nghĩa đo lường giá trị của sản lượng theo giá của năm báocáo, tức là tính theo đồng Việt Nam hiện hành Do vậy, GDP danhnghĩa (GDPn) của năm 2001 đo lường giá trị của hàng hóa được sảnxuất ra trong năm 2001 theo giá thị trường phổ biến trong năm 2001, vàtương tự như vậy GDP danh nghĩa của năm 2000 đo lường giá trị củahàng hóa được sản xuất ra trong năm 2000 theo giá của năm 2000
ròng (NX) phẩm trongTổng sản
nước (GDP)
Khấu hao (D)
phẩm gián thuThuế
Trang 35quốc dân ròng (NNP)
Chi tiêu chính
phủ (G)
Thu nhập quốc dân (NI)
Lợi nhuận
Tiền lãi
Hình 2-2 : Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu đo lường thu nhập
Công thức tổng quát để tính GDP danh nghĩa của thời kỳ t (GDPt
n) là :
GDPt
n = ∑ Qt Pt
Trong đó :
Pt là giá của sản phẩm cuối cùng i trong thời kỳ t.
Qt là lượng sản phẩm cuối cùng i tạo ra trong thời kỳ t.
Như vậy, GDP danh nghĩa có thể thay đổi bởi hai lý do Thứ nhất, do
sự thay đổi của lượng hàng hóa được tạo ra Thứ hai, do sự thay đổi củagiá cả thị trường Nếu một nền kinh tế sản xuất ra cùng một lượng hànghóa trong hai năm, nhưng trong năm thứ hai giá cả đã tăng gấp đôi sovới năm thứ nhất thì GDP danh nghĩa của năm thứ hai sẽ bằng hai lầnGDP danh nghĩa của năm thứ nhất
Do nhược điểm trên của GDP danh nghĩa nên các nhà kinh tế sử
dụng chỉ tiêu GDP thực tế (GDP r ) để so sánh kết quả hoạt động của nền
kinh tế giữa các thời kỳ khác nhau GDP thực tế đo lượng sản phẩm màmột nền kinh tế tạo ra trong các thời kỳ khác nhau bằng cách định giátất cả các loại hàng hóa được sản xuất ra trong các thời kỳ khác nhautheo một mức giá chung, hay theo đồng tiền theo một thời điểm nhấtđịnh Nghĩa là, nếu coi năm 1994 là năm góc hay là năm cơ sở, thì đểtính GDP thực tế của năm 2001, chúng ta phải lấy lượng sản phẩm tạo
ra trong năm 2001 (Qt) nhân với mức giá phổ biến trong năm 1994 (P0)
và thu được giá trị sản lượng của năm 2001 tính theo giá thị trường củanăm 1994 Công thức tổng quát để tính GDP thực tế của thời kỳ t
Trang 36GDPt = ∑ Qt P0
i
Trong đó:
P0
i là giá của sản phẩm cuối cùng i trong thời kỳ gốc
Qt là lượng sản phẩm i tạo ra trong thời kỳ t
Do GDP thực tế không bị ảnh hưởng bởi sự biến động của giá cả,nên những thay đổi của GDP thực tế chỉ phản ánh sự thay đổi của sảnlượng hàng hóa và dịch vụ Do vậy, GDP thực tế là một thước đo vềsản lượng hàng hóa và dịch vụ của nền kinh tế Nó phản ánh khả năngcủa nền kinh tế trong việc thỏa mãn nhu cầu của người dân Khi nói đếntăng trưởng kinh tế, các nhà kinh tế sẽ tính bằng phần trăm thay đổi củaGDP thực tế của thời kỳ này so với thời kỳ trước đó
Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế của thời kỳ t được tính theo công thức sau :
và sản lượng của hai hàng hóa này thay đổi như thế nào trong ba nămtiếp theo Trong mỗi năm, GDP danh nghĩa được tính bằng cách nhânsản lượng của mỗi hàng hóa với giá của chúng trong năm tương ứng,còn GDP thực tế được tính bằng cách nhân sản lượng của mỗi hànghóa với giá của chúng trong năm 0
Đối với năm cơ sở GDP danh nghĩa và GDP thực tế là như nhau(=2000) bởi vì chúng đều tính theo giá của năm 0 GDP thực tế trong
GDP r t-1
GDPt
r - GDP
r t-1
x 100%
Trang 37năm 1 là 2100, trong khi GDP thực tế của năm 2 là 2200, … Từ bảng sốliệu cho thấy mặc dù GDP danh nghĩa tăng 52,5% từ năm 0 đến năm 3,nhưng khi chúng ta loại bỏ ảnh hưởng của sự thay đổi giá cả của haihàng hóa chúng ta nhận thấy GDP thực tế chỉ tăng có 25% trong giaiđoạn đó.
Bảng 2.1 Tính GDP danh nghĩa, GDP thực tế và chỉ số điều chỉnh GDP
Dt
GDP =Như vậy, chỉ số điều chỉnh GDP là một loại chỉ số giá Chỉ số này đolường sự thay đổi giá của một đơn vị GDP điển hình giữa thời kỳnghiên cứu so với thời kỳ gốc Để tính được chỉ số này, ngoài việc xácđịnh GDP danh nghĩa còn phải tính GDP thực tế, tức là giá trị các hànghóa và dịch vụ được tạo ra trong năm báo cáo tính theo giá năm gốc.Đây là một công việc đòi hỏi nhiều thời gian, do vậy chỉ số điều chỉnhGDP không đáp ứng được yêu cầu cập nhật thông tin giá cả cũng nhưyêu cầu điều tiết vĩ mô ngắn hạn Trong phần sau của chương, chúng ta
sẽ đề cập đến chỉ số giá tiêu dùng cho phép khắc phục được nhượcđiểm này của chỉ số điều chỉnh GDP
Số liệu về chỉ số điều chỉnh GDP được giới thiệu ở cột cuối cùngtrong Bảng 2.1 Kết quả cho thấy giá của một đơn vị GDP điển hìnhtiếp tục tăng theo thời gian Sau 3 năm, mức giá chung trong nền kinh
tế đã tăng 22%
GDP thực tế và phúc lợi kinh tế
GDP
r t
GDPt
n x 100
Trang 38Như chúng ta đã thấy, GDP đo lường cả tổng thu nhập và tổng chi
tiêu của nền kinh tế cho hàng hóa và dịch vụ Do vậy, GDP bình quân
đầu người cho chúng ta biết thu nhập và chi tiêu của một cá nhân điển
hình trong nền kinh tế Do hầu hết mọi người điều muốn nhận đượcmức thu nhập cao hơn là tận hưởng mức tiêu dùng lớn hơn, nên GDPbình quân đầu người dường như là một thước đo tự nhiên về phúc lợikinh tế của một cá nhân điển hình Tuy nhiên, GDP không phải là mộtthước đo hoàn hảo về phúc lợi kinh tế vì các lý do sau :
Thứ nhất, một số loại sản phẩm được đo lường không chính xác bởi
vì chúng không được trao đổi trên thị trường ví dụ như là các dịch vụchính phủ; sản phẩm của các nông dân tự cung tự cấp; và giá trị củadịch vụ nhà ở của các chủ sở hữu Nhiều hoạt động không đưa ra thịtrường hoàn toàn bị bỏ qua như các hoạt động đoàn thể (thanh niên tựnguyện), những hàng hóa và dịch vụ tự thực hiện tại gia đình2 ,…
Thứ hai, việc nâng cao chất lượng của hàng hóa không được phản
ánh thích hợp trong các tài khoản quốc dân, ví dụ giá cả của máy tính
có thể giảm nhưng chất lượng được cải thiện đáng kể
Thứ ba, các tài khoản quốc gia không tính đến vấn đề ô nhiễm môi
trường hoặc hủy hoại tài nguyên thiên nhiên, mà các vấn đề đặc biệtnghiêm trọng ở nhiều nước đang phát triển và chuyển đổi Hãy tưởngtượng rằng chính phủ đã dở bỏ tất cả các luật lệ về môi trường Khi đó,các doanh nghiệp có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ mà không cầnbận tâm đến sự ô nhiễm do họ gây ra, và do đó GDP có thể tăng Tuynhiên, phúc lợi rất có thể sẽ giảm Sự suy thoái chất lượng không khí vànguồn nước sẽ gây ra thiệt hại lớn hơn những lợi ích đem lại từ việc sảnxuất nhiều hơn
Thứ tư, một số hoạt động góp phần làm cho cuộc sống của chúng ta
tốt đẹp hơn đã không được phản ánh trong GDP Một trong số đó là giá trị của thời gian nghỉ ngơi Ví dụ, giả sử rằng mọi người trong nền kinh
tế đột nhiên bắt đầu làm việc tất cả các ngày trong tuần, kể cả thứ Bảy
và Chủ nhật Nhiều hàng hóa và dịch vụ hơn sẽ được sản xuất ra và kếtquả GDP sẽ tăng Tuy nhiên, mặc dù GDP tăng, nhưng chúng ta khôngthể dễ dàng kết luận về sự thay đổi của phúc lợi kinh tế Những cái mất
2 Dịch vụ chăm sóc trẻ em ở các nhà trẻ được tính vào GDP, trong khi việc cha mẹ tự chăm sóc con cái tại gia đình lại không được tính.
Trang 39từ việc giảm thời gian nghỉ ngơi sẽ triệt tiêu những cái được từ việc sảnxuất và tiêu dùng một khối lượng hàng hóa và dịch vụ lớn hơn.
Thứ năm, lý do cuối cùng giải thích tại sao các thước đo sản lượng
thường không phản ánh chính xác kết quả của các hoạt động kinh tếnhư các hoạt động của nền kinh tế ngầm Các tác nhân kinh tế tìm cáchche giấu các giao dịch vì hàng loạt các lý do : trốn thuế, tránh luật pháphoặc các quy định của nhà nước, hoặc che dấu các hoạt động phi phápnhư buôn lậu và buôn bán ma túy Ở nhiều nước, qui mô của nền kinh
tế nhầm được thừa nhận là rất lớn, và đã có những nghiên cứu về khuvực không chính thức này Bởi vì các giao dịch chợ đen được diễn rachủ yếu bằng tiền mặt, mức độ giữ tiền mặt thường được sử dụng đểước tính quy mô của thị trường này Các ước tính khác dựa trên cơ sở
sự không nhất quán trong các cách đo lường GDP - tức là, sự khác nhaugiữa tổng thu nhập và tổng chi tiêu Nếu nền kinh tế ngầm phát triểnmột cách tương đối so với các chỉ tiêu chính thức của nền kinh tế, tốc
độ tăng trưởng của sản lượng đo được thấp hơn tốc độ tăng trưởng thựctế
II Đo lường chi phí sinh hoạt : Chỉ số giá tiêu dùng (Consumer
Price Index – CPI)
Có hai thước đo chính thức về mức giá chung là chỉ số điều chỉnh GDP
và CPI
Giá của một giỏ hàng hóa
CPI là một thước đo tốt để tính lạm phát vì nó ảnh hưởng trực tiếpđến mức sống của một người tiêu dùng điển hình Nó được tính trên cơ
sở một giỏ hàng hóa đại diện, dựa trên điều tra về mua hàng của ngườitiêu dùng Một điều cần lưu ý là CPI được tính là số trung bình giaquyền căn cứ vào trọng số phụ thuộc tỷ lệ ngân sách mà một người tiêudùng điển hình chi cho mỗi nhóm hàng trong giỏ Giá thực phẩm tănggấp đôi sẽ có ảnh hưởng mạnh hơn đến người tiêu dùng so với giálương thực tăng gấp đôi, bởi vì hiện tại người tiêu dùng Việt Nam sửdụng nhiều thu nhập của họ chi cho thực phẩm hơn so với lương thực.CPI được tính theo công thức sau :
CPI = Giá trong năm cơ sở của giỏ hàng hóa trong năm cơ sở Giá hiện hành của giỏ hàng hóa trong năm cơ sở x 100
Trang 40Xét một ví dụ giả định Giả sử các hộ gia đình chỉ mua hai hàng hóa
là gạo và cam Mặc dù các hộ gia đình khác nhau có thể mua số lượnghai loại sản phẩm này khác nhau, nhưng chúng ta chỉ tập trung vào một
hộ gia đình điển hình Trong năm 0, năm cơ sở đối với tính toán của
chúng ta, một hộ gia đình điển hình mua 20kg gạo và 5 cam trong mộttháng Chỉ số giá tiêu dùng sẽ đo lường tổng giá cả của giỏ hàng baogồm hai hàng hóa này thay đổi như thế nào theo thời gian Trong Bảng2.2 cột thứ hai và cột thứ ba cung cấp số liệu giả định về giá cả của mỗihàng hóa trong năm 0 và ba năm tiếp theo Cột 4 tính tổng số tiền bỏ ra
để mua giỏ hàng đại diện cố định bao gồm 20 kg gạo và 5kg cam trongmỗi năm
Trong năm 0, giá trị của 1 kg gạo là 5 nghìn đồng và giá của 1kgcam là 20 nghìn đồng Như vậy, chi phí mua giỏ hàng gồm 20 kg gạo
và 5kg cam là 200 nghìn đồng trong năm cơ sở Trong năm thứ nhất,giá của gạo cao hơn 20% so với năm cơ sở, nhưng giá của cam lại giảm10%, và kết quả là tổng số tiền bỏ ra để mua giỏ hàng đã tăng lên 210nghìn đồng Giữa năm 1 và năm 2 giá của cả hai mặt hàng đều tăng,làm cho giá của giỏ hàng đại diện tăng lên 235 nghìn đồng Cuối cùng,trong năm thứ 3, giá của cam lại trở về mức giá của năm cơ sở, nhưnggiá gạo lại tăng 50% so với năm cơ sở vàg diều này làm cho giá giỏhàng đại diện tăng lên 250 nghìn đồng Theo thông lệ, các nhà thống kêthường gán CPI cho năm cơ sở có giá trị là 100
bỏ ra để mua giỏ hàng đó được so sánh với giá của nó trong năm cơ sở