1. Trang chủ
  2. » Văn bán pháp quy

Bài giảng Lịch sử các học thuyết kinh tế

20 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 561,3 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế giúp cho người học mở rộng và nâng cao hiểu biết về thị trường, đặc biệt nó trang bị cho những nhà khoa học kinh tế cũng như những nhà q[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC PHẠM VĂN ĐỒNG

KHOA KINH TẾ

BÀI GIẢNG

MÔN: LỊCH SỬ CÁC HỌC

THUYẾT KINH TẾ

(Dùng cho đào tạo tín chỉ - Bậc Đại học)

Lưu hành nội bộ - Năm 2018

Người biên soạn: Th.S Bùi Tá Toàn

Trang 2

Chương 1: ĐỐI TƯỢNG VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.1 Giới thiệu khái quát học phần

Học phần Lịch sử học thuyết kinh tế cung cấp một cách có hệ thống các quan điểm, các học thuyết của các trường phái, các đại biểu tiêu biểu trên thế giới gắn liền với điều kiện lịch sử xuất hiện của chúng

Cần nắm vững và phân biệt một số khái niệm sau:

Tư tưởng kinh tế: Là những quan hệ kinh tế được phản ánh vào trong ý thức

của con người, được con người quan niệm, nhận thức, là kết quả của quá trình nhận thức những quan hệ kinh tế của con người

Học thuyết kinh tế: Là hệ thống quan điểm kinh tế của các đại biểu tiêu biểu

cho các tầng lớp, giai cấp trong một chế độ xã hội nhất định Hệ thống quan điểm kinh tế là kết quả của việc phản ánh quan hệ sản xuất vào ý thức con người trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Kinh tế chính trị: Là môn khoa học xã hội nghiên cứu những cơ sở kinh tế

chung của đời sống xã hội tức là những quan hệ kinh tế trong giai đoạn phát triển nhất định của xã hội loài người

Kinh tế học: Là môn học nghiên cứu những vấn đề con người và xã hội lựa

chọn như thế nào để sử dụng nhiều nguồn tài nguyên khan hiếm, bằng nhiều cách

để sản xuất ra nhiều loại hàng hoá

Lịch sử tư tưởng kinh tế: Là môn khoa học nghiên cứu sự phát triển của tư

tưởng kinh tế được thể hiện qua các chính sách, cương lĩnh, điều luật, các tác phẩm, các học thuyết kinh tế, của các giai cấp, các tầng lớp trong xã hội, trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, nhằm vạch rõ quy luật phát sinh, phát triển và thay thế lẫn nhau của các tư tưởng kinh tế

Lịch sử các học thuyết kinh tế: Là môn khoa học xã hội nghiên cứu quá trình

phát sinh, phát triển, đấu tranh và thay thế lẫn nhau của hệ thống quan điểm kinh tế của các giai cấp cơ bản trong các hình thái kinh tế xã hội khác nhau

Trang 3

 Nội dung nghiên cứu của học phần gồm 9 chương:

1 Chương 1: Đối tượng và các phương pháp nghiên cứu

Khái quát đối tượng, phương pháp và sự cần thiết phải nghiên cứu môn học

2

Chương 2: Các tư tưởng kinh

tế thời cổ đại và thời trung cổ

Nghiên cứu những tư tưởng kinh tế thời

Cổ đại và Trung cổ, từ đó thấy được 1 số đóng góp và những hạn chế của nó trong kho tàng tư tưởng kinh tế nhân loại

3 Chương 3: Học thuyết kinh tế chủ nghĩa trọng thương

Giới thiệu về những tư tưởng chính của học thuyết chủ nghĩa trọng thương

4

Chương 4: Các học thuyết kinh

tế tư bản cổ điển

Tìm hiểu về quá trình ra đời và tư tưởng chủ yếu của các học thuyết kinh tế tư bản

cổ điển

5

Chương 5: Các học thuyết kinh

tế tiểu tư sản

Nghiên cứu về sự ra đời, nội dung, những đóng góp và hạn chế của trường phái kinh tế học Tiểu tư sản

6

Chương 6: Các học thuyết kinh

tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng ở phương tây thế kỷ thứ

19

Cung cấp kiến thức cơ bản về sự ra đời, những quan điểm chính trong học thuyết kinh tế của chủ nghĩa xã hội không tưởng Tây Âu thế kỷ XIX

7

Chương 7: Học thuyết kinh tế chủ nghĩa Marx Lênin

Tìm hiểu quá trình hình thành, phát triển

và những đóng góp có tính cách mạng của Trường phái kinh tế học Marxist

8

Chương 8: Học thuyết kinh tế JOHN MAYNARD KEYNES

Và trường phái KEYNES

Nghiên cứu về những tư tưởng chính trong học thuyết của keynes và giá trị thực tiễn của học thuyết cho đến ngày nay

9

Chương 9: Học thuyết về nền kinh tế hỗn hợp

Giới thiệu về sự ra đời, hình thành và phát triển của học thuyết về nền kinh tế hỗn hợp

Trang 4

1.2 Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

1.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Là hệ thống các quan điểm kinh tế của các trường phái khác nhau gắn với các giai đoạn lịch sử nhất định

Hệ thống các quan điểm kinh tế là tổng hợp những tư tưởng kinh tế giải thích thực chất của các hiện tượng kinh tế nhất định, có mối liên hệ phụ thuộc lẫn nhau và những tư tưởng kinh tế đó phát sinh như là kết quả của sự phản ánh các quan hệ sản xuất vào ý thức con người

Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế là các quan điểm kinh

tế đã được hình thành trong một hệ thống nhất định, những quan điểm kinh tế chưa trở thành hệ thống nhưng có ý nghĩa lịch sử thì thuộc môn lịch sử tư tưởng kinh tế Trong quá trình nghiên cứu phải chỉ ra những cống hiến, những giá trị khoa học cũng như phê phán có tính lịch sử những hạn chế của các đại biểu, các trường phái kinh tế học

Không dừng lại ở cách mô tả mà phải đi sâu vào bản chất của vấn đề, tìm hiểu quan hệ kinh tế, quan hệ giai cấp được giải quyết vì lợi ích giai cấp nào, tầng lớp nào

Cụ thể:

- Trong điều kiện nào nảy sinh lý luận tư tưởng

- Nội dung, bản chất giai cấp của học thuyết

- Hiểu được phương pháp luận của trường phái đề xuất học thuyết

- Hiểu được sự vận động và phát triển có tính quy luật của học thuyết

1.2.2 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp biện chứng duy vật: Đây là phương pháp chung, xuyên suốt

quá trình nghiên cứu Là phương pháp nhận thức khoa học, nhằm nghiên cứu một cách sâu sắc, vạch rõ bản chất của các hiện tượng kinh tế-xã hội

- Phương pháp lôgíc kết hợp với lịch sử: Phương pháp này đòi hỏi khi

nghiên cứu các quan điểm kinh tế phải gắn với lịch sử, phải phân chia thành các giai đoạn phát triển của chúng, không dùng tiêu chuẩn hiện tại để đánh giá ý nghĩa của các quan điểm kinh tế đó

Trang 5

- Một số phương pháp cụ thể khác

Ví dụ phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so sánh,… nhằm đánh giá đúng công lao, hạn chế, tính phê phán, tính kế thừa và phát triển của các trường phái kinh tế trong lịch sử

Nguyên tắc chung (cho các phương pháp nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế) là nghiên cứu có hệ thống các quan điểm kinh tế, đồng thời đánh giá đúng đắn công lao và hạn chế của các nhà lý luận kinh tế trong lịch sử

Mặt khác, phản ánh một cách khách quan tính phê phán vốn có của các học thuyết kinh tế, không phủ nhận tính độc lập tương đối của các học thuyết kinh tế và ảnh hưởng của chúng đối với sự phát triển kinh tế xã hội

1.3 Chức năng và ý nghĩa nghiên cứu học phần

1.3.1 Chức năng của học phần

Môn lịch sử các học thuyết kinh tế có 4 chức năng là:

- Chức năng nhận thức

Lịch sử các học thuyết kinh tế nghiên cứu và giải thích các hiện tượng, các quá trình kinh tế nhằm phát hiện ra các phạm trù, quy luật kinh tế khách quan của các giai đoạn phát triển nhất định Từ đó giúp cho việc nhận thức lịch sử phát triển của sản xuất nói riêng và lịch cử xã hội loài người nói chung

- Chức năng thực tiễn

Nhận thức nhằm phục vụ cho hoạt động thực tiễn của con người Lịch sử học thuyết kinh tế còn chỉ ra các điều kiện, cơ chế hình thức và phương pháp vận dụng những tư tưởng kinh tế, quan điểm kinh tế, lý thuyết kinh tế vào thực tiễn để đạt hiệu quả cao nhất

- Chức năng tư tưởng

Thể hiện tính giai cấp của các học thuyết kinh tế Mỗi học thuyết kinh tế đều đứng trên một lập trường nhất định, bảo vệ lợi ích của giai cấp nhất định, phê phán hoặc biện hộ cho một chế độ xã hội nhất định

- Chức năng phương pháp luận: Cung cấp cơ sở lý luận khoa học cho các

môn khoa học kinh tế khác như kinh tế chính trị, kinh tế học, quản lý kinh tế, các

Trang 6

môn khoa học kinh tế ngành Cung cấp tri thức làm cơ sở cho đường lối chính sách kinh tế của các nước

1.3.2 Ý nghĩa của học phần

Qua các chức năng của môn học mà thấy được ý nghĩa của việc nghiên cứu nhằm giúp cho người học hiểu sâu, rộng, có nguồn gốc về những vấn đề kinh tế nói chung và kinh tế chính trị Marx - Lênin nói riêng, giúp cho việc nghiên cứu các vấn

đề kinh tế hiện đại

Việc nghiên cứu lịch sử các học thuyết kinh tế giúp cho người học mở rộng và nâng cao hiểu biết về thị trường, đặc biệt nó trang bị cho những nhà khoa học kinh

tế cũng như những nhà quản lý kinh tế những kiến thức cần thiết trong việc nghiên cứu và xây dựng đường lối, chiến lược phát triển kinh tế của đất nước cũng như chiến lược kinh doanh trên thương trường

 CÂU HỎI VÀ BÀI TẬP

1 Phân biệt tư tưởng kinh tế và học thuyết kinh tế, lịch sử tư tưởng kinh tế và lịch sử học thuyết kinh tế

2 Đối tượng nghiên cứu của lịch sử các học thuyết kinh tế là gì?

3 Chức năng của môn lịch sử các học thuyết kinh tế và ý nghĩa của việc nghiên cứu môn học này?

Trang 7

Chương 2: CÁC TƯ TƯỞNG KINH TẾ THỜI CỔ ĐẠI VÀ THỜI

TRUNG CỔ1

2.1 Tư tưởng kinh tế thời kỳ Cổ đại

2.1.1 Bối cảnh ra đời và những đặc trưng cơ bản của các tư tưởng kinh tế thời kỳ Cổ đại

- Bối cảnh ra đời Thời kỳ cổ đại bắt đầu từ khi chế độ công xã nguyên thuỷ tan rã, chế độ chiếm hữu nô lệ ra đời Thời kỳ này tồn tại và phát triển cho đến khi chế độ chiếm hữu nô

lệ tan rã, xuất hiện chế độ phong kiến

Chế độ tư hữu xuất hiện mà hình thức đầu tiên là chế độ chiếm hữu nô lệ

Sự xuất hiện của chế độ chiếm hữu nô lệ gắn liền với sự ra đời của nhà nước thống trị đầu tiên trong lịch sử Mâu thuẫn giữa giai cấp chủ nô và nô lệ dẫn đến hàng loạt cuộc khởi nghĩa của nô lệ và dân nghèo Trước bối cảnh đó, các tư tưởng

xã hội phát triển, trong đó có tư tưởng kinh tế đe doạ sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ

- Đặc điểm + Coi sự tồn tại của chế độ chiếm hữu nô lệ là hợp lý, coi sự phân chia xã hội thành chủ nô và nô lệ là đương nhiên

+ Đánh giá cao vai trò của nông nghiệp và kinh tế tự nhiên, chống lại sự phát triển của kinh tế hàng hoá, coi thường vai trò của thủ công nghiệp và thương nghiệp

+ Còn rất sơ khai

2.1.2 Tư tưởng kinh tế Hy Lạp, La mã thời kỳ Cổ đại

- Hy lạp cổ đại

 Xenophon (430-345 TCN)

Đặc điểm chủ yếu trong tư tưởng kinh tế của Xenophon là phản ánh mong muốn của giai cấp chủ nô sử dụng tốt sự phát triển của các quan hệ hàng-tiền Vì vậy, một mặt ông xem xét hoạt động kinh tế như là quá trình tạo ra những vật phẩm

có ích, tạo ra giá trị sử dụng Ông là người đầu tiên trong lịch sử đã chú ý đến phân

1 PGS.TS Trần Bình Trọng, Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế, NXB Đại học Kinh tế Quốc dân, năm

2014, trang 15-44

Trang 8

công lao động xã hội Mặt khác, ông lại chỉ cho các chủ nô biết rằng để làm giàu cần phải có những sản phẩm dư thừa rút ra từ việc thoả mãn ở mức tối thiểu những nhu cầu của nô lệ

Các tư tưởng kinh tế của Xenophon:

Về phân công lao động xã hội: theo ông, phân công lao động xã hội có vai trò thúc đẩy giao lưu hàng hoá giữa các vùng, nâng cao được chất lượng hoạt động Giữa phân công lao động và quy mô thị trường có mối liên hệ chặt chẽ, ở những nơi trao đổi phát triển mạnh thì phân công lao đông phát triển mạnh

Về giá trị: Ông coi giá trị là một cái gì đó có ích cho con người và con người biết sử dụng được lợi ích đó

Về tiền tệ: Do việc buôn bán phát triển, Xenophon đã thấy được vai trò của tiền trong nền kinh tế Theo ông, vàng bạc là tiền có nhu cầu không giới hạn, việc tích trữ vàng bạc làm cho con người ta giàu có Từ đó, ông khuyên cách sử dụng nô

lệ tốt nhất là dùng họ vào việc khai thác vàng bạc Theo Xenophon, tiền không chỉ

là phương tiện trao đổi mà còn có chức năng tư bản

Về cung-cầu, giá cả hàng hoá: Xenophon thấy được mối liên hệ giữa giá cả hàng hoá với cung cầu về nó

Về của cải: Xenophon cho rằng của cải là những tư liệu tiêu dùng cá nhân Nó đóng vai trò quan trọng trong việc người ta có được các vị thứ trong xã hội Muốn

có nhiều của cải thì chủ nô thỉ thoả mãn nô lệ ở mức tối thiểu

 Platon (427-347 TCN)

Bước vào thế kỷ IV Hy Lạp bị khủng hoảng nặng nề và các cuộc chiến tranh diễn ra hết sức gay gắt Platon đã đề ra cho mình nhiệm vụ củng cố địa vị của tầng lớp chủ nô và thực hiện đầy đủ nhất lợi ích của tầng lớp đó Với mục tiêu này, ông viết cuốn sách “Chính trị hay nhà nước”, trong đó, ông mô tả một nhà nước lý tưởng mới với nhiều nét không tưởng

Platon cho rằng việc xã hội phân chia thành nhiều tầng lớp là một quy luật của

tự nhiên Ông chia xã hội thành 3 tầng lớp: Các nhà triết học quản lý nhà nước; binh sỹ; các điền chủ, thợ thủ công và thương gia

Trang 9

Theo ông, tầng lớp đầu tiên hình thành lên bộ máy quản lý nhà nước Hai tầng lớp này không có quyền sở hữu bất cứ thứ gì, quyền sở hữu thuộc về “đám dân đen”, tức là tầng lớp thứ 3 Platon không coi nô lệ là công dân và không xếp nô lệ vào các tầng lớp dân cư của xã hội mới Mặc dù vậy, ông cho rằng người nô lệ cùng với điền chủ, thợ thủ công và thương gia phải thoả mãn đầy đủ nhu cầu của 2 tầng lớp đầu

Platon giải thích mối liên hệ giữa phân công lao động xã hội, thương mại và tiền tệ với vai trò nổi bật của các thương gia Marx đánh giá cao ý tưởng này của Platon và gọi đó là sự nổi bật thiên tài so với thời đại

Khi nghiên cứu về tiền tệ, ông chỉ ra tiền tệ với hai thuộc tính là thước đo giá trị và ký hiệu giá trị Ngoài ký hiệu giá trị làm phương tiện lưu thông trong nước, tiền còn dùng làm phương tiện trao đổi giữa Hy Lạp và các nước khác Song ông lại cho rằng tiền là một trong những nguyên nhân gây ra sự thù hằn trong xã hội, vì vậy ông kêu gọi phấn đấu để sao trong nhà nước lý tưởng không cần dùng đến vàng bạc Ông yêu cầu hạn chế tối đa lợi nhuận thương mại bằng cách bình ổn giá cả Đồng thời, ông đề nghị cấm cho vay nặng lãi để chống lại lợi ích của tầng lớp quý tộc

 Aristoteles (384-322 TCN)

Theo K.Marx, Aristoteles là nhà tư tưởng lớn nhất thời cổ đại Cũng như Xenophon và Platon, Aristoteles là người bảo vệ lợi ích của giai cấp chủ nô đương thời, chống lại lợi ích của người nô lệ Tuy nhiên trong tư tưởng kinh tế của ông có nhiều cống hiến quý giá

Theo Aristoteles, “của cải thực tế” (của cải tự nhiên) là toàn bộ các giá trị sử dụng Ông cho rằng tất cả các hoạt động gắn liền với việc tạo ra giá trị sử dụng là hoạt động kinh tế

Để củng cố nền kinh tế chiếm hữu nô lệ, Aristoteles coi việc củng cố giai cấp chủ nô bậc trung bằng cách bảo đảm sự trao đổi công bằng nhờ nhà nước là quan trọng

Ông là người đầu tiên phân tích giá trị trao đổi thông qua phương trình “5 cái giường= 1 cái nhà”

Trang 10

Theo K.Marx, Aristoteles hiểu tiền tệ một cách sâu rộng hơn Platon, tuy nhiên,

do nền sản xuất hàng hoá chưa phát triển và cách hiểu không đúng về giá trị nên Aristoteles đánh giá không đúng là hàng hoá đều có thể đo đếm được giữa chúng với nhau là nhờ tiền tệ

Một cống hiến quan trọng của Aristoteles là tư tưởng về 3 loại thương nghiệp

và 3 loại kinh doanh Ông chia hoạt động kinh doanh thành 2 loại: kinh tế và sản xuất của cải

Hoạt động kinh tế nhằm sản xuất của cải Trao đổi chỉ là phương tiện làm tăng thêm giá trị sử dụng Loại kinh doanh này bao gồm 2 loại trao đổi đầu tiên (H-T,H-T-H), ông coi đó là hợp với quy luật

Hoạt động sản xuất của cải có mục đích là làm giàu Loại này có quan hệ với trao đổi làm giàu T-H-T’ (đại thương nghiệp) Ông cho rằng loại kinh doanh này không phù hợp với quy luật, cần phải loại bỏ

Những tư tưởng của Aristoteles có ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế chính trị của phái cổ điển và của K.Marx sau này

- La Mã cổ đại

 Carton (234-149 TCN)

Thời kỳ này nhà nước La Mã ngày càng lớn mạnh Trong đó, nền kinh tế chiếm hữu nô lệ gắn liền với thị trường đóng vai trò chủ đạo Carton là nhà tư tưởng bảo vệ cho nền kinh tế chiếm hữu nô lệ

Trong tác phẩm “Nghề trồng trọt”, ông đề nghị “Tiêu dùng ít, dành dụm nhiều” Carton coi lợi nhuận chính là số dư thừa ngoài giá trị mà giá trị được ông hiểu là những chi phí sản xuất Chẳng hạn, trong việc sử dụng công nhân tự do, ông

cho rằng tất cả “giá trị là các chi phí về vật tư và tiền trả cho công thợ” Vì vậy, để

có được lợi nhuận cao ông khuyên hãy “yên tâm chờ đợi giá cao”

Tuy nhiên, Carton là kẻ thù của việc sử dụng lao động làm thuê Ông mong muốn bảo đảm thu nhập nhờ các nô lệ Ông chú ý nhiều đến việc tổ chức lao động của nô lệ Carton đề nghị duy trì những cuộc cãi cọ giữa nô lệ với nhau, bắt nô lệ làm việc khổ ải hơn gia súc

Ngày đăng: 11/03/2021, 11:04

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w