1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn

20 25 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 129,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do khả năng giải toán của các em chưa tốt nên việc dạy cho các em biết cách giải một bài toán có lời văn là một việc hết sức khó khăn và mất nhiều thời gian.. Phương pháp nghiên cứu: -

Trang 1

BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN

1 Lời giới thiệu

Mục tiêu của giáo dục Tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ

sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học các bậc học trên Căn cứ vào mục tiêu giáo dục Tiểu học Tôi nhận thấy nhiệm vụ của nhà trường là giáo dục học sinh phát triển toàn diện các mặt: Đức dục, trí dục, thể dục, mĩ dục, là chủ nhân của tương lai Khi mà tại các kì đại hội Đảng đề ra: “Giáo dục là cốt sách hàng đầu” Còn hiện tại “ Giáo dục đang là tiêu điểm nóng” trong mọi vấn

đề mà xã hội đang quan tâm Chính vì thế mà giáo dục được đặt lên hàng đầu Trong chương trình Toán lớp 3 của bậc Tiểu học Phần giải toán có lời văn

có vị trí cực kỳ quan trọng Thông qua việc giải toán có lời văn giúp các em hiểu hơn về kiến thức toán học Quan tâm đến chất lượng giáo dục cho các em ngay

từ lớp học của bậc học đầu tiên, thực hiện phương châm “Thầy dạy tốt, trò học hay” là mục tiêu giáo dục hiện nay Theo tôi chính là việc rèn kĩ năng giải toán

có lời văn

Một trong những đặc điểm của thời đại chúng ta ngày nay là cuộc cách mạng trên thế giới và trong nước có nhiều biến động, phát triển không ngừng.Trong thời kỳ hội nhập thì cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển như vũ bão, lựclượng khoa học thông tin tăng gấp bội Sự bùng nổ thông tin về mọi lĩnh vực khoa học công nghệ sẽ dẫn tới xuất hiện nhanh, nhiều những tri thức, những kỹ năng và các lĩnh vực kinh tế mới

Bậc Tiểu học là bậc học quan trọng, là nền tảng, nền móng cho sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh Chính vì vậy mà điều quan trọng đặt

ra là: Học sinh phải có trình độ kiến thức chắc chắn từ cái đơn giản, sơ khai để tạo nền tảng vững chắc mới tiếp thu được kiến thức cao hơn, phong phú hơn và ngày càng phức tạp hơn

1.1 Lý do chọn đề tài

Trong chương trình toán lớp 3, số lượng toán có lời văn tương đối nhiều và phong phú Các em bước đầu được học giải bài toán bằng 2 phép tính Để làm tốt loại toán này đòi hỏi các em phải có khả năng tư duy và tổng hợp cao Các bài toán có lời văn thường gắn với thực tế hằng ngày Vì vậy, nếu hướng dẫn

Trang 2

cho HS giải tốt sẽ tạo điều kiện cho các em thấy hứng thú hơn trong học tập môn toán Các em sẽ thấy được tác dụng thiết thực của bộ môn toán trong thực

tế Biết lập luận và phân tích tìm ra cách giải bài toán ngắn gọn hơn, nhanh hơn, chính xác hơn Trên cơ sở đó các em sử dụng hành văn trình bày một cách khoa học, logíc Như vậy sẽ tạo cho học sinh nhanh chóng nắm bắt được những kiến thức cơ bản và thực hành, luyện tập tốt

Trong thực tế lớp tôi chủ nhiệm còn nhiều học sinh còn lúng túng trong quá trình giải bài toán có lời văn Từ đó ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng môn Toán nói riêng và chất lượng của lớp nói chung Chính vì vậy ngay từ đầu năm

học, sau khi khảo sát chất lượng đầu năm, tôi xác định chọn đề tài “Một số biện

pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn” làm đề tài nghiên cứu

1.2 Mục đích nghiên cứu :

Nghiên cứu đề tài này chính là dịp để nâng cao nghiệp vụ chuyên môn trong quá trình giảng dạy của bản thân, là dịp trao đổi cùng đồng nghiệp để cùng nhau tháo gỡ những vướng mắc trong giảng dạy và mong muốn góp một phần nhỏ công sức của mình vào việc nâng cao hơn nữa hiệu quả học toán ở Tiểu học nói chung và ở lớp 3B nói riêng Tôi xin phép được trình bày những suy nghĩ và việc làm của tôi về vấn đề này vào tập sáng kiến mà tôi đã tích luỹ Tôi rất mong nhận được sự quan tâm chỉ đạo và các ý kiến quý báu của hội đồng khoa học chấm sáng kiến kinh nghiệm, của các cấp lãnh đạo để những suy nghĩ và việc làm của tôi được coi là một sáng kiến kinh nghiệm thực sự Tôi xin chân thành cảm ơn

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Do điều kiện thời gian không dài nên đề tài chỉ nghiên cứu việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh lớp 3 qua môn Toán

Do khả năng giải toán của các em chưa tốt nên việc dạy cho các em biết cách giải một bài toán có lời văn là một việc hết sức khó khăn và mất nhiều thời gian Vì vậy đề tài này được thực hiện trong thời gian là một năm học tại Trường tiểu học Đôn Nhân

Đề tài được thực hiện trong thời gian: Từ tháng 09 năm 2019 đến tháng 5 năm 2020, trong đó:

+ Đăng kí sáng kiến kinh nghiệm: Tháng 09/2019

+ Làm đề cương bước 1 sáng kiến kinh nghiệm: Tháng 10 - 12/2019

Trang 3

+ Làm đề cương bước 2 sáng kiến kinh nghiệm: Tháng 1/2020 - 3/2020 + Dạy thực nghiệm tháng 1 và tháng 2, 3, 4,5 năm 2020

+ Hoàn thành sáng kiến kinh nghiệm: Tháng 5/2020

Nghiên cứu trong phạm vi học sinh lớp 3B nói riêng và học sinh khối 2 + 3 nói chung thuộc Trường tiểu học Đôn Nhân – Huyện Sông Lô – Vĩnh Phúc

1.3 Phương pháp nghiên cứu:

- Đọc sách , tài liệu tham khảo và các văn bản có liên quan giáo dục, nắm vững nội dung chương trình toán lớp 3, theo chuẩn kiến thức kĩ năng,

- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: ( nghiên cứu sản phẩm học tập của học sinh thông qua bài tập thực hành)

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp giảng dạy và làm mẫu: (giáo viên làm mẫu, phân tích ngắn gọn dễ hiểu )

- Phương pháp tập luyện: (là các phương tiện để đạt mục đích hình thành

kỹ năng kỹ xảo và phát triển tố chất)

- Phương pháp sử dụng lời nói: (giáo viên giảng giải, kể chuyện, đàm thoại)

- Phương pháp trực quan: (giáo viên làm mẫu, tranh ảnh, mô hình )

Để thực hiện tốt việc hướng dẫn học sinh giải toán có lời văn và học sinh vận dụng tốt trong việc giải toán có lời văn Tôi thấy cần sử dụng các phương pháp chủ yếu là:

- Phương pháp quan sát điều tra

- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Phương pháp trực quan

- Phương pháp đàm thoại

- Phương pháp động não

- Phương pháp vấn đáp gợi mở

- Phương pháp phân tích mẫu

- Phương pháp thực hành

- Phương pháp thảo luận nhóm

Trang 4

- Phương pháp vui chơi, thi giải toán nhanh.

- Nghiên cứu tài liệu, sách báo, tập san giáo dục tiểu học và tổng kết kinh nghiệm giáo dục, phương pháp thực nghiệm khoa học,

1.4 Phạm vi nghiên cứu:

Một số giải pháp giúp học sinh lớp 3B Trường tiểu học Đôn Nhân có kĩ năng giải toán có lời văn

2 Tên sáng kiến:

Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn.

3 Tác giả sáng kiến:

- Họ và tên: Nguyễn Thị Thơm

- Địa chỉ: Xã Đôn Nhân- huyện Sông Lô – tỉnh Vĩnh Phúc

- Số điện thoại: 0346754527

Email: nguyenthithom.gvc1donnhan@vinhphuc.edu.vn

4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Nguyễn Thị Thơm

5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến: Môn toán lớp 3.

6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: 5/9/2019

7 Mô tả bản chất của sáng kiến:

7.1 Nội dung của sáng kiến:

7.1.1.Cơ sở lý luận:

Mục tiêu của giáo dục Tiểu học là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất - thẩm mĩ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách và chất lượng công dân; chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ

Tổ quốc.Đồng thời giáo dục tiểu học cũng nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở

và Trung học phổ thông

Trang 5

Qua nghiên cứu nội dung chương trình và và phương pháp dạy môn Toán lớp 3 đặc biệt là việc “Rèn kỹ năng giải bài toán có lời văn lớp 3” tôi thấy: Mục tiêu cần đạt của môn toán lớp 3 là :

- Học sinh biết đếm ( từ một số nào đó, đếm thêm một số đơn vị ) trong phạm vi 100000

+ Biết đọc, viết các số trong phạm vi 100 000

+ Biết so sánh và sắp xếp các số theo thứ tự từ bé đến lớn hoặc ngược lại + Biết thực hiện các phép cộng, trừ, nhân, chia trong phạm vi 100 000 bao gồm:

+ Học thuộc các bảng tính và biết tính nhẩm trong phạm vi các bảng tính hoặc trong các trường hợp đơn giản thường gặp về cộng trừ nhân, chia

+Biết thực hiện phép cộng, trừ với các số có đến 5 chữ số

+ Biết thực hiện phép nhân số có 3, 4, 5 chữ số vớ số có một chữ số

+ Biết thực hện phép chia số có đến năm chữ số cho số có một chữ số (chia hết hoặc chia có dư)

- Biết tìm một thành phần chưa biết của phép tính

- Biết tìm một trong các phần bằng nhau của một số ( trong phạm vi các phép chia đơn giản đã học)

+ Có hiểu biết ban đầu về hệ thống đơn vị đo độ dài, mối quan hệ giữa một

số đơn vị đo độ dài thường gặp, biết sử dụng các dụng cụ đo độ dài để đo độ dài

và biết ước lượng các độ dài (trong trường hợp đơn giản)

+ Củng cố những hiểu biết ban đầu về: đo khối lượng với hai đơn vị đo thường gặp là ki - lô- gam và gam; đo thời gian với các đơn vị đo thường gặp là giờ, phút, ngày, tháng, năm, biết sử dụng lịch và đồng hồ khi đo thời gian, nhận biết bước đầu về thời điểm và khoảng thời gian; sử dụng tiền Việt Nam trong sinh hoạt hàng ngày

+ Biết thêm về hình chữ nhật, hình vuông, bao gồm: Nhận biết các yếu tố của một hình (góc, cạnh, đỉnh) và đặc điểm của hình chữ nhật, hình vuông Biết tính diện tích hình chữ nhật, hình vuông, chu vi hình chữ nhật, chu vi hình vuông

- Bước đầu vận dụng các kiến thức, kỹ năng của môn toán để giải quyết các vấn đề đơn giản thường gặp, chẳng hạn:

Trang 6

+ Giải bài toán có lời văn (có không quá hai bước tính) trong đó có một số dạng bài toán như tìm một trong các phần bằng nhau của một số, gấp một số lên nhiều lần, giảm đi một số lần, so sánh số lớn gấp mấy lần số bé, so sánh số bé bằng một phần mấy số lớn, bài toán liên quan đến rút về đơn vị, bài toán có nội dung hình học

+ Thực hành xác định được tâm, đường kính, bán kính của hình tròn Thực hành vẽ hình tròn bằng com pa

*Thông qua các hoạt động dạy học toán ở lớp 3, giáo viên tiếp tục giúp học sinh: phát triển các năng lực tư duy (so sánh, lựa chọn, phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoá, khái quát hoá), phát triển trí tưởng tượng không gian, tập nhận xét các số liệu truy cập được diễn đạt gọn, rõ, đúng các thông tin, cẩn thận, chăm chỉ, tự tin, hứng thú trong học tập và thực hành toán

7.1.2.Cơ sở thực tiễn :

Xuất phát từ những cơ sở thực tế và trình độ của học sinh đòi hỏi học sinh sau khi học xong lớp 3 phải biết đọc, viết các số trong phạm vi 100 000 Làm được các phép tính cộng, trừ các số có 5 chữ số, nhân, chia các số có 5 chữ số với (cho) số có 1 chữ số Giải toán có lời văn có hai phép tính và có đến hai cách giải

Trong thực tế giảng dạy có rất nhiều em làm toán còn yếu, do các em chưa xác định được yêu cầu của bài Một số em còn chưa thuộc bảng cộng, trừ, nhân, chia Những em thuộc được các bảng cộng, trừ, nhân, chia và biết phân tích đề toán còn ít và đặc biệt giải được bài toán có lời văn bằng hai phép tính là điều rất khó khăn Thực trạng này đang diễn ra ở các lớp trong toàn khối 3 trường tôi, trong đó có lớp 3B do tôi trực tiếp giảng dạy

Từ những thực tế cấp thiết như vậy, tôi mạnh dạn ứng dụng việc rèn kĩ năng giải toán có lời văn cho học sinh khi áp dụng vào thực tế giảng dạy Tôi coi đây là việc làm cần thiết, cấp bách để thực hiện có hiệu quả trong việc dạy Toán lớp 3 nói riêng và các môn học khác nói chung

7.1.3 Thực trạng và các vấn đề cần được giải quyết:

a.Thực trạng:

* Sách giáo khoa:

- Sách giáo khoa là tài liệu cụ thể hoá những đơn vị tri thức và kỹ năng của chương trình Nội dung và cấu tạo của sách giáo khoa được xác định theo nhiệm

Trang 7

vụ của dạy Toán và đặc điểm lứa tuổi của học sinh, nội dung và cấu tạo của sách giáo khoa cũng cần phải được nghiên cứu và sắp xếp một cách hợp lí, phù hợp với học sinh

- Chương trình môn toán lớp 3 là một bộ phận của chương trình môn toán ở tiểu học Chương trình này tiếp tục thực hiện những đổi mới về giáo dục toán học ở lớp một và hai; khắc phục một số tồn tại của học tập toán các lớp 1,2,3 theo chương trình cũ; góp phần thực hiện đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, nhằm đáp ứng những yêu cầu của giáo dục và đào tạo trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đát nước đầu thế kỷ XXI

* Thực trạng dạy và học

+ Đối với học sinh:

- Điều tra học sinh trong khối lớp:

- Khối 3 của trường được chia làm 3 lớp với tổng số học sinh là 93 học sinh Trong đó các em đa số là dân tộc Kinh, các em nhà ở xa nhau

- Năng lực của các em còn hạn chế về nhiều mặt: Kiến thức, giao tiếp, năng khiếu…Hoàn cảnh gia đình của các em trong lớp phần lớn là gặp nhiều khó khăn, vì chủ yếu bố mẹ các em sống bằng nghề nông nghiệp và làm công nhân Thời gian đi làm của họ kéo dài hàng tháng có lúc tới vài ba tháng mới về qua nhà một lần.Các em chủ yếu ở nhà với ông bà hoặc các anh chị của mình Nhiều gia đình thiếu quan tâm đến việc học tập của các em, công việc học tập của các

em chủ yếu giao phó cho thầy giáo chủ nhiệm và nhà trường Các em ở nhà ngoài thời gian lên lớp, về nhà các em còn phải phụ giúp gia đình rất nhiều việc,

có em phải nghỉ học để cùng anh, chị đi kiếm tiền Một số học sinh chưa thực sự

cố gắng trong học tập, khi yêu cầu các em chuẩn bị bài ở nhà cho tiết học sau, thì các em không chuẩn bị, điều đó ảnh hưởng không nhỏ tới việc học tập của các em

- Khi làm các bài tập thực hành các em rất hứng thú với các dạng tính kết quả của phép tính Còn dạng giải bài toán có lời văn đa số các em rất ngại làm

vì không biết cách đặt lời giải sao cho phù hợp vớiphép tính Một số học sinh sợ học dạng toán này, vì các em đọc thấy khó hiểu nội dung bài và rất lúng túng khi tìm câu lời giải nên bài làm của các em thường bị mắc câu lời giải không đúng với phép tính dẫn đến bài làm của các em bị sai

+ Đối với giáo viên:

Trang 8

- Qua dự giờ thăm lớp một số đồng chí trong tổ và trao đổi với đồng nghiệp (đặc biệt là các đồng chí mới vào nghề), có một số đồng chí còn ngại dạy phần này vì các đồng chí cho rằng đối với những bài này thường mất rất nhiều thời gian vì học sinh làm chậm và hay làm sai,nếu giảng kĩ sẽ không đủ thời gian cho tiết học Chính vì vậy, mỗi bài học sinh không hiểu một chút dẫn đến nhiều bài học sinh sẽ không làm được

- Vậy làm thế nào để khắc phục được những nguyên nhân và các tồn tại trên; góp phần nâng cao chất lượng môn Toán trong đó có phần giải toán có lời văn Trong những năm học qua, tôi luôn cố gắng tìm hiểu, tham khảo ý kiến của đồng nghiệp

7.1.4 Các biện pháp giải quyết vấn đề :

Đầu năm học, tôi tiến hành kiểm tra khảo sát chất lượng bộ môn toán (trú trọng hơn là các bài toán có lời văn) Kết quả phân loại như sau:

Lớp 3B sĩ số 31 em:

+ Số học sinh có lời giải đúng và kết quả đúng là: 12 em

+ Số học sinh có câu lời giải đúng và phép tính sai là: 4 em

+ Số học sinh có phép tính đúng và lời giải sai là: 5 em

+ Số học sinh làm phép tính sai và lời giải sai là: 10 em

Sau khi phân loại và theo dõi 3 tuần đầu, tôi nắm được nguyên nhân dẫn đến học sinh giải toán có lời văn chưa tốt và không hứng thú với loại toán này là do:

- Các em hấp tấp, vội vàng, không đọc kỹ đề bài, chưa nắm vững các dữ kiện bài đã cho, chưa xác định rõ thể loại, dạng bài làm

- Học sinh chưa biết cách phân tích đề bài, chưa biết cách lập luận để từ đó tìm ra cách giải tốt nhất

- Học sinh biết cách giải nhưng kỹ năng tính toán kém dẫn tới kết quả sai

- Học sinh lười suy nghĩ, không nắm vững các dạng toán điển hình dẫn đến

sợ môn toán, đặc biệt là toán có lời văn

- Một số em còn hạn chế về cách diễn đạt, hiểu ý nhưng không diễn đạt được

Trang 9

* Từ việc khảo sát và nắm được những nguyên nhân cơ bản dẫn tới việc giải toán có lời văn của học sinh còn hạn chế, tôi bắt tay vào việc nghiên cứu, tìm hiểu phương pháp dạy sao cho có hiệu quả hơn

7.1.4.1 Các biện pháp thực hiện :

- Song song với việc điều tra, phân loại đối tượng học sinh, tôi tiến hành xây dựng nề nếp học tập cho học sinh:

+ Xây dựng quy ước ký hiệu giữa thầy và trò, yêu cầu học sinh thực hiện nghiêm túc (giờ nào việc ấy)

+ Hướng dẫn cho học sinh cách học nhóm, tạo thói quen trao đổi học tập cùng nhau

+ Tự giác nghe giảng, học và làm bài ở nhà đầy đủ

7.1.4.2 Lập kế họach phấn đấu trong từng tháng và cả năm :

+ Tháng 8 và tháng 9: Song song việc cung cấp, truyền thụ đầy đủ kiến thức của sách giáo khoa bằng phương pháp gợi mở tạo hứng thú trong học tập Tôi tiến hành luyện giải bài toán có lời văn đơn giản có 1 phép tính của từng dạng bài cụ thể như dạng bài:Gấp một số lên nhiều lần So sánh số lớn gấp mấy lần số bé, số bé bằng một phần mấy số lớn Hình thành cho học sinh thói quen phân tích đề bài,để xác định xem bài đó thuộc dạng bài na ̀o vµ tìm hướng giải ngắn gọn nhất

+ Tháng 10 + 11 + 12: Tăng cường luyện giải những bài toán hợp giải bằng

2 phép tính

+ Tháng 1 + 2: Tiếp tục luyện giải các bài toán cơ bản: Rút về đơn vị, bài toán về hình học

+Tháng 3+ 4 + 5: Luyện giải tổng hợp dạng bài toán có 2 phép tính

* Cả năm : Phấn đấu 100 % học sinh biết giải bài toán có lời văn ngắn gọn, chính xác Hình thành cho học sinh có thói quen tư duy lôgíc toán học

7.1.4.3 Coi trọng khâu đọc kỹ đề, phân tích đề bài:

Từ kết quả bài giải của học sinh những năm trước và hiện tại, cho tôi thấy học sinh hay có lời giải sai, thiếu chính xác hoặc tính toán nhầm lẫn là do các

em chưa có thói quen đọc kỹ đề và phân tích đề Những em biết cách làm, hiểu yêu cầu của đề nhưng có thói quen cẩu thả, hấp tấp, ngôn ngữ diễn đạt thiếu chặt chẽ Nên ngay từ thời gian đầu, tôi rèn cho các em có thói quen đọc kỹ và

Trang 10

phân tích đề Tiến hành tóm tắt và xác định bài toán thuộc dạng toán điển hình nào? Đối với những em thường có những lời giải sai, diễn đạt lủng củng, rườm

rà, tôi yêu cầu phải đọc kỹ đề bài nhiều lần và có lời giải miệng trước nhóm, trước lớp để các bạn giúp đỡ, bổ sung

7.1.4.4 Hướng dẫn học sinh tóm tắt bài toán bằng sơ đồ đoạn thẳng :

Khi tóm tắt bài toán có rất nhiều cách tóm tắt khác nhau: Tóm tắt bằng ngôn ngữ, ký hiệu ngắn gọn, tóm tắt bằng các công thức chữ Ngoài các cách tóm tắt bài toán trên thì cách tóm tắt đem lại hiệu quả cao nhất là tóm tắt bằng sơ

đồ đoạn thẳng Tôi thường hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ đoạn thẳng để tóm tắt bài toán từ đó các em tìm ra cách giải nhanh, chính xác hơn

Ví dụ 1:(Bài tập 1- SGK/ 12).

Đội một trồng được 230 cây, đội hai trồng được nhiều hơn đội một 90 cây Hỏi đội hai trồng được bao nhiêu cây?

230 cây

Đội 1: 90 cây

Đội 2:

? cây

- Sơ đồ này thường dùng với dạng bài toán về “ nhiều hơn”.

Ví dụ 2: (Bài tập 2- SGK/ 12).

Một cửa hàng buổi sáng bán được 635 lít xăng, buổi chiều bán được ít hơn buổi sáng 128 lít xăng Hỏi buổi chiều cửa hàng đó bán được bao nhiêu lít xăng?

635 l xăng

Buổi sáng:

Buổi chiều: 128 l xăng

? l xăng

- Sơ đồ này thường dùng với dạng toán: Bài toán về “ít hơn”.

- Ví dụ 3: (Bài tập 4- SGK/ 18)

Thùng thứ nhất có 125 lít dầu, thùng thứ hai có 160 lít dầu Hỏi thùng thứ hai có nhiều hơn thùng thứ nhất bao nhiêu lít dầu?

125 l dầu

Ngày đăng: 14/03/2021, 18:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w