SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM :“Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3 theo yêu cầu đổi mới” PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI: Trong bậc học Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học có
Trang 1SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM :
“Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3 theo yêu cầu đổi mới”
PHẦN THỨ NHẤT: MỞ ĐẦU I- LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong bậc học Tiểu học, môn Tiếng Việt là môn học có nhiệm vụ cung cấp cho học sinh 4 kỹ năng “nghe-nói-đọc-viết” thông qua các phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết và Tập làm văn Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn có tính chất tích hợp của các phân môn khác Qua tiết Tập làm văn, học sinh có khả năng xây dựng một văn bản (văn bản nói, văn bản viết) Nói và viết là hai hình thức giao tiếp rất quan trọng, thông qua giao tiếp con người sẽ thực hiện quá trình tư duy-chiếm lĩnh tri thức, trao đổi tư tưởng tình cảm, quan điểm, giúp mọi người hiểu nhau hơn
Ngôn ngữ (dưới dạng nói-ngôn bản, dưới dạng viết-văn bản) giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội Chính vì vậy, hướng dẫn cho học nói đúng, viết đúng là hết sức cần thiết Nhiệm vụ đó phụ thuộc phần lớn vào việc giảng dạy môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn nói riêng Yêu cầu đặt ra là: dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới như thế nào để đáp ứng được khả năng tiếp thu của học sinh trong giai đoạn mới? Cách thức tổ chức các hình thức dạy Tập làm văn ra sao để đạt hiệu quả?
Trong thực tế giảng dạy chúng tôi nhận thấy rằng phân môn Tập làm văn là một phân môn khó trong các phân môn của Tiếng Việt Bởi do đặc trưng của Tập làm văn với mục tiêu cụ thể là: hình thành và rèn luyện cho học sinh khả năng trình bày văn bản (nói và viết) ở nhiều thể loại khác nhau như: miêu tả, kể chuyện, viết thư, tường thuật, kể lại tập tin, tập tổ chức cuộc họp Trong quá trình tham gia vào các hoạt động này, học sinh có vốn kiến thức còn hạn chế nên thường ngại nói, viết đoạn văn chưa đạt, do đó giờ dạy chưa đạt hiệu quả
Từ những lý do trên tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài để giải quyết một số vướng mắc trong dạy học phân môn Tập làm văn ở lớp 3
II- NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI:
Xuất phát từ thực tiễn, tôi đã tiến hành khảo sát, thực nghiệm, nghiên cứu và đút kết thành một Sáng kiến kinh nghiệm: “Một số biện pháp dạy Tập làm văn lớp 3 theo yêu cầu đổi mới” nhằm mục đích:
- Giúp giáo viên định hướng được một số biện pháp, quan điểm khi tiến hành dạy Tập làm văn theo hướng đổi mới phương pháp dạy học
- Khích lệ học sinh tích cực sáng tạo, chủ động trong học tập; biết diễn đạt suy nghĩ của mình thành một ngôn bản, văn bản hoàn chỉnh đáp ứng yêu cầu đạt Chuẩn kiến thức kỹ năng
III- PHƯƠNG PHÁP TIẾN HÀNH :
- Khảo sát tình hình dạy học phân môn Tập làm văn lớp 3
Trang 2- Thu thaôp chöùng cöù qua caùc hình thöùc luyeôn taôp trong caùc tieât Taôp laøm vaín.
- Ñoâi chieâu so saùnh phöông phaùp dáy-hóc vaø ñaùnh giaù theo Chuaơn Kieân thöùc kyõ naíng
- Thoâng keđ soâ lieôu, kieơm tra ñoâi chöùng, nghieđn cöùu vaín bạn, taøi lieôu
IV- CÔ SÔÛ VAØ THÔØI GIAN TIEÂN HAØNH:
a) Cô sôû: - Hóc sinh Khoâi 3
- Hóc sinh lôùp 3D
b) Thôøi gian : Naím hóc 2008-2009 vaø 2009-2010
PHAĂN THÖÙ HAI : Giại quyeât vaân ñeă
( Keât quạ)
A/ ÑAÙNH GIAÙ THÖÏC TRÁNG HIEÔN TÁI :
I- NOÔI DUNG CHÖÔNG TRÌNH SAÙCH GIAÙO KHOA:
Chöông trình Taôp laøm vaín lôùp 3 goăm coù 35 tieât/naím
Tuy noôi dung chöông trình ñöôïc boâ trí saĩp xeâp theo quan ñieơm tích hôïp xoay quanh moôt chụ ñieơm nhöng caùc hình thöùc luyeôn taôp trong phađn mođn Taôp laøm vaín boâ trí chöa phuø hôïp vôùi ñaịc ñieơm tađm sinh lyù hóc sinh lôùp 3 (töø möùc ñoổ deê ñeân khoù daăn)
Ví dú: ÔÛ tuaăn 3,4 cụa chöông trình (baøi: Ñieăn vaøo giaây tôø in saün) ñađy laø hình thöùc
luyeôn tađp “baøi taôp vieât” vôùi hình thöùc luyeôn taôp ñôn giạn (caùc em chư caăn döïa vaøo maêu ñôn coù saün ñeơ hoaøn thaønh baøi taôp) nhöng sang Tuaăn 5 vôùi moôt yeđu caău raât cao laø “Taôp toơ chöùc cuoôc hóp” vôùi hình thöùc luyeôn taôp “baøi taôp noùi” – vôùi vieôc hóc sinh toơ chöùc moôt cuoôc hóp laø quaù söùc ñoâi vôùi caùc em
II- VEĂ PHÍA GIAÙO VIEĐN:
Tieâng Vieôt laø mođn hóc khoù, nhaât laø phađn mođn Taôp laøm vaín ñoøi hoûi ngöôøi giaùo vieđn phại coù kieân thöùc sađu roông, phong phuù Caăn coù voân soâng thöïc teâ, bieât keât hôïp linh hoát caùc phöông phaùp trong dáy hóc Bieât gôïi môû tính toø moø, khạ naíng saùng táo, ñođïc laôp suy nghó, giuùp caùc em noùi-vieât thaønh vaín bạn laø vieôc laøm khođng deê ñoâi vôùi giaùo vieđn
Caùc phöông tieôn, trang thieât bò dáy hóc chöa ñaùp öùng cho veôc nghieđn cöùu giạng dáy cụa giaùo vieđn Moôt soâ baøi dáy coøn thieâu tranh ạnh, giaùo vieđn chư duøng lôøi noùi mođ tạ neđn hóc sinh tieâp thu coøn quaù tröøu töôïng, keât quạ giôø dáy coøn hán cheâ
III- VEĂ PHÍA HÓC SINH:
- Do ñaịc ñieơm tađm sinh lyù löùa tuoơi hóc sinh neđn möùc ñoô taôp trung thöïc hieôn caùc yeđu caău cụa baøi taôp chöa cao
- Söï hieơu bieât cụa hóc sinh lôùp 3 veă phađn mođn Taôp laøm vaín coøn hán cheâ
- Kieân thöùc veă cuoôc soâng thöïc teâ cụa caùc em chöa nhieău neđn ạnh höôûng ñeân vieôc tieâp thu baøi hóc
- Voân töø vöïng cụa hóc sinh chöa nhieău neđn ñaõ ạnh höôûng ñeân vieôc thöïc haønh ñođïc laôp Cú theơ laø: vieât cađu rôøi rác, chöa lieđn keât, thieâu lođgic; tính saùng táo trong thöïc haønh noùi-vieât vaín chöa cao; caùch söû dúng daâu cađu, söû dúng hình ạnh gôïi tạ chöa linh hoát, sinh ñoông
Trang 3- Đa số học sinh là vùng thôn quê, con gia đình lao động và chịu ảnh hưởng trực tiếp từ cuộc sống thực tế hằng ngày về việc sử dụng ngôn từ trong cộng đồng (nhất là học sinh
ở vùng biển) nên đã tác động đến việc dùng từ ngữ trong khi nói và viết
- Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình Các em phần lớn còn dùng từ ngữ hướng dẫn của giáo viên để làm bài viết của mình
Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh nói-viết bài: “Kể lại buổi đầu em đi học” , giáo viên
dùng gợi ý:
- Buổi đầu em đến lớp là buổi sáng hay buổi chiều?
- Thời tiết thế nào?
- Ai dẫn em đến trường?
Học sinh thực hành một cách đơn điệu: Buổi đầu em đến lớp là buổi sáng Thời tiết rất mát mẽ Mẹ dẫn em đi
Xuất phát từ thực tế trên, tôi đã tiến hành khảo sát chất lượng phân môn Tập làm văn lớp 3, tuần 6 (lớp 3D) với đề bài như sau:
Kể lại buổi đầu em đi học
Kết quả khoả sát như sau:
Nội dung khảo sát Năm học 2008-2009 Năm học 2009-2010 TS.HS Tỷ lệ % TS.HS Tỷ lệ %
1 Biết nói viết thành câu,dùng từ hợp lý 19/36 52,7% 16/28 57,1%
2 Biết dùng từ ngữ, câu văn có h ảûnh 5/36 13,8% 4/28 14,2% 3.Biết trình bày đoạn văn 14/36 38,8% 10/28 35,7%
Bài viết đạt Trung bình trở lên 25/36 69,4% 20/28 71,4%
B/ NỘI DUNG GIẢI PHÁP MỚI:
I- CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỂN VÀ NỘI DUNG DẠY HỌC:
1 Cơ sở lý luận:
Tập làm văn là một trong những phân môn có vị trí quan trọng của môn Tiếng Việt Phân môn này đòi hỏi học sinh phải vận dụng những kiến thức tổng hợp từ nhiều phân môn Để làm được một bài văn, học sinh phải vận dung cả 4 kỹ năng: nghe-nói-đọc-viết, vận dụng các kiến thức về Tiếng Việt và cuộc sống thực tiễn
Phân môn tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kỹ năng tạo lập văn bản, trong quá trình lĩnh hội các kiến thức khoa học, góp phần dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt
Vì vậy, Tập làm văn được coi là phân môn có tính tổng hợp, có liên quan mật thiết với các môn học khác Trên cơ sở nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn có nhiều đổi mới nên đòi hỏi tiết dạy Tập làm văn phải đạt mục đích cụ thể hơn, rõ nét hơn Ngoài
Trang 4phương pháp truyền thụ của giáo viên, học sinh cần có vốn kiến thức ngôn ngữ về đời sống thực tế Chính vì vậy, việc dạy tốt các phân môn khác không chỉ cung cấp kiến thức mà còn là phương tiện rèn kỹ năng nói, viết và cách hành văn cho học sinh
2 Cơ sở thực tiễn:
* Đối với giáo viên:
- Giáo viên đã nắm được yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học một cách
cơ bản, sử dụng đồ dùng và các phương tiện dạy học tương đối có hiệu quả
- Sự chỉ đạo chuyên môn của nhà trường có vai trò tích cực, giúp giáo viên đi đúng nội dung, chương trình phân môn Tập làm văn
- Qua các tiết thao giảng, dự giờ lẫn nhau, giáo viên tự rút ra những kinh nghiệm về phương pháp dạy Tập làm văn
- Hiện nay các phương tiện thông tin đại chúng rất đa dạng, đây là điều kiện để giáo viên học hỏi, trao đổi kinh nghiệm giúp cho việc dạy học phân môn Tập làm văn đạt hiệu quả hơn
* Đối với học sinh:
- Môn Tiếng Việt nói chung , phân môn Tập làm văn nói riêng có nội dung phong phú, sách giáo khoa được trình bày với kênh hình đẹp, trang thiết bị dạy học hiện đại nên đã hấp dẫn sự tiếp thu bài học của cho các em, phù hợp với tâm sinh lý lưa tuổi các em
- Nội dung chương trình Tập làm văn lớp 2 các em đã có những kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tạo lập ngôn bản, kỹ năng kể chuyện miêu tả, đây là cơ sở giúp các em học tốt phân môn Tập làm văn ở lớp 3
- Nhìn chung học sinh lớp 3 đang ở lứa tuổi thích học và ham học nên việc tiếp nhận kiến thức Tập làm văn cũng rất dễ dàng
3.Yêu cầu nội dung chương trình:
- Trang bị cho học sinh một số kiến thức và kỹ năng phục vụ cho học tập và đời sống hằng ngày như: điền vào giấy tờ in sẵn, viết thư, làm đơn, tổ chức cuộc họp và phát biểu trong cuộc họp, giới thiệu hoạt động của tổ, ghi chép sổ tay
- Tiếp tục rèn luyện đọc, nghe, nói, viết thông qua kể chuyện và miêu tả như: kể lại một việc đơn giản, tả sơ lược về người-vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh hoặc bằng câu hỏi
-Rèn kỹ năng nghe- nói –viết thông qua các bài tập nghe
4 Các hình thức luyện tập:
Chúng ta có thể vận dụng các hình thức luyện tập và yêu cầu của mỗi hình thức đó theo mô hình sau:
Trang 5II- MỘT SỐ BIỆN PHÁP DẠY TẬP LÀM VĂN LỚP 3 THEO HƯỚNG ĐỔI MỚI:
Trong phân môn Tập làm văn có rất nhiều phương pháp để giáo viên vận dụng vào việc dạy học nhưng tuỳ theo nội dung yêu cầu của bài học và từng đối tượng học sinh mà giáo viên có thể áp dụng nhóm các biện pháp hoặc một biện pháp chủ đạo kết hợp với một số biện pháp bổ trợ khác Nhưng cơ bản có những biện pháp sau:
1 Chú trọng quan điểm tích hợp-lồng ghép khi dạy Tập làm văn lớp 3 :
a) Phân tích quan điểm:
Khi dạy học Tập làm văn giáo viên cần hiểu rõ tính tích hợp kiến thức giữa các phân môn trong môn Tiếng Việt như: Tập đọc-Kể chuyện, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết để giảng dạy nhằm tạo cho học sinh học tốt phân môn Tập làm văn Quan điểm tích hợp-lồng ghép thể hiện rất rõ trong cấu trúc của SGK : các bài học được thiết kế theo chủ đề, chủ điểm, hai đơn vị học xoay quanh một chủ điểm ở tất cả các phân môn Mối quan hệ giữa các phân môn trong một chủ điểm có thể thể hiện bằng mô hình sau:
CÁC HÌNH THỨC LUYỆN TẬP
BÀI TẬP NGHE-KỂ:
Yêu cầu: Hs hiểu được nội dung câu
chuyện, kể lại mạnh dạn, tự tin; Hs
thấy được cái hay, cái đẹp, cái cần
phê phán trong câu chuyện; diễn
đạt rõ thành câu, giọng kể phù hợp
với nội dung từng câu chuyện
BÀI TẬP NÓI:
Yêu cầu:HS nói đúng và rõ ý, diễn đạt rõ ràng, dễ hiểu; nói theo nội dung và chủ đề cho trước; nói thành câu, biết dùng từ chân thật
BÀI TẬP VIẾT:
Yêu cầu: HS viết đủ số lượng câu, trình bày thành một đoạn văn đơn giản; biết cách chấm câu, viết đúng các câu theo mẫu câu đã học; biết cách dùng từ (có sử dụng phép so sánh, nhân hoá)
Trang 6Ví dụ: Chủ điểm Cộng đồng được dạy trong hai tuần gồm các bài Tập đọc, Luyện
từ và câu Trong quá trình luyện đọc, tìm hiểu nội dung các bài đọc cung cấp cho học sinh vốn từ về Cộng đồng, những câu văn có hình ảnh về chủ đề Cộng đồng
Cụ thể:
- Khi dạy bài Tập đọc-Kể chuyện: Các em nhỏ và cụ già, giáo viên khai thác nội
dung bài học qua các câu hỏi Trong quá trình học sinh trả lời các câu hỏi, giáo viên định hướng cho các em ý thức biết quan tâm chia sẻ với những người trong cộng đồng, giúp các
em khi viết đoạn văn kể về người thân hoặc người hàng xóm (với đề bài: Kể về người hàng xóm mà em quý mến) đoạn văn có thể toát lên nội dung: con người phải biết yêu thương nhau, quan tâm chia sẻ với nhau làm cho mọi người xung quanh dịu bớt những nỗi
lo lắng, buồn phiền và cảm thấy cuộc sống tươi đẹp hơn.
Cũng qua hệ thống câu hỏi, giáo viên giúp học sinh bày tỏ thái độ, tình cảm, ý kiến nhận xét của mình về vấn đề nêu ra trong bài học
Qua tiết Tập đọc- Kể chuyện học sinh được mở rộng vốn từ, rèn lối diễn đạt mạch lạc, câu văn có hình ảnh, giàu cảm xúc Trên cơ sở đó bài luyện nói của các em sẽ trôi chảy, sinh động đồng thời hình thành cho học sinh cách ứng xử linh động trong cuộc sống, rèn cho học sinh có thói quen quan tâm, chia sẻ giúp đỡ những người trong cộng đồng
- Với chủ điểm này thì trong phân môn Luyện từ và câu (Tuần 8) đã cung cấp cho
học sinh vốn từ về chủ điểm Cộng đồng thông qua các bài tập, các em sẽ biết và hiểu
nghĩa của một số từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ như: cộng đồng, đồng bào, đồng đội, đồng hương, cộng đồng, đồng tâm; Chung lưng đấu cật, Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại, Aên ở như bát nước đầy.
Như vậy học sinh biết vận dụng những từ ngữ, thành ngữ, tục ngữ trên khi nói-viết Tập làm văn giao tiếp và ứng xử trong cuộc sống
- Trong phân môn Chính tả (Tuần 8) các em cũng được viết các bài trong chủ điểm
Cộng đồng Ví dụ như bài “Tiếng ru” các em được viết đoạn:
Con ong làm mật, yêu hoa Con cá bơi, yêu nước; con chim ca, yêu trời
Một người-đâu phải nhân gian ?
CHỦ ĐIỂM
LTVC TẬP ĐOC
TẬP LÀM VĂN
Trang 7Sống chăng, một đốm lửa tàn mà thôi !
Qua viết 2 khổ thơ trên, học sinh được rèn luyện về chính tả, cách sử dụng dấu câu; vận dụng cái hay, cái đẹp của việc sử dụng ngôn từ trong các câu thơ để thể hiện thái độ, tình cảm cho bài văn của mình
- Ngoài ra phân môn Tập viết cũng giúp các em hiểu thêm ý nghĩa của câu ứng
dụng nói về Cộng đồng (câu “Khôn ngoan đối đáp người ngoài/Gà cùng một mẹ chớ hoài
đá nhau” ) đồng thời các em được luyện viết tốt để áp dụng vào cách trình bày về chữ viết
của đoạn văn trong làm văn
Xuất phát từ các phân môn Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết đều xoay
quanh chủ điểm Cộng đồng, học sinh sẽ biết nói và viết được đoạn văn hoàn chỉnh, thể
hiện tình cảm, thái độ đánh giá đối với người hàng xóm, có sử dụng từ ngữ, câu văn giàu
hình ảnh với đề bài: Kể về một người hàng xóm mà em quý mến.
b) Kết luận: Như vậy, khi dạy phân môn Tập làm văn đều nhằm mục đích giúp học
sinh có kỹ năng hình thành văn bản, ngôn bản Do đó tích hợp -lồng ghép là phương pháp đặc trưng trong dạy học Tập làm văn
2 Dạy học theo quan điểm giao tiếp:
a) Phân tích quan điểm:
a.1- Dạy học theo quan điểm giao tiếp là hình thành cho học sinh kỹ năng diễn đạt thông qua các bài học, hình thành thói quen ứng xử trong giao tiếp hàng ngày với mọi người xung quanh
Vận dụng phương pháp dạy học theo quan điểm giao tiếp, giáo viên tạo cho học sinh nhiều cơ hội thực hành, luyện tập không quá nặng nề về lý thuyết như phương pháp truyền thống Do vậy, học sinh hào hứng tham gia vào các hoạt động học tập một cách tích cực, sáng tạo hơn trong làm văn Việc hình thành và rèn luyện các kỹ năng nghe-nói-đọc-viết cho học sinh thông qua Tập làm văn đảm bảo đạt hiệu quả tối ưu
Ví dụ: Giảng dạy dạng bài nghe-nói:
Nghe – kể: Câu chuyện: “Kéo cây lúa lên” – Tuần 16
Qua việc giáo viên kể mẫu câu chuyện, quan sát tranh, gợi ý trong sách giáo khoa, học sinh kể nội dung câu chuyện như sau:
Có một chàng ngốc ra thăm đồng Thấy ruộng nhà mình lúa xấu hơn ruộng bên, anh ta bèn lấy tay kéo cây lúa nhà mình lên cho cao hơn cây lúa nhà người Về nhà anh ta khoe:
- Lúa nhà ta xấu quá Nhưng hôm nay tôi đã kéo nó lên cao hơn lúa ở ruộng bên rồi.
Chị vợ chạy đến đồng thì thấy bao nhiêu lúa nhà mình đã héo rũ.
Qua giao tiếp giữa giáo viên với học sinh, giữa học sinh với học sinh(kể cho nhau nghe), việc kể lại nội dung câu chuyện trước lớp giúp các em thấy được sự phê phán hóm
Trang 8hỉnh, hài hước và kể lại nội dung câu chuyện với giọng kể, cử chỉ, điệu bộ gây cười cho người nghe, nét mặt phù hợp, nâng kịch tính câu chuyện lên cao hơn
Ngoài việc rèn luyện kỹ năng nghe-nói, học sinh còn được rèn kỹ năng viết như: nắm được kỹ thuật viết, luật viết câu văn, đoạn văn hoàn chỉnh, đúng ngữ pháp, bố cục phù hợp với văn cảnh hoặc môi trường giao tiếp Thông qua bài viết của học sinh người đọc hiểu được tâm tư tình cảm của các em về một vấn đề nào đó
a.2- Bổ trợ cho việc rèn kỹ năng nghe-nói trong tiết Tập làm văn, phần Kể chuyện trong tiết Tập đọc-Kể chuyện cũng góp phần đến rèn kỹ năng giao tiếp
Ví dụ: Dạy bài TĐ-KC: Đôi bạn (Tuần 16)
Nhiệm vụ của học sinh là: kể lại từng đoạn của câu chuyện đúng nội dung, ngắn gọn, từ ngữ dễ hiểu, biết kết hợp lời nói với cử chỉ, điệu bộ để câu chuyện thêm hấp dẫn
sinh động; giúp người nghe thấy được phẩm chất tốt đẹp của người làng quê cũng như tình cảm chung thuỷ của người thành phố với những người đã giúp đỡ mình lúc gian khổ, khó khăn.
Học sinh rèn luyện khả năng quan sát, nói-viết, rút ra những nét điển hình, đặc trưng của từng vùng miền, thấy được vẻ đẹp đáng yêu đáng tự hàocủa mỗi vùng miền, từ đó hình thành nuôi dưỡng tình cảm gắn bó, quan hệ mật thiết giữa thành thị và nông thôn
b) Kết luận: Mỗi giáo viên cần chú trọng vận dụng phưong pháp dạy học theo quan
điểm giao tếp, khơi dậy ở các em những cảm xúc, đánh thức tiềm năng cảm thụ văn học; mỗi bài nói, bài viết sẽ là chính tâm hồn tình cảm của các em, các em sẽ thêm yêu cái hay-cái đẹp, yêu tiếng Việt và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt
3.Tổ chức tốt các hình thức dạy học khi làm bài nghe,nói, viết.
a) Phân tích quan điểm: Cần tổ chức tốt các hình thức dạy học như: quan sát tranh,
hướng dẫn học sinh cách dùng từ , giọng kể, điệu bộ khi làm bài nghe, nói, viết bởi vì: với đặc điểm vốn từ còn hạn chế nên học sinh lớp 3 gặp nhiều khó khăn trong việc nghe-nói-viết-kể lại câu chuyện bằng lời của mình Do vậy, giáo viên cần tổ chức tốt các hoạt động quan sát tranh: quan sát từng đường nét, màu sắc, hình ảnh, nội dung thể hiện của tranh Học sinh cảm nhận tốt được những nét đẹp của cảnh vật, con người thì sẽ bày tỏ, trao đổi với bạn, với thầy, cô những nội dung độc đáo của tranh
Để các em làm tốt hoạt động này, trước hết giáo viên chú ý cho học sinh sử dụng gợi ý trong sách giáo khoa, lắng nghe bạn kể, giáo viên kể để nhớ lại được các ý chính của nội dung tranh ảnh
Giáo viên cần chú trọng về lời văn kể và nghệ thuật sử dụng ngôn từ: Giáo viên cần hướng dẫn học sinh lựa chọn, sử dụng từ ngữ, hình ảnh để diễn đạt sao cho dễ hiểu, sinh động Có như vậy người nghe, người đọc sẽ dễ dàng hình dung, tưởng tượng, nắm bắt được sự việc, suy nghĩ tình cảm mà các em muốn thể hiện qua bài nói, viết
Ví dụ: Dạy bài Tàm văn Tuần 12
Ở bài tập 2: Viết một đoạn văn qua quan sát tranh (ảnh) về một cảnh đẹp ở nước
ta.
Trang 9Thông qua việc quan sát tranh (ảnh) về một cảnh đẹp ở nước ta, giúp học sinh nắm được nội dung của tranh (ảnh), thấy được vẻ đẹp của tranh (ảnh) Từ đó các em lựa chọn từ ngữ thích hợp để nói và viết thành đoạn văn, giúp người nghe-đọc tuy không quan sát tranh (ảnh) nhưng vẫn thấy được vẻ đẹp của các danh lam thắng cảnh mà các em nói đến
Hoặc: bài Tập làm văn Tuần 25 – Đề bài: “Quan sát một ảnh lễ hội dưới đây, tả
lại quang cảnh và hoạt động của những người tham gia lễ hội”
Khi quan sát học sinh nhận ra đâu là cảnh chính của lễ hội, đó là hoạt động gì? Màu sắc trong tranh thể hiện không khí, quang cảnh lễ hội từ đó các em bộc lộ tình cảm của mình đối với các hoạt động mang đậm nét phong tục tập quán của địa phương
b) Kết luận: Sự kết hợp giữa quan sát tranh và lựa chọn ngôn từ sử dụng để diễn đạt
thành bài văn nói-viết sẽ làm tăng hấp dẫn và có tính thuyết phục đối với người nghe-đọc
4 Sử dụng linh hoạt các hình thức hoạt động dạy học trong tiết Tập làm văn theo hướng đổi mới:
a) Phân tích: Việc tổ chức tốt các hình thức hoạt động dạy học nhằm cuốn hút học
sinh vào các hoạt động học tập một cách chủ động tích cực
Giáo viên sử dụng các hình thức tổ chức dạy học như:
- Học sinh thảo luận nhóm, đàm thoại với nhau và với chính thầy cô hoặc hoạt động cá nhân (độc lập làm việc)
- Các hình thức tổ chức hoạt đôïng học có thể là: tập đóng các hoạt cảnh, vận dụng các trò chơi trong tiết học, các cuộc thi tiếp sức
Qua các hình thức dạy học trên, học sinh lĩnh hội kiến thức tích cực, mang tính tự giác, không khí học tập thoải mái khiến học sinh mạnh dạn, tự tin khi nói Các em dần dần có khả năng diễn đạt, phát biểu ý kiến, đánh giá một cách lưu loát, rành mạch, dễ hiểu
Trong chương trình Tập làm văn mới, mỗi tiết học là một hệ thống bài học có tính định hướng, gợi mở, với nhiều dạng bài tập: nghe-nói, nói-viết, nghe-nói-viết Vì vậy, giáo viên cần bám sát mục đích, yêu cầu của từng bài dạy nhưng linh hoạt hơn, chủ động hơn trong cách tổ chức các hoạt động dạy và học để tạo không khí học tập phát huy tính tích cực, sáng tạo của học sinh
Ví dụ 1: Tập làm văn Tuần 11 (Dạng bài tập: NGHE-NÓI)
Yêu cầu của bài tập là:
* Bài 1: Nghe- kể câu chuyện: “ Tôi có đọc đâu”
Giáo viên tổ chức các hình thức sau:
- Giáo viên kể mẫu câu chuyện
- Cho học sinh thảo luận nhóm đôi (học sinh dựa vào gợi ý trong SGK, tranh và lời kể của thầy cô để kể cho nhau nghe câu chuyện)
- Đại diện từng cặp kể trước lớp- Học sinh nhận xét, đánh giá
- Giáo viên nhận xét, bổ sung
Trang 10Với cách tổ chức các hình thức hoạt động nêu trên sẽ huy động được tất cả học sinh trong lớp tham gia vào hoạt động hoc, tạo không khí thi đau học tập giữa từng học sinh với nhau và giữa các nhóm với nhau
* Bài 2: Nói về quê hương em hoặc nơi em đang ở.
Giáo viên tổ chức các hoạt động sau:
- Cá nhân làm việc (Học sinh định hướng ý chính cần nói)
- Học sinh tập nói trong nhóm (nhóm 6)
- Học sinh trình bày bài nói trước lớp Cả lớp nhận xét, bổ sung
- Giáo viên nhận xét, đánh giá
Qua việc nhận xét, bổ sung của học sinh sẽ giúp các em có khả năng đánh giá, bổ sung cho bài nói của mình Qua việc nhận xét, đánh giá của giáo viên để đánh giá khả năng tiếp thu kiến thức, khả năng diễn đạt sắp xếp các ý cần nói của học sinh
Ví dụ 2: Tập làm văn tuần 22 (Dạng bài tập: NÓI-VIẾT)
Yêu cầu của bài tập:
* Bài 1: Kể về người lao động trí óc mà em biết.
Giáo viên tổ chức các hình thức sau:
- Học sinh làm việc cá nhân (dựa vào gợi trong SGK)
- Cho học sinh kể theo nhóm cặp
- Cho các nhóm thi kể trước lớp để học sinh nhận xét, bổ sung, học tập để rút ra cho bài viết ở bài 2
* Bài 2: Viết những điều em vừa kể thành một đoạn văn.
- Cho học sinh làm việc cá nhân (viết thành một đoạn văn)
- Cho học sinh đọc bài trước lớp
- Cả lớp và giáo viên nhận xét
Như vậy, trong một tiết học, học sinh vừa luyện kể (luyện nói), vừa luyện viết một đoạn văn (văn bản) nên việc giáo viên vận dụng linh hoạt các hình thức dạy học trong dạy Tập làm văn là nhiệm vụ cần thiết
b) Kết luận: Sử dụng và phối hợp linh hoạt các hình thức trong dạy Tập làm văn lớp
3 theo hướng đổi mới tạo được sự hứng thú cho học sinh, học sinh tham gia vào các hoạt động này một cách hào hứng, tích cực và sáng tạo
5 Dạy học theo hướng tập trung và chú trọng hình thức dạy học cá nhân:
a) Mục đích: Dạy tập làm văn theo hướng tập trung vào cá nhân học sinh không
phải chỉ tìm ra một câu trả lời có sẵn mà học sinh phải đưa ra được các câu trả lời trên cơ sở suy nghĩ và hiểu biết chính của các em
Quá trình tư duy đó đòi hỏi học sinh phải vận dụng vốn tri thức, hiểu biết phù hợp với vấn đề dặt ra trong câu hỏi, biết phân tích sắp xếp những tri thức đó, đưa ra những kết luận và cho phương án trả lời tốt nhất Có nghĩa là: học sinh tìm ra câu trả lời qua việc thu thập, sàng lọc thông tin và phân tích dữ kiện
Ví dụ: bài Tập làm văn – Tuần 31.