Mục tiêu của giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực là nhằm xây dựng những con người mới thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, có đạo đức trong sáng, có ý chí ki[r]
Trang 1Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa
Phạm Đức Tiến
Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Luận văn ThS ngành: Hồ Chí Minh học; Mã số: 60 31 27
Người hướng dẫn: PGS.TS Phạm Ngọc Anh
Năm bảo vệ: 2010
Abstract Khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
huy nhân tố con người trình bày giá trị của những quan điểm đó Làm rõ thực trạng phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới ở nước ta Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay dưới sánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Keywords Tư tưởng Hồ Chí Minh; Nguồn nhân lực; Kinh tế thị trường; Xã hội chủ
nghĩa
Content
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Toàn bộ cuộc đời sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn liền với sự nghiệp chăm
lo và phát huy nhân tố con người Đúng như Người đã từng khái quát về triết lý cuộc sống:
“Nghĩ cho cùng, mọi vấn đề… là vấn đề ở đời và làm người Ở đời và làm người là phải yêu nước, thương dân, thương nhân loại đau khổ bị áp bức” Đánh giá về sức mạnh con người,
Hồ Chí Minh khẳng định: “Có dân là có tất cả”, cho nên bí quyết để đem lại cuộc sống tự do,
ấm no, hạnh phúc cho con người chính là “Đem tài dân, sức dân, của dân để làm lợi cho dân”… Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người như một viên ngọc quý được khảm trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Chính viên ngọc đó tạo nên sức hấp dẫn, sức sống lâu bền cho tư tưởng của Người, chính nó đã chinh phục hàng triệu, hàng triệu trái tim, khối óc từ những năm 20 của thế kỷ XX đến nay; tư tưởng ấy đã thực sự trở thành kim chỉ nam cho việc
sử dụng và phát huy nhân tố con người của Đảng ta trong tiến trình cách mạng
Trong bối cảnh hiện nay, tiến trình phát triển cả lí luận và thực tiễn đều chứng minh: nhân tố con người đóng vai trò quyết định xu hướng vận động của thế giới đương đại Luôn theo sát sự biến động của thời cuộc, đánh giá đúng đắn vị trí, vai trò của nhân tố con người, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (6.1996) của Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ rõ: Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam
là nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Con người thực sự là nguồn lực của mọi nguồn lực, tài nguyên của mọi tài nguyên, là nguồn lực nội sinh quan trọng nhất quyết
Trang 2định thành công của sự nghiệp xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta
Phát huy nhân tố con người trong thực tiễn đổi mới ở nước ta trong những năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn bước đầu, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh” Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu ấy, sự tác động của cơ thế thị trường đang bộc lộ nhiều bất cập có liên quan đến phát huy nhân tố con người, ảnh hưởng đến sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước Làm thế nào để phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay? Đây là vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng đòi hỏi phải được nghiên cứu một cách cơ bản, có hệ thống nhằm tìm kiếm những giải pháp kịp thời, phù hợp với yêu cầu của thực tiễn
Với lý do đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát
huy nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” làm
luận văn thạc sĩ của mình
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Tư tưởng Hồ Chí Minh về con người và phát huy nhân tố con người là một chủ đề hấp dẫn, được các nhà khoa học trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Các tác giả đã đạt được những thành tựu quan trọng khi nghiên cứu về chủ đề nêu trên Với tinh thần khiêm tốn học hỏi, tác giả của luận văn xin phép được kế thừa, tiếp thu những thành tựu của các nhà khoa học, lấy đó làm những gợi ý quan trọng để phục vụ cho quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
3 Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1 Mục đích
Trên cơ sở phân tích khái quát những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người, luận văn làm sáng tỏ thực trạng phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới, chỉ ra những mặt tích cực, hạn chế, tìm nguyên nhân để từ đó đề xuất những giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
3.2 Nhiệm vụ
Khái quát những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người, giá trị của những quan điểm đó;
Làm rõ thực trạng phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới ở nước ta;
Đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay dưới sánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người thể hiện trong các bài phát biểu, bài viết, các tác phẩm, hoạt động thực tiễn của Người;
Chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước về phát huy nhân tố con người;
Thực trạng phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới ở nước ta: Thành tựu, hạn chế, nguyên nhân và những bài học kinh nghiệm…
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở khái quát tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người, luận văn
tập trung nghiên cứu việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nguồn lực con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, chủ yếu từ năm 1986 đến nay
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Trang 3Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về phát huy nhân tố con người, đồng thời kế thừa kết quả nghiên cứu một số công trình khoa học của các tác giả trong và ngoài nước đã được công bố có liên quan đến đề tài
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, tác giả đã sử dụng một số phương pháp chủ yếu như: logíc - lịch sử, phân tích - tổng hợp, diễn dịch – quy nạp, so sánh đối chiếu, gắn lý luận với thực tiễn…
6 Những đóng góp mới của đề tài
Phân tích thực trạng của việc phát huy nhân tố con người trong thời kỳ đổi mới, đề ra những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
Với những kết quả đạt được, luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy và nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh các hệ trung cấp, cao đẳng, đại học
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 2 chương và 6 tiết
Chương 1: Nhân tố con người và phát huy nhân tố con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh
Chương 2: Phát huy nhân tố con người trong nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa dưới ánh sáng tư tưởng Hồ Chí Minh
NỘI DUNG CHƯƠNG 1: NHÂN TỐ CON NGƯỜI VÀ PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
1.1 Khái niệm nhân tố con người và phát huy nhân tố con người
1.1.1 Khái niệm con người
Theo mỗi bước tiến hoá, con người không ngừng nhận thức và cải tạo tự nhiên, xã hội
và bản thân Trong quá trình nhận thức về chính mình, con người luôn trăn trở với câu hỏi
“Con người là gì” và tìm cách trả lời câu hỏi ấy
Xuất phát từ thực tế sinh hoạt, lao động sản xuất, chủ nghĩa Mác cho rằng “Bản chất con người không phải là một cái gì trừu tượng, cố hữu của cá nhân riêng biệt Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội”
Dưới ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin, khái niệm con người được Hồ Chí Minh sử dụng với nhiều cách gọi khác nhau, ứng với những điều kiện, hoàn cảnh, khía cạnh khác nhau, song vẫn giữ lập trường giai cấp, tính cách mạng, khoa học, đạt được sự hài hoà giữa
con người cá nhân và con người xã hội, dân tộc, quốc tế Chúng ta có thể khái quát: Trong tư
tưởng Hồ Chí Minh, con người với tư cách là cá nhân, tập thể, cộng đồng hay cả nhân loại đều là một chỉnh thể thống nhất giữa yếu tố sinh vật và yếu tố xã hội, mang bản chất xã hội - lịch sử, là chủ thể sáng tạo và hưởng thụ các giá trị vật chất và tinh thần
1.1.2 Khái niệm nhân tố con người
Kế thừa sáng tạo các kết quả nghiên cứu trước đây, chúng ta thấy: Nhân tố con người
là toàn bộ những dấu hiện riêng có, những yếu tố nói lên vai trò của con người như là chủ thể hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, với những yếu tố, những tiêu chí về vai trò xã hội, về trí tuệ nhân cách (năng lực –phẩm chất) của con người
Hồ Chí Minh không đưa ra quan niệm cụ thể về nhân tố con người nhưng thực chất, Người đã đề cập đến nhân tố con người một cách toàn diện trong hệ thống tư tưởng của mình Với phương pháp khái quát hoá, chúng ta thấy Hồ Chí Minh đề cập đến nhân tố con người với một số nội dung sau:
Thứ nhất, xét theo phương diện nhân tố con người với tư cách là chủ thể hoạt động,
Hồ Chí Minh luôn coi trọng hoạt động tự giác của con người
Trang 4Thứ hai, nhân tố con người với tư cách là tổng hoà các phẩm chất, năng lực của con
người
Thứ ba, nhân tố con người với những tiêu chí về nhân cách, việc giáo dục, tạo dựng
mẫu con người mới được Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm
Như vậy, theo quan niệm Hồ Chí Minh, nhân tố con người là hệ thống những thuộc tính, những đặc trưng quy định vai trò chủ thể tích cực, chủ động, sáng tạo của con người, bao gồm một chỉnh thể thống nhất giữa mặt hoạt động với tổng hoà các đặc trưng về phẩm chất, năng lực, giá trị xã hội của con người
1.1.3 Khái niệm phát huy nhân tố con người
Phát huy nhân tố con người là phát hiện, làm bộc lộ, khai thác, sử dụng, tận dụng những yếu tố, những quá trình cấu thành nên nhân tố con người
Phát huy nhân tố con người thường được Hồ Chí Minh diễn đạt dưới nhiều cách thức, nhưng với cái nhìn tổng quát, phát huy nhân tố con người được Hồ Chí Minh đề cập với một
số nội dung sau đây:
- Phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng;
- Phát huy nhân tố con người với tư cách là một thực thể thống nhất giữa phẩm chất
và năng lực;
- Biết dùng người để phát huy nhân tố con người;
- Hồ Chí Minh đưa ra những biện pháp để phát huy nhân tố con người
1.2 Phát huy nhân tố con người trong tư tưởng Hồ Chí Minh
1.2.1 Phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của
sự nghiệp cách mạng
Đây là tư tưởng chủ đạo, bao trùm và xuyên suốt, vừa có ý nghĩa như tiền đề xuất phát đồng thời lại là mục đích trong hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh Nhân tố con người là vốn quý nhất, là động lực vĩ đại, nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; dân
là vốn quý nhất, có dân là có tất cả nên phải bắt đầu từ nhân tố con người, vì con người, cho con người và trở về với con người
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, phát huy nhân tố con người với tư cách vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự nghiệp cách mạng được thể hiện:
Một là, nhân tố con người – nhân tố quý nhất, động lực quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh thì nhân dân là vốn quý nhất, có dân là có tất cả, nhân dân là lực lượng vô cùng to lớn và mạnh mẽ, là lực lượng sáng tạo vô cùng vô tận Vì thế, Người luôn luôn đặt nhân dân vào địa vị cao nhất, địa vị làm chủ trong những vấn đề quan
trọng nhất của cách mạng và xã hội
Hai là, trong quá trình giải quyết mối quan hệ biện chứng giữa động lực và mục tiêu, Hồ
Chí Minh chú ý đến mức độ mục tiêu đạt được trong điều kiện, cụ thể của từng giai đoạn cách mạng
Tóm lại, trong tư tưởng Hồ Chí Minh luôn có sự nhất quán coi con người vừa là động lực, vừa là mục tiêu của cách mạng Việt Nam theo tinh thần cách mạng và khoa học
1.2.2 Phát huy nhân tố con người với tư cách là một thực thể thống nhất giữa phẩm chất và năng lực
Theo Hồ Chí Minh, cách mạng là sự nghiệp vinh quang, song đầy khó khăn, gian khổ Muốn thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng ấy, việc phát huy phẩm chất (đức) và năng lực (tài) của mỗi con người đóng vai trò quyết định Đánh giá cao vai trò của đức và tài, song, Người không tách rời hai yếu tố này mà đặt chúng trong mối quan hệ biện chứng, trong đó, đạo đức được coi là gốc, là nền tảng của người cách mạng và của con người nói chung
Đạo đức là cái gốc của người cách mạng, không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi nhẹ mặt tài, mà phải nhận thức đức và tài có mối quan hệ mật thiết với nhau Có đức phải có
Trang 5tài, nếu không có tài sẽ không mang lại lợi ích gì mà còn có hại cho dân Vì thế, Chủ tịch Hồ chí Mình đòi hỏi, mỗi cán bộ, đảng viên cùng với phẩm chất cách mạng cao quý còn phải có năng lực, vì có năng lực mới hoàn thành tốt được nhiệm vụ được giao Trong mối quan hệ giữa đức – tài, Người yêu cầu: Tài càng lớn thì đức phải càng cao, vì đức - tài là nhằm phục
vụ nhân dân và đưa cách mạng đến thắng lợi
Như vậy, trong sự phát triển xã hội, trong quá trình cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới – con người luôn đóng vai trò quyết định nhất Để đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội,
Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết phải có con người xã
hội chủ nghĩa” Con người xã hội chủ nghĩa theo tư tưởng Hồ Chí Minh đó là những con
người có lòng nồng nàn yêu nước, trong sáng về đạo đức và xuất sắc về tài năng; là những con người vừa hồng thắm, chuyên sâu
1.2.3 Biết dùng người để phát huy nhân tố con người
Trong toàn bộ cuộc đời hoạt động của mình, trên cương vị đứng đầu Đảng và Nhà nước,
Hồ Chí Minh đã xác lập những quan điểm cơ bản về dùng người, sử dụng và phát huy nhân tố con người với tinh thần thực sự cách mạng và khoa học Trong những năm đầu vô cùng khó khăn
của chính quyền cách mạng, Hồ Chí Minh viết bài "Tìm người tài đức" với những lời lẽ rất chân
thành, kính trọng để chiêu hiền đãi sĩ: "Kiến thiết cần phải có nhân tài Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức E vì Chính phủ nghe không đến, thấy không khắp, đến nỗi những bậc tài đức không thể xuất thân… Nay muốn sửa đổi điều đó, và trọng dụng những kẻ
hiền năng" [59, 451] Tư tưởng này được thể hiện đầy đủ nhất trong tác phẩm "Sửa đổi lối làm
việc", tháng 10-1947 Những bài viết ấy của Hồ Chí Minh đã đưa ra những tư tưởng, chỉ dẫn quý
báu trong việc dùng người để phát huy nhân tố con người
Hồ Chí Minh cho rằng trong tất cả các yêu tố thì “nhân hoà” là quan trọng nhất nên mục tiêu của dùng người là đạt tới "Nhân hòa" Dùng người thực chất là phát huy mọi tiềm năng của nhân tố con người nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp cho khối đại đoàn kết dân tộc giải quyết những nhiệm
vụ cách mạng Vì vậy, dùng người không bó hẹp ở phạm vi giai cấp, đoàn thể nhất định mà là tất
cả mọi người, cho nên ai có tài, ai có đức, ai có sức phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân thì ta đoàn kết với họ
Hồ Chí Minh chủ trương, phát huy nhân tố con người trên nền tảng dùng người tài Người tài hay nhân tài, theo Hồ Chí Minh, được hiểu theo nghĩa rộng rãi nhất: "tài to, tài nhỏ";
"người có danh vọng", "người có công tâm, trung thành, sốt sắng với quyền lợi của Tổ quốc, nhân dân", "người hiền tài", "hiền năng", "người hay, người giỏi"… nhưng có chung mục đích
"vì quyền lợi của Tổ quốc, lợi ích của đồng bào"
Theo Hồ Chí Minh, dùng người phải cho đúng và khéo Giữa đúng và khéo có quan hệ chặt chẽ với nhau, đúng mà không khéo thì kết quả sẽ bị hạn chế Khéo mà không đúng thì nhất định sẽ hỏng việc, có khi còn hỏng cả "người" Đúng là yêu cầu cơ bản đầu tiên, vì có đúng thì sẽ thể hiện khéo, chọn đúng người là thực chất của việc dùng người, là một khoa học Khéo phải đảm bảo dẫn đến cái đúng, cái khách quan, khéo là một nghệ thuật Hồ Chí Minh cũng chỉ dẫn chúng ta cách dùng người làm sao cho “đúng” và “khéo”…
Trong “dùng người”, Hồ Chí Minh còn nhấn mạnh đến việc sử dụng những nhân tài ngoài Đảng; khéo kết hợp cán bộ trẻ với cán bộ già
1.2.4 Những biện pháp để phát huy nhân tố con người
1.2.4.1 Nhóm giải pháp về nhận thức: Muốn phát huy nhân tố con người đòi hỏi
Đảng, Chính quyền, mỗi cá nhân nhân phải có nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò của nhân
tố con người, thấy được đó là nguồn lực quan trọng nhất; phải có lòng thương yêu vô hạn, sự cảm thông, sự tin tưởng tuyệt đối vào con người, ý chí đấu tranh để giải phóng con người Đây chính là hạt nhân trung tâm, xuất phát điểm đồng thời là mục đích, lý tưởng sống, chiến đấu của Hồ Chí Minh
Dạy về đức Nhân, Hồ Chí Minh nói: "Nhân là phải có lòng bác ái - yêu nước, yêu đồng bào, yêu bộ đội của mình" [60, 224] Giảng giải về chủ nghĩa Mác - Lênin, Hồ Chí
Trang 6Minh nhấn mạnh: "Hiểu chủ nghĩa Mác - Lênin là phải sống với nhau có tình có nghĩa” [67, 554]
Với một cách nhìn hết sức độ lượng, khoan dung, Hồ Chí Minh cho rằng: "Người đời không phải Thánh thần, không ai tránh khỏi khuyết điểm" [59, 166] "Người ở đời, ai cũng có chỗ tốt, chỗ xấu Ta phải khéo nâng cao chỗ tốt, khéo sửa chữa chỗ xấu cho họ" [60, 279] Sự thông cảm, tha thứ, độ lượng, khoan hồng, khoan dung… đã hình thành nên bao dung Hồ Chí Minh mà điều bao dung lớn nhất có thể là sự lắng nghe, tôn trọng chính kiến, tư tưởng người khác, không lấy ý kiến của mình, tư tưởng của mình để áp đặt, bác bỏ, loại trừ chính kiến, tư tưởng người khác Với lòng yêu nước, đức nhân từ và trí tuệ, bao dung, Hồ Chí Minh đã đặt nền tảng vững chắc cho sự đoàn kết dân tộc, sự thống nhất trong Đảng, khơi dậy và phát huy trong mỗi con người những mầm thiện, niềm tin, sức mạnh vươn lên trong sự nghiệp cách mạng
Hồ Chí Minh nhấn mạnh mối quan hệ giữa tin Dân với Dân tin và đòi hỏi phải thực hiện cho được đức tin đó Theo Hồ Chí Minh, mỗi cán bộ, Đảng viên "trước hết phải tin
tưởng lực lượng và trí tuệ của nhân dân là vô cùng vô tận" [64, 506], "Từ việc làm, lời nói đến cách ăn ở, phải thế nào cho dân tin, dân phục, dân yêu" [61, 189]
Như vậy, trong tư tưởng Hồ Chí Minh, thương yêu vô hạn, sự cảm thông, tin tưởng tuyết đối vào con người, quyết tâm phấn đấu giải phóng con người trở thành tiền đề đầu tiên
để có thể phát huy, huy động được nhân tố con người
1.2.4.2 Nhóm giải pháp về chính sách
Để phát huy nhân tố con người, Hồ Chí Minh cùng tập thể Đảng, Chính phủ đã hoạch định, xác lập một hệ thống chính sách tương đối hoàn chỉnh, phù hợp với thực tiễn, phục vụ cho lợi ích của dân tộc, tự do, ấm no, hạnh phúc của nhân dân, bao quát các lĩnh vực đời sống
xã hội, nhất là những vấn đề an sinh xã hội
Trong kinh tế, Hồ Chí Minh nhấn mạnh đến chính sách phát triển sản xuất và tiền
lương phải hợp lí; Thực hiện chính sách khoán để thúc đẩy phát triển kinh tế đem lại lợi ích
cho tập thể và người lao động
Về mặt xã hội, Hồ Chí Minh cho rằng: Thi hành một hệ thống chính sách xã hội
hướng tới con người là một biện pháp hết sức quan trọng để phát huy nhân tố con người Khi
đề cập đến những chính sách xã hội đúng đắn vì con người, Hồ Chí Minh luôn chú ý đến việc
giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi ích riêng và lợi ích chung
Nhằm hình thành những động cơ, mục đích đúng đắn cho con người trong hoạt động,
Hồ Chí Minh đề cao chính sách vận động, tuyên truyền, giáo dục
1.2.4.3 Nhóm giải pháp về thể chế, pháp chế
Hồ Chí Minh khẳng định: Để cho dân tin, dân theo, dân ủng hộ, để nhân tố con người được phát huy thì phải quan tâm đến đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, quyền lợi của con người phải được bảo vệ mà tiền đề quan trọng nhất để những quyền lợi ấy được bảo
vệ là ghi nhận trong Hiến pháp, pháp luật Ngay sau ngày giành độc lập, để bảo vệ nền độc lập của Tổ quốc, quyền lợi, hạnh phúc của nhân dân, Hồ Chí Minh đã nhanh chóng cùng tập thể Đảng, Chính phủ xây dựng và ban hành Hiến Pháp 1946 Bản Hiến pháp đã phản ánh và quy định chặt chẽ về quyền và nghĩa vụ của con người
Quan điểm pháp luật của Hồ Chí Minh cũng chính là tư duy pháp lý hiện đại, là tố chất và yêu cầu của pháp luật trong Nhà nước pháp quyền, một nền pháp luật nhân văn, tất cả
vì con người, vì một Tinh thần chi phối pháp luật: Nhân - Yêu Người (nhân giả ái nhân)
như Khổng Tử trước đây đã từng đề xướng Nhân tố con người xuyên suốt các quan điểm của
Hồ Chí Minh về pháp luật: Trong giáo dục, thuyết phục, cảm hóa, đấu tranh phòng ngừa vi phạm pháp luật; trong thực hành dân chủ, bình đẳng, tự do
Tư tưởng của Hồ Chí Minh về quyền con người còn bao hàm cả quyền làm người, sự thương yêu, quý trọng và bảo vệ con người, bảo đảm quyền được làm người với một chất
Trang 7lượng ngày càng cao của đời sống vật chất và tinh thần đó là đạo đức và chỉ có thể được thực hiện bằng một hệ thống pháp luật, trước hết và cao nhất là Hiến pháp…
Có hiến pháp, pháp luật nhưng điều cơ bản theo Hồ Chí Minh là phải hiện thực hoá nó qua những cuộc vận động, các phong trào cách mạng để đảm bảo quyền dân chủ, vì “thực hành dân chủ là cái chìa khóa vạn năng có thể giải quyết mọi khó khăn” [67, 249], “có phát huy dân chủ đến cao độ thì mới động viên được tất cả lực lượng của nhân dân đưa cách mạng tiến lên” [64, 592]
1.2.4.4 Nhóm giải pháp về giáo dục
Với quan điểm: Vô luận việc gì, đều do người làm ra, và từ nhỏ đến to, từ gần đến xa, đều thế cả nên Hồ Chí Minh rất chú trọng đến những giải pháp về giáo dục nhằm tạo tiền đề cho chiến lược phát huy nhân tố con người Hồ Chí Minh nhắc nhở: Đảng cần phải chăm lo giáo dục đạo đức cách mạng cho họ, đào tạo họ thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên” Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết
Khi xác định vị trí, ý nghĩa của chiến lược con người, Hồ Chí Minh nói: “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người” [64, 222]; “Muốn tiến lên chủ nghĩa xã hội thì phải có con người xã hội chủ nghĩa ” [64, 303] Con người xã hội chủ nghĩa có thể được hoàn thiện trước một bước so với hoàn cảnh kinh tế – xã hội, nhưng phải có điều kiện Một trong những điều kiện đó là việc coi trọng vai trò của giáo dục và đào tạo
Về mục tiêu của chiến lược giáo dục và đào tạo, Hồ Chí Minh nói: “Ta xây dựng con người cũng phải có ý định rõ ràng như nhà kiến trúc” [67, 551] Mục tiêu đó nhằm “đào tạo
ra những công dân tốt và cán bộ tốt Những người kế tục xứng đáng sự nghiệp cách mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta”; “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ Học để phụng sự Đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại Muốn đạt mục đích thì phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công, vô tư” [60, 648] Muốn đạt được mục tiêu chiến lược thì nội dung, phương pháp giáo dục phải toàn diện
Hồ Chí Minh coi việc xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên cần phải được quan tâm đến trước hết trong sự nghiệp trồng người bởi vì “Cán bộ là gốc của công viêc” Bênn cạnh
đó, Người quan tâm thường xuyên đến giáo dục và đào tạo thế hệ trẻ, người chủ tương lai của nước nhà Hồ Chí Minh nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… thanh niên muốn làm người chủ tương lai cho xứng đáng thì ngay hiện tại phải rèn luyện tinh thần và lực lượng của mình, phải ra làm việc để chuẩn bị cái tương lai đó” [60, 185]
Tóm lại, vấn đề phát huy nhân tố con người được Hồ Chí Minh đề cập với nội dung sâu sắc và toàn diện, đầy tính cách mạng và khoa học Không chỉ đánh giá cao vị trí, vai trò của nhân tố con người, thấy được tính tất yếu của vấn đề phát huy nhân tố con người, Hồ Chí Minh đã xây dựng được một hệ thống các giải pháp toàn diện, coi việc thực hiện đúng đắn các giải pháp đó là khâu then chốt, quyết định thành công trong bài toán phát huy nhân tố con người Đây chính là bí quyết để Hồ Chí Minh trở thành bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng”, vị lãnh tụ thiên tài, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam
CHƯƠNG 2: PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM HIỆN NAY DƯỚI
ÁNH SÁNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 2.1 Giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người trong bối cảnh hiện nay
Trong xu thế nền kinh tế mang tính toàn cầu, vận hành theo cơ chế thị trường, sự phát triển của mỗi quốc gia phụ thuộc vào nguồn nhân lực là chủ yếu, thay vì dựa vào nguồn tài nguyên, vốn vật chất như trước đây Sự thành công của mỗi quốc gia, của mỗi nền kinh tế đều liên quan chặt chẽ vào vấn đề con người và phát huy nhân tố con người Song con người
Trang 8phải được đầu tư phát triển, tạo lập kỹ năng, kiến thức, tay nghề, kinh nghiệm, năng lực sáng tạo để trở thành "nguồn vốn - vốn con người, vốn nhân lực"
Đối với nước ta, với tinh thần “phát huy nhân tố con người”, “làm cho sản xuất bung ra”, “giải phóng mọi năng lực sản xuất” trong nhân dân… được khởi xướng từ Đại hội VI (12.1986); đất nước đã từng bước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từ thiếu đói đến hoàn thành mục tiêu “ăn no, mặc ấm” và vươn tới những mục tiêu cao hơn
Thực tế đã chứng minh, tư tưởng Hồ Chí Minh về phát huy nhân tố con người thực sự
“là cái cẩm nang thần kỳ”, “kim chỉ nam” cho sự nghiệp cách mạng nước ta hiện nay Do vậy, để bảo đảm cho phát triển kinh tế thị trường theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa đòi hỏi Đảng ta phải kiên trì chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng và phát triển sáng tạo lý luận ấy vào công cuộc đổi mới của đất nước
2.2 Nền kinh tế thị trường và những yêu cầu đối với việc phát huy nhân tố con người
2.2.1 Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN
Trên cơ sở nhận thức đúng đắn và đầy đủ hơn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Đảng ta đã khẳng định: Kinh tế thị trường không đối lập với chủ nghĩa xã hội mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa
xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng; phát triển kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa là đường lối chiến lược nhất quán, là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt
thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế quá độ thuộc dạng đặc biệt: "tiến hoá - cải cách", khác biệt với các bước quá độ thông thường: "tiến hoá - tự nhiên" từng diễn ra trong lịch sử
Nội hàm của nền kinh tế thị trường này bao gồm các yếu tố cơ bản như:
- Hệ thống mục tiêu và động lực
- Chế độ sở hữu và thành phần kinh tế
- Cơ chế vận hành kinh tế
- Hình thức phân phối
- Chủ thể lãnh đạo, quản lý kinh tế thị trường
Chính tính chất, đặc trưng cơ bản này chi phối và quyết định phương tiện, công cụ, động lực của nền kinh tế và con đường đạt tới mục tiêu, là sử dụng kinh tế thị trường, nâng cao hiệu lực và hiệu quả điều tiết của Nhà nước xã hội chủ nghĩa, phát triển khoa học và công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, mở cửa và hội nhập nhằm thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển rút ngắn để trong khoảng thời gian không dài có thể khắc phục tình trạng lạc hậu, đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại
2.2.2 Yêu cầu với việc phát huy nhân tố con người
Nền kinh tế thị trường, đặc biệt là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập tổ chức WTO đặt ra những yêu cầu không nhỏ đối với vấn đề phát huy nhân tố con người, phát triển nguồn nhân lực ở nước ta Cụ thể là:
- Phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN là sự nghiệp của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế… Vì thế, mấu chốt thành công của sự nghiệp ấy là phải phát huy được nhân tố con người, huy động được sức mạnh của toàn dân, của mọi thành phần kinh tế
- Kinh tế thị trường định hướng XHCN yêu cầu nhân tố con người phải thật sự là nhân tố trung tâm, đóng vai trò quyết định, nhưng đó phải là con người được đào tạo
- Trong giai đoạn hiện nay, khi mà kinh tế thị trường thế giới đã phát triển ở trình độ cao thì việc đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao càng phải được chú trọng
- Tự do hoá thương mại đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh, trong đó đầu tư vào nguồn nhân lực là khâu vô cùng quan trọng để đáp ứng yêu cầu mới, nâng cao sức cạnh tranh của mình
Trang 9- Do vốn trong khu vực FDI tăng lên, sản xuất kinh doanh khu vực này sẽ mở rộng, trở thành khu vực thu hút nhiều lao động chuyên môn, kỹ thuật điều đó có tác động thúc đẩy phát triển thị trường đào tạo, dạy nghề và dịch vụ cung ứng lao động chuyên môn, đáp ứng cầu lao động kỹ thuật ngày càng tăng của khu vực FDI
- Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và Việt Nam đã gia nhập WTO, khả năng di chuyển của lao động Việt Nam trên thị trường lao động quốc tế trở nên dễ dàng hơn, do đó có tác động thúc đẩy phát triển xuất khẩu lao động, nhất là lao động chuyên môn, kỹ thuật sẽ có tác động tích cực đối với kích thích đào tạo nhân lực trên thị trường lao động; các yêu cầu khắt khe về tiêu chuẩn lao động của thị trường lao động các nước phát triển là động lực mạnh
mẽ của phát triển nguồn nhân lực nước ta
- Trong thời đại văn minh thông tin, muốn nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh
tế, yếu tố quyết định khả năng cạnh tranh lại chính là con người Trong cạnh tranh, mọi sự gian dối tầm thường sẽ bộc lộ, thất bại và cuối cùng, thắng lợi chủ yếu phụ thuộc vào “tâm và tầm” của chủ thể cạnh tranh Ngoài ra, thắng lợi trong “cuộc chơi” này còn phụ thuộc vào công nghệ mới, năng lực quản lý, điều hành có hiệu quả… Xã hội tồn tại, phát triển đâu phải bằng lừa dối, đầu cơ, hàng giả , mà bằng trình độ nhân văn, sáng tạo của con người Đây là vấn đề có tính quy luật Có thể nói, trong thế giới ngày nay, ai có “tâm và tầm”, ai tạo ra công nghệ mới, năng lực quản lý mới trên cơ sở phát huy tối đa khả năng sáng tạo của con người thì người đó thắng
2.3 Thực trạng phát huy nhân tố con người trong quá trình đổi mới ở nước ta
2.3.1 Những thành tựu
Tổng kết thực tiễn, sau hơn 20 năm đổi mới và nghiên cứu lý luận, Việt Nam đã đi đến kết luận rằng: Con người và nguồn nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển của đất nước Cùng với những thành tựu to lớn trong phát triển kinh tế – xã hội, nhất là tốc độ tăng trưởng kinh tế được duy trì liên tục ở mức cao và ổn định (từ 7% - 7,5%/năm, năm 2006 đạt 8,2%, năm 2007 là 8,5%), Việt Nam luôn quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực, đầu tư mạnh vào "vốn con người" và đạt được kết quả quan trọng, tạo cho nguồn nhân lực Việt Nam
có những lợi thế rất cơ bản:
- Việt Nam có quy mô dân số lớn và tháp dân số trẻ, được thế giới đánh giá là đang ở thời kỳ có “tháp dân số vàng”
- Trình độ dân trí tương đối cao Bản chất con người Việt Nam cần cù, yêu lao động, khéo tay và sáng tạo
- Tỷ lệ lao động qua đào tạo đang có xu hướng tăng lên, chất lượng lao động ngày một nâng cao, từng bước đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế, của thị trường lao động
- Mọi người đều được tự do và có cơ hội trong tạo việc làm và tự tạo việc làm, tự do hành nghề, tự do thuê mướn lao động theo quy định của pháp luật; giá nhân công vẫn ở trong thời kỳ rẻ, hấp dẫn các nhà đầu tư trong nước và quốc tế
Có thể nói, trình độ dân trí, vốn tri thức và tay nghề của nguồn nhân lực Việt Nam ngày một nâng cao và được phát huy là chìa khoá tiến vào khoa học, kỹ thuật và công nghệ, góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế trong những năm vừa qua, tạo bước phát triển đầy ấn tượng của đất nước trong thời kỳ đổi mới, là một trong những điều kiện cơ bản để Việt Nam hội nhập thành công vào nền kinh tế thế giới
Sau hơn 20 năm đổi mới, chất lượng sống cộng đồng được nâng cao Sự nghiệp phát triển con người đã đạt được những thành tựu to lớn thể hiện rõ nhất là chỉ số phát triển con người (HDI) Việt Nam những năm gần đây Đến năm 2009, lao động qua đào tạo đạt gần 40% Chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện đáng kể, trong giai đoạn 1985 - 2007, mỗi năm HDI của VN tăng thêm 1,16% (từ 0,561 lên 0,725), bất kể có lúc kinh tế tăng trưởng chậm lại Đến năm 2009, về chỉ số phát triển con người (HDI), Việt Nam xếp thứ 116/182 nước
Trang 10Ở nước ta đã hình thành định hướng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện với nội hàm rất rộng: Xây dựng con người có ý thức làm chủ, ý thức trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khỏe và lao động giỏi; sống có văn hóa và tình nghĩa, giàu lòng yêu nước
và tinh thần quốc tế chân chính; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng, trí tuệ, đạo đức, thể chất, năng lực sáng tạo, có ý thức cộng đồng, lòng nhân ái, khoan dung, tôn trọng nghĩa tình, lối sống có văn hóa, quan hệ hài hòa trong gia đình, cộng đồng và xã hội Văn hóa trở thành nhân tố thúc đẩy con người tự hoàn thiện nhân cách, kế thừa truyền thống cách mạng của dân tộc, phát huy tinh thần yêu nước, ý chí tự lực, tự cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Những nét đặc thù, phổ biến; những nét tích cực, thế mạnh của người Việt Nam trước đòi hỏi mới của xã hội hiện đại là những dấu hiện khả quan cho nền kinh tế Trong đó đáng chú ý là:
Yêu nước, cần cù, hiếu học, đề cao giáo dục, tính cộng đồng, trách nhiệm cá nhân đối với cộng đồng cao Tôn trọng quan hệ gia đình, huyết tộc, thông minh, tình nghĩa, vị tha, thích nghi, nắm bắt cái mới nhanh nhạy, ghét cực đoan…
Về khả năng của người Việt trước nhu cầu của sự phát triển: Khả năng tiếp thu khoa học - kỹ thuật hiện đại Khả năng đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa…
Đứng trước những thách thức mới của sự phát triển, những thách thức đặt ra trong thời đại toàn cầu hóa, người Việt có đặc thù xã hội, đặc thù tâm lý, đặc thù văn hóa (và có thể
có những nét đặc thù sinh học) riêng Đó là "những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước", như đã được Đảng ta khẳng định
Đương nhiên, cái riêng, cái đặc thù ở đây không hiểu theo nghĩa tuyệt đối "Riêng" không có nghĩa là không hề tồn tại ở các dân tộc khác, mà "riêng" chỉ với nghĩa là khác về vị trí trong bảng giá trị so với các dân tộc khác
Những thành tựu trên bắt nguồn từ một số nguyên nhân sau đây:
Thứ nhất, trong mọi hoạt động của mình, Đảng ta đã xuất phát từ bài học “lấy dân
làm gốc”, phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động…
Thứ hai, nhân tố con người được đặt vào vị trí trung tâm của sự phát triển, nhân tố
con người được coi vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển
Thứ ba, ban hành được hệ thống các chính sách tương đối đồng bộ, phù hợp với thực
tiễn đổi mới, phù hợp với nguyện vọng của nhân dân
Thứ tư, những chính sách xã hội đúng đắn góp phần đặc biệt quan trọng vào thành
công phát huy nhân tố con người trong thời gian qua
Thứ năm, cải cách, đổi mới, đẩy mạnh phát triển giáo dục, coi giáo dục là quốc sách
hàng đầu thật sự đã phát huy tác dụng trong việc đào tạo ra những con người vừa hồng, vừa chuyên - tiền đề để phát huy nhân tố con người trong sự nghiệp đổi mới
Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam đã thực sự làm nên những thay đổi mang tính cách mạng về kinh tế - xã hội Đất nước, con người Việt Nam thay đổi hoàn toàn so với trước đổi mới Thành công của sự nghiệp đổi mới là kết quả phấn đấu, cố gắng không ngừng của toàn Đảng, toàn dân ta Khẩu hiệu “Đại đoàn kết dân tộc, phát huy nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, thực hiện thành công sự nghiệp đổi mới” vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng chủ văn minh thực sự phản ánh được tinh thần đó
2.3.2 Những hạn chế
Trước đổi mới, với lối suy nghĩ chủ quan, phiến diện, chúng ta đã coi nhẹ vấn đề phát huy nhân tố con người Khi nói đến con người, chúng ta chỉ nhấn mạnh về mặt dân số, nguồn lao động, thành phần giai cấp , mà chưa chú ý đầy đủ đến cá nhân, nhân cách, trình độ, năng lực của họ Với những quan niệm như vậy, trong hoạt động sản xuất, chúng ta chỉ quan tâm đầu tư phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật của sản xuất, còn nhân tố con người được xem như
là yếu tố lao động đương nhiên, có sẵn trong quá trình sản xuất, đòi hỏi phải "khai thác" triệt