2 MỤC LỤC Lời nói đầu Chương 1: Những vấn đề chung về thống kê học 1.1 Đối tượng của thống kê học 1.2 Một số khái niệm trong thống kê 1.3 Thang đo trong thống kê 1.4 Hoạt động thố
Trang 11
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
-
BÀI GIẢNG THỐNG KÊ DOANH
NGHIỆP
HỌC VIỆN CÔNG NGHỆ BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH 1
BỘ MÔN KINH TẾ
BÀI GIẢNG
NGUYÊN LÝ THỐNG KÊ KINH TẾ
Người biên soạn : TS Vũ Trọng Phong
Hà nội - 2017
PTIT
Trang 22
MỤC LỤC Lời nói đầu
Chương 1: Những vấn đề chung về thống kê học
1.1 Đối tượng của thống kê học
1.2 Một số khái niệm trong thống kê
1.3 Thang đo trong thống kê
1.4 Hoạt động thống kê và quá trình nghiên cứu thống kê
Chương 2: Điều tra thống kê kinh tế
2.1 Khái niệm ý nghĩa của điều tra thống kê kinh tế
2.2 Các loại điều tra thống kê kinh tế
2.3 Các phương pháp thu thập thông tin trong điều tra thống kê kinh tế
2.4 Xây dựng phương án trong điều tra thống kê kinh tế
2.5 Xây dựng bảng hỏi trong điều tra thống kê
2.6 Sai số trong điều tra thống kê kinh tế
Chương 3: Phân tổ tổng hợp tài liệu điều tra thống kê kinh tế
3.1 Khái niệm chung về phân tổ thống kê
3.2 Tiêu thức phân tổ thống kê
3.3 Kỹ thuật trình bày kết quả tổng hợp tài liệu điều tra qua phân tổ thống kê
Chương 4 Nghiên cứu thống kê các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội
4.1 Số tuyệt đối trong thống kê
4.2 Số tương đối trong thống kê
4.3 Số bình quân trong thống kê
4.4 Các chỉ tiêu đo độ biến thiên của tiêu thức
4.5 Phân phối trong thống kê
4.6 Các chỉ tiêu biểu thị hình dáng của phân phối
Chương 5: Điều tra chọn mẫu trong thống kê
5.1 Khái niệm về điều tra chọn mẫu
5.2 Điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
5.3 Các phương pháp điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
5.4 Quy trình một cuộc điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên
5.5 Điều tra chọn mẫu phi ngẫu nhiên
Chương 6: Phân tích tương quan và hồi quy
6.1 Nhiệm vụ của phân tích hồi quy và tương quan
6.2 Hồi quy tương quan tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng
6.3 Hồi quy tương quan phi tuyến tính giữa hai tiêu thức số lượng
6.4 Hồi quy tương quan tuyến tính bội
6.5 Tương quan hạng và tương quan giữa hai tiêu thức thuộc tính
Trang 33
Chương 7: Phân tích dãy số thời gian
7.1 Khái niệm, phân loại và ý nghĩa dãy số thời gian
7.2 Phân tích đặc điểm biến động của hiện tượng qua thời gian
7.3 Phân tích các thành phần của dãy số thời gian
Chương 8: Chỉ số phát triển và chỉ số kế hoạch kinh tế
8.1 Khái niệm, ý nghĩa và phân loại chỉ số
8.2 Chỉ số phát triển
8.3 Chỉ số kế hoạch
8.4 Hệ thống chỉ số
Chương 9: Thống kê xu hướng phát triển và dự báo thống kê kinh tế
9.1 Thống kê xu hướng phát triển kinh tế
9.2 Dự báo thống kê kinh tế
LỜI MỞ ĐẦU
Nguyên lý thống kê kinh tế là môn học cơ sở của sinh viên chuyên ngành khối
kinh tế và tài chính kế toán Để đáp ứng yêu cầu giảng dạy và học tập của giáo
Trang 44
viên và sinh viên, chúng tôi tổ chức biên soạn bài giảng "Nguyên lý thống kê kinh tế" Với kinh nghiệm giảng, cộng với sự nỗ lực nghiên cứu từ các nguồn tài liệu khác nhau, bài giảng có nhiều thay đổi bổ sung để đáp ứng yêu cầu đào tạo trong giai đoạn mới
Bài giảng gồm 9 chương đề cập đến toàn bộ những kiến thức về nguyên lý thống kê kinh tế
Tác giả chân thành cảm ơn các đồng nghiệp đã giúp đỡ trong quá trình biên
soạn bài giảng này Tác giả mong muốn nhận được góp y của đồng nghiệp, anh
chị em sinh viên và bạn đọc để tiếp tục hoàn thiện nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng bài giảng
Hà Nội tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ
CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THỐNG KÊ HỌC
1.1 Đối tượng nghiên cứu của thống kê học
Thống kê học là một môn khoa học xã hội Tuy nhiên, khác với các môn học xã hội khác, thống kê học không trực tiếp nghiên cứu mặt chất của hiện tượng mà nó chỉ phản ánh bản chất, tính quy luật của hiện tượng thông qua các con số, các biểu hiện về lượng của hiện
PTIT
Trang 55
tượng Điều đó có nghĩa là thống kê học phải sử dụng các con số về quy mô, kết cấu quan hệ
tỉ lệ, quan hệ so sánh, trình độ phát triển, trình độ phổ biến,… của hiện tượng để phản ánh, biểu thị bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu trong những điều kiện, hoàn cảnh
cụ thể Như vậy, các con số thống kê không phải chung chung, trừu tượng mà bao giờ cũng chứa đựng một nội dung kinh tế, chính trị, xã hội nhất định, giúp chúng ta nhận thức được bản chất và quy luật của hiện tượng nghiên cứu
Theo quan điểm triết học, chất và lượng là hai mặt không thể tách rời của mọi sự vật, hiện tượng, giữa chúng luôn tồn tại mối liên hệ biện chứng với nhau Trong mối quan hệ đó,
sự thay đổi về lượng quyết định sự biến đổi về chất Quy luật lượng - chất của triết học đã chỉ rõ: mỗi lượng cụ thể đều gắn với một chất nhất định, khi lượng thay đổi và tích lũy đến một chừng mực nhất định thì chất thay đổi theo Vì vậy, nghiên cứu mặt lượng của hiện tượng sẽ giúp cho việc nhận thức bản chất của hiện tượng Có thể đánh giá thành tích sản xuất của một doanh nghiệp qua các con số thống kê về tổng số sản phẩm làm ra, giá trị sản xuất đạt được, tỉ
lệ hoàn thành kế hoạch sản xuất, giá thành đơn vị sản phẩm, năng suất lao động và thu nhập của công nhân
Tuy nhiên, để có thể phản ánh được bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, các con số thống kê phải được tập hợp, thu thập trên một số lớn các hiện tượng cá biệt Thống kê học coi tổng thể các hiện tượng cá biệt như một thể hoàn chỉnh và lấy đó làm đối tượng nghiên cứu Mặt lượng của hiện tượng cá biệt thường chịu tác động của nhiều nhân tố, trong
đó có những nhân tố tất nhiên và ngẫu nhiên Mức độ và chiều hướng tác động của từng nhân
tố này trên mỗi hiện tượng cá biệt là rất khác nhau Nếu chỉ thu thập số liệu trên một số ít hiện tượng thì khó có thể rút ra bản chất chung của hiện tượng, mà nhiều khi người ta chỉ tìm thấy những yếu tố ngẫu nhiên, không bản chất Ngược lại, khi nghiên cứu trên một số lớn các hiện tượng cá biệt, các yếu tố ngẫu nhiên sẽ bù trừ, triệt tiêu nhau và khi đó, bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng mới được bộc lộ rõ
Hiện tượng số lớn trong thống kê được hiểu là một tập hợp các hiện tượng cá biệt đủ
bù trừ, triệt tiêu tác động của các yếu tố ngẫu nhiên Giữa hiện tượng số lớn (tổng thể) và các hiện tượng cá biệt (đơn vi tổng thể) luôn tồn tại mỗi quan hệ biện chứng Muốn nghiên cứu tổng thể, phải dựa trên cơ sở nghiên cứu từng đơn vị tổng thể Mặt khác, trong quá trình phát triển không ngừng của xã hội, luôn nảy sinh những hiện tượng cá biệt mới, những điển hình tiên tiến hoặc lạc hậu Sự nghiên cứu các hiện tượng cá biệt này sẽ giúp cho sự nhận thức bản chất của hiện tượng đầy đủ, toàn diện và sâu sắc hơn Vì vậy trong thống kê, nhất là thống kê kinh tế, người ta thường kết hợp nghiên cứu hiện tượng số lớn với việc nghiên cứu hiện tượng
cá biệt
Đối tượng nghiên cứu của thống kê học bao giờ cũng tồn tại trong điều kiện thời gian
và không gian cụ thể Trong điều kiện lịch sử khác nhau, các đặc điểm về chất và biểu hiện về lượng của hiện tượng cũng khác nhau nhất là đôi với các hiện tượng kinh tế - xã hội Chẳng hạn, trình độ hiện đại hóa, một trong những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất lao động của người công nhân, lại rất khác nhau giữa các doanh nghiệp Ngay trong cùng một đơn vị, cũng lại có thể khác nhau giữa các giai đoạn, các thời kỳ,… Thậm chí, giữa các bộ phận trong cùng một đơn vị, nhiều khi cũng tồn tại những khác biệt đáng kể Vì vậy các con
số về năng suất lao động của người công nhân trong từng doanh nghiệp, từng thời kỳ khác nhau cũng có ý nghĩa khác nhau Như vậy, khi sử dụng các số liệu thống kê phải luôn gắn nó với điều kiện thời gian và không gian cụ thể của hiện tượng mà số liệu phản ánh
PTIT
Trang 66
1.2 Một số khái niệm thống kê
1.2.1 Khái niệm thống kê
Thuật ngữ thống kê có thể hiểu theo hai nghĩa:
- Thứ nhất, thống kê là các số liệu được thu thập để phản ánh các hiện tượng tự nhiên,
kỹ thuật, kinh tế và xã hội Chẳng hạn như sản lượng sản phẩm được sản xuất ra của một doanh nghiệp nào đó, mức nước trên một dòng sông ở các tháng trong năm…
- Thứ hai, thống kê được hiểu là hệ thống các phương pháp ghi chép, thu thập và phân
tích các con số về những hiện tượng tự nhiên, kỹ thuật, kinh tế và xã hội để tìm hiểu bản chất
và tìm quy luật vốn có của những hiện tượng ấy
Công việc của một nhà thống kê bao gồm các hoạt động trên một phạm vi rộng có thể tóm tắt thành những mục lớn như sau:
- Thu thập và xử lý dữ liệu
- Điều tra chọn mẫu
- Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng
- Dự đoán
- Nghiên cứu các hiện tượng trong các hoàn cảnh không chắc chắn
- Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn
Một cách tổng quát thống kê học chính là khoa học nghiên cứu hệ thống các phương
pháp thu thập, xử lý và phân tích các con số (mặt lượng) của những hiện tượng số lớn để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm
và thời gian cụ thể
Thống kê được chia thành hai lĩnh vực:
- Thống kê mô tả: bao gồm các phương pháp thu thập số liệu, mô tả và trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng đo lường
- Thống kê suy diễn: bao gồm các phương pháp ước lượng, kiểm định phân tích mối quan hệ, dự đoán trên cơ sở các thông tin thu thập từ mẫu
1.2.2 Tổng thể thống kê và đơn vị tổng thể thống kê
Thống kê nghiên cứu một lượng của hiện tượng kinh tế xã hội số lớn phải xác định phạm vi hiện tượng được nghiên cứu cụ thể Để chỉ đối tượng nghiên cứu cụ thể, người ta dùng khái niệm tổng thể Tổng thể thống kê là hiện tượng kinh tế xã hội số lớn, gồm những đơn vị (hoặc phân tử, hiện tượng) cá biệt cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng
để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng (mặt chất) trong những điều kiện, địa điểm và thời gian cụ thể
Có trường hợp các đơn vị cấu thành tổng thể, có thể thấy được bằng trực quan Tổng thể bao gồm các đơn vị như vậy được gọi là tổng thể bộc lộ như các tổng thể nêu trên Tổng thể các đơn vị cấu thành nó, không thể nhận biết được bằng trực quan là tổng thể tiềm ẩn như tổng thể những cán bộ công nhân viên ưa chuộng nghệ thuật sân khấu, tổng thể những người
mê tín dị đoan, tổng thể những người trung thành với Tổ quốc
PTIT
Trang 77
Các đơn vị tổng thể có thể giống nhau trên một số đặc điểm, các đặc điểm còn lại khác nhau Do đó, tùy theo mục đích nghiên cứu mà phân biệt tổng thể đồng chất hay không đồng chất Tổng thể đồng chất bao gồm các đơn vị giống nhau về một số đặc điểm chủ yếu có liên quan tới mục đích nghiên cứu tổng thể không đồng chất bao gồm các đơn vị khác nhau về các đặc điểm, các loại hình Tổng thể bao gồm tất cả các đơn vị thuộc phạm vi nghiên cứu tổng thể chung, chỉ bao gồm một bộ phận đơn vị trong đó là tổng thể bộ phận
Xác định tổng thể để đáp ứng mục đích nghiên cứu thống kê Phải trên cơ sở phân tích
lý luận kinh tế, chính trị hoặc xã hội, định nghĩa rõ tổng thể Định nghĩa tổng thể không những phải giới hạn về thực thể (tổng thể là gì) mà còn phải giới hạn về thời gian và không gian (tổng thể tồn tại vào thời gian nào, ở đâu) Xác định tổng thể chính xác không dễ dàng
Vì có những hiện tượng có thể tương tự về hình thức, nhưng lại khác hẳn về nội dung Chính
vì vậy phải phân tích lý luận để thấy rõ nội dung của hiện tượng Xác định tổng thể thống kê không chính xác sẽ lãng phí sức người và tiền của trong nghiên cứu, không đủ cơ sở để hiểu đúng bản chất cụ thể của hiện tượng
Đúng nghĩa tổng thể làm rõ đặc trưng cơ bản chung của hiện tượng kinh tế xã hội số lớn phù hợp với mục đích nghiên cứu Thông qua việc phân tích lý luận và thực tế phải làm rõ tổng thể gồm những hiện tượng (phần tử) cá biệt nào Hiện tượng cá biệt này là đơn vị tổng thể Tất cả các đơn vị tổng thể chỉ giống nhau trên một số mặt, còn các mặt khác không giống nhau Cho nên trong thực tế phải nêu rõ ràng những hiện tượng cá biệt nào được kể là đơn vị tổng thể Trong những trường hợp khó khăn cho việc giới hạn, người ta phải lập một danh mục các đơn vị hoặc trong giải thích cần xác định rõ phạm vi nào của các đơn vị thuộc tổng thể
Đơn vị tổng thể bao giờ cũng có đơn vị tính toán phù hợp Xác định đơn vị tổng thể là việc cụ thể hóa tổng thể Đơn vị tổng thể là xuất phát điểm của quá trình nghiên cứu thống kê
Vì nó có mặt lượng mà ta cần nghiên cứu Cho nên xác định đơn vị tổng thể cũng quan trọng như xác định tổng thể
1.2.3 Tổng thể mẫu và quan sát
Tổng thể mẫu là tổng thể bao gồm một số đơn vị được chọn ra từ tổng thể chung theo một phương pháp lấy mẫu nào đó Các đặc trưng mẫu được suy rộng ra các đặc trưng của tổng thể chung
Quan sát là cơ sở để thu thập số liệu và thông tin cần nghiên cứu Chẳng hạn trong điều tra chọn mẫu, mỗi đơn vị mẫu sẽ được tiến hành ghi chép, thu thập thông tin và được gọi
là một quan sát
1.2.4 Tiêu thức thống kê
Nghiên cứu thống kê phải dựa vào các đặc điểm của đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể
có nhiều đặc điểm Tùy theo mục đích nghiên cứu, một số đặc điểm của đơn vị tổng thể được chọn ra để nghiên cứu Các đặc điểm này được gọi là các tiêu thức Ví dụ mỗi người lao động của doanh nghiệp có các tiêu thức: tên, tuổi, giới tính, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, nơi ở Mỗi doanh nghiệp trong tổng thể có tiêu thức: tên doanh nghiệp, địa chỉ, số lượng cán bộ công nhân viên Đơn vị tổng thể được làm rõ đặc trưng của nó qua các tiêu thức: thực thể, thời gian và không gian
PTIT
Trang 88
1 Tiêu thức thực thể
Nêu lên bản chất của đơn vị tổng thể, nó biến đổi trong bản chất này Các tiêu thức: giới tính, tuổi, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, số lượng cán bộ công nhân viên chức là các tiêu thức thực thể Theo nội dung của nó, tiêu thức thực thể gồm hai loại: thuộc tính và số lượng
Tiêu thức thuộc tính không có biểu hiện trực tiếp là các con số, như tiêu thức giới tính, trình độ văn hóa, nghề nghiệp tiêu thức thuộc tính có biểu hiện trực tiếp và gián tiếp, như giới tính có biểu hiện trực tiếp là nam và nữ Tiêu thức đời sống vật chất có biểu hiện gián tiếp là lượng tiêu dùng lương thực, thực phẩm theo đầu người, diện tích nhà ở theo đầu người Các biểu hiện gián tiếp của tiêu thức thuộc tính còn được gọi là các chỉ báo thống kê
Tiêu thức thuộc tính không có biểu hiện trực tiếp là con số, nên còn được gọi là tiêu thức phi lượng hóa
Tiêu thức số lượng có biểu hiện trực tiếp là con số (gọi là lượng biến) Nó là kết quả của quá trình quan sát (cân, đo, đong, đếm) như tuổi đời, tuổi nghề, số lượng điện thoại, số bưu cục Tiêu thức số lượng còn gọi là tiêu thức lượng hóa vì nó có biểu hiện trực tiếp là con số
Tiêu thức thực thể khi chỉ có hai biểu hiện không trùng nhau trên một đơn vị tổng thể, được gọi là tiêu thức thay phiên, như giới tính (nam và nữ), chất lượng sản phẩm dịch vụ (tốt
và xấu) Tiêu thức thực thể có ba loại biểu hiện trở lên có thể trở thành tiêu thức thay phiên, như số lượng cán bộ công nhân viên nêu trên có nhiều biểu hiện nhưng rút gọn thành hai biểu hiện, hoặc các biểu hiện của tiêu thức trình độ văn hóa có thể rút gọn thành hai biểu hiện: chưa tốt nghiệp phổ thông trung học và tốt nghiệp phổ thông trung học trở lên Những trường hợp này được tiến hành khi người ta chỉ quan tâm đến một biểu hiện nào đó xuất hiện hay không xuất hiện trên đơn vị tổng thể Tiêu thức thực thể có phù hợp nhiều hay ít với việc đáp ứng mục đích nghiên cứu là tùy thuộc vào việc chọn những tiêu thức nào cho nghiên cứu
2 Tiêu thức thời gian
Nêu hiện tượng kinh tế xã hội theo sự xuất hiện của nó vào thời gian nào Những biểu hiện của tiêu thức thời gian là phút, giờ, ngày, tháng, năm Thời hạn có giá trị của các chỉ dẫn
về đối tượng nghiên cứu và những đơn vị tổng thể, về sự phân phối chúng trong một thời gian cũng như về sự thay đổi từ thời kỳ này tới thời kỳ khác được khẳng định qua tiêu thức thời gian Ví dụ tổng số tài sản cố định của doanh nghiệp A tại thời điểm 1/1/2010 là 20
3 Tiêu thức không gian:
Nêu phạm vi lãnh thổ bao trùm của đối tượng nghiên cứu và sự xuất hiện theo địa điểm của các đơn vị tổng thể Những biểu hiện của nó được chỉ ra nhờ sự phân định về mặt quản lý hành chính hoặc theo điều kiện tự nhiên, phân vùng kinh tế Nghiên cứu thống kê theo tiêu thức không gian có ý nghĩa quan trọng trước hết là gắn với tiêu thức thực thể để quan sát sự phân phối về mặt lãnh thổ của các đơn vị tổng thể
Các tiêu thức góp phần vào việc khẳng định đơn vị tổng thể cũng như tổng thể Vì chúng nêu rõ các mặt và tính chất nhất định của đơn vị tổng thể cũng như của tổng thể Nhờ
đó có thể phân biệt đơn vị này với đơn vị khác cũng như tổng thể này với tổng thể kia
1.2.5 Chỉ tiêu thống kê
PTIT
Trang 99
Nghiên cứu thống kê không chỉ phản ánh lượng và chất của hiện tượng kinh tế xã hội
cá biệt mà còn phản ánh và chất của hiện tượng kinh tế xã hội số lớn trong điều kiện thời gian
và địa điểm cụ thể Tính chất của các hiện tượng cá biệt được khái quát hóa trong chỉ tiêu thống kê Do đó chỉ tiêu chỉ ra những mối quan hệ cần thiết, cái chung của tất cả các đơn vị hoặc của nhóm đơn vị Ngoài ra chỉ tiêu còn phản ánh các mối quan hệ tồn tại khách quan, nhưng cũng không tự bộc lộ ra để hiểu trực tiếp là mối quan hệ Phải điều tra mặt lượng của đơn vị cá biệt và từ đó phát hiện ý nghĩa theo số lượng của mối quan hệ bằng chỉ tiêu
Chỉ tiêu thống kê có hai mặt: khái niệm và con số Khái niệm của chỉ tiêu bao gồm định nghĩa và giới hạn về thực thể, thời gian và không gian của hiện tượng kinh tế xã hội Mặt này chỉ rõ nội dung của chỉ tiêu thống kê Con số của chỉ tiêu là trị số được phát hiện với đơn
vị tính toán phù hợp Nó nêu lên mức độ của chỉ tiêu Theo nội dung, chỉ tiêu biểu hiện quy
mô, cơ cấu, sự phát triển và mối quan hệ của hiện tượng số lớn trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Căn cứ vào nội dung có thể chia các chỉ tiêu thống kê thành hai loại: khối lượng và chất lượng Chỉ tiêu khối lượng biểu hiện quy mô của tổng thể như số cán bộ công nhân viên,
số máy điện thoại, khối lượng sản phẩm dịch vụ Chỉ tiêu chất lượng biểu hiện trình độ phổ biến, mối quan hệ của tổng thể như giá thành sản phẩm dịch vụ Việc phân loại này nhằm đáp ứng yêu cầu của một số phương pháp phân tích thống kê
1.3 Thang đo trong thống kê
1.3.1 Thang đo định danh
Thang đo định danh (hay là đặt tên) là đánh số các biểu hiện cùng loại của một tiêu
thức Như giới tính biểu hiện “nam” được đánh số 1 và “nữ” đánh số 2 Giữa các con số ở đây không có quan hệ hơn, kém Cho nên các phép tính với chúng đều vô nghĩa Loại thang đo này dùng để đếm tần số của biểu hiện tiêu thức
Ví dụ: Thang đo định danh trong câu hỏi phỏng vấn:
Tình trạng hôn nhân của ông (bà):
Thang đo thứ bậc cũng là thang đo định danh, nhưng giữa các biểu hiện tiêu thức có
quan hệ thứ bậc, hơn, kém Sự chênh lệch giữa các biểu hiện không nhất thiết phải bằng nhau, như huân chương có ba hạng: một, hai và ba Hạng một hơn hạng hai, hạng hai hơn hạng ba Trình độ văn hoá phổ thông có ba cấp: một, hai và ba Cấp ba hơn cấp hai, cấp hai hơn cấp một Con số có trị số lớn hơn không có nghĩa ở bậc cao hơn và ngược lại, mà do sự quy định Thang đo loại này được sử dụng để tính toán đặc trưng chung của tổng thể một cách tương đối, trong một số trường hợp như tính cấp bậc bình quân của một doanh nghiệp, một đơn vị,
bộ phận
Ví dụ: Trong câu hỏi phỏng vấn:
PTIT
Trang 1010
Thu nhập của ông (bà) hàng tháng:
1 < 4 triệu đồng 2 Từ 4 đến 7 triệu đồng 3 > 7 triệu đồng
1.3.3 Thang đo khoảng
Thang đo khoảng là thang đo thứ bậc có các khoảng cách đều nhau Có thể đánh giá
sự khác biệt giữa các biểu hiện bằng thang đo loại này Việc cộng trừ các con số có ý nghĩa,
có thể tính các đặc trưng chung như số bình quân, phương sai Yêu cầu có khoảng cách đều là đặt ra đối với thang đo, còn đối với biểu hiện của tiêu thức được đo không nhất thiết phải bằng nhau
Ví dụ: Trong câu hỏi phỏng vấn:
Đề nghị ông (bà) cho ý kiến về tầm quan trọng của mục tiêu đào tạo cho sinh viên đại học sau đây bằng cách khoanh tròn các số tương ứng trên thang đánh giá chỉ mức độ từ 1 đến
5 (1 = không quan trọng; 5 = rất quan trọng)
Không quan trọng Bình thường Rất quan trọng
Thang đo tỷ lệ là thang đo khoảng với một điểm không (0) tuyệt đối (điểm gốc) để có
thể so sánh được tỷ lệ giữa các trị số đo Với thang đo loại này, có thể đo lường các biểu hiện của tiêu thức như các đơn vị đo lường vật lý thông thường (kg, m, ) và thực hiện được tất cả các phép tính với trị số đo
1.4 Hoạt động thống kê và quá trình nghiên cứu thống kê
PTIT
Trang 1111
Mục đích cuối cùng của một cuộc nghiên cứu thống kê là thu thập những thông tin định lượng về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện lịch sử cụ thể, trên cơ sở đó phát hiện, bản chất quy luật phát triển của hiện tượng, giải quyết được một vấn đề lý thuyết hoặc một yêu cầu nhất định của một thực tiễn
Ở Việt Nam, “hoạt động thống kê nhà nước là điều tra, báo cáo, tổng hợp phân tích và công bố các thông tin phản ánh bản chất và tính quy luật của các hiện tượng kinh tế - xã hội trong điều kiện không gian và thời gian cụ thể do cơ quan nhà nước tiến hành” và được điều chính bởi Luật thống kê
Hoạt động thống kê nhà nước Việt Nam phải theo 7 nguyên tắc cơ bản sau:
1) Đảm bảo tính trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời
2) Đảm bảo tính độc lập về chuyên môn, nghiệp vụ thống kê
3) Thống nhất về chỉ tiêu, biểu mẫu, phương pháp tính, bảng phân loại, đơn vị đo lường, niên độ thống kê và tính so sánh quốc tế
4) Không trùng lặp, chồng chéo giữa các cuộc điều tra thống kê, các chế độ báo cáo thống kê
5) Công khai về phương pháp thống kê, công bố thông tin thống kế
6) Đảm bảo quyền bình đẳng trong việc tiếp cận và sử dụng thông tin thống kê nhà nước đã được công bố công khai
7) Những thông tin thống kê về từng tổ chức, cá nhân chỉ được sử dụng cho mục đích tổng hợp thống kê
Trong các nguyên tắc trên, nguyên tắc 1 là quan trọng nhất Nó liên quan đến tất cả các hoạt động thống kế, từ điều tra, thực hiện chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp, đến phân tích và công bố thông tin thống kê
Ngoài ra, Luật Thống kê còn quy định 5 hành vi bị nghiêm cấm trong hoạt động thống
kê, như: Không thực hiện hoặc cản trở việc thực hiện chế độ báo cáo, điều tra thống kê; tự thực hiện hoặc ép buộc người khác khai man, thông báo sai thông tin sai quy định, thực hiện các hoạt động thống kê trái pháp luật…
Các hoạt động thống kê đều phải trải qua một quá trình gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước công việc kế tiếp nhau, có liên quan chặt chẽ với nhau Có thể khái quát quá trình này bằng một sơ đồ hết sức đơn giản như sau:
Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học với một kế hoạch thống nhất việc thu nhập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện cụ thể về thời gian, không gian
Như vậy, nhiệm vụ chủ yếu của giai đoạn này là thu thập được đầy đủ thông tin cần thiết cho việc nghiên cứu Người ta thường gọi đây là những thông tin sơ cấp, hay nguồn tài liệu ban đầu Đây là giai đoạn khởi đầu rất quan trọng Có làm tốt giai đoạn khởi đầu rất quan trọng Có làm tốt giai đoạn này các thông tin, số liệu mới đầy đủ và kịp thời, tạo điều kiện để
Thu thập thông tin
(Điều tra thống kê) Xử lý thông tin (Tổng hợp thống kê) Diễn giải phân tích thông tin (Phân tích và dự đoán thống kê)
PTIT
Trang 1212
thực hiện tốt các giai đoạn tiếp theo Để thực hiện nhiệm vụ của giai đoạn này, người ta thường vận dụng nhiều hình thức tổ chức, nhiều phương pháo điều tra khác nhau, tuỳ thuộc mục đích nghiên cứu, nhu cầu thông tin, điều kiện cụ thể của người nghiên cứu và đặc điểm
cơ bản của hiện tượng nghiên cứu
Tổng hợp thống kê
Tổng hợp thống kê được hiểu là quá trình tập trung chỉnh lý, hệ thống hoá các tài liệu thu được trong điều tra thống kê để làm cho các đặc trưng riêng biệt của từng đơn vị điều tra bước đầu chuyển thành những thông tin chung của toàn bộ hiện tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc phân tích tiếp theo…
Do đối tượng nghiên cứu của thống kê là các hiện tượng số lớn, phức tạp, bao gồm nhiều đơn vị có những đặc điểm khác nhau, nên việc tổng hợp thường được thực hiện đến từng tổ, từng nhóm đại diện cho các loại hình khác nhau Vì vậy, phương pháp phân tổ thống
kê được coi là quan trọng nhất của tổng hợp thống kê
Ngày nay, sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin đã làm cho tổ hợp thống kê càng có vai trò quan trọng, phục vụ được nhiều yêu cầu của phân tích thống kê Việc tổng hợp bằng máy thay thế cho tổng hợp thủ công chẳng những rút ngắn được thời gian tổng hợp, nâng cao độ chính xác của việc xử lý thông tin, mà còn đáp ứng được các yêu cầu khác nhau
về thông tin.Tuy nhiên, muốn thực hiện được việc tổng hợp bằng máy, cần phải xây dựng được chương trình phần mềm nhập số liệu và xác định rõ phần mềm phân tích sử dụng
Phân tích và dự báo thống kê
Phân tích và dự báo thống kê được hiểu là việc nêu lên một cách tổng hợp bản chất
và tính quy luật của các hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội số lớn trong điều kiện lịch sử
cụ thể qua các biểu hiện về lượng và tính toán và các mức độ trong tương lai nhằm đưa ra những căn cứ cho quyết định quản lý
Như vậy, phân tích và dự báo thống kê là biểu hiện tập trung kết quả của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Phân tích và dự báo thống kê giúp ta thấy rõ bản chất, quy luật phát triển của hiện tượng trong quá khứ, hiện tại, giúp tiên đoán được các mức độ của hiện tượng trong tương lai Đồng thời, nó còn giúp chỉ rõ mối liên hệ nội tại giữa các bộ phận của tổng thể, mối liên hệ, tác động quay lại giữa hiện tượng nghiên cứu với các hiện tượng có liên quan Trên cơ sở đó, giúp ta có nhận thức đúng đắn về hiện tượng, tìm các biện pháp thích hợp thúc đẩy hiện tượng phát triển theo hướng tốt nhất, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh kinh
tế - xã hội hiện đại
Tuy nhiên, để phân tích và dự báo thống kê thực hiện được nhiệm vụ của mình, mang lại những kết quả nghiên cứu chính xác, cần phải chú ý một số yêu cầu cơ bản sau:
- Thứ nhất: Phân tích và dự báo thống kê phải được tiến hành trên cơ sở phân tích lý
luận kinh tế - xã hội
- Thứ hai: Phân tích và dự báo thống kê phải căn cứ vào toàn bộ sự kiện thực tế và phải
luôn đặt chúng trong mối liên hệ rằng buộc, tác động qua lại lẫn nhau Không được bỏ qua hay xem thường bất kỳ một sự kiện nào, dù là nhỏ nhất
Đối với các hiện tượng có tính chất và hình thức khác nhau, phải áp dụng phương pháp phân tích và dự báo khác nhau, phù hợp với bản thân chúng, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể Không có phương pháp phân tích và dự báo vạn năng, áp dụng cho mọi trường hợp
PTIT
Trang 1313
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 1
1 TS Nguyễn Công Nhự - Giáo trình Thống kê công nghiệp NXB Thống kê, 2013
2 PGS TS Trần Ngọc Phác, TS Trần Thị Kim Thu – Giáo trình Lý thuyết thống kê Nhà
xuất bản Thống kê, 2013
3 GS.TS Bùi Xuân Phong - Thống kê và ứng dụng trong BCVT NXB Bưu điện, 2005
4 Hà Văn Sơn - Giáo trình Lý thuyết thống kê ứng dụng trong quản trị và kinh tế
Nhà xuất bản Thống kê, 2004
5 PTS Phan Công Nghĩa - Giáo trình Thống kê Lao động NXB Thống kê, 2009
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 1
1 Phân tích đố tượng nghiên cứu của thống kê học
2 Trình bày các khái niệm thường dùng trong thống kê, ý nghĩa của các khái niệm này? Cho
ví dụ?
3 Trình bày các loại thang đo trong thống kê Cho ví dụ về việc sử dụng các loại thang đo này trong thực tế?
PTIT
Trang 1414
CHƯƠNG 2 ĐIỀU TRA THỐNG KÊ KINH TẾ
2.1.1 Khái niệm, ý nghĩa của điều tra thống kê
Nhiệm vụ chủ yếu của điều tra thống kê là thu nhập được đầy đủ thông tin cần thiết về hiện tượng nghiên cứu, làm cơ sở cho việc tổng hợp và phân tích Tuy nhiên đối tượng của thống kê thường là những hiện tượng số lớn, phức tạp bao gồm nhiều đơn vị, phần tử khác nhau Mặt khác, các hiện tượng này lại luôn biến động theo thời gian và không gian Do sự đa dạng, phong phú và phức tạp của đối tượng nghiên cứu, nên muốn đáp ứng được mục đích nghiên cứu, muốn giải quyết được một vấn đề lý thuyết hoặc thực tế đã được định trước đòi hỏi các cuộc điều tra thống kê phải được tổ chức một cách khoa học, có kế hoạch tập trung, thống nhất, có chuẩn bị chu đáo theo những nguyên tắc khoa học nhất định
Điều tra thống kê là việc tổ chức một cách khoa học theo một kế hoạch thống nhất việc thu thập, ghi chép nguồn tài liệu ban đầu về hiện tượng nghiên cứu trong điều kiện cụ thể
về thời gian, không gian
Điều 3, Luật Thống kê của nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam cũng định nghĩa: “Điều tra thống kê là hình thức thu thập thông tin thống kê theo phương án điều tra” Định nghĩa này hoàn toàn phù hợp với khái niệm nêu trên, bởi lẽ phương án điều tra thống kê
sẽ quy định rõ về mục đích, ý nghĩa, toàn bộ quá trình tổ chức điều kiện thời gian, không gian của cuộc điều tra Tính khoa học, tính kế hoạch của cuộc điều tra được thể hiện rõ trong phương án này
Điều tra thống kê, nếu được tổ chức theo những nguyên tắc khoa học, chặt chẽ, sẽ đáp ứng được nhiều yêu cầu khác nhau cả về lý thuyết cũng như thực tế đặt ra.Trước hết, tài liệu
do điều tra thống kê thu được là căn cứ tin cậy để kiểm tra, đánh giá thực trạng hiện tượng nghiên cứu, đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của từng đơn vị, từng địa phương và của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Thứ hai, điều tra thống kê cung cấp những luận cứ xác đáng cho việc phân tích, phát hiện, tìm ra những yếu tố tác động, những yếu tố quyết định sự biến đổi của hiện tượng nghiên cứu Trên cơ sở đó, tìm biện pháp thích hợp thúc đẩy hiện tượng phát triển theo hướng có lợi nhất Thứ ba, những tài liệu điều tra thống kê cung cấp một cách có hệ thống còn là căn cứ vững chắc cho việc phát hiện, xác định xu hướng, quy luật biến động của hiện tượng và dự đoán xu hướng biến động của hiện tượng trong tương lai Trong quá trình điều hành, quản lý kinh tế - xã hội, các tài liệu này giúp cho việc xây dựng các định hướng, các kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội trong tương lai, quản lý quá trình thực hiện các kế hoạch đó
PTIT
Trang 1515
Theo cách thức tổ chức các hoạt động thống kê nhà nước của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam hiện nay, điều tra thống kê được tổ chức thành hai cấp độ: Tổng điều tra thống kê
và điều tra thống kê
Tổng điều tra thống kê để thu thập những thông tin thống kê cơ bản, trên phạm vi cả nước theo chu kỳ dài, quy mô lớn, phạm vi rộng liên quan nhiều ngành, nhiều cấp, có sử dụng lực lượng và kinh phí rất lớn Các cuộc Tổng điều tra dân số được tổ chức theo chu kỳ 10 năm một lần là một ví dụ điển hình thuộc loại này
Điều tra thống kê được thực hiện đối với các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân trong các trường hợp:
- Thu thập những thông tin thống kê từ các tổ chức không phải thực hiện chế độ báo cáo thống kê
- Khi cần bổ sung thông tin từ các tổ chức có thực hiện chế độ báo cáo thống kê
- Thu thập thông tin từ các hộ cơ sở kinh doanh cá thể, hộ gia đình, cá nhân
- Thu thập thông tin thống kê khi có nhu cầu đột xuất
2.1.2 Các yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê
Muốn thực hiện được nhiệm vụ và các mục đích nghiên cứu nói trên, điều tra thống kê cần đảm bảo được các yêu cầu cơ bản của một hoạt động thống kê nói chung là: Trung thực, khách quan, chính xác, đầy đủ và kịp thời Đây cũng chính là những vấn đề được quy định rõ trong nguyên tắc thứ nhất - nguyên tắc quan trọng nhất của hoạt động thống kê Chúng không chỉ là những yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê, mà nó còn liên quan đến tất cả các đối tượng áp dụng Luật Thống kê, liên quan đến mọi hoạt động thống kê, từ điều tra, thực hiện các chế độ báo cáo thống kê cơ sở, chế độ báo cáo thống kê tổng hợp đến xử lý số liệu, phân tích và công bố các thông tin thống kê
Yêu cầu trung thực được đặt ra cho cả người tổ chức điều tra và người cung cấp thông tin Yêu cầu này đòi hỏi người thu thập thông tin phải tuyệt đối trung thực, ghi chép đúng những điều đã được nghe, được thấy Ngay trong việc đặt câu hỏi cũng phải hết sức khách quan, không áp đặt ý muốn chủ quan, thậm chí không được đưa ra những gợi ý có thể gây ảnh hưởng đối với người trả lời… nhằm giúp thu được những thông tin trung thực Đối với người cung cấp thông tin, yêu cầu này đòi hỏi họ phải cung cấp những thông tin xác thực, không được che dấu và đặc biệt nghiêm cấm việc khai man thông tin…
Chính xác - khách quan trong điều tra thống kê nghĩa là các tài liệu thu thập phản ánh đúng đắn tình hình thực tế khách quan của hiện tượng nghiên cứu Điều này đòi hỏi việc ghi chép phải được thực hiện một cách trung thực, không được tuỳ tiện thêm bớt, không được sao chép một cách tuỳ hứng, không được suy luận, “sáng tạo” ra các con số theo ý muốn chủ quan của bất kỳ một tổ chức hay cá nhân nào, nhằm bất cứ mục đích nào Đây được coi là yêu cầu
cơ bản nhất của điều tra thống kê Tài liệu được điều tra chính xác mới có thể dùng làm căn
cứ tin cậy cho việc tổng hợp, phân tích và rút ra kết luận đúng đắn về hiện trạng, các yếu tố ảnh hưởng đến biến động của hiện tượng, đến quy luật xu hướng biến động của nó Chỉ có trên cơ sở tài liệu đựơc điều tra chính xác - khách quan mới có thể tính toán, lập kế hoạch và quản lý tốt các mặt, các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân Chính yêu cầu này cũng lại trở thành một yếu tố cơ bản quyết định chất lượng của công tác thống kê
Yêu cầu kịp thời của điều tra thống kê được hiểu theo hai nghĩa Trước hết, các tài liệu của điều tra thống kê phải có tính nhạy bén, phản ánh được sự biến đổi của hiện tượng nghiên
PTIT
Trang 1616
cứu đúng lúc cần thiết, đúng lúc hiện tượng có sự thay đổi về chất và phản ánh đầy đủ những bước ngoặt quan trọng nhất trong sự biến đổi của hiện tượng mà ta cần theo dõi Tức là các tài liệu ghi chép được phải mang tính thời sự Thứ hai thống kê phải cung cấp tài liệu phục vụ các yêu cầu nghiên cứu đúng lúc cần thiết Trong quản lý kinh tế, yêu cầu kịp thời của điều tra thống kê giúp cho nhà quản lý ra các quyết định, mệnh lệnh có tính chuẩn xác, mang lại lợi ích kinh tế cao Yêu cầu này cũng đòi hỏi việc cung cấp thông tin phải đảm bảo đúng hạn theo quy định của phương án điều tra
Đầy đủ có ý nghĩa là tài liệu điều tra phải được thu thập theo đúng nội dung cần thiết cho việc nghiên cứu hoặc đã được quy định trong phương án điều tra Đầy đủ cũng còn có nghĩa là phải thu thập thông tin đối với tất cả số đơn vị của hiện tượng nghiên cứu, không được đếm trùng hay bỏ sót bất kỳ đơn vị nào Trong các cuộc điều tra không toàn bộ thì phải thu thập thông tin trên tất cả các đơn vị đã được quy định Tài liệu điều tra đầy đủ sẽ không những giúp cho việc tổng hợp, phân tích chính xác mà còn giúp cho việc đánh giá phân tích hiện tượng nghiên cứu một cách chính xác, tránh đưa ra những kết luận phiến diện chủ quan
Ngoài ra, điều tra thống kê muốn phản ảnh đúng bản chất, tính quy luật của hiện tượng nghiên cứu cần phải dựa trên cơ sở quan sát số lớn Quan sát số lớn trong điều tra thống kê có nghĩa là phải đảm bảo thu thập số liệu trên nhiều đơn vị hoặc hiện tượng cá biệt Chỉ khi đó, các yếu tố ngẫu nhiên mới bị bù trừ, triệt tiêu lẫn nhau, bản chất và quy luật của hiện tượng mới được bộc lộ rõ qua tổng hợp và phân tích thống kê Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, nhất là với những điển hình tiên tiến, lạc hậu, điều tra thống kê cũng có thể chỉ tiến hành trên một số đơn vụ cá biệt, nhưng các đơn vị này phải được lựa chọn và xem xét trong mối quan hệ với tổng thể nghiên cứu
2.2 Các loại điều tra thống kê kinh tế
Điều tra thống kê có nhiều loại khác nhau, tuỳ theo mục đích nghiên cứu, đặc điểm của đối tượng điều tra và điều kiện thực tế mà người ta có thể sử dụng loại nào cho phù hợp Sau đây là một số cách phân loại điều tra chủ yếu:
2.2.1 Điều tra thường xuyên và không thường xuyên
Căn cứ vào tính liên tục, tính hệ thống của các cuộc điều tra, ta có thể phân biệt hai loại điều tra thống kê: Điều tra thường xuyên và không thường xuyên
Điều tra thường xuyên là việc tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu của hiện tượng nghiên cứu một cách liên lục, có hệ thống và thường là theo quan sát quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Ví dụ, việc tổ chức chấm công lao động, theo dõi số công nhân đi làm hàng ngày tại các doanh nghiệp, việc ghi chép số sản phẩm nhập, xuất kho hàng ngày tại các kho hàng…
Điều tra thường xuyên giúp ta thu thập được những số liệu theo dõi tỉ mỉ tình hình phát triển của hiện tượng theo thời gian, đánh giá được sự phát triển, tích luỹ của hiện tượng Tài liệu của điều tra thường xuyên là cơ sở chủ yếu để lập báo cáo thống kê định kỳ, là công
cụ quan trọng để theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch Loại điều tra này phù hợp với những hiện tượng có quá trình phát triển liên tục cần phải theo dõi
Hình thức tổ chức chủ yếu và quan trọng nhất của các cuộc điều tra thống kê thường xuyên là “Báo cáo thống kê định kỳ” Đây là một hình thức thu thập số liệu dựa vào các biểu mẫu báo cáo thống kê được lập sẳn Theo đó, các đơn vị báo cáo ghi số liệu vào biểu mẫu và gửi lên cấp trên Các báo cáo này được thực hiện một cách thường xuyên, định kỳ, theo nội
PTIT
Trang 1717
dung, phương pháp, biểu mẫu và chế độ báo cáo đã được quy định sẵn Trong nhiều năm trước kia, đây là hình thức thu thập thông tin thống kê chủ yếu ở nước ta và thường được áp dụng cho các đơn vị kinh tế, cơ quan, tổ chức của nhà nước Ngày nay, trong nền kinh tế thị trường thì hình thức thu thập thông tin thống kê này ít được sử dụng hơn
Điều tra không thường xuyên là tiến hành thu thập, ghi chép tài liệu ban đầu của hiện tượng một cách không liên tục, không gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng
Điều tra không thường xuyên thường được tiến hành đối với những hiện tượng ít biến động, biến động chậm hoặc không cần theo dõi thường xuyên, liên tục Chỉ khi nào cần nghiên cứu, người ta mới tổ chức điều tra Do đó, các cuộc điều tra không thường xuyên được tiến hành với mục đích nội dung, phạm vi, đối tượng và phương pháp điều tra không giống nhau Tuy nhiên, để tiện cho việc theo dõi, so sánh, phân tích sự biến động của hiện tượng theo thời gian, nhiều cuộc điều tra không thường xuyên cũng được tiến hành lặp đi lặp lại theo chu kỳ nhất định và người ta thường cố gắng kế thừa những gì đã thực hiện tại các cuộc điều tra trước, nay vẫn còn có ý nghĩa Chẳng hạn, các cuộc Tổng điều tra dân số được tiến hành 10 năm một lần ở nước ta hiện nay thuộc loại điều tra này
Hình thức chủ yếu của điều tra không thường xuyên là các cuộc điều tra chuyên môn Khác với báo cáo thống kê định kỳ, điều tra chuyên môn chỉ được tổ chức khi có nhu cầu Mỗi cuộc điều tra thường được tiến hành theo kế hoạch và phương pháp quy định riêng Các cuộc điều tra chuyên môn ngày càng được sử dụng rộng rãi và phục vụ được nhiều thị trường, vai trò của các cuộc điều tra chuyên môn trong việc thu thập các số liệu thống kê ngày càng quan trọng Do đó, nó càng được sử dụng Tuy nhiên, muốn thực hiện tốt các cuộc điều tra chuyên môn, cần xây dựng được phương án điều tra tỉ mỉ, toàn diện và chi tiết
2.2.2 Điều tra toàn bộ và không toàn bộ
Căn cứ vào phạm vi của đối tượng được điều tra thực tế, điều tra thống kê được phân thành điều tra toàn bộ và điêu tra không toàn bộ
1 Điều tra toàn bộ
Điều tra toàn bộ là tiến hành thu thập tài liệu ban đầu trên toàn thể các đơn vụ thuộc đối tượng điều tra, không loại trừ bất kỳ đơn vị nào Ví dụ: Các cuộc Tổng điều tra dân số
được tiến hành vào ngày 1/10/1979, ngày 1/4/1989, ngày 1/4/1999 và 1/4/2009 ở nước ta
Điều tra toàn bộ là nguồn cung cấp tài liệu đầy đủ nhất cho các nghiên cứu thống kê
Do tài liệu được thu thập trên toàn bộ các đối tượng nghiên cứu, nên nó vừa là cơ sở để tính được các chỉ tiêu tổng hợp cho cả tổng thể, lại vừa cung cấp số liệu chi tiết cho từng đơn vị
Có thể nói, điều tra toàn bộ là nguồn cung cấp thông tin thống kê đầy đủ, toàn diện và trực tiếp, nên nó có thể đáp ứng được nhiều yêu cầu nghiên cứu khác nhau, đặc biệt là trong điều tra nằm bắt tình hình cơ bản của hiện tượng Tuy nhiên, với những hiện tượng lớn và phức tạp, điều tra toàn bộ thường đòi hỏi phải có nguồn tài chính lớn, số người tham gia đông, thời gian dài Vì vậy, điều tra toàn bộ ít được tiến hành thường xuyên và thường được giới hạn ở một số nội dung chủ yếu
2 Điều tra không toàn bộ
Điều tra không toàn bộ là tiến hành thu thập tài liệu ban đầu trên một số đơn vị được chọn trong toàn bộ các đơn vị của tổng thể chung
Do chỉ tiến hành điều tra trên một số đơn vị của hiện tượng nghiên cứu, nên điều tra không toàn bộ có thể rút ngắn được thời gian, tiết kiệm công sức, giảm chi phí Đặc biệt là
PTIT
Trang 1818
loại điều tra này vừa có điều kiện mở rộng nội dung điều tra, vừa có thể kiểm tra, đánh giá độ chính xác của số liệu thu được một cách thuận lợi Do những ưu điểm trên, nên điều tra không toàn bộ được sử dụng ngày càng nhiều trong thực tế, kịp thời đáp ứng yêu cầu của công tác quản lý kinh tế - xã hội, quản lý nhà nước… Tuy nhiên, điều tra không toàn bộ cũng có những hạn chế nhất định Hạn chế lớn nhất của nó là luôn phát sinh sai số do chỉ dựa trên cơ sở số liệu của một số ít đơn vị để nhận định, đánh giá cho toàn bộ hiện tượng nghiên cứu Hạn chế này có thể được khắc phục bằng cách áp dụng những phương pháp khoa học, phù hợp với hiện tượng nghiên cứu trong quá trình tổ chức điều tra
Căn cứ vào phương pháp lựa chọn các đơn vị để điều tra ta có thể phân chia điều tra không toàn bộ thành 3 loại khác nhau:
- Điều tra chọn mẫu: Là loại điều tra không toàn bộ, trong đó người ta chỉ chọn
ra một số đơn vị để điều tra thực tế Các đơn vị này được chọn theo những nguyên tắc khoa học nhất định để đảm bảo tính đại diện của chúng cho tổng thể chung Kết quả điều tra được dùng để đánh giá, suy rộng cho toàn bộ hiện tượng
- Điều tra trọng điểm: Trong điều tra trọng điểm, người ta chỉ tiến hành điều
tra ở bộ phận chủ yếu nhất của tổng thể chung Kết quả điều tra không được dùng để suy rộng thành các đặc điểm chung của hiện tượng Loại điều tra này thích hợp với những đối tượng có những bộ phận tương đối tập trung, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thể Ví dụ: nghiên cứu tình hình trồng chè Thái Nguyên, cà phê ở Tây Nguyên…
- Điều tra chuyên đề: chỉ được tiến hành trên một số rất ít, thậm chí một đơn vị
của tổng thể, nhưng lại đi sâu nghiên cứu chi tiết khía cạnh khác nhau của đơn vị đó nhằm rút
ra vấn đề cốt lõi, tìm những bài học kinh nghiệm chung Tài liệu thu được trong điều tra chuyên đề không dùng để suy rộng hoặc làm căn cứ đánh giá tình hình cơ bản của hiện tượng nghiên cứu Loại điều tra này thường được dùng để nghiên cứu những vấn đề mới phát sinh
để nghiên cứu kinh nghiệm của các đơn vị tiên tiến hoặc phân tích tìm nguyên nhân yếu kém
của các đơn vị lạc hậu…
2.3 Các phương pháp thu thập thông tin trong điều tra thống kê kinh tế
Để thu thập thông tin trong điều tra thống kê, người ta có thể sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Tuỳ theo điều kiện thực tế và đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu, khả năng
về tài chính, thời gian, kinh nghiệm, trình độ của người tổ chức và điều tra viên… để lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp Phần này sẽ trình bày những vấn đề chung của một số phương pháp chủ yếu trong điều tra thống kê
2.3.1 Phương pháp đăng ký trực tuyến
Theo phương pháp này, nhân viên điều tra phải trực tiếp tiếp xúc với đối tượng điều tra, trực tiếp tiến hành hoặc giám sát việc, cân, đo, đong, đếm và sau đó ghi chép những thông tin thu được vào phiếu điều tra Như trong điều tra tồn kho vật tư, hàng hoá: Nhân viên điều tra trực tiếp cân, đo, đong, đếm, phân loại số lượng vật tư, thiết bị, hàng hoá còn tồn trong kho, rồi ghi chép kết quả vào phiếu điều tra Phương pháp đăng ký trực tiếp thường được gắn liền với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng
Tài liệu ghi chép ban đầu thu được qua đăng ký trực tiếp có độ chính xác khá cao, nhưng lại đòi hỏi nhiều nhân lực và thời gian Mặt khác, trong thực tế có rất nhiều hiện tượng không cho phép quan sát, cân đo trực tiếp quá trình phát sinh, phát triển của nó được như
PTIT
Trang 19Trong điều tra thống kê, phỏng vấn không phải là một cuộc nói chuyện, hỏi đáp thông thường, cũng không phải là cuộc phỏng vấn lấy tin của các nhà báo, càng không phải là cuộc phỏng vấn giữa nhân viên điều tra và người bị nghi vấn, can phạm… Phỏng vấn trong thống
kê phải tuân thủ theo mục tiêu nghiên cứu, theo đối tượng, khách thể, nội dung nghiên cứu đã được xác định rõ trong chương trình, phương án điều tra Điều tra viên bắt buộc phải tuân thủ phương án điều tra, đặc biệt là các nội dung điều tra được thể hiện cụ thể trong phiếu điều tra
Do đó, cần phải có sự chuẩn bị kỹ lượng về kỹ năng phỏng vấn, về năng lực chuyên môn, sự
am hiểu về các nội dung, về đối tượng điều tra Ngay việc ghi chép cũng phải được sự thực hiện nghiêm chỉnh theo tất cả các hướng dẫn, các quy định của phiếu điều tra để tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý, tổng hợp thông tin sau này
Trong thực tế, phỏng vấn có thể thích ứng với nhiều hoàn cảnh khác nhau mà không cần bám sát quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Mặt khác, thông tin thu được qua phỏng vấn thường có độ tin cậy cao, dễ tổng hợp, lại tập trung vào những nội dung chủ yếu nhờ có bảng hỏi hoặc phiếu điều tra Do đó, phỏng vấn được sử dụng rộng rãi nhất trong điều tra thống kê nhằm thu nhận nguồn tài liệu ghi chép ban đầu
Nếu căn cứ vào tính chất của sự tiếp xúc giữa người hỏi và người trả lời, ta phân biệt 2 loại: Phỏng vấn trực tiếp và phỏng vấn gián tiếp
1 Phỏng vấn trực tiếp
Đây là phương pháp ghi chép, thu thập tài liệu ban đầu được thực hiện thông qua quá trình hỏi - đáp trực tiếp giữa nhân viên điều tra và người cung cấp thông tin Tức là nhân viên điều tra trực tiếp đến địa bàn điều tra, tìm gặp đối tượng trả lời vào phiếu điều tra Do việc tiếp xúc trực tiếp giữa người hỏi và người trả lời, nên phương pháp này tạo ra những điều kiện đặc biệt để hiểu đối tượng sâu sắc, giúp điều tra viên có thể kết hợp việc phỏng vấn với việc quan sát đối tượng từ dáng vẻ bề ngoài, đến những cử chỉ biểu lộ tình cảm, thái độ, nên có thể phát hiện ngay những sai sót và uốn nắn kịp thời Mặt khác, nhân viên điều tra có thể giải thích kỹ các câu hỏi và rà soát tại chỗ các câu trả lời Do đó, có thể đảm bảo chất lượng của các tài liệu thu được Tuy nhiên, phỏng vấn trực tiếp cũng có những nhược điểm là: Tốn kém
về thời gian, chi phí, số cán bộ điều tra; nó đòi hỏi phải có sự chuẩn bị càng kỹ về điều tra viên, địa điểm phỏng vấn và cần có sự tổ chức các cuộc gặp gỡ sao cho người trả lời không thấy bị gò bó, miễn cưỡng Ngoài ra cần có sự lựa chọn, tập huấn thật tốt cho điều tra viên để thu được những số liệu thật sự khách quan
PTIT
Trang 2020
- Người được hỏi phải có trình độ văn hoá cao, có ý thực trách nhiệm và tự giác
- Phiếu điều tra phải ngắn gọn
- Các câu hỏi phải rõ ràng, dễ hiểu, dễ trả lời
- Phải thiết lập được một mạng lưới phân phát và thu hồi phiếu điều tra hợp lý, hoạt động có kết quả, không để bị thất lạc phiếu
Ưu điểm cơ bản của phương pháp là dễ tổ chức, tiết kiệm chi phí và điều tra viên Tuy nhiên, lại khó có thể kiểm tra, đánh giá được độ chuẩn xác của các câu trả lời, tỷ lệ hồi phiếu trong nhiều trường hợp là không cao, nội dung điều tra bị hạn chế Phương pháp này cũng chỉ
có thể sử dụng được trong điều kiện trình độ dân trí cao
Ngoài ra, trong điều tra thống kê người ta còn sử dụng nhiều phương pháp khác để thu thập nguồn tài liệu ghi chép ban đầu như: phương pháp quan sát; phương pháp thu thập thông tin qua những nguồn sẵn có; phương pháp qua các chứng từ sổ sách…
2.4 Xây dựng phương án trong điều tra thống kê kinh tế
Để tổ chức tốt một cuộc điều tra chuyên môn, đòi hỏi phải xây dựng được phương án điều tra thật chi tiết, tỉ mỷ, cụ thể và toàn diện Đây chính là văn kiện hướng dẫn thực hiện cuộc điều tra, trong đó xác định rõ những bước tiến hành, những vấn đề cần phải giải quyết, cần được hiều thống nhất trong suốt quá trình thực hiện Đối với các cuộc điều tra lớn, có liên quan đến nhiều cấp, nhiều ngành, như Tổng điều tra dân số, việc xây dựng phương án điều tra cần có sự phối hợp, bàn bạc thống nhất giữa cơ quan thống kê và các ngành có liên quan và phải được cấp trên có thẩm quyền phê duyệt Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, phương
án điều tra thường được xây dựng phê duyệt hoặc là căn cứ để cơ quan chủ quản tiến hành xét chọn thầu theo quy định chung của nhà nước
Phương án của mỗi cuộc điều tra có thể khác nhau, tuỳ thuộc điều kiện cụ thể của nó Những nhìn chung, mỗi phương án điều tra thường gồm những nội dung chủ yếu sau:
- Xác định mục đích điều tra
- Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra
- Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị điều tra
- Chọn thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra
- Lựa chọn phương pháp điều tra, tổng hợp số liệu và phương pháp tính cách chỉ tiêu điều tra
- Xây dựng phương án tài chính cho cuộc điều tra
- Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra
2.4.1 Xác định mục đích điều tra
Bất kỳ hiện tượng kinh tế - xã hội nào cũng đều có thể được quan sát, xem xét, nghiên cứu trên nhiều mặt, nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau Nghiên cứu trên mỗi mặt, mỗi khía cạnh khác nhau sẽ cho ta đưa ra những kết luận khác nhau về hiện tượng và phục vụ những yêu cầu khác nhau Vì vậy, trước khi tiến hành điều tra, cần xác định rõ xem cuộc điều tra này nhằm tìm hiểu vấn đề gì, phục vụ cho yêu cầu nghiên cứu nào Đó chính là mục đích của cuộc điều tra
Mục đích điều tra còn là một trong những căn cứ quan trọng để xác định đối tượng, đơn vị điều tra, xây dựng kế hoạch và nội dung điều tra Vì vậy, việc xác định đúng, rõ ràng
PTIT
Trang 21- Làm căn cứ chính xác phục vụ công tác nghiên cứu, phân tích quá trình phát triển kinh tế - xã hội và dân số nước ta
- Kiểm điểm tình hình thực hiện các nhiệm vụ liên quan đến dân số, lao động Trên cơ sở đó, đáp ứng yêu cầu xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2010 -
2020
2.4.2 Xác định phạm vi, đối tượng và đơn vị kiểm tra
Xác định đối tượng điều tra là xác định xem những đơn vị tổng thể nào thuộc phạm vi điều tra cần được thu thập thông tin Như vậy, khi các đối tượng điều tra được chỉ rõ, cũng có nghĩa là phạm vi nghiên cứu đã được xác định, ranh giới giữa hiện tượng nghiên cứu với các tổng thể khác, hiện tượng khác cũng được phân biệt rõ ràng, tránh được tình trạng trùng lặp hay bỏ sót tiến hành điều tra
Muốn xác định chính xác đối tượng điều tra, một mặt phải dựa vào sự phân tích lý luận, nêu lên những tiêu chuẩn cơ bản phân biệt hiện tượng, nghiên cứu với các hiện tượng liên quan, phân biệt đơn vị tổng thể này với các đơn vị tổng thể khác, đồng thời cũng còn phải căn cứ vào mục đích nghiên cứu Trong cuộc tổng điều tra dân số ngày 1/4/2009 ở nước ta, đối tượng điều tra được xác định là “ nhân khẩu thường trú” Điều này, vừa giúp thực hiện tốt các mục đích điều tra đã được nêu rõ trong mục trên, vừa giúp thực hiện tốt các mục đích điều tra không bị trùng hay bỏ sót bất kỳ một nhân khẩu nào của nước ta Tuy nhiên, trong phương
án điều tra cũng cần phải có những quy định cụ thể về tiêu chuẩn xác định “nhân khẩu thường trú” để tránh nhầm lẫn
Đơn vị điều tra là đơn vị thuộc đối tượng điều tra và được điều tra thực tế Đơn vị điều tra chính là nơi phát sinh các tài liệu ban đầu, điều tra viên cần đến đó thu thập trong mỗi điều tra Như vậy, nếu xác định đối tượng điều tra là trả lời câu hỏi “điều tra ở đâu?” Trong một số trường hợp, đơn vị điều tra và đối tượng điều tra đều là các doanh nghiệp công nghiệp nhà nước của thành phố Nhưng cũng có nhiều trường hợp, chúng lại khác nhau Ví dụ, trong Tổng điều tra dân số ở nước ta ngày 1/4/2009, đối tượng điều tra là “nhân khẩu thường trú”, còn đơn vị điều tra lại được xác định là “hộ gia đình” và các “hộ tập thể” Trong các cuộc điều tra chọn mẫu, đơn vị điều tra chỉ bao gồm những đối tượng được chọn vào mẫu
Cần phân biệt đơn vị điều tra và đơn vị tổng thể Đơn vị tổng thể là các phần tử, các đơn vị cầu thành hiện tượng, mà qua đó ta có thể xác định được quy mô tổng thể Việc xác định số đơn vị tổng thể liên quan đến việc lập phương án điều tra, chọn phương pháp điều tra, ước lượng kinh phí điều tra… còn việc xác định số đơn vị điều tra lại liên quan đến việc tổ chức ghi chép, đăng ký tài liệu, phân bổ cán bộ…
2.4.3 Xác định nội dung điều tra và thiết lập phiếu điều tra
PTIT
Trang 2222
Xác định nội dung điều tra là việc câu hỏi “điều tra cái gì?” Nội dung điều tra là toàn
bộ các đặc điểm cơ bản của từng đối tượng, từng đơn vị điều tra, mà ta cần thu được thông tin Trong thực tế, các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thường có rất nhiều đặc điểm khác nhau Tuy nhiên, ta không thể và cũng không cần thiết phải thu thập thông tin của toàn bộ các tiêu thức đó, mà chỉ cần những tiêu thức có liên quan đến mục đích nghiên cứu, phục vụ được cho việc nghiên cứu Vì vậy, bất kỳ cuộc điều tra nào cũng cần phải xác định rõ, thật cụ thể nội dung điều tra
Việc xác định nội dung điều tra, cần căn cứ vào các yếu tố sau:
- Mục đích điều tra: Mục đích điều tra chỉ rõ cần thu thập những thông tin nào
để đáp ứng yêu cầu của nó Mục đích điều tra khác nhau, nhu cầu thông tin cũng khác nhau Mục đích càng nhiều, nội dung điều tra càng phải rộng, càng phải phong phú
- Đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu: Tất cả những hiện tượng mà thống nghiên cứu đều tồn tại trong điều kiện cụ thể về thời gian và không gian Khi điều kiện này thay đổi, đặc điểm của hiện tượng cũng thay đổi Khi đó, các biểu hiện của chúng cũng khác nhau Vì vậy, việc lựa chọn tiêu thức nghiên cứu cũng phải khác nhau
- Năng lực, trình độ thực tế của đơn vị, của người tổ chức điều tra Điều này biểu hiện ở khả năng về tài chính, về thời gian, về kinh tế và trình độ tổ chức điều tra Nếu tất
cả các yếu tố này được đảm bảo tốt, có thể mở rộng nội dung điều tra, nhưng vẫn đảm bảo chất lượng của các thông tin thu được Trường hợp ngược lại, cần kiên quyết loại bỏ những nội dung chưa thực sự cần thiết
Ngoài ra, nội dung điều tra cũng chỉ nên bao gồm những tiêu thức có liên hệ chặt chẽ với nhau, để có thể kiểm tra tính chính xác của những thông tin thu được
Để có thể thu được những thông tin một cách chính xác và đầy đủ, nội dung của mỗi cuộc điều tra phải được diễn đạt thành những câu hỏi ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu và mọi người đều hiểu theo một nghĩa thống nhất Về mặt hình thức, các câu hỏi này có thể được diễn đạt theo hai cách: Câu hỏi đóng là các câu hỏi đã có sẵn các phương án trả lời có thể, người trả lời chỉ cần chọn 1 trong những phương án trả lời, người được diễn đạt câu trả lời Các cuộc điều tra thống kê ít sử dụng loại câu hỏi thứ hai này Trong cuộc Tổng điều tra được thực hiện trong 18 câu hỏi Những nội dung chủ yếu của cuộc tổng điều tra này là: Họ tên, quan hệ với chủ hộ, giới tính, dân tộc, tôn giáo, nơi thực tế thường trú, tình trạng đi học và trình độ học vấn cao nhất đã đạt được trình độ chuyên môn kỹ thuật, tình trạng hôn nhân, tình trạng việc làm, lĩnh vực làm việc…
Phiếu điều tra là tập hợp các câu hỏi của nội dung điều tra, được sắp xếp theo một trật
tự logic nhất định Tuỳ theo yêu cầu, nội dụng với đối tượng, mỗi cuộc điều tra có thể phải xây dựng nhiều loại phiếu khác nhau Trong tổng điều tra dân số, người ta xây dựng hai loại phiếu: Phiếu hộ và phiếu cá nhân Trong hai cuộc điều tra mức sống dân cư Việt Nam (1997 –
1998 và 2002 – 2003) do Tổng cục Thống kê thực hiện, ngoài việc thu thập những thông tin chủ yếu từ các hộ gia đình, còn cần những thông tin về cộng đồng, về giá cả thị trường có ảnh hưởng trực tiếp đến mức sống của người dân, nên người ta phải sử dụng đến 5 loại phiếu khác nhau: Bảng câu hỏi hộ gia đình, bảng câu hỏi xã/thôn, bảng câu hỏi trường học, bảng câu hỏi trạm y tế và câu hỏi về giá
Thông thường, trong các văn kiện của cuộc điều tra, người ta còn ban hành bản giải thích cách ghi phiếu điều tra Bản giải thích này thường đi kèm theo phiếu điều tra nhằm giúp
PTIT
Trang 2323
cho nhân viên điều tra và người trả lời nhận thức thống nhất các câu hỏi được đặt ra, cách thu thập và ghi chép số liệu Đối với những câu hỏi phức tạp, khó trả lời người ta còn đặt ra những ví dụ cụ thể và những quy định về các trường hợp ngoại lệ…
2.4.4 Chọn thời điểm, thời kỳ và quyết định thời hạn điều tra
Các hiện tượng kinh tế - xã hội mà thống kê nghiên cứu luôn thay đổi theo thời gian
và không gian Muốn thu thập được chính xác các thông tin về chúng, cần có quy định thống nhất về thời điểm, thời kỳ và thời hạn điều tra
Thời điểm điều tra: Là mốc thời gian quy định thống nhất mà cuộc điều tra phải thu thập thông tin về hiện tượng tồn tại đúng thời điểm tra đó Nếu cuộc điều tra được tiến hành vào thời điểm sau đó, thì người trả lời phải hồi tưởng lại để “miêu tả trạng thái của hiện tượng” vào đúng thời điểm điều tra Ví dụ, thời điểm của tổng điều tra dân số lần thứ 4 ở nước
ta được xác định vào 0 giờ ngày 1/4/2009 Như vậy, số dân nước ta có tại cuộc điều tra này chỉ tính những người sinh trước 0 giờ 1/4/2009 và đến thời điểm này đang còn sống
Thời kỳ điều tra: Là khoảng thời gian (tuần, tháng, năm…) được quy định để thu
thập số liệu về lượng của hiện tượng được tích luỹ trong cả thời kỳ đó
Thời hạn điều tra: Là khoảng thời gian dành cho việc thực hiện nhiệm vụ thu thập số
liệu Thời hạn dài hay ngắn phụ thuộc vào quy mô, tính phức tạp của hiện tượng nghiên cứu
và nội dung điều tra, vào khả năng, kinh nghiệm của điều tra viên Nhìn chung, thời hạn điều tra không nên quá dài, cách quá xa thời điểm điều tra vì có thể làm mất thông tin do người trả lời không nhớ đầy đủ các sự kiện xảy ra
2.4.5 Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra
Lập kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra là một vấn đề trọng yếu thống kê Kế hoạch này quy định cụ thể từng bước công việc phải tiến hành trong quá trình từ khâu tổ chức đến triển khai điều tra thực tế Vì vậy, nó được xây dựng ngày càng chi tiết, tỷ mỷ, rõ ràng, cụ thể thì càng dễ thực thi, chất lượng của cuộc điều tra càng được nâng cao Tuy nhiên, đây là một công việc phức tạp, đòi hỏi người lập kế hoạch phải có kinh nghiệm và am hiểu tình hình thực tế Một kế hoạch tổ chức và tiến hành điều tra gồm rất nhiều khâu công việc Thông thường, nó có thể gồm một số khâu chủ yếu là:
- Thành lập ban chỉ đạo điều tra và quy định nhiệm vụ cụ thể cho cơ quan điều tra các cấp
- Chuẩn bị lực lượng cán bộ điều tra, phân công trách nhiệm, địa bàn cho từng cán bộ và tiến hành tập huấn nghiệp vụ cho họ
- Lựa chọn phương pháp điều tra thích hợp
- Xác định các bước tiến hành điều tra
- Phân chia khu vực và địa bàn điều tra
- Tổ chức các cuộc hội nghị chuẩn bị
- Tiến hành điều tra thử để rút kinh nghiệm, nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán
bộ điều tra và hoàn thiện phương án điều tra, phiếu điều tra
- Xây dựng phương án tài chính và chuẩn bị các phương tiện vật chất khác
- Tuyên truyền mục đích, ý nghĩa của cuộc điều tra
…
PTIT
Trang 2424
2.5 Xây dựng bảng hỏi trong điều tra thông kê
2.5.1 Bảng hỏi và yêu cầu của việc xây dựng bảng hỏi trong điều tra thông kê
Bảng hỏi là hệ thống các câu hỏi được sắp xếp trên cơ sở các nguyên tắc, trình tự logic
và theo nội dung nhất định nhằm giúp cho người điều tra có thể thu được thông tin về hiện tượng nghiên cứu một cách đầy đủ, đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đã được thiết lập
Trong điều tra nói chung, bảng hỏi chính là sự thể hiện cụ thể toàn bộ nội dung nghiên cứu Nó là công cụ quan trọng giúp truyền tải thông tin từ người nghiên cứu đến đối tượng và thu nhận thông tin ngược lại Việc đo lường, nhận thức hiện tượng có đầy đủ hay không phụ thuộc chặt chẽ vào chỗ các câu hỏi bao quát nội dung nghiên cứu đến mức độ nào Chính vì vậy, nhìn vào bảng hỏi, ta có thể biết cuộc điều tra được tiến hành nhằm giải quyết vấn đề gì, chương trình nghiên cứu như thể nào
Bảng hỏi là một công cụ đo lường quan trọng Nhờ đó, ra có thể đo lường được các biến số nhất định có liên quan đến chủ đề cần nghiên cứu Vì vậy, bảng hỏi được soạn thảo tốt
sẽ cho ta những thông tin đầy đủ, tin cậy và việc đo lường sẽ đạt độ chính xác, khoa học Ngược lại, nếu các câu hỏi không đáp ứng được các yêu cầu đề ra thì khả năng thu thập thông tin sẽ giảm, thậm chí ta có thể nhận được các thông tin mèo mó, xuyên tạc sự thực
Bảng hỏi còn giữ vai trò cầu nối giữa người nghiên cứu và trả lời Một mặt, nó chịu tác động của người nghiên cứu khi chuyển các nội dung cần thiết thành các câu hỏi cụ thể với mong muốn thu được những thông tin chính xác, đầy đủ theo chủ để đã định và mong muốn
sử dụng bảng hỏi cũng phải phù hợp với trình độ, khả năng của người trả lời để họ có thể dễ dàng hiểu chính xác từng câu hỏi và đưa ra những câu hỏi trả lời thật sự khách quan Muốn vậy, bảng các câu hỏi phải phản ảnh đầy đủ nội dung điều tra.Việc thiết kế phải đảm bảo các yêu cầu về mỹ thuật, tiết kiệm và tiện dụng Về mặt kỹ thuật, phiếu hỏi phải được thiết kế đẹp, dễ đọc, có khả năng lôi kéo, duy trì sự quan tâm của người trả lời Việc sắp xếp các hàng, các cột, bố trí khổ giấy… sao cho phải đảm bảo yêu cầu tiết kiệm, nhưng lại thuận lợi cho việc ghi chép, mã hoá, nhập số liệu và kiểm tra lại sau này Các câu hỏi cũng phải được sắp xếp theo trình tự logic nhất định Từng câu hỏi phải rõ ràng, đơn giản, dễ hiểu và đảm bảo cho mọi người đều hiểu theo một nghĩa thống nhất
2.5.2 Các loại câu hỏi và kỹ thuật đặt các loại câu hỏi
1 Câu hỏi theo nội dung
Cơ sở để phân loại câu hỏi theo nội dung là thực tế kinh tế - xã hội mà các câu hỏi này
đề cập đến và có thể truyền tải được Đó chính xác là các yêu tố, các khía cạnh, các quá trình kinh tế - xã hội ta muốn thu thập thông tin qua các câu trả lời của đối tượng Do đó, theo nội dung, ta có thể chia chi tiết thành các câu hỏi về kinh tế, về văn hoá, về xã hội Về kinh tế, có thể phân biệt các câu hỏi về từng ngành: Công nghiệp, nông nghiệp, về xây dựng cơ bản,… Tuy nhiên, theo cách hiểu chung hơn, ta có phân biệt hai nhóm câu hỏi theo nội dung như sau:
Nhóm thứ nhất: Câu hỏi về sự kiện
Là những câu hỏi về một sự kiện hiện thực nào đó đã và đang tồn tại trong không gian, thời gian Những câu hỏi này được đặt ra nhằm để nắm tình hình hiện thực khách quan, bao gồm cả tình hình về đối tượng điều tra
Ví dụ: Bạn có phải là sinh viên Học viện công nghệ BCVT không? Bạn đã xây dựng gia đình chưa? Hoặc những câu hỏi về đặc trưng của người trả lời như: giới tính, độ tuổi, trình
độ văn hoá, nghề nghiệp, thành phần gia đình…
PTIT
Trang 2525
Loại câu hỏi này thường có mặt trong hầu hết các phiếu điều tra, các bảng hỏi điều tra thống kê cũng như điều tra xã hội học, nếu thiếu nó, cuộc nghiên cứu thực tế sẽ khó có ý nghĩa đầy đủ Ngoại trừ những câu hỏi có tình chất riêng tư, câu hỏi về sự kiện, nói chung thường dễ trả lời Vì vậy, người ta thường dùng câu hỏi về sự kiện để bắt đầu hỏi trong phỏng vấn nhằm giúp người trả lời quen dần với cuộc tọa đàm hoặc để chuyển ý giữa những câu hỏi
về thái độ, quan điểm, động cơ… Thông tin thu được từ những câu hỏi này thường có độ tin cậy và độ xác thực so với các câu hỏi về nội dung khác
Cần chú ý: Với câu hỏi về những sự kiện xảy ra trong quá khứ quá xa, cần đề phòng
những sai lầm có thể xảy ra do đối tượng đã bị quên Có thể giúp đỡ người trả lời bằng cách gợi ý lại bối cảnh lịch sử, địa lý mà sự kiện đó xảy ra để họ tái hiện thông tin cần thiết Với những câu hỏi mang tính chất riêng tư, kín đáo hoặc có thể gợi cho đối tượng những ký ức không vui, những câu hỏi thuộc những chủ đề nhạy cảm… thì cần có cách diễn đạt tế nhị, hoặc sử dụng cách hỏi gián tiếp để tránh cho đối tượng phải gặp những tình huống khó xử, bối rối và làm ảnh hưởng đến độ chính xác của câu trả lời
Nhóm thứ hai:
Nhóm thứ hai bao gồm những câu hỏi dùng để đo lường mức độ của vấn đề nghiên cứu như: Trạng thái của hiện tượng, trình độ nhận thức, mong muốn, thái độ, tình cảm, động cơ… Tuy nhiên, tính chuẩn xác của các câu trả lời đối với loại câu hỏi này phụ thuộc chặt chẽ vào trình độ, khả năng nhận thức, đánh giá và mong muốn của người trả lời Ví dụ: “Bạn hiểu
gì về chuyên ngành đào tạo mà bạn đang theo học?”, “Trình độ tiếng Anh của bạn ở mức độ nào?”…
Việc phân chia hai nhóm câu hỏi như trên có liên quan đến phương án thu thập thông tin Đối với nhóm thứ nhất, các sự kiện được hỏi luôn tồn tại và gắn liền với hiện thực cuộc sống, chúng có tính chất khách quan, nên thường dễ trả lời, thông tin thu được thường có độ chính xác cao và ổn định Đối với nhóm thứ hai , nó liên quan đến sự đánh giá chủ quan, vào nhận thức của mỗi cá nhân trả lời Nó đòi hỏi người trả lời không chỉ “ biết” mà còn phải
“hiểu” vấn đề Mặt khác, những mong muốn, đánh giá thường nằm trong ý thức của cá nhân con người, dễ bị thay đổi và đôi khi gặp phải những khó khăn nhất định trong việc diễn đạt Hơn nữa, nhiều đánh giá, nhận định liên quan đến vấn đề riêng tư, những vấn đề nhạy cảm biểu hiện lập trường, quan điểm làm cho việc trả lời gặp nhiều khó khăn, không chính xác Thậm chí có trường hợp ta không thể thu được thông tin Vì vậy, khi sử dụng nhóm câu hỏi thứ hai này, cần đặc biệt quan tâm đến cách đặt câu hỏi, sử dụng từ ngữ, hình thức câu hỏi…
2 Câu hỏi chức năng
Trên thực tế, để chuyển tải những nội dung của thông tin trong điều tra, đặc biệt là khi
sử dụng phương pháp phỏng vấn cần phải có những câu hỏi mang tính chất kỹ thuật, đó là các câu hỏi chức năng
Câu hỏi tâm lý:
Câu hỏi tâm lý có thể là câu hỏi tiếp xúc để gạt bỏ những nghi ngờ có thể nảy sinh, để giảm bớt sự căng thẳng, hoặc chuyển từ chủ để này sang chủ đề khác… thường dùng trong phỏng vấn trực tiếp
- Để tiếp xúc, làm quen, người ta thường đưa ra câu hỏi rất đơn giản, dễ trả lời, thậm chí có thể đã biết trước câu trả lời Mục đích của việc đặt những câu hỏi này không nhất
PTIT
Trang 26- Để chuyển từ nội dung này sang nội dung khác khá cách biệt nhau, có thể sử dụng những câu chuyển tiếp để làm cho người trả lời không cảm thấy bị hụt hẫng hoặc không
bị đảo lộn về tư duy, không cảm thấy nghi ngờ, thắc mắc về tính hợp lý của các câu hỏi Những chiếc “cầu nối” này làm trật tự các câu hỏi trở nên nhịp nhàng hơn, hấp dẫn người trả lời hơn Chẳng hạn: “Bây giờ ta bắt đầu vào đề…”, hoặc “Còn bây giờ ta nói chuyện một chút
về vấn đề…” Việc chuyển tiếp cần nhịp nhàng, tế nhịn và đặc biệt không gây nên sự thắc mắc về tính hợp lý của tiến trình câu chuyện
Những câu hỏi tâm lý có thể không có liên quan rõ ràng đến nội dung nghiên cứu, vì vậy sự dụng nó phải khéo léo và có mức độ Có thể vì nó như gia vị trong một món ăn, nếu sử dụng nhiều hoặc không đúng chỗ có thể gây phản tác dụng Chẳng hạn, cần tránh những câu hỏi về nhân khẩu học, các câu hỏi gây phiền hà về nguyên tắc, những câu hỏi về quan hệ nội
bộ trong tập thể, những xích mích trong gia đình, mất mát, tổn thương… mà họ không muốn nhắc đến
Câu hỏi lọc:
Câu hỏi lọc có tác dụng tìm hiểu xem người được hỏi có thuộc nhóm người dành cho những câu hỏi tiếp sau có được trả lời cũng không có giá trị đích thực, thậm chí bị xuyên tạc Câu hỏi lọc có thể dùng trước khi tiến hành cho phỏng vấn hoặc trước khi tiếp vào một nội dung nào đó Như vậy, loại câu hỏi này có tác dụng phân chia những người tham gia trả lời thành các nhóm khác nhau, để sau đó sẽ có các câu hỏi dành riêng cho mỗi nhóm
Khi xây dựng bảng hỏi, người ta thường sử dụng kỹ thuật “bước nhảy”: với ý nghĩa cho phép “chuyển đến” hoặc “được phép chuyển đến” vì nếu không chuyển ngay vào mà vẫn theo trình tự bình thường thì các câu hỏi trả lời sẽ không có giá trị mục đích thực hay nói khác
đi là vô nghĩa đối với người đang hỏi, thậm chí có thể làm sai lệch kết quả nghiên cứu
Câu hỏi kiểm tra:
Loại câu hỏi này có tác dụng kiểm tra độ chính xác của những thông tin thu thập được
Nó được sử dụng khi gặp một câu trả lời nghi ngờ về tính xác thực, độ chính xác, người ta có thể đặt một câu hỏi khác, theo cách diễn đạt khác có liên quan đến vấn đề bị nghi ngờ nhằm kiểm tra lại thông tin trên
Câu hỏi kiểm tra có thể được sử dụng để kiểm tra những câu trả lời về một vấn đề, xác định mức tin cậy đối với từng câu hỏi hoặc toàn bộ bảng hỏi Phương án thực hiện có thể khác nhau, rất linh hoạt Chẳng hạn có thể nêu câu hỏi tiếp sau đó đưa ra phương án trả lời mà trong đó đã gài một câu biết chắc chấn đúng một trăm phần trăm (hoặc không có thật) để thử Người ta cũng có thể đưa ra một tình tiết, một vấn đề hoàn toàn hư cấu, nhưng về hình thức lại rất gần gũi với thực tế để xem đối tượng có nhận ra được không, qua đó để kiểm tra tính xác thực của các thông tin đã được cung cấp trước đó…
Trong thực tế, có nhiều vấn đề có liên quan chặt chẽ với nhau, mà khi trả lời người ta
ít để ý đến Ví dụ, thâm niên công tác có liên quan đến tuổi, mức lương… của người trả lời
PTIT
Trang 2727
Vì vậy, ta có thể sử dụng chính các câu hỏi đã có, kiểm tra chéo lẫn nhau để xác định tính chân thực của các thông tin đã được cung cấp
Một số vấn đề cần chú ý khi sử dụng các câu hỏi kiểm tra:
- Các câu hỏi kiểm tra thường làm tăng số câu hỏi cho một cuộc nghiên cứu Nếu sử dụng quá nhiều sẽ ảnh hưởng đến chất lượng của cuộc điều tra Vì vậy, chỉ nên sử dụng câu hỏi kiểm tra đối với nội dung nghiên cứu chủ yếu và hay gặp sai sót Đồng thời nó cũng phải được chuẩn bị, kiểm nghiệm trong thực tiễn là có thể dùng để kiểm tra được
- Câu hỏi kiểm tra không bao giờ được đi liền với câu trả lời mà nó kiểm tra và thường đặt xa khoảng 3 đến 4 câu hỏi khác nếu có thể phát sinh sự nghi ngờ ở người được hỏi làm ảnh hưởng đến tiến trình phỏng vấn tiếp theo
- Sử dụng câu hỏi kiểm tra cũng phải hết sức khéo léo, cần tránh cho người trả lời cảm giác tự ái, chạm lòng, cảm thấy bị xúc phạm khi phải trả lời câu hỏi này Điều đó ảnh hưởng đến việc cung cấp thông tin ở các câu hỏi tiếp theo
3 Câu hỏi theo cách biểu hiện
Có thể phân loại câu hỏi theo hình thức biểu hiện của câu trả lời cũng như cách hỏi:
Theo biểu hiện của câu trả lời
Mở rộng bảng hỏi ra, điều dễ nhận thấy nhất là hình thức biểu hiện câu trả lời Tuỳ theo cách thức đưa ra câu trả lời, người ra chia thành loại câu hỏi đóng, câu hỏi mở và kết hợp giữa hai loại này
Câu hỏi đóng
Là dạng câu hỏi đã có trước những phương án trả lời cụ thể mà người trả lời chỉ việc chọn một hoặc số phương án họ cho là phù hợp nhất
Ta có thể phân biệt hai loại câu hỏi đóng khác nhau:
Câu hỏi đóng lựa chọn (câu hỏi loại trừ) Đặc điểm chính của loại câu hỏi là các phương án trả lời được đưa ra mang tính chất loại trừ nhau, tức là người trả lời chỉ có thể lựa chọn một số trong các phương án trả lời được nêu ra: Khi đã chọn phương án này, thì đương nhiên, các phương án khác đã bị loại trừ
Trong loại này, có một dạng câu hỏi khá đặc biệt là chỉ có hai phương án loại trừ nhau: Có hoặc không, đúng hoặc sai, đã hoặc chưa… Chẳng hạn: “Bạn đã lập gia đình chưa?”, “Anh chị có thích sinh con trai không?”… Trong thực tế, do đặc điểm tâm lý của con người, nêu câu trả lời có trách nhiệm hơn và muốn trả lời dễ thiên theo hướng “tích cực” của câu hỏi Để người trả lời có trách nhiệm hơn và muốn trả lời hơn có thể thay đổi cách diễn đạt nhẹ nhàng, tế nhị hơn Hoặc người ta có thể chuyển thành câu hỏi có nhiều phương án lựa chọn hơn Ví dụ, câu hỏi “Ông (bà) có hài lòng với mức lương hiện nay của mình không?” với hai lựa chọn là có hoặc không được thay thế bằng câu hỏi “Mức độ hài lòng của ông (bà)
về mức lương hiện tại của mình?” nhiều phương án để trả lời, lựa chọn từ rất hài lòng đến không hài lòng
Câu hỏi đóng tuỳ chọn (câu hỏi tuyển): đặc điểm của loại câu hỏi này là các phương
án trả lời không loại trừ nhau, người được hỏi có thể chọn một số khả năng nào đó họ cho là thích hợp nhất
Ưu điểm của câu hỏi đóng:
PTIT
Trang 2828
Loại câu hỏi này tạo điều kiện thuận lợi, dễ dàng cho người trả lời vì chỉ cần lựa chọn một hoặc một số phương án được nêu ra Mặt khác còn giúp cho người được hỏi hiểu câu hỏi một cách thống nhất, theo cũng một nghĩa Hơn nữa, nó cũng làm cho việc xử lý thông tin thống kê, đo lường hiện tượng nghiên cứu được thuận lợi, rõ ràng hơn Vì vậy, loại câu hỏi này luôn chiếm ví trí chủ đạo trong bảng hỏi của các cuộc điều tra thông kê
Hạn chế lớn nhất của câu hỏi loại này là bó hẹp tư duy, gò ép đối tượng theo cách lập luận chủ quan của người nghiên cứu với phương án trả lời được nêu ra Điều đó, hạn chế khả năng sáng tạc và hướng tư duy, suy nghĩa của đối tượng Nếu không cẩn thận sẽ vi phạm nguyên tắc khách quan, khoa học Khi sử dụng phải chú ý:
- Phải đặt mình vào vị trí của người được hỏi sẽ hiểu vấn đề và trả lời như thế nào, từ đó có cách diễn đạt, sắp xếp câu trả lời
- Phải lường trước các phương án trả lời có thể có Tức là tất cả các khía cạnh, các yếu tố của vấn đề được hỏi phải được thể hiện đầy đủ trong các phương án trả lời
- Các phương án trả lời phải có mức độ đồng nhất tương đối với nhau theo cách phân chia nào đó Việc sắp xếp trật tự các phương án trả lời cũng phải tuân theo những nguyên tắc nhất định để giúp cho người trả lời hiểu vấn đề một cách dễ dàng hơn
- Số lượng các phương án trả lời cũng nên giới hạn trong một chừng mực nhất định Sử dụng quá ít hoặc quá nhiều phương án trả lời đều làm việc lựa chọn gặp khó khăn mà còn làm cho việc đo lường nghiên cứu không chuẩn xác
Câu hỏi mở
Là loại câu hỏi không có phương án trả lời được nêu trước mà nó hoàn toàn do người trả lời tự nghĩ ra Chúng cho phép người được hỏi tự thông tin một cách tốt nhất những suy nghĩ của họ
Tác dụng của câu hỏi mở: Để tìm hiểu vấn đề, thu thập ý kiến, quan điểm một cách đầy đủ nhất theo chủ đề hoặc trong phạm vi vần đề đã nêu ra Chúng có thể làm tăng tính tích cực, chủ động của người được hỏi Vì vậy, loại câu hỏi này rất thuận tiện cho những nghiên cứu đặc tính
Khó khăn đối với câu hỏi mở là ở vấn đề xử lý số liệu Nguyên tắc của việc xử lý là phải tách thành các nhóm mà theo đó có thể thu thập từ những câu trả lời Các nhóm này do người trả lời hình thành nên vì thế nhà nghiên cứu trở nên bị động hơn Chính vì vậy, loại câu hỏi này ít được sử dụng trong các cuộc điều tra thống kê thuần tuỳ
Câu hỏi hỗn hợp (câu hỏi nửa đóng)
Về hình thức, đây là loại câu hỏi kết hợp giữa câu hỏi đóng và câu hỏi mở Xét về nội dung nó được sử dụng trong những trường hợp sau:
- Khi không tìm hết được phương án diễn đạt theo câu hỏi đóng, cần để người trả lời tự diễn đạt
- Khi chỉ cần xử lý, tổng hợp theo những phương án trả lời nhưng không để người trả lời bị rơi vào thế bị, hụt hẫng
Theo biểu hiện của câu hỏi
Tuỳ theo cách hỏi các câu hỏi được biểu hiện dưới dáng trực tiếp hoặc gián tiếp
- Câu hỏi trực tiếp: Là cách hỏi thẳng ngay vào nội dung vấn đề, người được hỏi không bị câu nệ và có thể trả lời vào chính nội dung đó
PTIT
Trang 2929
- Câu hỏi gián tiếp: Là cách hỏi khôn khéo, không đi trực tiếp vào vấn đề, mà có thể hỏi vòng vo, thông qua những vấn đề có liên quan để thu thập thông tin về vấn đề cần nghiên cứu Cách hỏi này thường được dùng cho những vấn đề mà xã hội thường gắn cho nó tính “tiêu cực”, những chủ để nhạy cảm, riêng tư sâu kín
2.6 Sai số trong điều tra thông kê kinh tế
Các cuộc điều tra thống kê, dù có cố gắng làm thật tốt vẫn thường gặp những trường hợp mà số liệu điều tra không trùng khớp với số liệu thực tế của hiện tượng nghiên cứu Người ta gọi là sai số Sai số trong điều tra thống kê là chênh lệch giữa vị trí số thực của hiện tượng nghiên cứu so với trị số của nó mà điều tra thống kê thu được Sai số này làm giảm chất lượng của các cuộc điều tra, ảnh hưởng đến chất lượng của toàn bộ quá trình nghiên cứu thống kê Trong các cuộc điều tra thống kê, người ta phải cố gắng áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế sai số này
Căn cứ vào tính chất của các sai số, ta có thể phân biệt hai loại: Sai số do đăng ký và sai số đo tính đại diện
Sai số do đăng ký xảy ra đối với mọi cuộc điều tra thống kê Nó phát sinh do việc đăng ký số liệu ban đầu không chính xác Nguyên nhân gây ra loại sai số này rất đa dạng, có thể do cân, đong đo, đếm sai, tính toán sai, ghi chép sai, do dụng cụ đo lường không chuẩn xác…Nếu phân chia chi tiết hơn, ta có thể chia loại sai số này thành sai số ngẫu nhiên và sai
số có hệ thống, do cố ý, có chủ định của người điều tra và người trả lời Sai số ngẫu nhiên là những sai số phát sinh một cách tình cờ, không có chủ định, không có bất kỳ một sự sắp đặt trước nào của người điều tra Nó xảy ra hoàn toàn ngẫu nhiên sẽ có khả năng bù trừ, triệt tiêu nhau làm cho sai số một cách có hệ thống do lỗi của hệ thống đo lường, hệ thống thang đo được thiết kế không chuẩn xác… Loại sai số này không chịu sự chi phối của quy luật số lớn, nên điều tra càng nhiều, khả năng xảy ra sai số sẽ càng lớn
Sau số do tính đại diện chỉ xảy ra trong điều tra chọn mẫu Nguyên nhân là do trong các cuộc điều tra này, người ta chỉ chọn một số đơn vị để điều tra thực tế Các đơn vị này không đủ đảm bảo đại diện cho toàn bộ tổng thể, nên phát sinh sai số, ngay cả trong trường hợp việc lựa chọn số đơn vị điều tra được thực hiện một cách hoàn toàn ngẫu nhiên
Để đảm bảo các kết quả điều tra độ chính xác cao, cần áp dụng một số biện pháp để hạn chế sai số
- Làm tốt công tác chuẩn bị điều tra: Thông thường trong các cuộc điều tra thống kê, công tác chuẩn bị chiếm vị trí rất quan trọng, nó đòi hỏi một sự đầu tư chất xám khá lớn Công tác chuẩn bị càng chu đáo, tỷ mỷ, thận trọng và chi tiết, đặc biệt là trong việc thiết lập phương án điều tra, xây dựng phiếu điều tra, lựa chọn và tập huấn cán bộ điều tra càng làm tốt, sai số điều tra càng giảm
- Tiến hành kiểm tra có hệ thống toàn bộ cuộc điều tra: Kiểm tra là biện pháp có hiệu quả để sửa chữa, uốn nắn kịp thời các sai lầm có thể mắc phải trong quá trình điều tra Việc kiểm tra có thể được tiến hành theo nhiều giai đoạn khác nhau Trước hết, cần tiến hành kiểm tra ngay từ giai đoạn chuẩn bị xem các khâu cần chuẩn bị đã được đầy đủ, chu đáo chưa Việc kiểm tra trong giai đoạn thu thập thông tin, việc ghi chép số liệu ban đầu nhằm nâng cao
ý thức trách nhiệm của nhân viên điều tra cũng có ý nghĩa quan trọng Nghiệm thu phiếu điều tra là một khâu kiểm tra có ý nghĩa quyết định Trong thời giai đoạn này, người ta cần kiểm
PTIT
Trang 3030
tra xem các phiếu điều tra có đầy đủ không, các câu trả lời, các con số ghi chép từng phiếu có được tính toán đúng, đủ không, có hợp logic không, có mâu thuẫn với nhau không…Nhìn chung, việc kiểm tra, nghiệm thu phiếu điều tra có tác dụng rất lớn, nhưng nó đòi hỏi người kiểm tra phải có trình độ, kinh nghiệm, hiểu biết thực tế và rất nhạy cảm Tiếp theo, việc nhập
số liệu vào máy cũng cần được kiểm tra thật kỹ lưỡng Thực tế cho thấy đây cũng là một khâu
dễ làm phát sinh sai số Nhiều cuộc điều tra, người ta yêu cầu nhập hai lần độc lập nhau, để khắc phục những sai sót có thể xảy ra trong quá trình nhập số liệu
Ngoài ra, trong các cuộc điều tra không toàn bộ, người ta còn tiến hành kiểm tra tính đại diện của các đơn vị được chọn để điều tra
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHƯƠNG 2
1 PGS TS Trần Ngọc Phác, TS Trần Thị Kim Thu – Giáo trình Lý thuyết thống kê Nhà
xuất bản Thống kê, 2013
2 GS.TS Bùi Xuân Phong - Thống kê và ứng dụng trong BCVT NXB Bưu điện, 2005
3 Hà Văn Sơn - Giáo trình Lý thuyết thống kê ứng dụng trong quản trị và kinh tế
Nhà xuất bản Thống kê, 2004
4 PTS Phan Công Nghĩa - Giáo trình Thống kê Lao động NXB Thống kê, 2009
5 PGS.PTS Nguyễn Thiệp, PTS Phan Công Nghĩa - Giáo trình Thống kê chất lượng NXB
Thống kê, 2011
CÂU HỎI ÔN TẬP CHƯƠNG 2
1 Phân tích các yêu cầu cơ bản của điều tra thống kê kinh tế Cho ví dụ minh họa?
2 Phân biệt các loại điều tra thống kê Cho ví dụ minh họa?
3 Trình bày những nội dung chủ yếu của một phương án điều tra thống kê
4 Sử dụng các loại câu hỏi để lập bảng hỏi đơn giản cho một cuộc điều tra PTIT
Trang 3131
CHƯƠNG 3 PHÂN TỔ TỔNG HỢP TÀI LIỆU ĐIỀU TRA THỐNG KÊ KINH
TẾ
3.1 Khái niệm chung về phân tổ thống kê
3.1.1 Khái niệm, ý nghĩa và nhiệm vụ của phân tổ thống kê
Ta đã biết, hiện tượng và quá trình kinh tế - xã hội mà thống kê học nghiên cứu thường rất phức tạp Vì chúng tồn tại và phát triển dưới nhiều loại hình có quy mô và đặc điểm khác nhau Trong kết cấu nội bộ của hiện tượng nghiên cứu thường bao gồm nhiều tổ, nhiều bộ phận có tính chất khác nhau Muốn phản ánh được bản chất và quy luật phát triển của hiện tượng, nếu chỉ dựa vào những con số tổng cộng chung chung thì không thể nêu được vấn đề một cách sâu sắc Phải tìm cách nêu lên được đặc trưng của loại hình, của từng bộ phận cấu thành hiện tượng phức tạp, đánh giá tầm quan trọng của mỗi bộ phận Nêu lên mỗi liên hệ giữa các bộ phận rồi từ đó nhận thức được các đặc trưng chung của toàn bộ Yêu cầu nói trên chỉ có thể giải quyết được bằng phương pháp phân tổ thống kê
Phân tổ thống kê là căn cứ vào một (hay một số) tiêu thức nào đó để tiến hành phân chia các đơn vị của hiện tượng nghiên cứu thành các tổ (và các tiểu tổ) có tính chất khác nhau
Chẳng hạn, khi nghiên cứu tình hình nhân khẩu, căn cứ vào tiêu thức “giới tính” để chia tổng số nhân khẩu thành hai tổ: Nam và Nữ; còn căn cứ vào tiêu thức “tuổi” để chia số nhân khẩu thành nhiều tổ có độ tuổi khác nhau Hay khi nghiên cứu tình hình sản xuất của các doanh nghiệp công nghiệp, có thể chia tổng số doanh nghiệp thành các nhóm theo các tiêu thức như: thành phần kinh tế, ngành sản xuất, số lượng lao động, giá trị sản xuất công nghiệp…
Khi phân tổ thống kê, trước hết ta thực hiện được việc nghiên cứu cái chung và cái riêng một cách kết hợp Các đơn vị tổng thể được tập hợp lại thành một số tổ (và tiểu tổ): giữa
các tổ đều có sự khác nhau rõ rệt về tính chất, còn trong phạm vi mỗi tổ các đơn vị đều có sự giống nhau (hay gần giống nhau) về tính chất theo tiêu thức được dùng làm căn cứ phân tổ
Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê, vì ta sẽ không thể tiến hành hệ thống hoá một cách khoa học các tài liệu điều tra, nếu không áp dụng phương pháp này Tính chất phức tạp của hiện tượng nghiên cứu đòi hỏi phải tổng hợp theo từng tổ, từng bộ phận Vì vậy, khi tổng hợp thống kê, trước hết, người ta thường sắp xếp các đơn vị vào từng tổ, từng bộ phận, tính toán các đặc điểm của mỗi tổ hoặc bộ phận, rồi sau đó mới tính các đặc điểm chung của cả tổng thể
Phân tích thống kê là một trong các phương pháp quan trọng của phân tích thống kê, đồng thời là cơ sở để vận dụng các phương pháp phân thích thống kê khác Chỉ sau khi đã phân chia tổng thể nghiên cứu thành các tổ có quy mô và đặc điểm khác nhau, việc tính các chỉ tiêu phản ánh mức độ, tình hình biến động, mỗi liên hệ giữa các hiện tượng mới có ý nghĩa đúng đắn Nếu việc phân tổ không chính xác, tổng thể được chia thành những bộ phận không đúng với thực tế, thì mọi chỉ tiêu tính ra cũng không giúp ta rút ra được những kết luận đúng đắn Phương pháp phân tổ được vận dụng phổ biến nhất trong mọi trường hợp nghiên cứu kinh tế, vì không những phương pháp này đơn giản, dễ hiểu mà lại có tác dụng phân tích
PTIT
Trang 3232
sâu sắc Các phương pháp phân tích thống kê khác như: phương pháp số tương đối, phương pháp số bình quân, phương pháp chỉ số phương pháp bảng cân đối, phương pháp tương quan… thường cũng phải dựa trên các kết quả phân tổ thống kê chính xác
Phân tổ thống kê còn được vận dụng ngay trong giai đoạn điều tra thống kê, nhằm phân tổ đối tượng điều tra thành những bộ phận có đặc điểm, tính chất khác nhau từ đó chọn các đơn vị điều tra sao cho có tính đại biểu cho tổng thể chung
Phân tổ thống kê giải quyết những nhiệm vụ nghiên cứu cơ bản sau đây:
Thứ nhất, Phân bố thực hiện việc phân chia các loại hình kinh tế - xã hội của hiện
tượng nghiên cứu Hiện tượng kinh tế - xã hội mà thống kê học nghiên cứu thường không phải là tổng thể đồng chất, mà là tổng thể bao gồm nhiều đơn vị, thuộc các loại hình rất khác nhau, phát triển theo những xu hướng không giống nhau Vì vậy phương pháp nghiên cứu khoa học là phải nêu lên các đặc trưng riêng biệt của từng loại hình và mối quan hệ giữa các loại hình đó với nhau Muốn vậy, trước hết phải dựa trên lý luận kinh tế, chính trị, xã hội để phân biệt các bộ phận khác nhau về tính chất đang tồn tại khách quan trong nội bộ hiện tượng
Thứ hai, Phân tổ có nhiệm vụ biểu hiện kết cấu của hiện tượng nghiên cứu Ta biết
rằng một hiện tượng kinh tế - xã hội do nhiều bộ phận, nhiều nhóm đơn vị có tính chất khác nhau hợp thành Các bộ phận hay nhóm này chiếm những tỷ trọng khác nhau trong tổng thể
và nói lên tầm quan trọng của mình trong tổng thể đó Mặt khác, tỷ trọng của các bộ phận còn nói lên kết cấu của tổng thể theo một tiêu thức nào đó Muốn nghiên cứu được kết cấu của tổng thể, phải dựa trên cơ sở phân tổ thống kê
Thứ ba, Phân tổ được dùng để biểu hiện mối liên hệ giữa các mục của tiêu thức Hiện
tượng kinh tế - xã hội phát sinh và biến động không phải một cách ngẫu nhiên, tách rời với các hiện tượng xung quanh, mà chúng có liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau theo những quy luật nhất định Giữa các tiêu thức mà thống kê nghiên cứu cũng thường có mối liên hệ với nhau:
sự thay đổi tiêu thức này sẽ đưa đến sự thay đổi của tiêu thức kia theo một quy luật nhất định Tìm hiểu tính chất và trình độ của mối liên hệ giữa các hiện tượng nói chung và giữa các tiêu thức nói riêng là một trong các nhiệm vụ quan trọng của nghiên cứu thống kê Phân tổ thống
kê là một trong các phương pháp có thể giúp ta thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu này
3.1.2 Các loại phân tổ thống kê
Thống kê thường có các cách phân loại phân tổ thống kê như sau:
1 Căn cứ vào nhiệm vụ của phân tổ thống kê
Tương ứng với ba nhiệm vụ nói trên của phân tổ thống kê, có ba loại phân tổ: Phân tổ phân loại; phân tổ kết cấu và phân tổ liên hệ
* Phân tổ phân loại:
Phân tổ phân loại giúp ta nghiên cứu một cách có phân biệt loại hình kinh tế - xã hội, nêu lên đặc trưng và mối quan hệ giữa chúng với nhau Từ việc nghiên cứu riêng biệt mỗi loại hình đó, tiến thêm một bước nghiên cứu các đặc trưng của toàn bộ hiện tượng phức tạp, giải thích một cách sâu sắc bản chất và xu hướng phát triển của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, có thể phân loại các đơn vị theo tiêu thức khác nhau Chẳng hạn, các doanh nghiệp công nghiệp nước ta có thể được phân loại theo thành phần kinh
tế, theo cấp quản lý, theo nhóm, theo ngành, theo quy mô…
PTIT
Trang 3333
* Phân tổ kết cấu:
Trong công tác nghiên cứu thống kê, các bảng phân tổ kết cấu được sử dụng rất phổ biến, nhằm mục đích nêu lên bản chất của hiện tượng trong điều kiện nhất định và để nghiên cứu xu hướng phát triển của hiện tượng qua thời gian Kết cấu của tổng thể phản ảnh một trong các đặc trưng cơ bản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Sự thay đổi kết cấu của tổng thể qua thời gian có thể giúp ta thấy được xu hướng phát triển của hiện tượng Chẳng hạn sự thay đổi kết cấu về tổng sản phẩm trong nước phân theo nhóm ngành phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế trong quá trình phát triển của một quốc gia như bảng 3.1
Phân bổ kết cấu giúp ta có thể so sánh được bản chất của các hiện tượng cũng loại trong điều kiện không gian khác nhau Ví dụ, có thể so sánh cơ cấu công nhân của hai nhà máy, cơ cấu giống lúa của hai hợp tác xã Phân tổ kết cấu còn được vận dụng trong phân tích thực hiện kế hoạch để thấy rõ tỷ trọng các bộ phận chưa hoàn thành, hoàn thành và hoàn thành vượt mức kế hoạch Từ đó có thể đánh giá việc thực hiện kế hoạch; xem xét lại đạt kế hoạch như vậy có hợp lý không và có thể tính được khả năng tiềm tàng vượt mức kế hoạch, trên cơ sở kết hợp với các giả thiết khác
Trong nhiều trường hợp nghiên cứu, phân tổ kết cấu có thể được xác định ngay trên cơ
sở phân tổ phân loại, như vậy là hai loại phân tổ này thường kết hợp chặt chẽ với nhau Mặt khác, ngay cả đối với một tổng thể đồng chất cũng vẫn thường bao gồm các bộ phận khác nhau do nhiều nguyên nhân cụ thể, cho nên vẫn cần phân tổ kết cấu Như tổng thể công nhân thuộc cùng một nghề trong cùng một doanh nghiệp, số công nhân này vẫn khác nhau về giới tính, về tuổi nghề, về bậc thợ và về nhiều đặc điểm khác nhau Như vậy là phân tổ kết cấu cần thiết đối với bất kỳ công tác nghiên cứu thống kê nào
* Phân tổ liên hệ
Khi tiến hành phân tổ liên hệ, các tiêu thức có liên hệ với nhau được phân biệt thành hai loại: tiêu thức nguyên nhân và tiêu thức kết quả Tiêu thức nguyên nhân là tiêu thức gây ảnh hưởng; sự biến động của tiêu thức này sẽ dẫn đến sự thay đổi (tăng hoặc giảm) của tiêu thức phụ thuộc mà ta gọi là tiêu thức kết quả - một cách có hệ thống Như vậy, các đơn vị tổng thể trước hết được phân tổ theo một tiêu thức (thường là tiêu thức nguyên nhân), sau đó trong mỗi tổ tiếp tục tính các trị số bình quân của tiêu thức còn lại (thường là tiêu thức kết quả) Quan sát sự biến thiên của hai tiêu thức Như trong nhiều doanh nghiệp công nghiệp, ta thường nhận thấy mối liên hệ giữa năng suất lao động càng tăng thì giá thành đơn vị sản phẩm càng có điều kiện giảm Nếu ta phân tổ các doanh nghiệp trong cùng một ngành theo năng suất lao động, sau đó từ mỗi tổ tính ra giá thành bình quân đơn vị sản phẩm, thì các kết quả tính toán sẽ cho thấy rõ mối liên hệ giữa năng suất lao động và giá thành đơn vị sản phẩm
Phân tổ liên hệ còn có thể được vận dụng để nghiên cứu mối liên hệ giữa nhiều tiêu thức Có thể nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lúa với lượng phân bón, lượng nước tưới, mật độ cấy…; hoặc nghiên cứu mối liên hệ giữa năng suất lao động của công nhân với tuổi nghề, bậc thợ, trình độ trang bị kỹ thuật…
Khi phân tổ liên hệ giữa nhiều tiêu thức trước hết tổng thể được chia thành các tiểu tổ theo tiêu thức nguyên nhân thứ hai, cuối cùng tính trị số tổng hoặc bình quân của tiêu thức kết quả cho từng tổ và tiểu tổ đó Sau đây là ví dụ về mối liên hệ giữa năng suất lao động với
PTIT
Trang 3434
trình độ kỹ thuật và tuổi nghề của công nhân trong một doanh nghiệp, được trình bày thành bảng phân tổ kết hợp như sau:
2 Căn cứ vào số lƣợng tiêu thức của phân tổ
Theo định nghĩa phân tổ thống kê, chúng ta có thể căn cứ vào một hay một số tiêu thức để tiến hành phân tổ Vì vậy, có thể phân thành hai loại: phân tổ một tiêu thức và phân tổ theo nhiều tiêu thức
Phân tổ theo một tiêu thức:
Là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu thành các tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở một tiêu thức thống kê hay còn gọi là phân tổ giản đơn Chẳng hạn, theo tiêu thức giới tính, tổng thể dân số được chia thành 2 tổ: nam và nữ hoặc theo tiêu thức thành phần kinh tế, tổng sản phẩm được chia thành các tổ tương ứng với các thành phần kinh tế…
Phân tổ theo nhiều tiêu thức:
Là tiến hành phân chia các đơn vị thuộc hiện tượng nghiên cứu thành các tổ và các tiểu tổ có tính chất khác nhau trên cơ sở nhiều tiêu thức thống kê (từ hai tiêu thức trở lên) Tuỳ thuộc vào mục đích nghiên cứu, đặc điểm của hiện tượng và các tiêu thức phân tổ mà phân tổ theo nhiều tiêu thức được chia thành hai loại: Phân tổ kết hợp và phân tổ nhiều chiều
- Phân tổ kết hợp là tiến hành phân tổ lần lượt theo từng tiêu thức một Các tiêu
thức được sắp xếp theo thứ tự phù hợp với mục đích nghiên và đặc điểm của hiện tượng Thông thường người ta hay phân tổ theo tiêu thức liên quan trực tiếp đến mục đích nghiên cứu và có ít biểu hiện trước Chẳng hạn, tổng thể dân số trước hết được phân tổ theo tiêu thức giới tính, sau đó theo tiêu thức độ tuổi và đó là cơ sở để xây dựng tháp dân số, hoặc phân tổ tổng thể một loại lao động nào đó của một doanh nghiệp theo mức lương và số năm kinh nghiệm Tuy nhiên theo cách này số liệu tiêu thức phân tổ không nên quá nhiều vì nếu như vậy sẽ chia tổng thể thành quá nhiều bộ phận nhỏ có thể gây khó khăn cho việc phân tích
- Phân tổ nhiều chiều là cũng một lúc phân tổ theo nhiều tiêu thức khác nhau
nhưng vai trò như nhau trong việc đánh giá hiện tượng Chẳng hạn, để phản ánh quy mô của một doanh nghiệp có thể biểu hiện qua các tiêu thức: doanh thu, số lượng lao động, tổng vốn… Các tiêu thức này khác nhau về số lượng và đơn vị tính nhưng đều biểu hiện quy mô của doanh nghiệp và việc sắp xếp thứ tự trước sau các tiêu thức này trong phân tổ các doanh nghiệp trong ngành là không có ý nghĩa Vì vậy, phải cũng một lúc phân tổ theo tất cả các tiêu thức bằng cách đưa các tiêu thức này về một tiêu thức tổng hợp gọi chung là phân tổ nhiều chiều
3.1.3 Tiêu thức phân tổ và chỉ tiêu giải thích
1 Tiêu thức phân tổ
Tiêu thức phân tổ là tiêu thức được chọn làm căn cứ để tiến hành phân tổ thống kê Lựa chọn tiêu thức phân tổ là vấn đề quan trọng đầu tiên phải đề ra và giải quyết chính xác Tuy các đơn vị tổng thể có rất nhiều tiêu thức khác nhau, nhưng chúng ta không thể tuỳ tiện chọn bất kỳ tiêu thức nào làm căn cứ phân tổ
Tiêu thức phân tổ khác nhau sẽ nói lên những mặt khác nhau của hiện tượng Các tiêu thức phân tổ nói rõ được bản chất của hiện tượng, những cũng có tiêu thức, nếu được chọn làm căn cứ phân tổ, sẽ không đáp ứng mục đích nghiên cứu, thậm chí còn làm cho ta hiểu sai lệch bản chất của hiện tượng Bởi vì cũng những tài liệu như nhau mà cách sắp xếp khác
PTIT
Trang 3535
nhau, lại đưa đến những kết luận trái ngược hẳn với nhau Như vậy, việc phân tổ chính xác và khoa học trước hết phụ thuộc vào việc lựa chọn tiêu thức phân tổ Có thể nêu ra những yêu cầu sau đây về lựa chọn tiêu thức phân tổ
Thứ nhất, phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc để chọn ra tiêu thức
bản chất nhất, phù hợp với mục đích nghiên cứu
Tiêu thức bản chất là tiêu thức nói lên được bản chất của hiện tượng nghiên cứu, phản ánh đặc trưng cơ bản của hiện tượng trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể Bản chất của mỗi hiện tượng có thể được phản ánh qua nhiều tiêu thức khác nhau, cho nên phải tuỳ theo mục đích nghiên cứu mà dùng lý luận để chọn ra tiêu thức bản chất Chẳng hạn, muốn phân tổ các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp để biểu hiện quy mô lớn nhỏ, ta phải căn cứ vào thực tế của các doanh nghiệp đó, để xem xét tiêu thức nào có khả năng phản ánh quy mô của chúng như: số lượng lao động, giá trị sản xuất, giá trị thiết bị chủ yếu, diện tích doanh nghiệp… Đối với những doanh nghiệp trong quá trình sản xuất chủ yếu còn dựa vào sức lao động để tiến hành phân tổ, vì số lượng lao động nhiều hay ít sẽ nói lên quy mô của doanh nghiệp lớn hay nhỏ Nhưng đối với doanh nghiệp mà quá trình sản xuất được cơ giới hoá hoặc
tự động hoá cao, thì muốn biểu hiện quy mô của chúng phải tuân theo tổ theo các tiêu thức như: giá trị sản xuất, giá trị thiết bị sản xuất chủ yếu… Đó là các tiêu thức bản chất nhất, có thể đáp ứng được mục đích nghiên cứu
Thứ hai, phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để chọn ra
tiêu thức phân tổ thích hợp
Cùng một loại hiện tượng nghiên cứu, nhưng phát sinh trong những điều kiện thời gian và địa điểm khác nhau, thì bản chất có thể thay đổi khác nhau Vì vậy, tiêu thức phân tổ cũng mang ý nghĩa khác nhau Nếu chỉ dùng một tiêu thức phân tổ chung cho mọi trường hợp, thì tiêu thức đó trong điều kiện này có thể giúp ta nghiên cứu chính xác, nhưng trong điều kiện khác lại không có tác dụng gì cả
Thứ ba, phải tuỳ theo mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu thực tế mà quyết định
phân tổ hiện tượng theo một hay nhiều tiêu thức
Nói chung, hiện tượng nghiên cứu thường phức tạp, cho nên việc phân tổ theo một tiêu thức, dù là tiêu thức bản chất nhất cũng chỉ phản ánh được mặt nào đó của hiện tượng Nếu phân bố kết hợp theo nhiều tiêu thức, sẽ phản ánh được nhiều mặt khác nhau của hiện tượng, các mặt này có thể bổ sung cho nhau và giúp cho việc nghiên cứu thêm sâu sắc Trong nhiều trường hợp phân tổ kết hợp giúp ta nghiên cứu mối liên hệ giữa các tiêu thức Ví dụ: Có thể phân tổ nhân khẩu theo giới tính và theo độ tuổi, phân tổ doanh nghiệp theo nhóm, theo ngành, và theo thành phần kinh tế Tuy nhiên, cũng cần chú ý là không nên phân tổ kết hợp theo quá nhiều tiêu thức vì làm như vậy số tổ và tiểu tổ sẽ tăng lên nhiều, tổng thể bị chia nhỏ nhiều quá sẽ trở ngại cho việc nghiên cứu Thường người ta chỉ phân tổ kết hợp theo hai hay
ba tiêu thức và nếu cần thiết, có thể lập nhiều bảng phân tổ kết hợp khác nhau
2 Các chỉ tiêu giải thích
Trong phân tổ thống kê, sau khi đã lựa chọn được tiêu thức phân tổ, xác định các chỉ tiêu giải thích để nói rõ đặc trưng của các tổ cũng như của toàn bộ tổng thể Chẳng hạn, sau khi phân tổ các doanh nghiệp công nghiệp theo khu vực và thành phần kinh tế, có thể đưa ra
số chỉ tiêu giải thích như sau: số lao động, doanh thu thuần, doanh thu bình quân trên một lao động
PTIT
Trang 3636
Mỗi chỉ tiêu giải thích có ý nghĩa quan trọng riêng giúp chúng ta thấy rõ các đặc trưng
số lượng của từng tổ cũng như của toàn bộ tổng thể, làm căn cứ để so sánh các tổ với nhau và
để tính ra hàng loạt chỉ tiêu phân tích khác Tuy nhiên, cũng không nên đề ra quá nhiều chỉ tiêu, mà phải lựa chọn một số chỉ tiêu nào thích hợp nhất đối với mục đích nghiên cứu
Muốn xác định các chỉ tiêu giải thích, chủ yếu phải căn cứ mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của phân tổ để chọn ra các chỉ tiêu có liên hệ với nhau và bổ sung cho nhau Mục đích nghiên cứu có thể tiếp cận từ nhiều khía cạnh khác nhau nên chỉ tiêu giải thích chọn ra phải hợp lý mới thoả mãn mục đích nghiên cứu Phải chọn các chỉ tiêu chỉ có thể nói lên biểu hiện số lượng về một mặt nào đó của hiện tượng nghiên cứu, cho nên cần có các chỉ tiêu giải thích bổ sung cho nhau mới giúp cho việc nghiên cứu được sâu sắc
Cũng cần chú ý tới mối quan hệ nhất định giữa tiêu thức phân tổ với các chỉ tiêu giải thích Chẳng hạn, khi phân tổ các xí nghiệp theo quy mô, thì các chỉ tiêu giải thích như: số lượng lao động, giá trị tài sản cố định, giá trị sản xuất là những chí tiêu giúp ta hiểu rõ thêm
về quy mô của xí nghiệp Trái lại, nếu chọn các chỉ tiêu giải thích như: mức độ hoàn thành kế hoạch, tiền lương bình quân… thì các chỉ tiêu này thường không trực tiếp chịu ảnh hưởng bởi quy mô của xí nghiệp
Các chỉ tiêu giải thích có ý nghĩa quan trọng trong việc so sánh với nhau cần được bố trí gần nhau Chẳng hạn, nên bố trí chí tiêu thực hiện gần chỉ tiêu kế hoạch, chỉ tiêu tương đối gần chỉ tiêu tuyệt đối có liên quan…
3.2 Tiêu thức phân tổ thống kê
3.2.1 Lựa chọn tiêu thức phân tổ
Lựa chọn tiêu thức phân tổ là bước đầu tiên làm cơ sở để tiến hành phân tổ, lựa chọn tiêu thức chính xác, phù hợp với mục đích nghiên cứu thì kết quả phân tổ mới thực sự có ích cho việc phân tích đặc điểm và bản chất của hiện tượng Việc lựa chọn phải đảm bảo các yêu cầu đã trình bày ở trên
1 Phân tổ theo tiêu thức thuộc tính
Khi phân tổ theo tiêu thức thuộc tính, các tổ được hình thành không phải do sự khác nhau về lượng biến của tiêu thức mà thường do các loại hình khác nhau, tuy nhiên không nhất thiết lúc nào mỗi loại hình cũng phải hình thành nên một tổ
Trường hợp các loại hình tương đối ít thì mỗi loại hình có thể hình thành nên một tổ, như khi phân tổ tổng thể nhân khẩu theo giới tính thì sẽ chia tổng thể đó thành hai tổ là Nam
và Nữ, hoặc phân tổ các doanh nghiệp theo thành phần kinh tế…
Trường hợp số loại hình thực tế nhiều, nếu coi mỗi loại hình là một tổ thì số tổ sẽ quá nhiều, không thể khái quát chung được và cũng không nêu rõ được sự khác nhau giữa các tổ, nên cần ghép những loại hình giống nhau hoặc gần giống nhau vào cùng một tổ Chẳng hạn
PTIT
Trang 3737
khi phân tổ tổng thể nhân khẩu theo nghề nghiệp, phân tổ các loại sản phẩm công, nông nghiệp, phân tổ các mặt hàng theo giá trị sử dụng, phân tổ các ngành kinh tế quốc dân… Số tổ thực tế có thể rất nhiều, có khi tời hàng nghìn, hàng vạn, nếu cứ phân chia tổng thể theo số tổ thực tế đó thì việc phân tổ gặp nhiều khó khăn và có thể không giúp gì được cho phân tích thống kê Trong những trường hợp này phải giải quyết bằng cách ghép nhiều tổ nhỏ lại thành
tổ lớn, theo nguyên tắc các tổ nhỏ ghép lại với nhau phải giống nhau về tính chất, về giá trị sử dụng, về loại hình… Yêu cầu của việc ghép nhiều tổ nhỏ thành một số tổ lớn nhằm rút bớt số
tổ thực tế quá nhiều, tạo điều kiện cho việc phân tổ được gọn và hợp lý Trên thực tế, người ta thường tiến hành sắp xếp và trình bày trong những văn bản gọi là bảng phân loại hay danh mục do Nhà nước quy định thống nhất và cố định trong một thời gian tương đối dài, nhằm đảm bảo tính chất so sánh được của tài liệu thống kê
2 Phân tổ theo tiêu thức số lƣợng
Khi phân tổ theo tiêu thức số lượng tuỳ theo lượng biến của tiêu thức thay đổi nhiều hay ít mà cách phân tổ được giải quyết khác nhau Mặt khác, cũng cần chú ý đến số lượng đơn vị tổng thể nhiều hay ít mà xác định số tổ thích hợp
- Trường hợp lượng biến của tiêu thức thay đổi ít, tức là sự biến thiên về mặt lượng giữa các đơn vị không chênh lệch nhiều lần, biến động rời rạc và số lượng các lượng biến ít như số người trong gia đình, số máy do một công nhân phụ trách,… thì ở đây, số tổ có một giới hạn nhất định và thường tổ công nhân trong một nhà máy dệt cứ mỗi lượng biến là
cơ sở để hình thành một tổ Ví dụ phân tổ công nhân của một nhà máy dệt theo số máy mỗi người phụ trách như sau:
- Trường hợp lượng biến của tiêu thức biến thiên rất lớn, ta không thể áp dụng cách phân tổ nói trên được, nghĩa là không thể căn cứ vào mỗi lượng biến lập nên một tổ vì làm như vậy số tổ sẽ nhiều và không rõ sự khác nhau về chất giữa các tổ Trong trường hợp này ta cần chú ý mối liên hệ giữa lượng và chất trong phân tổ, xét cụ thể xem lượng biến tích luỹ đến một mức độ nào đó thì chất của hiện tượng mới thay đổi và làm nảy sinh ra một tổ khác Như vậy, mỗi tổ sẽ bao gồm một phạm vi lượng biến, với hai giới hạn: giới hạn dưới là lượng biến nhỏ nhất để làm cho tổ đó được hình thành và giới hạn trên là lượng biến lớn nhất của tổ đó, nếu vượt quá giới hạn đó thì chất của tổ thay đổi và chuyển thành tổ khác Trị số chênh lệch giữa giới hạn trên và giới hạn dưới của mỗi tổ gọi là khoảng cách tổ Việc phân tổ
theo các giới hạn như vậy gọi là phân tổ có khoảnh cách tổ Các khoảng cách tổ có thể đều
nhau hoặc không đều
Như vậy, cần phân biệt khi nào phân tổ theo khoảng cách tổ đều nhau và khi nào dùng khoảng cách tổ không đều nhau? Nói chung, việc xác định khoảng cách tổ đều nhau hay không đều nhau là phải căn cứ vào đặc điểm của hiện tượng nghiên cứu Phải đảm bảo các đơn vị được phân phối vào mỗi tổ đều có cũng một tính chất và sự khác nhau về chất giữa các
tổ đó Trong thực tế sự thay đổi về lượng của các bộ phận trong hiện tượng xã hội thường không biểu diễn một cách đều đặn, bởi vì sự khác nhau về chất của chúng cũng không đều nhau, do vậy có nhiều trường hợp nghiên cứu, phải phân tổ theo khoảng cách tổ không đều nhau
Riêng đối với các hiện tượng tương đối đồng nhất về mặt loại hình kinh tế - xã hội và lượng biến trên các đơn vị thay đổi một cách tương đối đều đặn, có thể áp dụng việc phân tổ theo khoảng cách tổ đều nhau Cách phân tổ này tạo điều kiện dễ dàng cho việc vận dụng các công thức toán học và để trình bày số liệu trên các đồ thị thống kê
PTIT
Trang 38X max: lượng biến lớn nhất của tiêu thức phân tổ
X min: lượng biến nhỏ nhất của tiêu thức phân tổ
n: số tổ định chia
Trên đây là lý luận về xác định số tổ cần thiết về khoảng cách tổ đối với các trường hợp phân tổ Nói chung, khi tiến hành phân tổ cần chú ý sắp xếp làm sao cho số tổ đặt ra không qua nhiều hay quá ít, gây khó khăn cho việc nghiên cứu Nếu số tổ quá nhiều, tổng thể
bị xé lẻ, số đơn vị tổng thể bị phân tán vào nhiều tổ có tính chất giống nhau hoặc gần giống nhau; ngược lại nếu số tổ quá ít thì các đơn vị có tính chất khác nhau sẽ được phân phối vào cũng một tổ, điều dó làm cho mọi kết luận rút ra sẽ kém chính xác Mặt khác, cũng cần bảo đảm phân phối cho mỗi tổ một số lượng đơn vị cần thiết Có như vậy, việc phân tích đặc trưng
và mối liên hệ giữa các loại hình mới có ý nghĩa Tuy nhiên, cũng không nên loại trừ những trường hợp đặc biệt, khi cần phân tổ để vạch rõ những đơn vị điển hình tiên tiến Các đơn vị này khi mới phát sinh tuy chỉ chiếm một bộ phận nhỏ trong toàn bộ, nhưng lại có ý nghĩa rất lớn đối với việc vận động, thúc đẩy phong trào chung
3.2.3 Phân phối các đơn vị vào từng tổ
Sau khi xác định số tổ và khoảng cách tổ, bước cuối cùng là phân phối các đơn vị vào từng tổ và tính toán giá trị số của chỉ tiêu giải thích (nếu có)
Việc phân phối các đơn vị vào từng tổ căn cứ vào lượng biến của từng đơn vị tổng thể, vào số tổ và khoảng cách tổ đã xác định ở trên Số lượng đơn vị của từng tổ nhiều hay ít, phân phối theo dạng nào là cơ sở để biểu hiện và phân tích đặc điểm cơ bản của hiện tượng cũng như tính toán các chỉ tiêu giải thích có liên quan hoặc các chỉ tiêu phản ánh bản chất của hiện tượng
Các chỉ tiêu giải thích được tính toán cho từng tổ và chung trên cơ sở số lượng các đơn
vị trong từng tổ Tuỳ theo các chỉ tiêu đó là chỉ tiêu tuyệt đối, tương đối hay bình quân mà xác định phương pháp tổng hợp hay tính toán cho phù hợp
3.3 Kỹ thuật trình bày kết quả tổng hợp tài liệu điều tra qua phân tổ thống kê
3.3.1 Bảng thống kê
Sau khi tổng hợp các tài liệu điều tra thống kê, muốn phát huy tác dụng của nó đối với giai đoạn phân tích thống kê, cần thiết phải trình bày kết quả tổng hợp theo một hình thức thuận lợi nhất cho việc sử dụng sau này Có thể trình bày các kết quả tổng hợp bằng các hình thức: Bảng thống kê, đồ thị thống kê, bài viết…
1 Ý nghĩa tác dụng của bảng thống kê
Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách có hệ thống, hợp lý và rõ ràng, nhằm nêu lên các đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu Đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê là bao giờ cũng có những con số của từng bộ phận và
PTIT
Trang 3939
chung có liên hệ mật thiết với nhau
Bảng thống kê có nhiều tác dụng quan trọng trong mọi công tác nghiên cứu kinh tế nói chung và phân tích thống kê nói riêng Các tài liệu trong bảng thống kê đã được sắp xếp lại một cách khoa học, nên có thể giúp ta tiến hành mọi việc so sánh đối chiếu, phân tích theo các phương pháp khác nhau, nhằm nêu lên sâu sắc bản chất của hiện tượng nghiên cứu Nếu biết trình bày và sử dụng thích đáng các bảng thống kê, thì việc chứng minh vấn đề sẽ trở nên rất sinh động, có sức thuyết phục hơn cả những bài văn dài
2 Cấu thành bảng thống kê
- Về hình thức: Bảng thống kê bao gồm các hàng ngang, cột dọc, các tiêu đề, tiêu mục
và các tài liệu con số
Các hàng ngang, cột dọc phản ánh quy mô của bảng thống kê Các hàng ngang cột dọc cắt nhau tạo thành các ô dùng để điền các số liệu
Tiêu đề của bảng thống kê phản ánh nội dung, ý nghĩa của bảng và của từng chi tiết trong bảng Các tài liệu số thu thập đươc do kết quả tổng hợp thống kê được ghi vào các ô của bảng thống kê, mỗi con số phản ánh một đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu
- Về nội dung: Bảng thống kê gồm hai phần: phần chủ đề và phần giải thích
Phần chủ đề nói lên hiện tượng được trình bày trong bảng thống kê, tổng thể này được phân thành những đơn vị nào, bộ phận nào? Nó giải đáp những vấn đề: đối tượng nghiên cứu của bảng thống kê là những đơn vị nào, những loại hình gì?
Phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức
Bảng phân tổ:
Bảng phân tổ là loại bảng thống kê, trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ
đề được phân chia thành tổ theo một tiêu thức nào đó Các bảng phân tổ là kết quả của việc áp dụng phương pháp phân tổ thống kê Bảng phân tổ cho ta thấy rõ các loại hình kinh tế - xã hội tồn tại trong bản thân hiện tượng nghiên cứu, nêu lên kết cấu và biến động kết cấu của hiện
PTIT
Trang 4040
tượng; trong nhiều trường hợp còn giúp ta phân tích được mối liên hệ giữa các hiện tượng
Bảng kết hợp:
Bảng kết hợp là loại bảng thống kê, trong đó đối tượng nghiên cứu ghi trong phần chủ
đề được phân tổ theo hai, ba,… tiêu thức kết hợp với nhau Loại bảng kết hợp như trên giúp ta nghiên cứu được sâu sắc bản chất của hiện tượng, đi sâu vào kết cấu nội bộ của hiện tượng trong quá trình phát triển
4 Những yêu cầu đối với việc xây dựng bảng thống kê
- Quy mô bảng thống kê không nên quá lớn (quá nhiều tổ hoặc quá nhiều chỉ tiêu giải thích) Khi có nhiều tiêu thức cần phân tổ có nhiều chỉ tiêu giải thích thì nên tách ra xây dựng một số bảng thống kê
- Các tiêu đề, tiêu mục trong bảng thống kê phải được ghi chính xác, đầy đủ, ngắn gọn
Dưới bảng thống kê cần ghi rõ nguồn tài liệu sử dụng và các chi tiết cần thiết mà không thể hiện được trong bảng thống kê
3.3.2 Đồ thị thống kê
1 Ý nghĩa và tác dụng của đồ thị
Đồ thị thống kê là các hình vẽ hoặc đường nét hình học dùng để miêu tả có tính chất quy ước các tài liệu thống kê
Đồ thị thống kê có mấy đặc điểm sau;
- Đồ thị thống kê sử dụng con số kết hợp với hình vẽ, đường nét và mầu sắc để trình bày và phân tích các đặc trưng số lượng của hiện tượng Vì vậy người xem không mất nhiều công đọc con số mà vẫn nhận thức được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng, nhanh chóng
- Đồ thị thống kê chỉ trình bày một cách khái quát các đặc điểm chủ yếu về bản chất
và xu hướng phát triển của các hiện tượng
Do các đặc điểm nêu trên, đồ thị thống kê có tính quần chúng, có sức hấp dẫn và sinh động, làm cho người hiểu biết ít về thống kê vẫn lĩnh hội được vấn đề chủ yếu một cách dễ dàng, đồng thời giữ được ấn tượng khá sâu đối với hiện tượng
Phương pháp đồ thị thống kê được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu, nhằm mục đích hình tượng hóa:
- Sự phát triển của hiện tượng qua thời gian
- Kết cấu và biến động của kết cấu qua hiện tượng
- Trình độ phổ biến của hiện tượng
- Sự so sánh giữa các mức độ của hiện tượng
- Mối liên hệ giữa các hiện tượng
PTIT