1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ sở lý LUẬN về QUẢN lý HOẠT ĐỘNG tự học của SINH VIÊN các TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO CHUẨN đầu RA

54 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 56,32 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

nhằm phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học.[27]Cùng với xu thế phát triển của thời đại I.U.K.Babanxkinghiên cứu tự học gắn liền với việc tìm ra các biện pháp tối ưu hoá v

Trang 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG

TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG CAO

ĐẲNG NGHỀ THEO CHUẨN ĐẦU RA

Trang 2

Cơ sở lý luận

Các công trình nghiên cứu về hoạt động tự học

Tự học là một vấn đề có tính truyền thống và tính phổbiến không chỉ ở nước ta mà còn là vấn đề của toàn thế giới.Vấn đề tự học luôn được nhiều học giả, các nhà giáo dục trênthế giới nghiên cứu, quan tâm đến dưới nhiều góc độ khácnhau Các nhà nghiên cứu đều đã khẳng định vai trò quantrọng của tự học, tự nghiên cứu, tự rèn luyện, tự khám phá củabản thân người học trong học tập và công tác Nó là cơ sở chomọi sự thành công của mỗi cá nhân

Ở phương Đông, từ thời cổ đại, tuy chưa đề cập trực tiếpđến vấn đề tự học nhưng người ta đã nhấn mạnh đến vai trò tựhọc Khổng Tử (551 - 479) thời Trung Hoa cổ đại đã có ýtưởng: Coi trọng việc tìm hiểu, tự phát hiện của học trò đểphát triển tư duy và trí tuệ của họ Ông đã dạy học trò:

“Không khao khát vì không muốn biết thì không gợi cho,không cảm thấy xấu hổ vì không rõ thì không bày vẽ cho Vật

có bốn góc, bảo cho biết một góc mà không suy được ba góckia thì không dạy nữa.” Điều này chứng tỏ ông đòi hỏi học trò

Trang 3

mình phải biết phát huy năng lực sáng tạo của bản thân trongquá trình tự học [1 tr 40-60]

Thế kỷ thứ 17, nhà sư phạm lỗi lạc Tiệp KhắcJ.A.Comenxky (1592-1670) - ông tổ của nền giáo dục cận đại,một Galilê của giáo dục - đã khẳng định: Không có khát vọnghọc tập thì không trở thành tài năng, cần "phải làm thức tỉnh

và duy trì khát vọng học tập trong học sinh" và tìm ra phươngpháp cho phép GV giảng ít hơn, HS học nhiều hơn.Comenxky đã đánh giá rất cao vai trò của tự học, sự tích cực,chủ động của người học sẽ là yếu tố quyết định đối với hoạtđộng học tập của người học [52]

Ngay từ đầu thế kỷ XX, vấn đề tự học đã được rất nhiềutác giả quan tâm dưới góc độ phương pháp dạy và phươngpháp học I.F.Kharlamôp đã nghiên cứu tự học dưới góc độtìm ra những biện pháp để phát huy tính tích cực học tập của

HS bằng cách: tăng cường việc nghiên cứu làm việc với sáchvới tài liệu học tập, dạy học nêu vấn đề, cải tiến công tác tựlực học tập, đổi mới phương pháp kiểm tra đánh giá Vấn đềphát huy năng lực tự học dưới góc độ làm việc độc lập vớisách là tài liệu tham khảo đã được tác giả đề cập rất rõ ràng

Trang 4

nhằm phát huy tính tích cực của HS trong quá trình dạy học.[27]

Cùng với xu thế phát triển của thời đại I.U.K.Babanxkinghiên cứu tự học gắn liền với việc tìm ra các biện pháp tối

ưu hoá việc học theo hai hướng: phát huy tính tích cực, tính tựgiác của HS trong học tập dưới sự hướng dẫn, điều khiển trựctiếp của thầy, kết hợp giữa QL và tự quản lý hoạt động học tậpcủa HS, từ đó đề ra những yêu cầu đối với hoạt động học tậpcủa HS Với ý tưởng trên, trong dạy học đã đề ra nhữngPPDH mới, đó là PPDH chương trình hoá [5]

Đáp ứng với xu thế phát triển của thời đại với những yêucầu đổi mới của các quốc gia trên thế giới, các nhà Giáo dụchọc ở các nước phát triển đã đi sâu nghiên cứu để tối ưu hoáviệc học, hình thành, phát triển năng lực tự học để người học

có thể học thường xuyên và học suốt đời Makiguchi,P.V.Exipov, khi nghiên cứu bản chất tự học của SV các tác giảchỉ ra rằng: bản chất tự học của SV là hoạt động nhận thứcbằng hành động tìm tòi, nghiên cứu, khám phá Đây chính là

cơ sở lý luận của vấn đề tổ chức HĐTH cho SV.[9, tr 45]

Trang 5

Cuối thế kỷ XX do ảnh hưởng của sự phát triển khoa học

kỹ thuật, đặc biệt là ảnh hưởng của cuộc cách mạng côngnghệ, phần lớn các nhà Giáo dục học đã nghiên cứu tự họctheo hai hướng chính: hướng thứ nhất nghiên cứu áp dụngcông nghệ dạy học nhằm thay đổi vị trí của thầy và trò trongquá trình dạy học, từ chuyên gia về việc dạy, GV phải chuyểnsang chuyên gia về việc học của người học Hướng thứ hai làdạy học phân hoá, dạy học tiến hành theo nhịp độ cá nhânngười học để đạt tới năng suất và hiệu quả cao nhất trong việchọc, dạy học vẫn phải được tổ chức hướng vào người học.Một số tác giả người Ấn Độ như R.Singh gần đây đã pháttriển quan điểm lấy người học làm trung tâm đưa ra quanniệm: “Quá trình nhận biết - học - dạy” đã cho rằng: Tự học làmột hình thức học có hiệu quả nhất trong quá trình học tập.Quá trình học tập là quá trình người dạy điều khiển hoạt động

tự học của người học một cách gián tiếp Điều đó cho thấymột trong những phương pháp quan trọng của người học ởcác bậc học, đặc biệt từ đại học và cao hơn là phải hình thành

và phát huy được năng lực tự học trong quá trình học tập Ông

đã nghiên cứu vai trò của năng lực tự học trong việc học tậpthường xuyên và học tập suốt đời, đề cao vai trò chuyên gia

Trang 6

cố vấn của người thầy trong việc học tập thường xuyên, họctập suốt đời, trong việc hình thành và phát triển năng lực tựhọc của người học.[54]

Trong những năm gần đây, trên cơ sở kế thừa có phêphán các tư tưởng của các tác giả đi trước, tại các nướcphương Tây đang nở rộ phong trào tìm phương pháp giáo dụctích cực dựa trên quan điểm tiếp cận "Lấy người học làmtrung tâm" (Learner centered) để phát huy năng lực bên trongcủa người học J.Deway cho rằng: "Học sinh là mặt trời, xungquanh nó quy tụ mọi phương tiện giáo dục" [13, tr 56] Ngoài

ra còn có các nghiên của N.A Rubakin (1973) [53],S.M.HecBot (1984) [55] đề cập tự học như thế nào, nghiêncứu học tập như thế nào để có thể phát huy được năng lựcngười học

Qua nghiên cứu các tư tưởng, quan điểm, bàn về dạy học

và tự học, tổ chức HĐTH của các tác giả trên thế giới, có thểrút ra một số nhận xét sau: Tự học là cần thiết đối với tất cảmọi người, vấn đề tự học của HS nói chung và của SV đại họcnói riêng, được các tác giả trên thế giới quan tâm dưới nhiềugóc độ khác nhau như: phát huy tính tích cực học tập củangười học, tối ưu hoá việc học bằng dạy học chương trình

Trang 7

hoá, áp dụng công nghệ dạy học, tổ chức dạy học phân hoá,dạy học theo nhịp độ cá nhân, dạy phương pháp học chongười học để đạt được hiệu quả cao nhất ở người học.

Nhân dân Việt Nam có truyền thống hiếu học và tự học

từ ngàn xưa Trong dân gian có lời khuyên: "Học thầy khôngtày học bạn", "Học một biết mười", "Đi một ngày đàng họcmột sàng khôn" Nội dung của những lời khuyên trên đềudiễn đạt vai trò to lớn của hoạt động tự học, tự nghiên cứu, tựtìm hiểu sự vật, hiện tượng của người Việt Nam ta

Tuy nhiên hoạt động tự học chỉ thực sự được quan tâmdưới nền giáo dục xã hội chủ nghĩa Từ năm 1960, vấn đề tựhọc đã được quan tâm nghiên cứu, tuy chưa nhiều nhưng tưtưởng về tự học đã được một số tác giả trình bày trực tiếphay gián tiếp trong các công trình Tâm lý học, Giáo dục họchoặc phương pháp giảng dạy bộ môn

Điều 5 của Luật Giáo dục (2005) quy định “Phươngpháp giáo dục phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động,

tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học nănglực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chívươn lên”; “đảm bảo thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học

Trang 8

sinh, phát triển phong trào tự học, tự đào tạo ”; “tạo ra nănglực tự học sáng tạo của mỗi học sinh” [34].

Mặc dù phải quan tâm tới nhiều vấn đề hệ trọng của dântộc, Bác Hồ vẫn thường xuyên nêu một tấm gương sáng về tựhọc và động viên toàn dân cổ gắng học tập Người nói: “Phải

tự nguyện, tự giác xem công việc tự học là nhiệm vụ củangười cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đóphải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập”.[19, tr76]

Tư tưởng giáo dục của Hồ Chí Minh đã được Đảng tavận dụng trong đường lối Giáo dục - Đào tạo nước nhà Nghị

quyết Trung ương V khóa 8 từng nêu rõ: ‘'Tập trung sức

mạnh nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra năng lực tự học, tự sáng tạo của học sinh, bảo đảm mọi điều kiện và thời gian học cho học sinh, phát triển mạnh mẽ phong trào học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân” Quan

điểm này được tiếp tục khẳng định ở Văn kiện Đại hội ĐảngCộng sản Việt Nam lần thứ IX, X, XI về phương pháp dạy vàhọc hiện nay.[8, tr 43]

Trang 9

Thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về tựhọc, quán triệt đường lối của Đảng về giáo dục, trong nhữngthập kỉ qua đã có nhiều nhà nghiên cứu trên bình diện Tâm lýhọc và Giáo dục học đã làm rõ vai trò của tự học, các điềukiện tác động nâng cao kết quả tự học Đó là mối quan hệgiữa người dạy và người học: Người học phải biết tự chiếmlĩnh tri thức thông qua hoạt động học tập chủ động, tự giác,tích cực Người dạy đóng vai trò là người hướng dẫn, điềukhiển, khơi dậy sự chú ý sáng tạo thúc đẩy cho người họchoạt động.

Liên quan đến vấn đề tự học còn có một số nghiên cứukhác được công bố trên tạp chí Nghiên cứu giáo dục: “Tự học– Một chìa khoá vàng về giáo dục” của Phạm Trong Luận(1995) [29], “Tổ chức phương pháp tự học cho sinh viên đạihọc” của Lê Khánh Bằng (1998) [3], “Tự học là kinh nghiệmsuốt đời của mỗi con người – Tự học, tự đào tạo tư tưởngchiến lược của phát triển giáo dục Việt Nam” của NguyễnVăn Đạo (1998) [9], “Vị trí của tự học, tự đào tạo trong quátrình dạy học, giáo dục và đào tạo” của Trần Bá Hoành (1998)[17], “Khơi dậy và phát huy năng lực tự học sáng tạo củangười học trong giáo dục đào tạo” của Thái Văn Long (1999)

Trang 10

[27], “Luận bàn và kinh nghiệm tự học” và “Quá trình dạy, tựhọc”của Nguyễn Cảnh Toàn [38] [39], “Tự học, tự bồi dưỡngsuốt đời trở thành quy luật” của Nguyễn Tấn Phát (2000) [35],

“Tự học, tự nghiên cứu vấn đề cốt lõi của quá trình đào tạo”của Chu Mạnh Nguyên (2000) [31], “Dạy cách học - mộttrong những giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo” của LêĐức Ngọc (2001) [32], “Tự học – Vấn đề bức thiết của cán bộquản lí, của mọi người” của Đặng Quốc Bảo (2001) [2], “Đôinét về tự đánh giá kết quả học tập của mình” của Bùi ThịHạnh Lâm (2008) [24]

Như vậy, tự học có vai trò rất quan trọng trong quá trìnhđào tạo con người, đó là phương pháp cơ bản giúp người họcphát huy tính độc lập, chủ động, sáng tạo để chiếm lĩnh trithức khoa học, trau dồi bản thân

- Các công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động tự học

Về quản lý hoạt động tự học cũng được rất nhiều ngườiquan tâm và có các công trình nghiên cứu, có thể kể đến như:Nghiên cứu về “Quản lý giáo dục” của các tác giả Bùi MinhHiền, Đặng Quốc Bảo, Vũ Ngọc Hải (2002) [13], “Một số

Trang 11

phương pháp học của sinh viên trong đào tạo theo học chế tín

chỉ” của tác giả Lê Thị Xuân Liên [25], “Chất lượng và quản

lý chất lượng trong giáo dục Tập bải giảng dành cho học viêncao học quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Đức Chính(2004) [5];

Bên cạnh đó, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ có

đề cập đến vấn đề quản lý hoạt động tự học ở những khíacạnh khác nhau thuộc lĩnh vực giáo dục như các đề tài: “Biệnpháp quản lí hoạt động tự học của sinh viên trường đại học sưphạm kỹ thuật Nam Định” của Trần Thị Tuyết Hồng (2008)[15], quản lí hoạt động tự học của SV theo yêu cầu đào tạo tínchỉ tại trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà nộicủa Nguyễn Thị Lan Hương (2010) [16], “Các biện pháp chủyếu quản lý hoạt động tự học của học viên Trung tâm giáo dụcthường xuyên Thành phố Yên Bái” của Nguyễn Ngọc Thanh(2013) [37], “Quản lí hoạt động tự học của sinh viên nội trútrường Cao đẳng Hàng Hải 1” của Nguyễn Văn Nam (2013)[30], “biện pháp tăng cường hoạt động tự học của sinh viênViện Đại học Mở Hà Nội trong bước phát triển ngày nay của

Lê Thị Thanh Thuý (2014) [38] và Dương Hoài Văn (2015)[46], “Các biện pháp quản lý hoạt động tự học của sinh viên

Trang 12

trường Cao đẳng kinh tế - tài chính Thái Nguyên” của PhạmChí Cường (2015) [6],

Nhìn chung các công trình nghiên cứu trên đều đi đếnkhẳng định vai trò của tự học, chỉ ra một số kỹ năng cơ bản vàlưu ý đến vai trò của giáo viên trong việc tổ chức quá trìnhhọc; khơi dậy khả năng chủ động, tích cực, sáng tạo củangười học Các công trình nghiên cứu tập trung tìm hiểu, phântích thực trạng của việc tự học của học sinh phổ thông và sinhviên Tuy nhiên, trong hệ thống giáo dục nói chung và dạynghề nói riêng đã đặt ra yêu cầu cần phải nghiên cứu hoạtđộng tự học và quản lý hoạt động tự học của sinh viên họcnghề, từ đó có các biện pháp nhằm tăng cường hoạt động tựhọc, tự rèn luyện của sinh viên, nhưng những vấn đề này, đếnnay hầu như chưa có công trình nghiên cứu nào Chính yếu tốnày đã tác động đến tác giả luận văn đi đến nghiên cứu vấn đềquản lý hoạt động tự học đối với sinh viên của Trường Caođẳng nghề Nam Định theo CĐR đáp ứng yêu cầu đổi mớigiáo dục

MỘT SỐ KHÁI NIỆM

Khái niệm quản lý

Trang 13

Quản lý là một chức năng lao động xã hội bắt nguồn từtính chất xã hội của lao động Theo nghĩa rộng, quản lý làhoạt động có mục đích của con người Cho đến nay, về cơbản, mọi người đều cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động

do một hoặc nhiều người điều phối hành động của nhữngngười khác nhằm đạt được mục tiêu xác định Trong tất cả cáclĩnh vực của đời sống xã hội, con người phải dựa vào sự nỗlực chung: nhóm, tổ, đơn vị, công ty, quốc gia, quốc tế.K.Marx đã chỉ ra: “Mọi lao động xã hội trực tiếp hoặc laođộng chung khi thực hiện trên một quy mô tương đối lớn, ởmức độ nhiều hay ít đều cần đến quản lý” và ông cũng đưa ramột hình tượng để khẳng định vai trò của quản lý: “Mộtngười nghệ sỹ chơi đàn thì tự điều khiển mình, nhưng mộtdàn nhạc thì cần phải có người chỉ huy, người nhạc trưởng”.[10, tr.13]

Cũng như nhiều ngành khoa học khác, quản lý đượcnhiều nhà nghiên cứu từ xưa đến nay quan tâm Tùy theo cáchtiếp cận mà các nhà quản lý đưa ra các tiếp cận khác nhau.Mary Parker Follett cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật đạt đượcmục đích thông qua nỗ lực của người khác”, định nghĩa nàynói lên rằng những nhà quản lý đạt được các mục tiêu của tổ

Trang 14

chức bằng cách sắp xếp, giao việc cho những người khác thựchiện chứ không phải hoàn thành công việc bằng chính mình[10, tr.14]; Koontz và O’Donnell định nghĩa: “Có lẽ không cólĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là côngviệc quản lý, bởi vì mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trongmọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế và duy trìmột môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhautrong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ, các mục tiêu

đã định” [10, tr.15]; theo James Stoner và Stephen Robbins:

“Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểmsoát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sửdụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt đượcmục tiêu đã đề ra” [10, tr.15]

Ở Việt Nam, tác giả Nguyễn Bá Sơn định nghĩa trongcuốn “Một số vấn đề cơ bản về khoa học quản lý” như sau:

“Quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể quản lýđến đối tượng quản lý, bằng một hệ thống giải pháp nhằmthay đổi trạng thái của đối tượng quản lý, đưa hệ thống tiếpcận mục tiêu cuối cùng, phục vụ cho lợi ích con người” [36,tr.25]; tác giả Trần Kiểm cho rằng: “Quản lý là nhằm phối hợp

nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến

Trang 15

thành những thành tựu của xã hội” [22, tr.3]; theo tác giảNguyễn Thành Vinh trong cuốn “Khoa học quản lý đại cương”

đã định nghĩa: “Quản lý là quá trình tác động có chủ định,

hướng đích của chủ quản lý lên đối tượng quản lý, nhằm tạo

ra các hoạt động hướng tới đạt mục đích chung của tổ chức dưới sự tác động của môi trường [47, tr 12]

Sau khi xem xét các khái niệm về quản lí, tác giả sửdụng khái niệm quản lí dưới đây trong hoạt động quản lí nhà

trường: Quản lí là quá trình tác động có mục đích của chủ thể

quản lý lên đối tượng quản lý, theo nguyên tắc và phương pháp nhất định nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra.

- Các chức năng quản lý

Chức năng quản lý có thể hiểu một cách khái quát là mộtdạng hoạt động quản lý chuyên biệt mà thông qua đó chủ thểquản lý tác động lên đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề

ra Đó là tập hợp những nhiệm vụ khác nhau mà chủ thể quản

lý phải tiến hành trong quá trình quản lý Thực chất của cácchức năng quản lý chính là sự tồn tại của các hoạt động quản

lý, bao gồm:

Trang 16

- Chức năng lập kế hoạch: Lập kế hoạch là chức năng cơ

bản nhất của các chức năng quản lý Trên cơ sở phân tích trạngthái xuất phát, tiềm năng đã có và khả năng trong tương lai đểxác định rõ mục tiêu, xây dựng chương trình hành động cụ thểnhằm đạt được mục tiêu trong một thời gian nhất định của một

hệ thống quản lý Lập kế hoạch bao gồm: Dự báo nhu cầu pháttriển; đánh giá thực trạng phát triển của tổ chức; xác địnhnhững mục tiêu, biện pháp và phương tiện cần thiết để thựchiện mục tiêu đề ra

- Chức năng tổ chức: Tổ chức sắp xếp, sắp đặt một cách

khoa học những yếu tố, những con người, những dạng hoạtđộng thành một hệ toàn vẹn nhằm đảm bảo cho chúng tươngtác với nhau một cách tối ưu

Tổ chức thực hiện kế hoạch được xác lập là quá trình sắpxếp, phân phối các nguồn lực để thực hiện mục tiêu đã đề ra,

là sự sắp đặt một cách khoa học những con người, nhữngcông việc hợp lý, là sự phối hợp để tạo lập mối quan hệ giữacác bộ phận trong tổ chức Công tác tổ chức có các nhiệm vụchính dưới đây: thiết lập bộ máy quản lý; tiếp nhận và phânphối các nguồn lực theo cấu trúc bộ máy quản lí; phối hợp

Trang 17

giữa các bộ phận để hình thành cơ chế vận hành tổ chức bộmáy và của cả hệ thống.

- Chức năng chỉ đạo: Là huy động lực lượng để thực

hiên kế hoạch, là biến những mục tiêu trong dự kiến thành kếtquả thực hiện Phải giám sát các hoạt động, các trạng thái vậnhành của hệ đúng tiến trình, đúng kế hoạch Khi cần thiết phảiđiều chỉnh, sửa đổi, uốn nắn nhưng không làm thay đổi mụctiêu hướng vận hành của hệ nhằm nắm vững mục tiêu chiếnlược đã đề ra Nội dung của chức năng chỉ đạo bao gồm: Chỉhuy, ra lệnh; động viên, khen thưởng; theo dõi, giám sát; uốnnắn, sửa chữa và điều chỉnh

- Chức năng kiểm tra đánh giá: Nhiệm vụ của kiểm tra

nhằm đánh giá trạng thái của hệ thống, xem mục tiêu dự kiếnban đầu và toàn bộ kế hoạch đã đạt tới mức độ nào, kịp thờiphát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động, tìm nguyênnhân thành công, thất bại giúp cho chủ thể quản lý rút ranhững bài học kinh nghiệm

Kiểm tra là một chức năng có liên quan đến mọi cấpquản lý để đánh giá đúng kết quả hoạt động của hệ thống, đolường các sai lệch nảy sinh trong quá trình hoạt động so với

Trang 18

các mục tiêu, kế hoạch đã định Nó chỉ ra những chỗ tồn tại,tìm ra nguyên nhân những sai sót, lệch lạc, những vấn đề mớinảy sinh để điều chỉnh giúp đảm bảo kế hoạch đã đề ra

Quan hệ giữa các chức năng của hoạt động quản lý thể hiệntrong sơ đồ sau:

- Các chức năng cơ bản của quản lý

Bốn chức năng của quản lý có mối quan hệ mật thiết vớinhau tạo thành một chu trình quản lý của một hệ thống, thôngtin liên lạc là công cụ không thể thiếu trong hoạt động quản

lý, qua đó việc chỉ đạo được hoàn thành về cơ bản Trong quátrình lãnh đạo, cấp trên phải thông tin liên lạc với cấp dưới vàngược lại Đó là quá trình hai chiều, trong đó mỗi người vừa

là nguồn phát, vừa là nguồn thu nhận Trong quản lý, để cóthể ra các quyết định chính xác kịp thời thì đòi hỏi phải thuthập thông tin chuẩn xác

Phương pháp quản lý: là tổng thể các cách thức tác động

có tính hướng đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lýnhằm đạt mục tiêu đề ra

Trang 19

Phương pháp quản lý có vai trò quan trọng trong hệthống quản lý Quá trình quản lý là quá trình thực hiện cácchức năng quản lý theo những nguyên tắc quản lý Nhưng cácnguyên tắc chỉ được vận dụng và được thể hiện trong quátrình quản lý thông qua các phương pháp nhất định Vận dụngphương pháp quản lý là một trong những nội dung cơ bản củahoạt động quản lý Khi sử dụng các phương pháp quản lý, nhàquản lý phải hiểu rõ ràng các phương pháp quản lý, bởi vì, cácphương pháp quản lý vừa mang tính khoa học lại vừa mangtính nghệ thuật [14, tr 48]

- Khái niệm hoạt động tự học

Tự học là quá trình nỗ lực chiếm lĩnh tri thức của bảnthân người học bằng hành động của chính mình hướng tớimục đích nhất định Ở nước ta đã có nhiều công trình nghiêncứu về tự học tiếp cận theo các góc độ khác nhau

Trong tập bài giảng chuyên đề Dạy học cho SV trong

các trường trung học chuyên nghiệp và Cao đẳng, Đại học,

GS.TSKH Thái Duy Tuyên viết: “Tự học là hoạt động độc lập

kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, là tự mình động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp )

Trang 20

cùng các phẩm chất động cơ, để lĩnh hội tri thức một lĩnh vực hiểu biết nào đó hay những kinh nghiệm của nhân loại, biến nó thành sở hữu của bản thân người học”

Theo tác giả Nguyễn Cảnh Toàn: “Tự học là tự mình

động não, suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp vv ) và có khi cả cơ bắp (khi phải

sử dụng công cụ), cùng các phẩm chất của mình, bao gồm cả động cơ, tình cảm, cả nhân sinh quan, thế giới quan (như trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại để chiếm một lĩnh vực tri thức nào đó thành sở hữu của mình” [39, tr

24]

Trong bài phát biểu tại hội thảo Nâng cao chất lượng

dạy học tổ chức vào tháng 11 năm 2005 tại Đại học Huế, tác

giả Trần Phương cho rằng: “Bao giờ và lúc nào cũng chủ yếu

là tự học, tức biến kiến thức học tích lũy từ nhiều thế hệ của nhân loại thành kiến thức của mình, tự tạo tư duy của mình

và rèn luyện cho mình kĩ năng thực hành những kiến thức ấy”.

Ngoài ra còn có nhiều tác giả bàn về khái niệm tự học

như: “Tự học là người học tích cực chủ động, tự tìm ra tri

Trang 21

thức kinh nghiệm bằng hành động của mình, tự thể hiện mình.

Tự học là tự đặt mình vào tình huống học, vào vị trí nghiên cứu, các tình huống, giải quyết các vấn đề, thử nghiệm các giải pháp Tự học thuộc quá trình cá nhân hóa việc học” của

Tác giả Nguyễn Kỳ [Tạp chí Nghiên cứu giáo dục số 7/1998],

“Tự học là tự mình suy nghĩ, sử dụng các năng lực trí tuệ và phẩm chất tâm lý để chiếm một vực khoa học nhất định” theo

tác giả Lê Khánh Bằng [3, tr 3]; “Tự học là công việc tự giác

của mỗi người do nhận thức đúng vai trò quyết định của nó đến

sự tích lũy kiến thức cho bản thân, cho chất lượng công việc của mình đảm bảo cho sự tiến bộ xã hội” của tác giả Nguyễn

Văn Đạo [9, tr 11]

Những quan niệm trên cho thấy tác giả quan niệm tự học

là một hình thức học có tính cá nhân do bản thân nguời học

nỗ lực thực hiện Để tiến hành công việc này, người học phải

tự giác, huy động các năng lực trí tuệ, phẩm chất, tâm lý trongquá trình chiếm lĩnh tri thức khoa học Do đó, dạy học phảikích thích được năng lực của người học Như vậy, có thể hiểu

tự học là quá trình lĩnh hội tri thức, kinh nghiệm xã hội, lịch

sử trong thực tiễn hoạt động cá nhân bằng cách thiết lập các mối quan hệ cải tiến kinh nghiệm ban đầu, đối chiếu với các

Trang 22

mô hình phản ánh hoàn cảnh thực tại, biến tri thức của loài người thành vốn tri thức, kinh nghiệm, kỹ năng, kỹ xảo của chủ thể.

- Khái niệm chuẩn đầu ra

Hiện nay đang có nhiều cách hiểu khác nhau về chuẩnđầu ra Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo tại Thông tư

07/2015/TT-BGDĐT thì “Chuẩn đầu ra là yêu cầu tối thiểu

về kiến thức, kỹ năng, thái độ, trách nhiệm nghề nghiệp mà người học đạt được sau khi hoàn thành chương trình đào tạo, được cơ sở đào tạo cam kết với người học, xã hội và công bố công khai cùng với các điều kiện đảm bảo thực hiện”, tức là

những gì nhà trường hứa, cam kết với xã hội (người học, giađình, nhà tuyển dụng, nhà nước và toàn xã hội) rằng ngườihọc sẽ đạt được sau khi kết thúc khóa học tại trường

Theo quan điểm dạy để làm nghề, CĐR của các trườngdạy nghề là người học sau khi đã được cung cấp kiến thức vàrèn luyện thực hành kỹ năng nghề, được trang bị thái độ làmviệc theo yêu cầu của một nghề nào đó thì phải hành "nghề"

để có thể tìm việc làm hoặc tự tạo việc làm khi hoàn thành

và kết thúc khóa học Chỉ cần làm được nghề đúng nghĩa chứ

Trang 23

chưa cần "lành nghề", bởi lẽ để lành nghề thì cần có thêmnhiều thời gian để tích lũy kinh nghiệm làm việc, rèn luyệnthực tế với tỷ lệ thời gian có thể dài bằng hoặc nhiều hơn thờigian học tập đã thực hiện Và còn một điều kiện khác là tùyvào khả năng cá nhân và sự nhạy bén của bản thân trong việctiếp cận và trải nghiệm nghề nghiệp Đấy cũng chính là

"Chuẩn đầu ra" mang tính định hướng hướng tới thị trườnglao động, giúp cho SV tốt nghiệp có thể có việc làm và đápứng yêu cầu công việc của doanh nghiệp

Chuẩn đầu ra của một trường đào tạo nghề có thể đượchiểu là sự khẳng định (cam kết) của trường (cơ sở đào tạo) đốivới người học, gia đình và doanh nghiệp (xã hội), mongmuốn một người tốt nghiệp có khả năng “làm được” nhờ kếtquả của quá trình đào tạo Hay nói một cách khác, “Chuẩnđầu ra” là lời khẳng định của những điều mà trường muốn SVcủa trường có khả năng làm, biết, hoặc hiểu (thực hiện đượcmột ví trí công việc hoặc là có khả năng thể hiện được kết quảmột việc được giao và kết quả đó mang tính định lượng) nhờhoàn thành một khóa đào tạo của trường

Chuẩn đầu ra dưới góc độ người học, là năng lực ngườihọc đạt được sau khi tốt nghiệp là khả năng làm việc cá nhân

Trang 24

và làm việc nhóm trên cơ sở tuân thủ các nguyên tắc an toànnghề nghiệp, đạo đức nghề nghiệp và thái độ đối với nghề.

“Chuẩn đầu ra” đối với người học bao gồm kiến thức, kỹnăng, tính chủ động sáng tạo trong giải quyết các vấn đề liênquan đến chuyên ngành được đào tạo tương ứng đối với mỗitrình độ đào tạo CĐR của một trường được cấu thành bởi 2phần: chuẩn chung của cấp đào tạo, nghề đào tạo và chuẩnriêng tăng thêm của từng trường phù hợp với năng lực và nhucầu sử dụng của thị trường lao động mà trường đó hướng đến

Theo quan điểm trên, mỗi một trường sẽ có nhiều

“Chuẩn đầu ra” tương ứng với các chương trình đào tạo khácnhau do trường xây dựng và tổ chức đào tạo Đối với mộttrường dạy nghề, cũng có những chuẩn đầu ra tương ứng vớitừng ngành nghề học, từng cấp bậc học Nội dung của “Chuẩnđầu ra” gồm 3 yếu tố: Hệ thống kiến thức, kỹ năng người họccần phải có sau khóa đào tạo và ý thức về năng lực tự chủ, tựchịu trách nhiệm (thái độ) mà người học phải có “Chuẩn đầura” nhấn mạnh vào người học, nhấn mạnh đến khả năng ngườihọc làm được việc gì đó sau khi hoàn thành khóa học; là cơ sởđịnh hình mục tiêu để xây dựng chương trình đào tạo của cáctrường nói chung, cơ sở đào tạo nghề nói riêng

Trang 25

- Vai trò của chuẩn đầu ra đối với đào tạo nghề

Việc đào tạo nghề theo định hướng xã hội đòi hỏi phải

có “Chuẩn đầu ra” phù hợp với nhu cầu thực tế “Chuẩn đầura” của trường phải được xây dựng từ nhu cầu thực tế, từ vị tríviệc làm xác định Vì vậy, để xây dựng được “Chuẩn đầu ra”của từng ngành, nghề, từng cấp độ đào tạo đòi hỏi trường phảixuất phát từ nghiên cứu thực tế việc sử dụng nhân lực đangdiễn ra tại các cơ sở sẽ sử dụng học viên của trường

Việc xác định “Chuẩn đầu ra” phù hợp có tác dụng: Đổimới phương pháp học tập trung vào người học mà không phảitập trung vào giáo viên một cách thực chất; Làm rõ vai trò củatừng thành tố trong mối quan hệ Dạy - Học - Đánh giá, do đóviệc thiết kế chương trình đào tạo sẽ gắn với nhu cầu hơn; Hỗtrợ công tác đảm bảo chất lượng và hình thành các chuẩn đàotạo; Người học và doanh nghiệp đều có lợi trong: đào tạo,tuyển dụng, bồi dưỡng, đánh giá và tiến bộ nghề nghiệp củamỗi cá nhân; Cùng với “Chuẩn đầu ra” sẽ hình thành hệ thốngtín chỉ, tín chỉ có thể tạo ra “đồng tiền chung” gắn kết giữacác trường giáo dục nghề nghiệp với nhau và với giáo dục đạihọc tạo điều kiện học liên thông và học suốt đời

Trang 26

Đặc biệt là, “Chuẩn đầu ra” sẽ khắc phục một số vấn đềtồn tại gắn với truyền thống coi trọng đầu vào trong pháttriển chương trình đào tạo, giáo viên dạy những gì mà mình

có, nhà trường cung cấp dịch vụ giáo dục có đến đâu thì làmđến đó

“Chuẩn đầu ra” mang lại nhiều lợi ích cho các thànhphần tham gia vào hoạt động đào tạo Cụ thể là:

Đối với doanh nghiệp: “Chuẩn đầu ra” giúp cho doanh

nghiệp biết nguồn lao động để tuyển dụng theo nhu cầu củamình; tuyển dụng hiệu quả trên cơ sở nghiên cứu “Chuẩn đầura” của từng trường để đối chiếu với nhu cầu lao động; đánhgiá khả năng cung ứng nhân lực để có quyết định đầu tư phùhợp; xây dựng đối tác với cơ sở đào tạo để chủ động và pháttriển chất lượng nguồn nhân lực của doanh nghiệp, tổ chức

Đối với SV: “Chuẩn đầu ra” giúp cho SV biết được điều

gì mình cần đạt được một cách khá chi tiết (làm được gì?);biết để lựa chọn ngành nghề đào tạo (tuyển sinh) phù hợp vớinăng lực; học tập và rèn luyện theo các chuẩn đầu ra; hướngdẫn SV và giúp SV chuẩn bị thi kiểm tra; tăng cơ hội việc làm

Trang 27

của SV sau đào tạo; tăng cơ hội lựa chọn, đổi nghề phù hợpvới năng lực của bản thân và yêu cầu của thị trường lao động.

Đối với cán bộ giảng dạy: “Chuẩn đầu ra” giúp cho giáo

viên có cơ sở để thiết kế nội dung dạy học; thiết kế kế hoạchdạy học và tổ chức thực hiện; chọn lựa phương pháp, công cụđánh giá thích hợp, hiệu quả; phấn đấu bản thân để đáp ứngvới yêu cầu “Chuẩn đầu ra” cho học sinh, SV…

Đối với cơ sở đào tạo: “Chuẩn đầu ra”giúp cho trường

lựa chọn được hình thức marketing ngành học phù hợp; theodõi đánh giá giáo viên, hiệu quả hoạt động đào tạo của cáckhoa và của trường; tăng cường khả năng hợp tác với doanhnghiệp, đổi mới chương trình đào tạo; nâng cao chất lượng hiệuquả đào tạo, đa dạng hóa các loại hình đào tạo theo nhu cầu:đào tạo theo tín chỉ, liên thông…; CĐR quan tâm đến triểnvọng của SV; chú ý đến thời điểm cuối khóa đào tạo, cuối mỗihọc phần, cuối mỗi bài giảng về điều gì SV có khả năng làmđược và hiểu biết được khi kết thúc chương trình để tổ chức

và quản lý

- HOẠT ĐỘNG TỰ HỌC TRONG ĐÀO TẠO TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ

Ngày đăng: 18/06/2019, 17:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w