Sử dụng phương pháp chính là điều tra viết tác giả Đặng Thị Lan (2015) đã chỉ ra những biểu hiện KKTL trong hoạt động học ngoại ngữ của SV dân tộc thiểu số năm thứ nhất ở Trường ĐH Ng[r]
Trang 1MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ KHÓ KHĂN TÂM LÍ TRONG HỌC TẬP NGHỀ NGHIỆP
CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO ĐẲNG, ĐẠI HỌC
Bùi Đức Minh - Ban Tổ Chức tỉnh uỷ Sơn La
Ngày nhận bài: 26/05/2018; ngày sửa chữa: 15/06/2018; ngày duyệt đăng: 18/06/2018
Abstract: The paper mentions some domestic and international studies on psychological
difficulties in apprenticeship of students at colleges and universities These studies have been considered from many different perspectives, subjects and fields in order to determine the manifestation and causes of psychological difficulties in apprenticeship of students as well as the effect of these difficulties on the learning effectiveness of students Also, the article proposes some measures to minimize these psychological difficulties in apprenticeship of students
Keywords: Difficulties, psychological difficulties, apprenticeship, students
1 Mở đầu
Hoạt động học tập ở trường cao đẳng (CĐ), đại học
(ĐH) là hoạt động học tập nghề nghiệp; nội dung học tập
là hệ thống tri thức, kĩ năng liên quan đến các khoa học
cơ bản, khoa học cơ sở của chuyên ngành và chuyên
ngành gắn với nghề nghiệp tương lai của người học Việc
nắm vững nội dung học tập là điều kiện quan trọng giúp
sinh viên (SV) trở thành những “chuyên gia” trong một
lĩnh vực nghề nghiệp Đào tạo nghề nghiệp là hoạt động
dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kĩ năng và thái độ
nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được
việc làm hay tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học
hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp (Điều 3, khoản 2,
Luật Giáo dục nghề nghiệp, 2014) [1]
Vì vậy, bước vào môi trường CĐ, ĐH là bước ngoặt
quan trọng đối với SV, là cơ hội để SV tích lũy tri thức
và kĩ năng nghề nghiệp, tạo điều kiện cho họ có được
một nghề nghiệp ổn định sau này, từ đó có được một cuộc
sống tốt đẹp hơn Tuy nhiên, đó cũng là một quá trình
học tập mà SV phải đối mặt với nhiều khó khăn tâm lí
(KKTL); và bên cạnh những cố gắng nỗ lực của bản thân,
SV cần nhận được những biện pháp hỗ trợ phù hợp để có
thể vượt qua những khó khăn đó Vấn đề KKTL trong
học tập của SV đã được nhiều công trình nghiên cứu ở
nước ngoài và Việt Nam đề cập đến dưới nhiều góc độ
khác nhau Bài viết đề cập một số nghiên cứu về KKTL
trong học nghề của SV các trường CĐ, ĐH
2 Nội dung nghiên cứu
2.1 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chính được sử dụng là
nghiên cứu tài liệu để phân tích, tổng hợp và khái quát
các xu hướng nghiên cứu về KKTL trong học nghề của
SV các trường CĐ, ĐH
2.2 Những nghiên cứu ở nước ngoài về khó khăn tâm
lí trong hoạt động học tập nghề nghiệp của sinh viên các trường cao đẳng, đại học
Vấn đề KKTL trong học nghề của SV các trường CĐ,
ĐH đã được các tác giả nước ngoài xem xét dưới các góc
độ khác nhau, với nhiều khách thể và lĩnh vực khác nhau nhằm xác định biểu hiện, nguyên nhân gây ra những KKTL trong học nghề, ảnh hưởng của những KKTL đó đến hiệu quả học tập của SV và một số biện pháp hỗ trợ nhằm giảm thiểu những KKTL này ở SV
2.2.1 Những nghiên cứu về các biểu hiện khó khăn tâm lí trong học nghề của sinh viên các trường cao đẳng, đại học
Có thể khái quát thành 4 biểu hiện cụ thể:
- Thứ nhất, là những xúc cảm tiêu cực nảy sinh trong quá trình học tập tại các trường CĐ và ĐH: bao gồm
chán nản, lo lắng, căng thẳng, thất vọng, buồn phiền, mệt mỏi, cô độc… Khi nghiên cứu một nhóm 351 SV ở Anh, Andrew và Wilding (2004) đã phát hiện ra 40% SV có vấn đề tâm lí được đặc trưng bởi sự lo lắng và căng thẳng [2], kết quả nghiên cứu của Sarason I.G và Sarason B.R (2002) cũng cho thấy, nhiều SV khi vào đại học vì không thể học tốt nên dẫn đến căng thẳng, từ đó họ liên tục cảm thấy thất vọng và tuyệt vọng Họ nhận thấy những điều tiêu cực và tự coi mình là người thất bại [3] Tác giả Palmer và Puri (2006) đã chỉ ra nhiều nhóm khó khăn mà
SV thường gặp phải khi học ở trường ĐH và khó khăn trong học tập là một khó khăn lớn Đối với khó khăn trong học tập, SV có các biểu hiện như lo lắng ngành học không phù hợp với mong ước của bản thân, các em không biết nên tiếp tục học hay chuyển nghề, chuyển trường [4]
- Thứ hai, là vấn đề thích nghi với môi trường học tập trong trường CĐ, ĐH Vấn đề tâm lí này thường xảy ra
Trang 2ở đối tượng SV năm thứ nhất Theo Sade và Coll (2003),
SV khi mới bước vào trường ĐH, ngay từ học kì đầu tiên
đã phải dành thời gian điều chỉnh để phù hợp với môi
trường học tập mới Đây được coi là vấn đề chính trong
bối cảnh giáo dục đặc thù bởi nhiều SV đến trường ĐH
từ những môi trường khác nhau và họ phải sống trong
môi trường ĐH với nền văn hóa dễ gây sốc Vì vậy, nền
tảng và sự chuẩn bị của SV đóng vai trò quan trọng đáng
kể [5] Tổng kết của Palmer và Puri (2006), các nhóm
khó khăn lớn mà SV thường gặp phải khi học ở trường
ĐH, đó là: 1) Khó khăn khi rời mái ấm gia đình và bắt
đầu cuộc sống ở trường ĐH, xa gia đình, người thân và
bạn bè; 2) Khó khăn khi sống ở môi trường mới, cùng
với những người khác; 3) Khó khăn trong việc đảm bảo
ăn uống có lợi cho sức khỏe với điều kiện kinh phí hạn
hẹp; 4) Khó khăn liên quan đến học tập và sự mong chờ
của cá nhân đối với khóa học; 5) Khó khăn liên quan đến
quan hệ xã hội; 6) Khó khăn về kinh tế… [4]
- Thứ ba, là những biểu hiện tâm lí nghiêm trọng và
một số biểu hiện có liên quan đến rối nhiễu và rối loạn
tâm lí, biểu hiện thường gặp là tự gây tổn thương cho cơ
thể, rối loạn ăn uống, sử dụng các chất kích thích, tấn
công tình dục ở trường học, lạm dụng tình dục sớm, tự
tử… Theo kết quả nghiên cứu tại 274 trung tâm tham vấn
(Gallagher, Sysko và Zhang, 2001) [6], có 85% trung
tâm báo cáo rằng, có sự gia tăng các vấn đề tâm lí nghiêm
trọng ở đối tượng SV trong hơn 5 năm qua, bao gồm thất
bại trong học tập (71%), tự sát, tự gây tổn thương cho cơ
thể (51%), rối loạn ăn uống (38%), các vấn đề về chất
cồn (45%), sử dụng các chất kích thích khác (49%), tấn
công tình dục ở trường học (33%) và các vấn đề liên quan
tới sự lạm dụng tình dục sớm (34%) Theo đánh giá, có
khoảng 16% số SV gặp các vấn đề tâm lí nghiêm trọng
(Gallagher, Gill và Sysko, 2000) [7] Theo một báo cáo
khảo sát quốc gia của Mĩ, 28% SV ĐH năm thứ nhất
thường xuyên cảm thấy bị áp lực và 8% cảm thấy bị suy
nhược (HERI, UCLA, 2000) [8]
- Thứ tư, là những khó khăn trong việc tự nhận thức,
nhận thức và thái độ đối với học tập
Nghiên cứu về các khó khăn trong quá trình học tập của
SV ở độ tuổi trên 25 chưa tốt nghiệp ĐH, ngoài hai khó khăn
về tổ chức và khó khăn về hoàn cảnh, Cross (1978, 1986)
còn phát hiện thấy một khó khăn chính nữa ở những SV này
là KKTL xuất phát từ thái độ, sự tự nhận thức về chính mình
trong học tập [9], [10] Darkenwald và Merriam (1982)
đánh giá rằng, các vấn đề KKTL có xu hướng liên quan chặt
chẽ tới hoạt động giáo dục và học tập của người học, đặc
biệt là tiềm năng của người học [11] Merriam (1984) nhấn
mạnh, KKTL được coi là rào cản mạnh hơn các khó khăn
về tổ chức hay hoàn cảnh vì KKTL phản ánh những trải
nghiệm tiêu cực đối với môi trường học tập [12]
Như vậy, nhiều tác giả nước ngoài đã quan tâm nghiên cứu những biểu hiện KKTL trong hoạt động học tập của
SV Các nhà nghiên cứu này đã chỉ ra nhiều biểu hiện KKTL khác nhau nảy sinh ở SV trong quá trình học tập ở
CĐ cũng như ĐH Tuy nhiên các biểu hiện mới chỉ được tập trung xem xét ở cấp độ xúc cảm (lo lắng, căng thẳng, mệt mỏi,…), các biểu hiện ở cấp độ nhận thức và hành vi trong đời sống tâm lí của SV còn ít được nghiên cứu
2.2.2 Những nghiên cứu về nguyên nhân gây ra khó khăn tâm lí trong học nghề của sinh viên các trường cao đẳng, đại học
Khi nghiên cứu về KKTL trong học tập của SV các trường CĐ, ĐH, các tác giả nước ngoài đã chỉ ra nhiều nguyên nhân dẫn đến KKTL trong hoạt động học tập của
SV Có các nguyên nhân khách quan từ bên ngoài và cả những nguyên nhân chủ quan xuất phát từ chính các em Trước hết là yếu tố văn hóa-xã hội như hoàn cảnh gia đình, cha mẹ thiếu kĩ năng, khả năng thích nghi kém, bạo lực, sử dụng chất kích thích, cồn và quan hệ tình dục sớm, các mối liên kết cá nhân lỏng lẻo… có thể dẫn đến tình trạng gia tăng các vấn đề tâm lí (Gallagher, Gill và Sysko, 2000) [7]
Tiếp đến là kết quả học tập cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt về mức độ KKTL trong học tập của SV Nghiên cứu sự khác nhau về các vấn đề tâm lí của 120 SV trường ĐH Quốc tế Hồi giáo
có học lực giỏi và yếu, Safree, Yasin, Dzulkifli nhận định rằng, thành tích học tập kém là một trong những nguyên nhân gây ra các vấn đề tâm lí ở SV Kết quả nghiên cứu cho thấy, những SV có học lực kém thường có mức độ
lo âu, căng thẳng cao hơn những SV có học lực giỏi [13] Ngoài ra, là vấn đề thiếu hụt các kĩ năng Nghiên cứu
sự thiếu hụt kĩ năng xã hội - một yếu tố làm gia tăng các vấn đề tâm lí trên 118 SV ở Mĩ đã cho phép các tác giả Segrin, Chris và Flora, Jeanne (2000) đưa ra nhận định rằng, sự thiếu hụt các kĩ năng xã hội chính là một trong những nguyên nhân dẫn đến những KKTL ở SV Những
SV có kĩ năng xã hội thấp có KKTL cao hơn các SV có
kĩ năng xã hội tốt [14]
Từ những nghiên cứu trên, có thể thấy rằng, các tác giả nước ngoài đã chỉ ra khá nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến KKTL trong học tập của SV, trong đó tập trung chủ yếu vào các nguyên nhân chủ yếu như chuyển cấp học, môi trường học tập thay đổi, sự không chuẩn bị sẵn sàng về mặt tâm lí, sự chưa trưởng thành về mặt nhân cách của SV, động cơ, thái độ học tập, thiếu sự hỗ trợ kịp thời của nhà trường, giảng viên… Tuy nhiên, KKTL của
SV trong hoạt động học tập, đặc biệt là của SV dân tộc ít người trong học nghề còn bắt nguồn từ niềm tin vào khả năng học tập của chính bản thân SV, khả năng sử dụng
Trang 3ngôn ngữ phổ thông, tính tích cực và chủ động trong học
nghề, điều kiện và phương tiện thực hành nghề, năng lực
và phương pháp giảng dạy hướng dẫn thực hành nghề
của giảng viên, hỗ trợ từ gia đình… Những yếu tố này
còn ít được các tác giả nước ngoài đề cập đến
2.2.3 Những nghiên cứu về ảnh hưởng của khó khăn tâm
lí trong học nghề đến hiệu quả học tập của sinh viên các
trường cao đẳng, đại học
KKTL của SV cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực tới
hiệu quả học tập, tỉ lệ lưu ban và tốt nghiệp của họ
Brackney và Karabenick (1995) phát hiện ra rằng, mức
độ KKTL cao ở SV liên quan chặt chẽ đến hiệu quả học
tập SV có mức độ KKTL cao thì cảm giác lo lắng về thi
cử gia tăng, khả năng tự học, hiệu quả quản lí thời gian
và sử dụng các nguồn lực trong học tập thấp Họ cũng
thiếu kiên trì hơn khi phải đối mặt với khó khăn cũng như
sử dụng các chiến lược học tập hiệu quả hay tìm kiếm sự
hỗ trợ về học tập [15]
Kết quả nghiên cứu của Goodwin (2006) trên nhóm
SV dân tộc ít người cho thấy, với nhiều SV, khó khăn
được nhìn nhận như là thử thách trong cuộc đời, giúp SV
trưởng thành hơn khi cố gắng vượt qua Tuy nhiên, với
không ít SV, khó khăn gặp phải trong thời gian học ĐH
đã để lại dấu ấn nặng nề trong tâm trí, gây căng thẳng,
giảm chất lượng cuộc sống, ảnh hưởng tiêu cực đến kết
quả học tập và tương lai nghề nghiệp sau này [16]
Như vậy, những áp lực từ hoạt động học tập gây ra
những KKTL cho SV, ngược lại, những căng thẳng, lo
lắng, buồn phiền, mệt mỏi… (những KKTL) làm cho SV
cảm thấy suy kiệt, thất vọng và tuyệt vọng, từ đó làm ảnh
hưởng nghiêm trọng đến hoạt động học tập của SV, làm
giảm hiệu quả học tập và ảnh hưởng tiêu cực đến tương
lai nghề nghiệp của các em sau này Có thể khẳng định
rằng, các cá nhân có mức độ KKTL cao thường thiếu các
kĩ năng xử lí thông tin - yếu tố có tính quyết định tới hiệu
quả học tập và thành công của họ
2.2.4 Những nghiên cứu về biện pháp hỗ trợ để giảm
thiểu khó khăn tâm lí trong học nghề của sinh viên các
trường cao đẳng, đại học
Trên cơ sở làm rõ những nguyên nhân dẫn đến KKTL
trong học tập của SV, các tác giả nước ngoài cũng đã đề
xuất một số biện pháp góp phần giảm thiểu KKTL trong
học tập của SV
Để giảm thiểu các khó khăn, rào cản trong quá trình
học tập của người học, theo các nhà tâm lí học, sự tham
vấn tâm lí trong nhà trường đóng vai trò đặc biệt quan
trọng (Caplan, 1970; Friend và Cook, 1996) [17], [18]
Hoạt động tham vấn tập trung vào các khía cạnh tâm lí
của hành vi con người, quá trình can thiệp và các kết quả
Mặc dù sự tham vấn chủ yếu nhằm giải quyết các vấn đề
cá nhân của người học, song trong nhiều trường hợp, nó liên quan tới sự cộng tác của tập thể nhằm cải thiện môi trường lớp học, trường học và thúc đẩy sự phát triển tâm
lí tích cực của tất cả các thành viên
Tại các trường ĐH, CĐ, bộ phận tham vấn tâm lí có nhiệm vụ hỗ trợ SV nhằm xác định và đạt được các mục tiêu cá nhân, học tập và nghề nghiệp thông qua cung cấp
tư vấn về việc phát triển, ngăn chặn và phòng ngừa Theo truyền thống, có sự nhấn mạnh vào việc tư vấn phát triển
và phòng ngừa Tuy nhiên, vai trò và chức năng của bộ phận tham vấn thuộc các trường ĐH và CĐ tiếp tục thay đổi để đáp ứng với một loạt các yếu tố xã hội, chính trị và kinh tế (CAS, 1999) [19] Theo Archer và Cooper (1998), việc cung cấp dịch vụ tham vấn cho SV về sự đa văn hóa
và giới tính, nhu cầu phát triển và nghề nghiệp, sự thay đổi cuộc sống, sự căng thẳng, bạo lực và các vấn đề tâm lí nghiêm trọng khác là một trong những thách thức lớn của
bộ phận tham vấn thuộc các trường ĐH, CĐ [15] Như vậy, trên cơ sở làm rõ những nguyên nhân dẫn đến KKTL trong học tập của SV, các tác giả nước ngoài nhận thấy rằng, cần phải có các biện pháp can thiệp phù hợp và hữu hiệu mới có thể hạn chế được những KKTL này ở các em Theo các nhà tâm lí học nước ngoài, để giảm thiểu các KKTL trong quá trình học tập của người học, sự tham vấn tâm lí trong nhà trường đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc hỗ trợ SV xác định và đạt được các mục tiêu cá nhân, học tập và nghề nghiệp thông qua cung cấp dịch vụ tham vấn ngăn chặn và phòng ngừa KKTL
Tóm lại, dưới góc độ hoạt động học tập, nghiên cứu của các tác giả nước ngoài thường đi sâu vào lĩnh vực tâm lí của người học cũng như sự thay đổi môi trường học tập từ cấp học này sang cấp học khác Các nghiên cứu tập trung vào những biểu hiện KKTL, nguyên nhân gây ra KKTL, ảnh hưởng của KKTL đến hiệu quả học tập của SV nói chung, SV năm thứ nhất nói riêng và bao quát đến nhóm đối tượng SV lớn tuổi và một số nhóm
SV yếu thế Đặc biệt, các tác giả nước ngoài đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động tham vấn tâm lí trong nhà trường và vai trò cần thiết của đội ngũ các nhà tâm lí học trong việc hỗ trợ, tham vấn học đường nhằm cải thiện môi trường lớp học, trường học, thúc đẩy sự phát triển tâm lí tích cực của SV; từ đó giảm thiểu và hạn
chế KKTL ở các em trong quá trình học tập
2.3 Những nghiên cứu ở trong nước về khó khăn tâm
lí trong hoạt động học tập nghề nghiệp của sinh viên các trường cao đẳng, đại học
Ở Việt Nam, KKTL trong hoạt động học tập nghề nghiệp của SV các trường CĐ và ĐH cũng đã được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, tập trung vào ba hướng chính sau:
Trang 42.3.1 Những nghiên cứu về các biểu hiện khó khăn tâm
lí trong học nghề của sinh viên trường cao đẳng, đại học
- Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập của SV
năm thứ nhất: nhiều tác giả trong nước đã chỉ ra rằng, đa
số SV năm thứ nhất đều gặp KKTL trong học tập KKTL
của SV năm thứ nhất thường biểu hiện trên ba mặt nhận
thức, thái độ và hành vi trong các khâu của hoạt động học
tập Kết quả nghiên cứu của đa số các tác giả theo hướng
này đều chỉ ra rằng, SV năm thứ nhất gặp khó khăn nhiều
nhất ở mặt hành vi, còn nhận thức và thái độ/xúc cảm đối
với hoạt động học tập thì có thể thay đổi vị trí cho nhau
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Xuân Thức và Đào
Thị Lan Hương (2007) cho thấy, các biểu hiện KKTL
trong hoạt động học tập của những SV này thể hiện chủ
yếu ở ba mặt nhận thức, xúc cảm và kĩ năng học tập [20]
Sử dụng phương pháp chính là điều tra viết tác giả Đặng
Thị Lan (2015) đã chỉ ra những biểu hiện KKTL trong hoạt
động học ngoại ngữ của SV dân tộc thiểu số năm thứ nhất
ở Trường ĐH Ngoại ngữ - ĐH Quốc gia Hà Nội Kết quả
nghiên cứu thực tiễn cho thấy, thời gian đầu học ngoại ngữ
ở Trường ĐH Ngoại ngữ, SV dân tộc thiểu số năm thứ nhất
còn gặp khá nhiều khó khăn trong hoạt động học ngoại ngữ
cả về nhận thức, thái độ và kĩ năng, trong đó các em gặp khó
khăn nhiều hơn về mặt kĩ năng [21]
Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động nghiên cứu
khoa học của SV trường ĐH Trà Vinh, Phạm Văn Tuân
(2013) cũng đã nhận định rằng, SV hiện nay đang gặp
phải nhiều KKTL khi tham gia hoạt động nghiên cứu
khoa học, chính những khó khăn này đang cản trở tính
tích cực nghiên cứu khoa học của SV [22]
Bên cạnh những biểu hiện KKTL vừa phân tích ở trên,
khi nghiên cứu về những biểu hiện KKTL của SV trong
hoạt động học tập một số ít tác giả trong nước còn đưa ra
các biểu hiện KKTL khác trong các nghiên cứu cụ thể của
mình Chẳng hạn, 1) Các biểu hiện KKTL cụ thể trong các
khâu của quá trình học tập; 2) Các biểu hiện KKTL trong
hoạt động học tập và trong các lĩnh vực khác của cuộc
sống; 3) Các biểu hiện KKTL trong hoạt động học tập theo
hệ thống tín chỉ; 4) Các biểu hiện KKTL trong hoạt động
học tập ở những nhóm SV yếu thế
- Hướng nghiên cứu về những biểu hiện KKTL trong
hoạt động học tập và trong các lĩnh vực khác của cuộc
sống có tác giả Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương
(2007), nghiên cứu trên 315 SV về thực trạng KKTL của
SV Học viện Cảnh sát Nhân dân sát, cho thấy: hầu hết
SV đôi khi đều gặp tất cả các KKTL trên tất cả các lĩnh
vực của cuộc sống Ngoài những khó khăn mang tính đặc
trưng của lứa tuổi như “Tình bạn khác giới, tình yêu”;
“Giao tiếp, ứng xử trong cuộc sống”…, SV Học viện
Cảnh sát Nhân dân còn có những khó khăn mang tính
đặc thù liên quan đến những quy định của ngành, của trường như điều kiện sinh hoạt, “Quy định của trường, của ngành”… [23]
Nghiên cứu về KKTL trong hoạt động học tập của 82
SV hệ cử tuyển Trường ĐH Sư phạm, ĐH Thái Nguyên, Nguyễn Thị Út Sáu (2009) đã chỉ ra một số KKTL mà
SV gặp phải trong học tập theo hệ thống tín chỉ như: phương pháp học tập của SV còn thiếu tính chủ động, sáng tạo, chưa có kĩ năng tự học, tự nghiên cứu; SV chưa
có thói quen làm việc qua mạng như đăng kí thông tin qua mạng, còn có tâm lí ngại liên hệ trực tiếp với phòng đào tạo, với cán bộ phụ trách học tập; trong quá trình học tập, SV bị căng thẳng tâm lí, lo sợ vì không được thi lại
và có nguy cơ bị đào thải khỏi trường [24]
- Hướng nghiên cứu về các biểu hiện KKTL trong học tập ở những nhóm SV yếu thế có các tác giả Nguyễn Thị
Hoài (2007), khi chuyển từ bậc phổ thông lên ĐH, CĐ,
SV gặp không ít khó khăn do phải thay đổi hoạt động học tập cho phù hợp với môi trường học tập mới Đối với nhóm đối tượng SV dân tộc thiểu số, điều đó càng khó khăn hơn bởi học lực của họ thường thấp, năng lực sử dụng ngôn ngữ phổ thông hạn chế, khó hòa nhập với phương pháp học tập ở ĐH, có tâm lí mặc cảm tự ti…
Do đó, theo tác giả này, SV dân tộc thiểu số cần trải qua quá trình thích ứng, tham gia vào hoạt động học tập ở trường ĐH nhằm lĩnh hội được những yêu cầu của các hành động học tập mới và trong quá trình đó, SV sẽ chủ động tích cực vượt qua những khó khăn, trở ngại tâm lí của bản thân để tiếp nhận những tri thức, kĩ năng, kĩ xảo mới, hình thành các hành động học tập phù hợp giúp cho hoạt động học tập đạt hiệu quả cao [25]
Cũng đồng quan điểm trên, Trần Thị Tú Anh (2010) cho rằng, đối với nhóm SV thiệt thòi (bao gồm SV đến
từ vùng sâu, vùng xa, miền núi có điều kiện KT-XH kém thuận lợi, SV là người dân tộc thiểu số, SV khuyết tật), những khó khăn trong học tập lại càng nặng nề hơn, bởi một mặt họ thường sống khép kín, phạm vi giao tiếp hẹp,
kĩ năng thiết lập quan hệ xã hội hạn chế, mặt khác điều kiện kinh tế - xã hội của địa phương có khó khăn, chất lượng giáo dục phổ thông có nhiều hạn chế…, dẫn đến tri thức nền tảng thường bị thiếu hụt Ngoài ra, với tính cách rụt rè, e ngại, nhiều SV không dám tìm kiếm sự giúp
đỡ từ bên ngoài khi gặp khó khăn, khiến cho khó khăn càng trầm trọng hơn Theo tác giả, những khó khăn lớn nhất mà SV thiệt thòi thường gặp phải tập trung chủ yếu vào năm lĩnh vực: tài chính, học tập, sự thích ứng, quan
hệ và các khó khăn khác (sức khỏe, áp lực, gia đình, chỗ
ở, làm thêm, xin việc) [26]
Như vậy, có thể thấy, biểu hiện KKTL trong hoạt động học tập của SV là vấn đề được nhiều tác giả trong nước quan tâm nghiên cứu Đa số tác giả cho rằng,
Trang 5KKTL của SV rất đa dạng, phức tạp, biểu hiện chủ yếu
ở ba mặt nhận thức, thái độ/xúc cảm và hành vi/kĩ năng
trong các khâu của hoạt động học tập Tuy nhiên, còn ít
nghiên cứu đi sâu chỉ ra các biểu hiện KKTL trong hoạt
động học tập với ba khâu cơ bản là học tập trên lớp; tự
học, tự nghiên cứu và thực hành nghề, đặc biệt là hoạt
động học nghề với vấn đề quan trọng nhất của hoạt động
này là việc thực hiện các nhiệm vụ trong khâu thực hành
nghề của SV dân tộc ít người các trường CĐ nghề
2.3.2 Những nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn đến khó
khăn tâm lí trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học
Nghiên cứu về các nguyên nhân dẫn đến KKTL trong
hoạt động học tập của SV, các tác giả trong nước đã chỉ
ra nhiều nguyên nhân khác nhau
Theo tác giả Nguyễn Thế Hùng (2008), có nhiều
nguyên nhân chủ quan lẫn khách quan gây ra các KKTL
trong học tập của SV năm thứ nhất Trường CĐ Bến Tre,
trong đó nguyên nhân chính là do chưa có phương pháp
học tập hợp lí, chưa quen với môi trường học tập ở trường
CĐ; do thiếu sách, giáo trình, tài liệu tham khảo [27]
Nghiên cứu của tác giả của tác giả Đặng Thị Lan
(2016) cho thấy nguyên nhân dẫn đến KKTL của SV dân
tộc thiểu số khi học ngoại ngữ ở Trường ĐH Ngoại ngữ
là chưa có phương pháp học ngoại ngữ phù hợp, những
biến động lớn về môi trường học tập [21]
Bên cạnh việc tìm hiểu những nguyên nhân gây ra
những KKTL trong hoạt động của SV các trường CĐ,
ĐH tác giả Đỗ Văn Bình (2008) còn nghiên cứu sự ảnh
hưởng của những KKTL đến hoạt động học tập của SV,
đó là KKTL trong hoạt động học tập có ảnh hưởng tới sự
phát triển tâm lí, nhân cách của SV năm thứ nhất Sự ảnh
hưởng trải đều tới tất cả các mặt trong sự phát triển tâm
lí, nhân cách của SV Ảnh hưởng nhiều nhất là làm cho
SV “không hứng thú đến lớp, bỏ giờ, bỏ tiết” và “gây tâm
lí căng thẳng, stress” [28]
Từ những phân tích ở trên, có thể thấy rằng, có nhiều
nguyên nhân dẫn đến KKTL trong hoạt động học tập của
SV các trường CĐ, ĐH Bên cạnh những nguyên nhân
chủ quan bên trong xuất phát từ chính chủ thể học tập là
SV, thì những điều kiện khách quan bên ngoài cũng sẽ là
những nguyên nhân khiến cho hoạt động học nảy sinh
khó khăn nói chung và KKTL nói riêng
2.3.3 Những nghiên cứu về các biện pháp giảm thiểu khó
khăn tâm lí trong học tập của sinh viên cao đẳng, đại học
Tác giả Nguyễn Thế Hùng (2008) cho rằng, để hạn
chế những KKTL này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa
nhà trường, giảng viên và SV, cũng như cần thường
xuyên tổ chức các buổi hội thảo, hướng dẫn SV phương
pháp học tập… để từ đó hình thành cho SV phương pháp
học tập hợp lí [27]
Tác giả Đặng Thị Lan (2016) đề xuất một số ý kiến nhằm giúp SV dân tộc thiểu số có thể giảm thiểu các KKTL để đạt kết quả cao trong hoạt động học ngoại ngữ
“Về phía nhà trường: nhà trường, các đơn vị đào tạo, các phòng ban chức năng và cán bộ, giảng viên cần giúp SV dân tộc thiểu số năm thứ nhất nhanh chóng làm quen với môi trường học tập mới ngay từ những ngày đầu tiên vào học ở trường Phòng Đào tạo nên phối hợp với các bộ phận liên quan tổ chức cho SV dân tộc thiểu số năm thứ nhất một buổi nói chuyện về “Phương pháp học ngoại ngữ” để có thể nắm được phương pháp học ngoại ngữ phù hợp Về phía giảng viên dạy ngoại ngữ: cần thống nhất việc đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính chủ động, tích cực, tự nghiên cứu, rèn luyện của SV dân tộc thiểu số Mặt khác, cần quan tâm hơn đến việc hướng dẫn phương pháp học ngoại ngữ cho SV dân tộc thiểu số để giảm bớt những KKTL cho các em khi tiếp cận phương pháp giảng dạy mới ở ĐH Về phía SV dân tộc thiểu số năm thứ nhất: cần hình thành phương pháp học ngoại ngữ trên cơ sở rèn luyện các kĩ năng học tập ở ĐH; tích cực, chủ động trong quá trình học ngoại ngữ góp phần giảm bớt KKTL để nâng cao kết quả học tập” [21; tr 16]
Đỗ Thị Hạnh Phúc và Triệu Thị Hương (2007) nhận thấy rằng, để giải quyết những KKTL nảy sinh trong hoạt động học tập của SV Học viện Cảnh sát Nhân dân, “SV
đã sử dụng nhiều cách ứng phó chưa thật sự mang lại hiệu quả mong muốn như sử dụng biện pháp hướng vào bản thân hoặc âm thầm chịu đựng Do đó, theo các tác giả, vấn đề đặt ra là cần nhanh chóng xây dựng một mô hình trợ giúp tâm lí phù hợp cho SV nhằm giúp họ ứng phó hiệu quả khi gặp phải những KKTL trong học tập và rèn luyện” [23; tr 22-27]
2.4 Một số nhận xét
Qua những nghiên cứu về KKTL trong học nghề của
SV, chúng tôi đưa ra một số nhận xét dưới đây:
Thứ nhất, bước vào môi trường ĐH, CĐ là bước
ngoặt quan trọng đối với SV Do đó, trên cơ sở xem xét các đặc điểm tâm, sinh lí của SV trong mối tương quan với hoạt động học tập, nhiều công trình nghiên cứu đã bàn luận khá sâu về những KKTL mà SV phải đối diện trong quá trình từ khi bắt đầu nhập học cho đến khi tốt nghiệp, nhấn mạnh nếu các KKTL được giải quyết thì đồng nghĩa với việc SV đã chuyển đổi từ những yêu cầu bên ngoài thành những yêu cầu bên trong bản thân họ và
họ vượt qua những yêu cầu, đạt được các giá trị cuộc sống Ngược lại, họ sẽ gặp KKTL, là một “lực cản bản thân” khiến họ khó thành công trong cuộc sống
Thứ hai, các nghiên cứu trên thế giới đã phân chia các
nhóm khó khăn mà SV thường gặp phải khi học ở trường
CĐ, ĐH; phân tích thực trạng, xác định nguyên nhân gốc
Trang 6rễ cũng như nhấn mạnh vai trò quan trọng về nền tảng,
sự chuẩn bị cũng như sức khỏe tinh thần tích cực sẽ giúp
SV điều chỉnh bản thân thích nghi tốt với môi trường học
tập mới Đặc biệt, đối với đối tượng SV thiệt thòi, có
hoàn cảnh khó khăn, các nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố
tâm lí - xã hội quan trọng ảnh hưởng tới kết quả học tập
của nhóm SV này và nhấn mạnh các nhà hoạch định
chính sách, nhà lãnh đạo và nhà trường cần hiểu rõ các
yếu tố này vừa mang tính rủi ro, rào cản, vừa mang tính
động lực, cơ hội đối với SV trong quá trình học tập Theo
các tác giả, tại các trường ĐH, CĐ ở nước ngoài, bộ phận
tham vấn tâm lí có nhiệm vụ hỗ trợ SV nhằm xác định và
đạt được các mục tiêu cá nhân, học tập và nghề nghiệp
thông qua cung cấp tư vấn về việc phát triển, ngăn chặn
và phòng ngừa các vấn đề về KKTL
Thứ ba, ở Việt Nam, các nghiên cứu cho thấy những
biểu hiện KKTL trong hoạt động học tập của SV khá đa
dạng, chủ yếu tập trung ở các mặt nhận thức, cảm xúc
thái độ và hành vi, kĩ năng… Theo các tác giả, có nhiều
nguyên nhân chủ quan và khách quan gây ra các KKTL,
đòi hỏi SV cần trải qua quá trình thích ứng, tham gia vào
hoạt động học tập ở trường ĐH nhằm lĩnh hội được
những yêu cầu của các hành động học tập mới Đặc biệt,
đối với nhóm SV thiệt thòi, những KKTL trong học tập
lại càng nặng nề hơn, do đó cần có sự phối hợp giữa nhà
trường, các khoa, cán bộ giảng viên cũng như bản thân
SV nhằm giúp SV khắc phục KKTL để đạt kết quả cao
trong học tập
3 Kết luận
KKTL trong hoạt động học nghề của SV là vấn đề
cần được quan tâm nghiên cứu để phát huy hiệu quả hoạt
động học tập của SV KKTL được biểu hiện ở sự lo lắng,
căng thẳng, chán nản, mệt mỏi trong quá trình học tập
làm ảnh hưởng đến kết quả Nguyên nhân dẫn đến những
KKTL này là do chưa quen với môi trường học tập ở
trường cao đẳng, đại học, SV còn thiếu hụt các kĩ năng,
chưa có phương pháp học tập hợp lí, do thiếu sách, giáo
trình, tài liệu tham khảo và những KKTL trong việc tự
nhận thức, nhận thức và thái độ đối với học tập… Ngoài
ra, KKTL còn gây ảnh hưởng tới sự phát triển tâm lí,
nhân cách của SV Việc xác định được những KKTL và
những nguyên nhân dẫn đến KKTL sẽ giúp cho SV,
giảng viên, lãnh đạo nhà trường, các nhà hoạch định
chính sách… tìm ra các giải pháp hợp lí
Tài liệu tham khảo
[1] Quốc hội (2014) Luật Giáo dục nghề nghiệp, số
74/2014/QH13, ngày 27/11/2014
[2] Andrew B - Wilding J M (2004) The relation of
depression and anxiety to life-stress and
achievement in students British Journal of
Psychology, Vol 95 (4), pp 509-522
[3] Sarason I G - Sarason B R (2002) Abnormal Psychology: the Problem of Maladaptive Behavior,
Upper Saddle River, N.J: Prentice Hall
[4] Palmer, S - Puri, A (2006) Coping with stress at university: A survival guide SAGE Publication,
London
[5] Sade, D - Coll, R K (2003) Technology and technology education: Views of some Solomon Island primary teachers and curriculum development officers International Journal of Science and
Mathematics Education, Vol 1, pp 87-114
[6] Gallagher, R - Sysko, H - Zhang, B (2001)
National survey of counseling center directors
Alexandria, VA: International Association of Counseling Services
[7] Gallagher, R - Gill, A - Sysko, H (2000) National survey of counseling center directors Alexandria,
VA: International Association of Counseling Services
[8] Higher Education Research Institute, University of
California, Los Angeles (HERI, UCLA) (2000) The American freshman: National norms for fall 2000
Los Angeles: HERI, UCLA
[9] Cross, K P (1978) The Missing Link: Connecting Adult Learners to Learning Resources New York:
College Entrance Examination Board
[10] Cross, K P (1986) Adults as Learners San
Francisco, CA: Jossey-Bass Publishers
[11] Darkenwald, G G - Merriam, S B (1982) Adult Education; Foundations of Practice New York:
Harper - Row, Publishers
[12] Merriam, S B (1984) Adult development; implications for adult education (Information
Series No 282) Columbus, OH: The Ohio State University, The National Center for Research in Vocational Education (ERIC Clearinghouse on Adult, Career, and Vocational Education No ED
246 309), pp 1-3
[13] Safree Md A - Yasin Md - Dzulkifli M.A.D
(2009) Differences in Psychological Problem between Low and high Achieving Students The
Journal of Behavioral Science, Vol 4 (1), pp 49-58
[14] Segrin Chris - Flora Jeanne (2000) Poor Social Skills Are a Vulnerability Factor in the Development
of Psychosocial Problem, Human Communication
Research, Vol 26 (3), pp 489-514
Psychopathology and academic performance: The
Trang 7role of motivation and learning strategies Journal
of Counseling Psychology, Vol 42 (4), pp 456-465
[16] Goodwin, L L (2006) Graduating Class:
Disadvantaged Students Crossing the Bridge of
Higher Education State University of New York
Press, Albany
[17] Caplan, G (1970) The theory and practice of
mental health consultation New York: Basic
Books
[18] Friend, M - Cook, L (1996) Collaboration skills
for school professionals (2nd ed) National
Professional Resources, Inc
[19] Archer and Cooper (1998) Counseling and mental
health service on campus: A handbook of
contemporary practices and challenges San
Francisco: Jossey Bass
[20] Nguyễn Xuân Thức - Đào Thị Lan Hương (2007)
Phân tích các biểu hiện khó khăn tâm lí trong hoạt
động học tập của sinh viên năm thứ nhất sư phạm
Tạp chí Tâm lí học, số 09, tr 14-21
[21] Đặng Thị Lan (2015) Khó khăn tâm lí trong hoạt động
học ngoại ngữ của sinh viên dân tộc thiểu số năm thứ
nhất ở Trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia
Hà Nội Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội:
Nghiên cứu nước ngoài, số 31 (3), tr 33-43
[22] Phạm Văn Tuân (2013) Khó khăn tâm lí trong hoạt
động nghiên cứu khoa học của sinh viên Trường Đại
học Trà Vinh Tạp chí Tâm lí học, số7, tr 31-35
[23] Đỗ Thị Hạnh Phúc - Triệu Thị Hương (2007)
Những khó khăn tâm lí của sinh viên Học viện
Cảnh sát Nhân dân Tạp chí Tâm lí học, số 9 (102),
tr 22-27
[24] Nguyễn Thị Út Sáu (2009) Nguyên nhân gây nên
khó khăn tâm lí trong học tập theo học chế tín chỉ
của sinh viên hệ cử tuyển Trường Đại học Sư phạm
- Đại học Thái Nguyên Tạp chí Giáo dục, số 218,
tr 15- 21
[25] Nguyễn Thị Hoài (2007) Sự thích ứng với hoạt
động học tập của sinh viên năm thứ nhất người dân
tộc thiểu số Tạp chí Tâm lí học, số 4 (97), tr 27 - 35
[26] Trần Thị Tú Anh (2010) Những khó khăn của sinh
viên thiệt thòi trong thời gian học tại Đại học Huế Tạp
chí Khoa học, trường Đại học Huế, số 62, tr 5-16
[27] Nguyễn Thế Hùng (2008) Khó khăn tâm lí trong học
tập của sinh viên năm thứ nhất Trường Cao đẳng Bến
Tre Tạp chí Tâm lí học, số 5 (110), tr 55-59
[28] Đỗ Văn Bình (2008) Khó khăn tâm lí trong hoạt
động học tập của sinh viên năm thứ nhất Trường
Cao đẳng sư phạm Quảng Trị Tạp chí Tâm lí học,
số 2, tr 59-63
THỰC TRẠNG NHẬN THỨC
(Tiếp theo trang 135)
Kết quả nghiên cứu trên đây giúp chúng tôi đề xuất chương trình tập huấn cho GVMN về đặc điểm/nhận biết trẻ RLPT và các cách thức hỗ trợ/giáo dục cho trẻ có RLPT trên địa bàn TP Đà Nẵng trong thời gian tới
Tài liệu tham khảo
[1] Bộ GD-ĐT (2008) Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22/01/2008 ban hành quy định về chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
[2] Bộ GD-ĐT - Bộ Nội vụ (2015) Thông tư liên tịch
số 20/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 14/09/2015 quy định mã số, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp giáo viên mầm non
[3] Segen Joseph C (2006) Concise Dictionary of Modern Medicine (Illustrated ed.) McGraw-Hill
[4] Dickerson, AS - Rahbar, MH - Pearson, DA (2017)
Autism spectrum disorder reporting in lower socioeconomic neighborhoods Autism, Vol 21 (4),
pp 470-480
[5] K.D Macey (2005) Attention-deficit/hyperactivity disorder: teacher knowledge and referral for assessment Doctoral dissertation, Texas A&M
University
[6] M Ives - N Munro (2002) Caring For A Child With Autism Jessica Kingsley Publishers, London, UK
[7] Sandin, S - Schendel, D - Magnusson, P (2016)
Autism risk associated with parental age and with increasing difference in age between the parents
Molecular Psychiatry Vol 21 (5), pp 693-700 [8] Janvier, YM - Harris, JF - Coffield, CN (2016)
Screening for autism spectrum disorder in underserved communities: early childcare providers
as reporters Autism, Vol 20 (3), pp 364-373
[9] American Psychitric Association (APA) (2013)
Diagnostic and Statistical Manual Of Mental
Disorders (DSM-5) Fifth Edition, published [10] F.R Volkmar - R Paul - A Klin - D Cohen (2005)
Handbook of Autism and Pervasive Developmental Disorders Volume Two, Published by John Wiley
& Sons, Inc., U.S
[11] Trần Văn Công - Vũ Thị Minh Hương (2011) Xung quanh vấn đề chẩn đoán trẻ tự kỉ hiện nay Tạp chí
Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, Khoa học Xã hội và Nhân văn, số 27, tr 1-8
[12] Crowe, BHA - Salt, AT (2015) Autism: the management and support of children and young people on the autism spectrum (NICE Clinical
Guideline 170) Archives of Disease in Childhood - Education and Practice, Vol 100 (1), pp 20-23