Môn Toán giúp học sinh có những tri thức cơ sở ban đầu về số học, số tựnhiên, số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học đơn giản.Giúp học sinh hình thành kỹ năng thực
Trang 11 Mở đầu 1.1 Lí do chọn đề tài.
Môn Toán có vị trí rất quan trọng phù hợp với cuộc sống thực tiễn đócũng là công cụ cần thiết cho các môn học khác để giúp học sinh nhận thức thếgiới xung quanh để hoạt động có hiệu quả trong thực tiễn
Vì vậy mục tiêu của môn Toán đặc biệt nhấn mạnh đến việc hình thành vàphát triển cho học sinh những tri thức và kỹ năng, cơ sở thiết thực với cuộc sốngcộng đồng Góp phần hình thành cho học sinh phương pháp độc lập suy nghĩ vàhọc tập, lòng tự tin, tính hồn nhiên, sự năng động và linh hoạt, cách ứng xử đúngmực đối với thiên nhiên, con người và xã hội Giúp tăng cường sức khoẻ, rènluyện thân thể, ý chí và ước mơ; đem sức mình góp phần làm cho cuộc sống củabản thân, gia đình, đất nước trở nên giàu mạnh, hạnh phúc Đây là những trithức, kĩ năng đáp ứng cho học tập thường xuyên, học tập tiến lên của mọi ngườilao động trong thời đại của khoa học - công nghệ, vừa đáp ứng cho ứng dụngthiết thực trong cuộc sống cộng đồng Với mục tiêu đó, môn Toán cùng với cácmôn học khác đã góp phần to lớn cho mục tiêu giáo dục Tiểu học
Môn Toán giúp học sinh có những tri thức cơ sở ban đầu về số học, số tựnhiên, số thập phân, các đại lượng cơ bản và một số yếu tố hình học đơn giản.Giúp học sinh hình thành kỹ năng thực hành, đo lường, giải bài toán có nhiềuứng dụng thiết thực trong cuộc sống Bước đầu hình thành và phát triển năng lựctrừu tượng hoá, khái quát hoá, kích thích trí tưởng tượng, gây hứng thú học tậptoán Phát triển hợp lí khả năng suy luận và biết diễn đạt đúng góp phần rènluyện phương pháp học tập khoa học, linh hoạt, sáng tạo cũng như các mônkhoa học khác, môn Toán còn góp phần hình thành rèn luyện các phẩm chất, cácđức tính cần thiết của người lao động mới: cần cù, chịu khó, tìm tòi, sáng tạo vànhiều kỹ năng tính toán cần thiết khác
Trong chương trình môn Toán tiểu học, giải toán có lời văn giữ một vaitrò quan trọng Thông qua việc giải toán rèn luyện cho học sinh năng lực tư duy,tính cẩn thận, óc sáng tạo, cách lập luận bài toán trước khi giải Đồng thời quaviệc giải toán của học sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những ưuđiểm, thiếu sót của các em về kiến thức, kĩ năng, tư duy để giúp học sinh pháthuy những mặt đạt được và khắc phục những mặt thiếu sót
Chính vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy toán có lời văn ở cấp Tiểuhọc nói chung và ở lớp 3 nói riêng là một việc rất cần thiết mà mỗi giáo viênTiểu học cần phải nâng cao chất lượng dạy học toán cho học sinh Là mộtgiáo viên trực tiếp giảng dạy ở khối lớp 3, qua kinh nghiệm của bản thân và
Trang 2học hỏi, trao đổi kinh nghiệm cùng đồng nghiệp, tôi đã rút ra được: " Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 giải toán có lời văn." để góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học của nhà trường nói chung và đối với học sinh lớp 3 nóiriêng
1.2 Mục đích nghiên cứu.
- Góp phần vào việc đổi mới dạy học tích cực nói chung và dạy học tích
cực trong môn Toán nói riêng
- Nghiên cứu và làm sáng tỏ một số khó khăn, tồn tại trong quá trình giảitoán có lời văn ở lớp 3, cách thức dạy học và nội dung giải toán
- Tìm ra một số biện pháp cụ thể, nhằm hình thành và phát triển kĩ nănggiải các bài toán có lời văn cho học sinh lớp 3
- Giúp học sinh lớp 3 biết cách giải và trình bày bài toán có lời văn, nắmchắc và thực hiện đúng quy trình bài toán
- Sáng kiến kinh nghiệm này sẽ là một đóng góp nhỏ trong số tài liệutham khảo của giáo viên trong công tác dạy và học Toán
1.3 Đối tượng nghiên cứu.
- Nghiên cứu tài liệu
- Thực trạng về giải toán có lời văn của học sinh lớp 3
- Đưa ra các biện pháp giúp học học sinh học tốt giải toán có lời văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Đọc các tài liệu giáotrình có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Tham khảo sáng kiến kinh nghiệm củađồng nghiệp
- Phương pháp điều tra, khảo sát thực tế ,thu thập thông tin: Tìm hiểu thựctrạng việc dạy giải toán có lời văn lớp 3 ở trường đang công tác Thu thập thôngtin và khảo sát thực tế ở lớp 3 đã dạy
- Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
a Cơ sở khoa học:
Giải toán là mức độ cao nhất của tư duy, đòi hỏi mỗi học sinh phải biết huy
động gần như hết vốn kiến thức và hoạt động giải toán Mỗi bài toán, mỗi lờivăn đều có nội dung kiến thức loogic của nó được thể hiện bằng các ngôn ngữToán học có mối quan hệ chặt chẽ trong một bài toán dạng toán
Trang 3Giải toán giúp học sinh hình thành, củng cố, vận dụng kiến thức, kĩ năng
về toán Đồng thời qua giải toán, giáo viên dễ dàng phát hiện những ưu điểmhoặc thiếu sót trong kiến thức , kĩ năng của học sinh để giúp các em phát huynhững ưu điểm, khắc phục thiếu sót
Thông qua việc giải toán, với những đề tài thích hợp có thể giáo dục lòngyêu nước, yêu đồng bào, giới thiệu cho các em thấy được nhiều mặt của thực tếdời sống phong phú, ý thức bảo vệ môi trường Giải toán có tác dụng giáo dụccác em ý chí vượt khó, đức tính cẩn thận, chu đáo, làm việc có kế hoạch, thóiquen tự kiểm tra công việc của mình, có óc độc lập suy nghĩ, óc sáng tạo, pháttriển tư duy
b Cơ sở thực tiễn.
Đối với chương trình Toán 3 là kế thừa và phát triển của toán lớp 2 Trong
đó các bài toán có lời văn được mở rộng và nâng cao hơn tạo ra những khó khăntrong quá trình dạy của giáo viên và học của học sinh
Đối với học sinh Tiểu học, học toán đã khó, học giải toán có lời văn lạicàng khó hơn Bởi vì, những bài toán có lời văn là những bài toán yêu cầu phải
có sự tư duy trừu tượng Học sinh phải suy nghĩ, phân tích, phán đoán để tìm ra
cách giải Chính vì vậy, những bài toán có lời văn thường được coi là bài: “
Toán đố” Nhiều học sinh có thể làm thành thạo các bài toán về số nhưng khi
đứng trước những bài toán có lời văn thì lại lúng túng không biết phải làm nhưthế nào Vì vậy, việc giúp học sinh làm tốt các bài toán có lời văn đòi hỏi ngườigiáo viên phải có một phương pháp dạy toán sao cho phát huy được óc sáng tạo,tính độc lập, tự chủ của học sinh
Thực tế qua nhiều năm giảng dạy ở khối lớp 3, với lòng say mê tìm tòihọc tập cộng với sự yêu thích môn Toán đã hướng tôi đến với đề tài này Hơnnữa trong quá trình dạy học tôi thấy phần giải toán có lời văn chiếm thời giantương đối nhiều, nhưng thực tế việc dạy học giải toán có lời văn chưa đạt đượckết quả cao.Một số học sinh còn chậm, nhút nhát, kĩ năng tóm tắt bài toán cònhạn chế, chưa có thói quen đọc và tìm hiểu bài toán, dẫn tới thường nhầm lẫngiữa các dạng toán, lựa chọn phép tính còn sai , chưa bám sát vào yêu cầu bàitoán để tìm lời giải thích hợp với các phép tính Kĩ năng tính nhẩm với các phéptính và kĩ năng thực hành diễn đạt bằng lời còn hạn chế Một số em tiếp thu bàimột cách thụ động, ghi nhớ bài còn máy móc nên chóng quên các dạng bài toán,
vì thế phải có phương pháp khắc sâu kiến thức Đây cũng chính là lí do tôi chọn
đề tài bày, mong tìm ra những giải pháp góp phần nâng cao kĩ năng giải toán cólời văn cho học sinh lớp 3 Để từ đó các em có thể thành thạo hơn với những bàitoán có lời văn khó và phức tạp ở các lớp trên
Trang 42 2 Thực trạng của việc dạy giải toán có lời văn ở lớp 3.
Trong thực tế giảng dạy, có giáo viên đôi khi áp dụng phương pháp chưalinh hoạt Mặt khác một số giáo viên lên lớp có sử dụng đồ dùng dạy học hiệuqủa đôi khi còn chưa cao
Giải toán có lời văn thực chất là những bài toán thực tế , nội dung bài toánđược thông qua những câu văn nói về những quan hệ, tương quan và phụthuộccó liên quan tới cuộc sống thường xảy ra hàng ngày Cái khó của bài toán
có lời văn chính là ở chỗ làm thế nào để lược bỏ được những yếu tố về lời văn
để che đậy bản chất toán học của bài toán Hay nói cách khác là làm sao chỉ rađượccái mối quan hệ giữa các yếu tố toán họcchứa đựng trong bài toánvà tìmđược những câu lời giải thích hợp để từ đó tìm được đáp số của bài toán
b Về học sinh:
Do việc dạy học theo kiểu áp đặt của thầy mà trò phải tiếp thu kiến thứcmột cách thụ động Các khái niệm, quy tắc, công thức… giáo viên đưa ra họcsinh có nhiệm vụ phải ghi nhớ Học sinh không được chuẩn bị đúng mức để hoạtđộng độc lập, sáng tạo vì luôn phụ thuộc vào người khác Chính vì vậy mà đa sốhọc sinh nắm kiến thức không vững, không sâu, không hiểu được bản chất củavấn đề, chỉ biết rập khuôn theo mẫu một cách máy móc Nên có những bài toánchỉ khác mẫu đi một chút hoặc thay dự kiện là học sinh không làm được, nếulàm được kết quả cũng chưa chính xác
Về việc tìm hiểu đề bài, tóm tắt đề toán đang còn nhiều khó khăn đối vớimột số học sinh tiếp thu chậm Vì kĩ năng đọc thành thạo của các em chưa cao,nên các em đọc được đề toán và hiểu đề còn thụ động, chậm chạp Các em chưaxác định rút về một đơn vị là đơn vị nào, hai câu trả lời như nhau, còn máy móchơn khi đề cho hơn là làm tính cộng, ít hơn là làm trừ, gấp là làm nhân, kém làlàm chia, cách tính diện tích và chu vi hình chữ nhật, hình vuông còn lẫn lộn
Một nguyên nhân khác cũng phải nói đến là do đặc điểm lứa tuổi của các
em còn ghi nhớ máy móc, phần lớn là nghe và làm theo mẫu của giáo viên, tư duy
Trang 5lôgic của các em còn nhiều hạn chế, ngôn ngữ còn nghèo, nhiều em không hiểu rõnội dung, yêu cầu của bài toán hoặc có hiểu nhưng diễn đạt còn khó khăn.
- Học sinh có thể tiếp thu rất dễ dàng các phép tính số học nhưng khi gặptoán có lời văn các em còn lúng túng và dẫn đến không hứng thú với việc giảitoánnên kết quả thực hành giải toán chưa cao
Qua khảo sát tình hình thực tế đầu năm học l p 3A- Trở lớp 3A- Trường Tiểu học ớp 3A- Trường Tiểu học ường Tiểu họcng Ti u h cểu học ọctôi ang công tác k t qu cho th y:đang công tác kết quả cho thấy: ết quả cho thấy: ả cho thấy: ấy:
2.3.1.Giải pháp 1: Trang bị quy trình cho các dạng bài tập
a Để học sinh có kỹ năng vận dụng trực tiếp việc giải toán ở các dạng bài có chứa chất văn tôi cung cấp cho học sinh quy trình chung để giải các bài tập theo 4 bước cơ bản sau đây:
* Tìm hiểu đề toán: Đọc thật kỹ đề toán (tri giác trực tiếp) Đây là một
bước quan trọng và có thể nói là không thể thiếu được trong dạy học toán Ởbước này giáo viên giúp học sinh tiếp cận với nội dung bài toán khắc phục khókhăn về ngôn ngữ, biết diễn đạt ngôn ngữ bằng ký hiệu đặc biệt Sau đó xác địnhđược 3 yếu tố cơ bản của bài toán
Dự kiện (là cái đã cho, đã biết trong đề toán) ẩn số (là cái chưa biết, cầntìm), điều kiện (là mối quan hệ giữa các dự kiện và ẩn số)
Như vậy ngay từ bước tri giác đề bài đã bắt buộc học sinh phải phát huytính linh hoạt của tư duy, sau bước này học sinh tóm tắt được bài toán bằng cáchghi các dự kiện, điều kiện, ẩn số dưới dạng (ngôn ngữ hoặc ký hiệu) ngắn gọnnhất, cô đọng nhất
Ví dụ 1: Một của hàng có 40m vải xanh và đã bán được 51 số vải đó Hỏicửa hàng đó đã bán mấy mét vải xanh? (Bài toán 2 trang 26 SGK Toán 3)
- Học sinh tập nêu bằng lời để tóm tắt bài toán
Trang 6Tóm tắt:
(Dạng bài toán giải bằng một bước tính nhằm giúp học sinh chọn 1 phéptính chia)
Ví dụ 2: Anh có 15 tấm bưu ảnh, em có ít hơn anh 7 tấm bưu ảnh Hỏi em
có bao nhiêu tấm bưu ảnh?
Tóm tắt:
Anh:
Em:
Sơ đồ giúp học sinh trong việc lựa chọn phép tính để giải (có 1 phép tính)
* Tìm đường lối giải (lập chương trình giải toán)
Bước này là bước quan trọng nhất việc nắm vững nội dung đặc biệt là bayếu tố cơ bản của bài toán là yêu cầu đầu tiên khi học sinh tri giác bài toán Khi
đó xuất hiện các hiện tượng yêu cầu học sinh phải tư duy tích cực, phân tích vàsàng lọc các hiện tượng và từ đó tìm ra phương án giải quyết bài toán Bước nàygiáo viên có nhiệm vụ hướng dẫn cho học sinh phân tích, tổng hợp Phân tích,sàng lọc nhằm loại bỏ các yếu tố thừa, các trường hợp không cơ bản đối với việcgiải toán Trong bước này học sinh phải tư duy tích cực, tìm ra phương án chomình để giải quyết được bài toán (hay nói cách khác để tìm đường lối giải bàitoán) cần huy động vốn kiến thức đã có và đặc biệt là kinh nghiệm giải toán ởTiểu học cần hướng dẫn học sinh tìm đường lời giải sau đây:
* * Chọn phép tính giải thích hợp:
Sau khi hướng dẫn học sinh tìm hiểu đề toán để xác định cái đã cho và cáiphải tìm cần giúp học sinh lựa chọn phép tính thích hợp
Ví dụ: (Bài toán 3 trang 68 sgk) Có 45 kg gạo, chia đều vào 9 túi Hỏi
mỗi túi có bao nhiêu kilôgam gạo?
Để giải được bài toán này, học sinh cần phải tìm được mối liên hệ giữa cái
đã cho và cái phải tìm Hướng dẫn học sinh suy nghĩ giải toán thông qua các câuhỏi gợi ý như:
+ Bài toán cho biết gì? (Có 45 kg gạo, chia đều vào 9 túi)
+ Bài toán hỏi gì? (Mỗi túi có bao nhiêu kilôgam gạo)
15 bưu ảnh
7 bưu ảnh bưu ảnh ?
Trang 7+ Muốn biết mỗi túi có bao nhiêu kilôgam gạo em làm tính gì? (Tínhchia)
+ Lấy mấy chia cho mấy? (45 : 9)
+ 45 : 9 bằng bao nhiêu? (45 : 9 = 5)
***Đặt câu lời giải thích hợp.
Thực tế giảng dạy cho thấy việc đặt câu lời giải phù hợp là bước vô cùngquan trọng và khó khăn nhất đối với học sinh lớp 3 Chính vì vậy việc hướng dẫnhọc sinh lựa chọn và đặt câu lời giải hay cũng là một khó khăn lớn đối với ngườidạy Tùy từng đối tượng học sinh mà tôi lựa chọn các cách hướng dẫn sau:
Cách 1: (Được áp dụng nhiều nhất và dễ hiểu nhất): Dựa vào câu hỏi của
bài toán rồi bỏ bớt từ đầu ” hỏi” và từ ” bao nhiêu” rồi thay từ ” bao nhiêu” là từ
”số” thay dấu chấm hỏi bằng từ ” là” để có câu lời giải: Mỗi túi có số kilôgamgạo là:
Cách 2: Nêu miệng câu hỏi để học sinh trả lời miệng: Số kilôgam gạo có
trong mỗi túi là: rồi chèn phép tính vào để có cả bước giải (gồm có câu hỏi, câulời giải và phép tính)
Tóm lại: Tùy từng đối tượng , từng trình độ học sinh mà hướng dẫn các
em cách lựa chọn, đặt câu lời giải cho phù hợp
Trong một bài toán, học sinh có thể có nhiều cách đặt khác nhau như haicách trên Song trong khi giảng dạy, ở mỗi một dạng bài cụ thể tôi đưa cho các
em suy nghĩ thảo luận để tìm ra các câu lời giải đúng và hay nhất phù hợp vớicâu hỏi của bài toán đó
* Trình bày bài giải.
Qua tìm hiểu bài toán học sinh vận dụng các phương pháp để trình bày bàigiải sao cho được kết quả đúng
Chính vì vậy, việc hướng dẫn học sinh trình bày bài giải sao cho khoa học,đẹp mắt cũng là yêu cầu lớn trong quá trình dạy học Muốn thực hiện được yêucầu này trước tiên người dạy cần tuân thủ cách trình bày bài giải theo hướng dẫnquy định
Song song với việc hướng dẫn các bước thực hiện, tôi thường xuyên trìnhbày bài mẫu trên bảng và yêu cầu học sinh quan sát, nhận xét về cách trình bày
để từ đó học sinh quen nhiều với cách trình bày Bên cạnh đó tôi còn thườngxuyên chấm, chữa bài và sửa lỗi cho những học sinh trình bày chưa đẹp, tuyêndương trước lớp những học sinh làm đúng, trình bày sạch, đẹp,cho các em đólên bảng trình bày lại bài làm của mình để các bạn cùng học tập
Trang 8Lưu ý: Khi thực hiện các phép tính theo hàng ngang thì các thành phần là
hư số và kết quả cuối cùng phải ghi tên đơn vị trong dấu ngoặc (…)
Mỗi phép tính phải ghi câu lời giải kèm theo Cuối cùng phải ghi đáp số
để trả lời đúng cho câu hỏi của bài toán
Trở lại bài toán 3:
Bài giải Mỗi túi có số kilôgam gạo là:
45 : 9 = 5 (kg)
Đáp số: 5 kg gạo
* Kiểm tra đánh giá và khai thác lời giải:
Đây là bước làm quan trọng, song khi tiến hành xong học sinh hay bỏ quabước này Vì thế có những học sinh làm xong bài giáo viên hỏi: “Em có tin chắc
b Vận dụng quy trình chung để giải các bài toán ở mỗi dạng:
Để giúp học sinh viết vận dụng quy trình giải toán có lời văn ở mỗi dạngtrong SGK toán 3 tôi đã chọn một số ví dụ điển hình cho dạng tôi đang đề cậptới trong đề tài này
* Dạng 1: Bài toán giải bằng hai phép tính (nói chung)
Ví dụ: (Bài toán 2 trang 51 SGK)
Một thùng đựng 24l mật ong, lấy ra 31 số lít mật ong đó Hỏi trong thùngcòn lại bao nhiêu lít mật ong?
Trang 9Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh vận dụng tri thức vừa học (lýthuyết mà giáo viên vừa cung cấp, thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kỹnăng giải toán)
+ Cách rèn luyện: Để học sinh vận dụng linh hoạt và có sáng tạo cách giảiđúng và biết trình bày bài giải giáo viên cần giúp học sinh thấy được về mặttrừu tượng của bài toán Muốn biết số lít mật ong còn lại ở trong thùng thìtrước hết ta phải tìm cái gì? HDHS tìm được số lít mật ong lấy ra từ thùngmật ong? Học sinh thực hiện được phép chia 24 : 3 = 8 (lít) sau đó mới HDhọc sinh tìm số lít mật ong còn lại trong thùng mật ong? HS thực hiện: 24 - 8
= 16 (lít) Ở chỗ này nếu giáo viên không giúp thì học sinh dễ nhầm lẫn phéptính cộng
Vậy để các em giải đúng theo quy trình tôi hướng dẫn các em làm theocác bước sau:
Bước 1: Tìm hiểu đề toán: học sinh đọc thật kỹ đề toán
Hỏi 1: Bài toán cho biết cái gì? (Một thùng đựng 24lít mật ong, lấy ra 31
Bước 2: Tìm đường lối giải
Muốn biết đã lấy ra bao nhiêu lít mật ong ta làm phép tính gì? (phép chia:
Trang 10Ví dụ: Bác An nuôi 48 con thỏ, bán đã bán đi
6
1
số thỏ đó Hỏi Bác Ancòn lại bao nhiêu con thỏ?
Như vậy qua ví dụ học sinh đã biết vận dụng quy trình giải bài toán cóđầy đủ câu lời giải, phép tính tương ứng đúng theo 4 bước giải
* Dạng 2: Bài toán liên quan đến rút về đơn vị
Các bài toán ở dạng này giúp học sinh biết cách giải các bài toán liênquan đến rút về đơn vị Từ đó rèn luyện học sinh kỹ năng thành thạo giải đượccác bài toán trong SGK Toán 3 và trong thực tiễn cuộc sống
Bài toán 2(trang 128- SGK Toán 3)
Có 35l mật ong chia đều vào 7 can Hỏi 2 can có mấy lít mật ong?
Dụng ý bài tập này: Nhằm giúp học sinh nắm được quy trình giải sau khi
đã lĩnh hội tri thức vừa học xong Thông qua luyện tập thực hành rèn luyện kỹnăng giải toán, hoặc từ một bài toán đã cho biến đổi thành các bài toán mới
Bước 1: Tìm hiểu bài toán: Học sinh đọc thật kỹ bài toán
Hỏi: Bài toán đã cho biết gì? (Có 35l mật ong chia đều vào 7 can).
Hỏi: Bài toán yêu cầu chúng ta tìm cái gì? (2 can có mấy lít mật ong)
Tóm tắt: 7 can : 35l
2 can: l?
Bước 2: Tìm đường lời giải
- Biết 7 can chứa 35l mật ong, muốn tìm mỗi can chứa mấy lít mật ong
phải làm phép tính gì? (Phép chia)
Trang 1135 : 7 = 5 ( l )
- Biết mỗi can chứa 5l mật ong, muốn tìm 2 can chứa bao nhiêu lít mật
ong phải làm phép tính gì? (Phép nhân)
Bước 4: Thử lại: 5 x 7 = 35 ; 35 : 7 = 5 (đúng)
10 : 2 = 5; 5 x 2 = 10 (đúng)Dựa vào bài toán trên tôi có thể khái quát hóa: Khi giải "Bài toán liênquan đến rút về đơn vị", thường tiến hành theo hai bước:
* Bước 1: Tìm giá trị một phần (thực hiện phép chia)
* Bước 2: Tìm giá trị nhiều phần đó (thực hiện phép nhân)
Sau đó tôi đưa ra một số bài toán tương tự (có dạng rút về đơn vị) nhằmphát triển được tư duy và hình thành cho các em kỹ năng giải toán tiến tới kỹxảo giải toán
Bài toán: Có 2.135 quyển vở được xếp đều vào 7 thùng Hỏi 5 thùng đó
có bao nhiêu quyển vở?
* Dạng 3: Giải các bài toán có nội dung hình học
Các bài toán trong dạng này dụng ý nhằm giúp các em biết cách giải bàitoán có liên quan về hình học Thông qua rèn luyện thực hành để phát triển nănglực học toán, giải được các bài toán trong SGK và trong đời sống thực tiễn (vềcách tính chu vi của một số hình hình học)
Ví dụ (Bài 2 trang 87 SGK Toán 3)
Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài 35m, chiều rộng 20m Tính chu
vi mảnh đất đó
Trang 12Dụng ý của bài toán này: Nhằm vận dụng quy tắc tính chu vi hình tamgiác cho học sinh; Học sinh thành thạo giải toán thông qua luyện tập thực hành,hiểu được mối quan hệ giữa các đơn vị đo.
Bước 1: Tìm hiểu đề: Học sinh đọc kỹ đề toán
Hỏi: Bài toán cho biết những gì? (Một mảnh đất hình chữ nhật có chiều dài35m, chiều rộng 20m)
Hỏi: Bài toán yêu cầu chúng ta tìm cái gì? (tính chu vi mảnh đất)
Hỏi: Muốn tính được chu vi mảnh đất ta phải làm như thế nào? (Học sinhtrả lời: Lấy chiều dài cộng với chiều rộng (cùng đơn vị đo) rồi nhân với 2
Bước 2: Tìm đường lời giải.
Từ công thức tính chu vi hình chữ nhật Giáo viên có thể giúp học sinhvận dụng thành thạo cách tính và tìm lời giải đúng, chính xác, phù hợp với yêucầu của đề toán đặt ra
+ Muốn tính chu vi mảnh đất hình chữ nhật ta phải làm như thế nào? (HSchọn phép tính và tính đúng: (35 + 20) x 2 = 110 (cm)
Bước 3: Trình bày bài giải.
Bài giảiChu vi mảnh đất hình chữ nhật là:
(35 + 20) x 2 = 110 (cm) Đáp số: 110 cm
Dựa vào bài toán trên tôi có thể phát triển thành các bài toán mới bằngcách thay đổi dự kiện bài toán (hoặc giả thiết)
Ví dụ: (Bài 2 trang 88 SGK Toán 3).
Người ta uốn một đoạn dây thép vừa đủ thành một hình vuông cạnh 10
cm Tính độ dài đoạn dây đó
Dụng ý của bài tập này: Nhằm giúp học sinh thành thạo trong việc ápdụng công thức tính chu vi hình vuông thông qua luyện tập giải toán, học sinhbiết được mối quan hệ đo độ dài
Bước 1: Tìm hiểu đề.
Cho học sinh đọc thật kỹ đầu bài toán
- Bài toán đã cho biết cái gì? (Người ta uốn một đoạn dây thép vừa đủthành một hình vuôngcạnh 10cm)