Dù xuất hiện trong thơ ca hay trong các câu thành ngữ miêu tả hình tượng nhân vật hoặc trong các câu đối, câu đố, thì cách thức của việc sử dụng những con số vô cùng đặc sắc đã thể hi[r]
Trang 1Dường như chỉ là vô tri vô giác, nhưng
những con số “một, hai, ba, bốn, năm,
sáu, bảy, tám, chín, mười ” luôn chất
chứa thứ tình cảm đong đầy qua khối óc tài
tình của những văn nhân qua mỗi giai đoạn
lịch sử, mỗi thời kì của văn học Trung Quốc,
đóng góp cho kho tàng văn học Trung Quốc
những tác phẩm đặc sắc, giàu tính nghệ thuật
Dù xuất hiện trong thơ ca hay trong các câu thành
ngữ miêu tả hình tượng nhân vật hoặc trong các
câu đối, câu đố, thì cách thức của việc sử dụng
những con số vô cùng đặc sắc đã thể hiện được
tính sáng tạo trong sáng tác nghệ thuật của các
tác giả
Văn hoá con số trong thơ ca
Con số được áp dụng trong thơ ca, không chỉ làm
cho thơ ca càng thêm sinh động mà còn làm cho
ĐÔI NÉT VỀ VĂN HOÁ CON SỐ TRONG VĂN HỌC TRUNG QUỐC
ĐỖ VĂN HIẾN
Học viện Khoa học Quân sự
TÓM TẮT
Xưa nay, trong nền văn học Trung Quốc có không ít văn nhân đã để lại những tác phẩm bất hủ Trình độ của họ thật sự đã đạt đến bậc thầy trong việc đưa các con số vào những sáng tác của mình một cách hết sức sáng tạo Tìm hiểu văn hoá con số trong văn học Trung Quốc có ý nghĩa đặc biệt đối với việc sáng tạo ngôn ngữ thi ca mà các bậc văn nhân Trung Quốc là những tấm gương tiêu biểu
Từ khóa: con số, nghệ thuật, văn hoá, thơ ca
nó thêm giàu tính nghệ thuật Những ví dụ dưới đây là minh chứng rõ ràng nhất:
Ví dụ 1:
一去二三里,烟村四五家,
Nhất khứ nhị tam lí, yên thôn tứ ngũ gia, 小桥六七座,八九十枝花。
Tiểu kiều lục thất tọa, bát cửu thập chi hoa
Dịch nghĩa:
Cất bước đôi ba dặm, khói bếp dăm ba nhà, Cầu kiều dăm bẩy chiếc, xen giữa những nhành hoa Đây là bức tranh làng quê yên bình trong bài thơ
“Sơn thôn vịnh hoài”, được tác giả Thiệu Khang1
Trang 2khắc họa một cách sinh động và tài tình bằng
việc sử dụng 10 từ thể hiện con số trong khổ thơ
chỉ có vỏn vẹn 20 từ
Ví dụ 2:
一名大乔二小乔,
Nhất danh đại kiều nhị tiểu kiều,
三寸金莲四寸腰,
Tam thốn kim liên tứ thốn yêu,
买得五六七色粉,
Mãi đắc ngũ lục thất sắc phấn,
打扮八九十分娇。
Đả bán bát cửu thập phân kiều
Dịch nghĩa:
Một cô Kiều chị hai Kiều em,
Ba tấc gót sen bốn tấc eo,
Mua được năm sáu bảy sắc phấn,
Trang điểm tám chín mười phần xinh
Bài thơ trên ra đời trong hoàn cảnh rất đặc biệt
Tương truyền, đời Thanh có thi nhân tên là Lý
Điệu Nguyên, một lần ông cùng sáu anh tài tử du
ngoạn Hồ Tây ở Hàng Châu2, vì mọi người muốn
thử xem thực tài của thi nhân họ Lý giỏi giang
đến đâu, đã đưa ra yêu cầu Lý phải làm một bài
thơ sử dụng dãy số từ 1 đến 10 theo thứ tự từ nhỏ
đến lớn trong thời gian ngắn nhất Tức thì Lý Điệu
Nguyên đã sáng tác ra bài thơ trên
Ví dụ 3:
Các anh tài tử nghe xong mặc dù tấm tắc khen,
nhưng vẫn yêu cầu thi nhân họ Lý phải làm tiếp
bài thơ khác, trong đó phải sử dụng dãy số từ 1
đến 10 theo thứ tự ngược lại
Lý hỏi lại: “Hôm nay là ngày bao nhiêu?”
Có người bạn đáp: “Ngày mười chín” Không chút
do dự, Lý lại thơ rằng:
十九月亮八分圆,
Thập cửu nguyệt lượng bát phân viên, 七个才子六个癫,
Thất cá tài tử lục cá điên, 五更四时鸡三唱,
Ngũ canh tứ thời kê tam sướng, 怀抱二月一枕眠。
Hoài bão nhị nguyệt nhất chẩm miên
Dịch nghĩa:
Mặt trăng mười chín tám phần tròn, Bảy anh tài tử sáu anh điên,
Ngũ canh bốn giờ (gà) ba lần gáy,
Ôm trăng tháng hai ngủ một mình
Chỉ qua bấy nhiêu thôi ta cũng thấy được nét tài hoa của người thi sĩ họ Lý, và cũng chỉ bằng bấy nhiêu nhưng tác giả đã sử dụng một cách tinh tế các con số để vẽ nên nét dịu dàng, xinh xắn của nhiều giai nhân chốn hậu cung, để rồi lại với bằng
ấy con số tài tử họ Lý đã tả thực một cách sinh động phong cảnh xung quanh rất đỗi nên thơ lúc bấy giờ
Ví dụ 4:
Đời Tây Hán có một văn quan nổi tiếng tên là Tư
Mã Tương Như3, trước khi đỗ đạt làm quan, ông chỉ là một tài tử nghèo Trác Văn Quân vốn là con gái của một thương gia giàu có, cũng là người tài hoa, vì ngưỡng mộ tài năng của Tư Mã Tương Như
mà Văn Quân đang đêm đã bỏ nhà để đi theo tiếng gọi của tình yêu Nhưng sau khi đỗ đạt làm quan, Tương Như có ý muốn bỏ Văn Quân, nên
đã viết một bức thư bảo viên sai dịch chuyển cho
vợ mình và dặn vợ phải viết thư hồi âm ngay Văn
Trang 3Quân thấy trên giấy trắng chỉ viết có mười ba con
số, đó là: “一,二,三,四,五,六,七,八,
九,十,百,千,万” , chỉ thiếu có chữ số “亿”
Ở đây, rõ ràng việc Tư Mã Tương Như bỏ chữ số “
亿” là có chủ ý Trong tiếng Trung Quốc, chữ “亿”
(ức) đồng nghĩa với chữ “意” (ý), không có chữ “
亿” (ức) có nghĩa là “无亿”(vô ức) Nhờ hiện tượng
đồng âm, ở đây Tương Như muốn truyền tải
thông điệp đến Văn Quân chính là “无意” (vô ý)
Nàng Văn Quân lập tức hiểu ngay ra ý của chồng
là muốn bỏ mình, ngay lúc đó, trong tâm trạng
vừa giận hờn vừa tủi phận, nàng bèn viết ngay
bức thư trả lời Tương Như rằng:
Ví dụ 5:
一 别 之 后 , 二 地 悬 念 。 只 说 是 三 四 月 , 又
谁 知 五 六 年 。 七 弦 琴 无 心 弹 , 八 行 书 不 可
传 , 九 连 环 从 中 折 断 , 十 里 长 亭 望 眼 欲
穿 。 百 思 想 , 千 系 念 , 万 般 无 奈 把 郎 怨 。
万言千语说不完,百无聊赖十倚栏。重九登高
看孤雁,八月中秋月不圆。七月半,烧香秉烛
问苍天。六月伏天,人人摇扇我心寒。五月石
榴如火,偏遇阵阵冷雨浇花端。四月枇杷未
黄,我欲对镜心意乱。匆匆匆,三月桃花随水
转。飘零零,二月风筝断了线。噫!郎呀郎,
巴不得下一世,你为女来我为郎!
Dịch nghĩa:
Một khúc biệt ly, hai trời thương nhớ Những
tưởng ba bốn tháng, ai dè năm sáu năm Bảy cung
đàn bỏ mặc, tám chồng sách chẳng tơ Chín lần
liền đứt đoạn, mười dặm lầu đài mỏi mắt ngóng
mong Trăm nỗi nhớ, ngàn niềm thương, vạn lần
oán trách chàng không đặng
Ngàn vạn lời kể sao cho xiết, trăm sự bất tín, mười
sự bất tin Trùng Cửu4 lên cao, chỉ thấy cánh nhạn
cô đơn Tháng tám Trung thu trăng như khuyết
Rằm tháng bảy thắp hương đốt nến vấn trời cao
Tháng sáu vào hạ, người ta quạt mát sao lòng
thiếp giá băng Tháng năm hoa lựu đỏ, gặp lúc
cơn mưa tưới cánh hoa Tháng tư tì bà chưa chín,
gương soi trước mặt lòng rối rắm Thấm thoắt, hoa
đào tháng ba bay theo gió Chới với, cánh diều
tháng hai đứt mất dây Chàng ơi chàng hỡi, những
mong kiếp sau chàng phận gái thiếp phận trai
Tâm trạng vừa giận vừa thương của người con gái được lột tả chỉ bằng 26 lần sử dụng những con số đếm từ số 1 đến số hàng vạn, khổ trước là từ số 1 đến số hàng vạn, khổ sau là ngược lại từ số hàng vạn đến số 1
Tương Như cứ ngỡ bức thư tương đối khó hiểu của mình sẽ làm cho Văn Quân chùn bước, nào ngờ đâu thư hồi âm của Văn Quân đã khiến Tương Như cảm thấy hổ thẹn xen lẫn xúc động, liền sau
đó cho người rước Văn Quân về Kinh với mình
Văn hoá con số trong thành ngữ miêu tả hình tượng nhân vật
Người Trung Quốc rất ưa sử dụng các con số trong những câu thành ngữ để miêu tả cuộc sống, cảnh vật và con người trong xã hội Nhờ đó, đã góp phần làm sinh động thêm nội dung đề tài được phản ánh
Ví dụ 6: Miêu tả hình tượng kẻ tham ô
一心二用,两面三刀,三头六臂,四面楚歌, 五斗折腰,六亲不认,七上八下,八面玲珑, 九霄难逃,十恶不赦。
Dịch âm:
Nhất tâm nhị dụng, lưỡng diện tam đao, tam đầu lục tí, tứ diện sở ca, ngũ đẩu chiết yêu, lục thân bất nhận, thất lượng bát hạ, bát diện linh lung, cửu tiêu nan đào, thập ác bất xá
Dịch nghĩa:
Không làm việc vì dân, chỉ màng đến lợi ích cá nhân; trước mặt bề trên thì nói một đằng, sau lưng kẻ dưới lại nói một nẻo; tìm mọi cách có lợi cho mình, như có ba đầu sáu tay; cuối cùng
sẽ tự rơi vào thế khó; chỉ vì lợi ích nhỏ nhoi mà khúm núm thấp hèn, đánh mất tình người, ngày đêm thấp thỏm lo âu; tuy ba vành bảy vẽ, khéo
ăn khéo nói, nhưng rốt cuộc cũng khó mà tránh khỏi lên chín tầng mây, bởi tội ác tày trời không
dễ tha thứ
Ví dụ 7: Miêu tả người tôi tớ có tính cách xấu xa
一副奴才相,两手往下垂,三角眼闪亮,四楞
Trang 4子,八两小脑袋,九根黄胡子,十分不像人。
Dịch âm:
Nhất phó nô tài tướng, lưỡng thủ vãng hạ thuỳ,
tam giác nhãn thiểm lượng, tứ lăng liễm đôi mi,
ngũ quan bất đoan chính, lục thần thấu âm khí,
thất thốn trường bột tử, bát lạng tiểu não đại, cửu
căn hoàng hồ tử, thập phân bất tượng nhân
Dịch nghĩa:
Một khuôn mặt đầy tớ, hai tay buông thõng
xuống, mắt tam giác chớp chớp, mặt vuông hay
nịnh bợ, ngũ quan thiếu đoan chính, lục thần đầy
âm khí, cổ dài đến bảy tấc, đầu nhỏ được tám
lạng, chín cọng râu nhuốm vàng, rõ mười mươi
khác người
Ví dụ trên cũng đã sử dụng những cụm từ gồm
các số từ 1 đến 10 để miêu tả một vài kẻ tôi tớ của
xã hội cũ với tính cách đê tiện, thấp hèn
Ví dụ 8: Miêu tả kẻ ham mê bài bạc, có máu đỏ đen
一心赢钱,两眼通红,三餐无味,四肢乏力,
五业荒废,六亲不认,七窍生烟,八方借债,
九(久)陷泥潭,十(实)成灾难。
Dịch âm:
Một tâm doanh tiền, lưỡng nhãn thông hồng,
tam xan vô vị, tứ chi phạp lực, ngũ nghiệp
hoang phế, lục thân bất nhận, thất khiếu sinh
yên, bát phương tá trái, cửu hãm nê đàm, thập
thành tai nạn
Dịch nghĩa:
Một lòng chỉ ham thắng bạc, hai mắt đỏ ngầu, ba
bữa không ngon miệng, tứ chi rã rời, nghề nghiệp
bỏ bê, sao nhãng tình thân, vô cớ giận dữ, vay
mượn tám phương, lấn sâu xuống bùn lầy, ắt sẽ
thành tai họa
Ví dụ này đã sử dụng cụm từ hoặc thành ngữ có
các chữ số từ 1 đến 10, miêu tả đời sống cũng
như trạng thái tâm lí của kẻ đam mê đỏ đen,
nhấn mạnh quy luật càng chơi càng thua nhiều,
càng thua lại càng muốn gỡ của những con bạc,
để rồi chuốc lấy cảnh tan cửa nát nhà, tan đàn
sẻ nghé
Văn hoá con số trong câu đối, câu đố
Con số không chỉ được dùng trong thơ ca, mà
nó còn được sử dụng trong các câu đối, câu đố
Có thể thấy con số trong câu đối, câu đố là một chất liệu đặc biệt để tạo nên nét riêng của thể loại này
Ví dụ 9:
天数五,地数五,五十五年,五世同堂,共仰 一人有庆;
春八十,秋八十,八旬八月,八方万国,咸喊 万寿无疆。
Dịch âm:
Thiên số ngũ, địa số ngũ, ngũ thập ngũ niên, ngũ thế đồng đường, cộng ngưỡng nhất nhân hữu khánh
Xuân bát thập, thu bát thập, bát tuần bát nguyệt, bát phương vạn quốc, hàm hô vạn thọ vô cương
Dịch nghĩa:
Đếm từ đầu là năm, đếm từ cuối cũng là năm, giữ ngôi năm mươi lăm năm, ngũ đại đồng đường, cùng mừng sinh nhật Hoàng đế
Đếm từ xuân là tám mươi, đếm từ thu cũng là tám mươi, sinh vào tháng tám, mừng tuổi tám mươi,
tứ diện bát phương, hoan hô vạn thọ vô cương Ở vế trước, tác giả đã năm lần sử dụng con số 5,
ý muốn chúc mừng Hoàng đế Càn Long lên ngôi được 55 năm, lại có được 5 thế hệ trong nhà Phía
vế sau cũng năm lần sử dụng con số 8, ý muốn chúc mừng ngày sinh của Hoàng đế vào tháng tám ở độ tuổi tám mươi Với cách dùng tài hoa như vậy, những con số nêu trên đã góp phần làm cho khả năng chơi chữ của tác giả đạt đến sự điêu luyện, đồng thời cũng thỏa mãn được đam mê nghệ thuật câu đối của Hoàng đế Càn Long
Trang 5Ví dụ 10:
Đời nhà Thanh, có một người họ Trịnh tên Bản
Kiều5, làm đến chức quan tri huyện Ông thường
xuyên vi hành để tìm hiểu cuộc sống của người
dân lao động Có lần Trịnh Bản Kiều đi ngang qua
nhà một người nông dân, thấy trước cửa có dán
câu đối, vế đối trước là:二、三、四、五 (nhị,
tam, tứ, ngũ); vế đối sau là: 六、七、八、九 (lục,
thất, bát, cửu); vế ngang lại để trống Đám tuỳ
tùng không ai hiểu ra ý gì, duy chỉ có quan tri
huyện là hiểu ra Té ra, dựa vào nghĩa của cả hai
vế thì vế hàng ngang phải là: “缺衣(一)少食
(十)” {khuyết y (nhất) thiếu thực (thập)}” Như
ta đã biết, trong tiếng Hán, “衣” (quần áo) đồng
âm với “一” (nhất), “食” (lương thực) đồng âm với “
十” (thập), nghĩa là dân đói khổ, thiếu ăn lại thêm
thiếu cả mặc, ăn không thấy no, ngủ cũng không
được yên
Người nông dân chỉ cần dùng chưa đến mười con
số đã bày tỏ được tình cảnh khốn khổ ở nơi mình
đang sinh sống Tác giả không những đã thể hiện
được tài năng xuất chúng, mà còn không phạm
vào tội khi quân với Hoàng đế Thấy thế quan tri
huyện Trịnh Bản Kiều đã tặng cho người nông
dân quần áo, lương thực, thực phẩm và tiền bạc,
hòng giúp đỡ cho dân khắc phục những khó
khăn trước mắt
Ví dụ 11:
Trong sử sách Trung Quốc, Hoàng đế Càn Long
là một người thích thơ ca, câu đối và rất giỏi chơi
chữ Người thường hay cùng Kỷ Hiểu Lam6 trao
đổi thơ văn, câu đối Một lần Hoàng đế Càn Long
làm một bài thơ đố Kỷ Hiểu Lam như sau:
下珠帘焚香去卜卦,
问苍天,侬的人儿落在谁家?
恨王郎全无一点直心话,
欲罢不能罢,吾把口来压。
论文字交情不羞,染成皂难讲一句清白话。
分明一双好鸳鸯,却被刀割下。
抛的努力尽手又乏,
细思量口与心俱是假。
Kỷ Hiểu Lam nghe đoạn, liền ngẫm nghĩ rồi trả lời đúng đáp án là mười con số: 一、二、 三、四、五、六、七、八、九、十 (nhất, nhị, tam, tứ, ngũ, lục, thất, bát, cửu, thập) Nhìn bề ngoài, đây là bài thơ miêu tả người mẹ của Minh Châu cách cách ở Hàng Châu, với nỗi nhớ mong trông ngóng của người phụ nữ bị ruồng bỏ Nhưng thực ra đây lại là một câu đố, bởi
ở mỗi một câu của nó đều ẩn chứa một con số Hoá ra, “下”去了“卜” là một;“天”不见“人”là hai; “王”无“一” là ba;“罢”不要“能”
là bốn;“吾”去了“口” là năm;“交”不 要“叉”(差)là sáu;“皂”去了“白” là bảy;“分”去了“刀” là tám;“抛”去了“ 力”与“才” là chín;“思”去了“口”和“ 心” là mười
Có thể thấy, người Trung Quốc vốn tao nhã hào hoa từ lâu đã nổi tiếng là hay chơi chữ và giỏi chơi chữ Thông qua việc sử dụng tài tình các con số khiến chúng như có phép màu, là chất xúc tác tạo nên thứ cảm xúc thăng hoa cho người đọc Dù thoạt đầu rất đỗi đơn giản, nhưng nếu sử dụng những con số một cách thích hợp thì sẽ làm cho văn chương và thơ ca trở nên uyển chuyển, muôn màu sắc và đầy sức sống./
Ghi chú:
1 Thiệu Khang - Nhà thơ, nhà toán học, nhà đạo học đời Bắc Tống - Trung Quốc.
2 Thành phố nằm trong đồng bằng châu thổ sông Trường Giang của Trung Quốc, và là thủ phủ tỉnh Chiết Giang
3 Tư Mã Tương Như, tự Tràng Khanh (179 TCN –
117 TCN), người ở Thành Đô Ông là người đa tài, văn hay, đàn giỏi
4 Theo phong tục của người Trung Quốc bắt nguồn từ đời Hán, ngày 9 tháng 9 âm lịch hàng năm là ngày Tết Trùng Dương (hay còn gọi là Tết Trùng Cửu)
Trang 65 Trịnh Bản Kiều người vùng Giang Tô, sống vào
đời nhà Thanh Hội hoạ, thi thơ và thư pháp của
Trịnh Bản Kiều được người đời kính nể, xưng tụng
là “Tam tuyệt”
6 Kỷ Quân, tự là Hiểu Lam (26/7/1724 –
14/2/1805), danh sĩ nổi tiếng đời nhà Thanh, tác
giả cuốn “Duyệt Vi Tảo Đường Bút Ký”, là một
trong những tác phẩm nổi tiếng đương thời
Tài liệu tham khảo:
1 Nguyễn Văn Khang, “Con số văn hoá Trung Hoa
qua cách sử dụng các con số”, tạp chí Ngôn ngữ &
Đời sống, 01/2001, tr24-26.
2 区慕洁“百万智测2-3岁亲子启智游戏”, 上
海第二军医大学出版社, 2007年。
INTERESTING USES OF FIGURES IN CHINESE
LITERATURE Abstract: Figures are part of literature But a
question of how to put figures into a literature work without damaging the nature of literature
is always hard to answer In their works many ancient Chinese writers show uniquely creative ways of using figures The article discuses uses figures in Chinese literature works as a cultural feature of the Chinese literature It finally provides examples of creatively using figures to underline the significance of the cultural feature of figures
in Chinese literature works
Keywords: figure, art, culture, poetry
Ngày nhận: 23/5/2016 Ngày phản biện: 14/7/2016 Ngày duyệt đăng: 21/7/2016