Định nghĩa của nhà nhân học nổi tiếng người Anh Edward Burnett Tylor 1832-1917 trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy” Primitive Culture xuất bản năm 1871 ở Luân Đôn được xem như là định nghĩa
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC AN GIANG
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN LỊCH SỬ
VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
ĐHAG, năm 2014
Trang 2Phần thứ nhất KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ KHU VỰC VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
3
Phần thứ hai KHÁI QUÁT CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á
Phần thứ ba CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
Trang 3Phần thứ nhất KHÁI NIỆM VĂN HÓA VÀ KHU VỰC VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á 1.1 KHÁI NIỆM VĂN HÓA
Văn hóa là một khái niệm được hiểu theo nhiều phương diện và bình diện khác nhau ở những khu vực khác nhau và trong các giai đoạn lịch sử khác nhau
Ở phương Tây, quan niệm văn hóa được đề cập đến khá sớm với tinh thần
căn bản là sự “trồng trọt tinh thần” gắn với từ Culture bắt nguồn từ chữ Latinh
Cultura Nghĩa gốc của Cultura là trồng trọt vừa được dùng theo nghĩa đen để chỉ việc trồng trọt ngoài đồng (Cultura agri), vừa được dùng theo nghĩa bóng để chỉ việc
“trồng trọt” tinh thần (Cultura animi) tức việc giáo dục tâm hồn trí tuệ con người
Trong ngôn ngữ cổ của Trung Quốc, văn là một từ dùng để chỉ vẻ ngoài, hóa
là dạy dỗ, giáo hóa Từ (văn) theo cách giải thích của Tuân Tử (thế kỷ VI trước CN):
Văn là ngụy Ngụy là cái con người làm thêm, không phải tự nhiên Theo đó con người có thể được giáo hóa, dạy dỗ để trở nên đẹp đẽ hơn, để có thể sửa đổi cái tự nhiên thành có văn hơn Chính theo cách hiểu đó, văn hóa được dùng để dịch từ Culture của châu Âu vào đầu thế kỷ XX khi các tân thư từ phương Tây vào Nhật Bản, truyền qua Trung Quốc rồi vào Việt Nam
Tuy đã được đề cập đến từ lâu nhưng văn hóa chỉ bắt đầu được khảo cứu như một đối tượng của khoa học từ thế kỷ XIX Định nghĩa của nhà nhân học nổi tiếng
người Anh Edward Burnett Tylor (1832-1917) trong cuốn “Văn hóa nguyên thủy”
(Primitive Culture) xuất bản năm 1871 ở Luân Đôn được xem như là định nghĩa khoa học sớm nhất về văn hóa:
“Văn hóa hoặc văn minh hiểu theo nghĩa rộng nhất của dân tộc học, có nghĩa là một tổng thể phức hợp bao gồm các kiến trúc tín ngưỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật lệ phong tục và tất cả những khả năng và thói quen mà con người đạt được với tư cách là một thành viên trong xã hội”
Định nghĩa này được nhiều nhà nghiên cứu văn hóa, nhiều thế hệ tham khảo như một điểm xuất phát để tán thành hoặc thêm bớt theo quan niệm của họ
Trang 4Cùng với sự phát triển của việc nghiên cứu văn hóa, có rất nhiều định nghĩa văn hóa được đưa ra sau định nghĩa của E B Tylor Số lượng của các định nghĩa này lên đến hàng trăm, theo UNESCO thì đã có tới 256 định nghĩa Sự phong phú của định nghĩa khoa học về văn hóa trước hết cho thấy bản thân văn hóa là một hiện tượng đa dạng phức tạp và sau đó nữa là sự đa dạng về góc độ nhìn nhận của các tác giả nghiên cứu văn hóa Hiện tượng này làm cho việc hiểu khái niệm văn hóa trở nên phân tán, đến mức UNESCO phải khuyến cáo các nhà khoa học không nên đưa thêm các định nghĩa văn hóa nữa
Có nhiều cách để giải thích hiện tượng đó nhưng theo chúng tôi hiện tượng
có nhiều định nghĩa văn hóa cũng có thể giải thích được khi chúng ta trở lại cách hiểu khái niệm trong triết học
Chúng ta đều biết khái niệm có hai thành phần là nội hàm và ngoại diên được biểu đạt bởi định nghĩa: Nội hàm là tập hợp tất cả các thuộc tính chung của các đối tượng được phản ánh trong một khái niệm Do đó có thể hiểu nội hàm là khái niệm Ngoại diên là tập hợp tất cả các đối tượng có thuộc tính chung được phản ánh trong một khái niệm Mối quan hệ giữa nội hàm và ngoại diên theo tỷ lệ nghịch Mở rộng ngoại diên thì dấu hiệu đặc trưng trong nội hàm của khái niệm bị thu hẹp và ngược lại, khi thu hẹp ngoại diên thì nội hàm được mở rộng
Văn hóa liên quan đến mọi mặt đời sống của con người nên nó mang một ngoại diên rất rộng Bất cứ một cái gì (một cá thể nào) do con người làm ra, đều có chứa thuộc tính văn hóa Do đó, nếu lấy ngoại diên làm căn cứ để định nghĩa thì xảy
ra hiện tượng quá nhiều định nghĩa và nếu cứ mở rộng định nghĩa theo ngoại diên thì định nghĩa sẽ có thể trở nên vô tận, khó hiểu và có thể vô nghĩa Vì vậy, cần chấp nhận nội hàm của khái niệm văn hóa mà dấu hiệu đặc trưng của nó bị thu hẹp đến
mức chung nhất: Văn hóa là tất cả những gì do con người sáng tạo ra (khu biệt với
cái tự nhiên chưa có sự can thiệp của con người) trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội
Trang 5là kết quả của quá trình phát triển văn hóa Để hiểu về bản chất của khái niệm văn hóa, chúng tôi thấy cần giới thiệu thêm năm hàng số sau đây của văn hóa:
1 Hằng số nhân văn:
Hằng số nhân văn của văn hóa thể hiện ở chỗ mọi hoạt động sáng tạo trong văn hóa là vì con người, giúp cho con người ngày càng người hơn, tiến bộ phát triển hơn
2 Hằng số định hướng giá trị:
Văn hóa có một hệ giá trị phổ quát vĩnh hằng để hướng tới, để định chuẩn là: Chân, Thiện, Mỹ Đó vừa là lý tưởng cuộc sống xã hội, vừa là lý tưởng thẩm mỹ văn hóa
3 Hằng số nhận thức:
Nhận thức là điều kiện thiết yếu và là nội dung cấu thành những hoạt động văn hóa của con người Thực tiễn hoạt động để tồn tại của bản thân cộng đồng đòi hỏi con người phải có nhận thức, thu thập kiến thức để phục vụ sự sống hoạt động, phát triển và truyền lại cho thế hệ sau
4 Hằng số sáng tạo:
Sáng tạo là thuộc tính bản chất của văn hóa xét từ cội nguồn cũng như quá trình tồn tại và phát triển của nó Khả năng sáng tạo là khả năng đặc biệt của con người giúp con người vượt lên tạo nên cái tự nhiên thứ hai của mình để tồn tại và phát triển
5 Hằng số giao tiếp văn hóa:
Không thể nói đến văn hóa mà không có giao lưu tiếp xúc văn hóa Giao lưu
và tiếp xúc văn hóa là nhu cầu tự nhiên và là một điều kiện của phát triển, của tiến hóa văn hóa
Các hằng số như những thuộc tính nội dung bản chất của văn hóa vừa nêu cho thấy khái niệm văn hóa là một khái niệm rộng và bao quát Để nghiên cứu người
ta thường quy văn hóa vào một số loại hình cụ thể Thông thường là phân ra văn hóa vật chất, văn hóa xã hội, văn hóa tinh thần Một số khác theo quan niệm hệ thống loại hình văn hóa thì phân loại văn hóa gồm:
Trang 6a Văn hóa nhận thức: Nhận thức về vũ trụ - nhận thức về con người
b Văn hóa tổ chức cộng đồng: Tổ chức đời sống tập thể, tổ chức đời sống cá
nhân
c Văn hóa ứng xử với môi trường tự nhiên: Văn hóa tận dụng môi trường tự
nhiên – Văn hóa đối phó với môi trường tự nhiên
d Văn hóa ứng xử xã hội: Văn hóa tận dụng môi trường xã hội – Văn hóa đối
phó với môi trường xã hội
Tuy vậy, mọi sự phân loại đều chỉ là quy ước và là công cụ để nghiên cứu văn hóa mà thôi
Nếu chúng ta đã coi văn hóa là những hoạt động sáng tạo có tính nhân văn và hữu ích của con người thì còn có một đặc điểm cực kỳ quan trọng của quá trình sáng tạo đó là: mỗi tộc người có một kiểu, một phong cách, một thói quen, một sở trường khác nhau tạo ra những bản sắc văn hóa khác nhau
Bản sắc văn hóa là vấn đề cốt lõi của nghiên cứu văn hóa vì vậy chúng ta dừng lại để tìm hiểu sâu hơn bản chất của khái niệm bản sắc văn hóa
Văn hóa là một hoạt động sáng tạo chỉ riêng con người mới có, có nguồn gốc
từ nhận thức – một đặc điểm cũng chỉ có riêng ở con người Do đó, chúng ta sẽ tìm hiểu bản chất của khái niệm bản sắc văn hóa ngay trong hoạt động nhận thức của con người
Sở dĩ con người có trí tuệ chỉ bởi con người có một khả năng đặc biệt: Khả năng biểu trưng hóa trong hoạt động ý thức Nhờ đó, con người sống đồng thời với
ba thế giới:
a Thế giới ý niệm: Là thế giới trong đầu óc con người Đó là thế giới của sự
phản ánh thực tại và vừa từ thực tại mà suy luận mà tưởng tượng, đem lại cho con người khả năng vô tận – khả năng trí tuệ và tâm linh Thế giới này vô hình vô hạn,
vô khả tri
b Thế giới thực tại: Là thế giới khách quan, hữu hình hữu hạn và khả tri, là
Trang 7c Thế giới biểu trưng: Là thế giới của các tín hiệu do con người sáng tạo ra
làm vật môi giới giữa thế giới ý niệm và thế giới thực tại
Do vậy, biểu tượng bao giờ cũng là những tín hiệu hai mặt: Cái biểu hiện là những hình thức tồn tại dưới dạng vật thể nằm trong thế giới thực tại và cái được biểu hiện là những ý nghĩa, những giá trị, những thông điệp thuộc thế giới ý niệm
Văn hóa được xem như một tổng thể các hệ thống tín hiệu tức những hệ thống diễn đạt và giao lưu bằng phương thức biểu trưng hóa Ngôn ngữ là một hệ thống tín hiệu đặc biệt quan trọng bậc nhất của loài người với hai chức năng chính là công cụ của tư duy và công cụ giao tiếp xã hội Khác với các hệ thống tín hiệu là biểu trưng của văn hóa, ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu mang tính võ đoán, tính hình tuyến gắn bó với đồng đại Còn biểu tượng văn hóa là những hệ thống tín hiệu mà mối quan hệ giữa cái biểu hiện và cái được biểu hiện, dù thô sơ vẫn có tính có lý do Biểu tượng không theo tính hình tuyến mà kết hợp một lúc trên nhiều chiều và gắn
bó cả đồng đại lẫn lịch đại… Như vậy, văn hóa là môi trường nhân tạo và tồn tại nhờ khả năng biểu trưng hóa
Trong hoạt động nhận thức của con người có một quan hệ bất biến là quan hệ giữa thế giới biểu tượng ở trong trí óc con người với thế giới tự nhiên khách quan Mỗi cộng đồng, mỗi cá nhân qua hàng ngàn năm biểu hiện mối quan hệ này thành những kiểu lựa chọn riêng, dựa trên các quy ước xã hội thể hiện thành những quy tắc được ấn định và tạo nên một dấu ấn riêng của mình Hay nói khác đi, cái đó tạo nên những nét độc đáo của mỗi nền văn hóa và khu biệt nó với nền văn hóa khác và đó chính là bản sắc văn hóa
Nếu hiểu bản chất của bản sắc văn hóa như vậy chúng ta có thể thấy rằng đóng góp to lớn nhất của mỗi nền văn hóa cho nhân loại chính là ở bản sắc độc đáo của nó, ở những cách, những kiểu lựa chọn khiến nó khu biệt với các nền văn hóa khác Có thể nói rằng, từ quan trọng nhất để nói đến văn hóa là từ KHÁC NHAU
Văn hóa như vậy phải được xem như một tổng thể của các hệ thống biểu tượng (một quyển sinh thái nhân văn) và vì vậy nên tiếp cận nó như là một cấu trúc với mối liên hệ tương tác giữa các thành tố (những tiểu hệ thống) trong một chỉnh
Trang 8thể vừa đồng nhất vừa đa dạng, vừa liên tục vừa đứt đoạn Cấu trúc đó được xem như cấu trúc hai tầng:
a Cấu trúc bề mặt: như là những biến số bao gồm tất cả những biểu hiện văn
hóa trong mọi mặt của đời sống, thường xuyên đổi mới, có thể đứt đoạn (yếu tố động) nhất là trong tiếp xúc giao lưu văn hóa, cộng sinh văn hóa,…
b Cấu trúc chiều sâu: như là những hằng số kết tinh thành những giá trị
những nhân cách xã hội, những lý tưởng thẩm mỹ, những thói quen tiềm ẩn trong tâm thức của chúng ta, mang tính liên tục, ít biến đổi (yếu tố tĩnh)
Mối quan hệ giữa cấu trúc bề mặt với cấu trúc chiều sâu là mối quan hệ biện chứng giữa cái biến hóa và cái tĩnh lại, giữa cái lịch đại và cái đồng đại, giữa các cách tân với cái truyền thống
Mối quan hệ này diễn ra như sau: Cấu trúc chiều sâu quy định sự lựa chọn của mỗi thành viên, mỗi cộng đồng, điều tiết sự biến đổi trong cấu trúc bề mặt Đến lượt mình, những cách tân trên bề mặt sẽ thẩm thấu vào cấu trúc chiều sâu làm thay đổi dần những hệ giá trị, những quan niệm những nếp sống
Cái mà chúng ta gọi là bản sắc văn hóa chính là những nét đặc thù được khắc họa bởi những hằng số của kiến trúc chiều sâu, như một sợi dây vô hình ràng buộc,
cố kết các thành viên của một cộng đồng tạo nên ý thức “thuộc về một dân tộc, một cộng đồng” và “khác biệt” với các dân tộc, các cộng đồng khác
Từ cách hiểu về khái niệm văn hóa, bản sắc văn hóa như trên, chúng ta chọn
định nghĩa văn hóa mà Federico Mayor – Tổng giám đốc UNESCO trong bài
“Thập kỷ thế giới phát triển văn hóa” đăng trên Tạp chí thông tin UNESCO, số
tháng 1 năm 1988 đã nêu ra: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng
tạo trong quá khứ và hiện tại Qua các thế kỷ, các hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu – những yếu tố xác định đặc tính riêng của từng dân tộc”
1.2 KHU VỰC VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á
Trang 9-Ấn Độ: Từ xưa, trong các sách Arthasastra và nhiều tác phẩm khác của Ấn
Độ đã nói đến Đông Nam Á, dựa vào tên gọi Cây và Khoáng sản:
Suvarnabhumi: Đất vàng Suvarnadvipa: Đảo vàng
Nàrikeladvipa: Đảo dừa Karpùradvipa: Đảo long não Yaavadvipa: Đảo lúa mạch
-Trung Quốc: Thường dùng từ Nam Dương tức vùng biển phía Nam để chỉ
Đông Nam Á Vào thế kỷ thứ III, Trung Quốc thường dùng từ Côn Lôn để chỉ các đảo và quốc gia trong vùng biển phía Nam
-Nhật Bản: Cũng dùng từ Nan Yo tức Nam Dương như Trung Quốc
-Ảrập: Thời kỳ đầu gọi Đông Nam Á là Qums, sau dùng từ Zabag để chỉ
Đông Nam Á
-Hy Lạp, La Mã: Từ giữa thế kỷ II T.CN, người ta gọi Đông Nam Á là
Chryse (Đất Vàng) hay Argyre (Đất Bạc)
Những tên gọi Cổ đại cho thấy Đông Nam Á là một vùng đất có nhiều của cải quý báu, có sức hấp dẫn đối với cư dân các vùng khác Tuy chưa xác định rõ ranh giới địa lý và vị trí Đông Nam Á, thế giới cổ đại xem Đông Nam Á là một vùng sản xuất hương liệu và những sản phẩm kỳ lạ, và cư dân là những người đi biển thành thạo và can đảm
b Phương Tây Cận đại nhận biết Đông Nam Á
Đến thời kỳ Cận đại, đặc biệt là từ thế kỷ XVII-XVIII, sách báo phương Tây
đã có những ghi chép ban đầu của những người thám hiểm, nhà buôn hoặc giáo sĩ Tiếp đến là các nhà nghiên cứu khoa học phương Tây đi sâu nghiên cứu lịch sử, xã hội, văn hóa của các nước vùng này Những tài liệu họ thu thập được, và kết quả khoa học họ rút ra được có một giá trị thật to lớn
Trang 10Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Anh Quốc đã đến Đông Nam Á đầu tiên
Họ nghiên cứu về Indonesia, Philippines và chú ý đặc biệt đến ảnh hưởng của Ấn
Độ ở đấy
Người Anh đã thành lập Công ty Đông Ấn từ năm 1600 Đến năm 1832 thì lập Royal Asiatic Society (Hội Hoàng gia châu Á) Sau Ấn Độ và Trung Quốc, Anh cũng chú ý nghiên cứu một số nước Đông Nam Á như Myanmar, Thailand, Malaysia
Người Pháp muốn xây dựng ngành Đông Phương học thành một khoa học thực sự Pháp là nước có khá nhiều Trung tâm nghiên cứu và Tạp chí về Đông Nam
Á Pháp có Trường Viễn Đông bác cổ (viết tắt EFEO), ra đời năm 1901 tại Hà Nội Nhiệm vụ EFEO là phát hiện, sưu tầm, khai thác và nghiên cứu các di tích khảo cổ, sưu tập, khai thác và nghiên cứu các di tích khảo cổ, sưu tập các văn bản chép tay và nghiên cứu các ngôn ngữ ở ba nước Việt Nam, Laos và Cambodia
Người phương Tây nhận thấy vị trí quan trọng của Đông Nam Á nên tìm cách bành trướng để kiểm soát trực tiếp, nhằm nắm độc quyền buôn bán ở đây Sự đô hộ của các thế lực thực dân về sách vở, tri thức, học vấn trong một thời kỳ khoảng 300 năm, cũng như sự thống trị chính trị trong khu vực đã chia cắt tính thống nhất khu vực của Đông Nam Á về các mặt văn hóa, chính trị, kinh tế Mỗi nước thực dân phương Tây chỉ chú ý nước bị đô hộ của mình, và làm cho nó bị lệ thuộc vào chính quốc, chứ không chú ý tính chung của khu vực
c Tên gọi Đông Nam Á ngày nay
Trước Chiến tranh thế giới thứ hai, nước đầu tiên đặc biệt chú ý nghiên cứu Đông Nam Á là Nhật, nhằm phục vụ cho chính sách Đại Đông Á của họ Nhưng Đông Nam Á thực sự bước vào lịch sử thế giới là từ Chiến tranh thế giới thứ hai
Vị trí Đông Nam Á từ nay đã khác Nghiên cứu Đông Nam Á không phải chỉ nhằm dựng lại các vương triều cổ đại, các nền văn minh vang bóng một thời, mà còn
vì sự thiếu mặt của nó là không thể được trong đời sống kinh tế, chính trị của thế
Trang 11kinh tế - chính trị thật sự Nhiều lý thuyết nhằm minh chứng Đông Nam Á là một khu vực văn hóa ngày càng được công nhận rộng rãi trong khoa học
Tên gọi Đông Nam Á cũng chính thức ra đời từ đây Theo D.G.E Hall viết trong cuốn Lịch sử Đông Nam Á thì tên gọi Đông Nam Á được sử dụng rộng rãi trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Trong tiếng Anh, tên Đông Nam Á lúc đầu viết với ba chứ rời nhau: South East Asia, sau thêm gạch nối giữa hai từ South-East, và cuối cùng mới viết liền hai chữ Southeast Điều này phản ánh nhận thức ngày càng rõ về tính chất khu vực Đông Nam Á
Tên gọi Đông Nam Á thực sự được sử dụng từ khi nước Anh chính thức
thành lập Southeast Asia Military Command (Bộ chỉ huy quân sự Đông Nam Á) năm
1943 trong Chiến tranh thế giới thứ hai
Tên gọi Đông Nam Á xuất hiện tiếp ngay sau khi chiến tranh kết thúc trong
bản Chỉ thị Kháng chiến Kiến quốc của Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương
ngày 25-11-1945
1.2.2 Xác định khu vực văn hóa Đông Nam Á
Có hai khu vực Đông Nam Á:
Nếu xét theo bản đồ chính trị - hiện đại, Đông Nam Á có 11 nước: Myanmar, Thailand, Laos, Việt Nam, Cambodia, Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines, Brunei, Đông Timo Như vậy, Đông Nam Á chính trị - hiện đại nằm trong biên giới hiện tại của 11 nước trên
Nhưng nếu xét theo bản đồ văn hóa – tộc người, thì khu vực Đông Nam Á rộng hơn Nó có thể bao gồm vùng Nam Trung Quốc, vùng Đông Bắc Ấn Độ, thậm chí các quần đảo ở Thái Bình Dương, và cả Madagascar,…
Như vậy, bản đồ của văn hóa Đông Nam Á đã được xác định trên một khu vực địa lý rộng lớn hơn biên giới của 11 nước Đông Nam Á hiện tại Phía Bắc Đông Nam Á trải rộng lên đến bờ nam của sông Dương Tử bao gồm cả vùng Nam Trung Quốc và đảo Đài Loan, phía Tây tới một phần Đông Bắc Ấn Độ (vùng Assam), phía
Trang 12đông và phía nam là cả một thế giới bán đảo và đảo nằm cạnh châu Đại Dương, thậm chí còn trôi dạt đến tận Madagascar (châu Phi), cụ thể là:
Ở phía Bắc vùng lãnh thổ thuộc bờ nam của sông Dương Tử thường được gọi
là Hoa Nam Đó là địa bàn cư trú cổ của các tộc người Bách Việt Những tộc người này không thuộc Hoa tộc mà thuộc về các tộc người Đông Nam Á Những tộc người Bách Việt thường được nhắc đến như :
-Dương Việt: ở Giang Tây ngày nay -Câu Việt: ở Giang Tô và Bắc Triết Giang ngày nay -Đông Việt: ở Nam Triết Giang ngày nay
-Mân Việt: ở Phúc Kiến ngày nay -Nam Việt: ở Quảng Đông ngày nay -Quế Việt: ở Quảng Tây ngày nay -Điền Việt: ở Vân Nam ngày nay -Lạc Việt:
-Âu Việt:
Trong quá trình phát triển khu vực này chịu sự Hán hóa mạnh mẽ của Hoa tộc và sau đó là Hán tộc nhưng các tộc người Việt này có nền sản xuất nông nghiệp lúa nước và có quan hệ văn hóa tộc người gần gũi với các cư dân Đông Nam Á nên thuộc khu vực văn hóa Đông Nam Á
Ở Đông Nam Trung Quốc còn có đảo Đài Loan, đó vốn là lãnh thổ của 7 bộ lạc bản địa nói tiếng Malay – Polynesian (Mã Lai – Đa đảo) là một trong những ngôn ngữ đặc trưng của Đông Nam Á Từ thế kỷ XVI, người Trung Quốc đã đến Đài Loan và ở đây diễn ra một quá trình Hán hóa mạnh mẽ, những cư dân bản địa hoặc bị đồng hóa hoặc bị đẩy lên vùng cao, hẻo lánh Tuy ngày nay các nhóm cư dân bản địa này chỉ còn dấu vết mờ nhạt nhưng Đài Loan vẫn được coi là địa bàn vốn có của các cư dân thuộc nền văn hóa Đông Nam Á cũ
Ở Đông Bắc Ấn Độ có những nhóm người nói tiếng Môn – Khơ Me cư trú ở
ở Bắc Việt Nam ngày nay
Trang 13không lập thành quốc gia riêng Họ có quan hệ gần gũi với người Môn ở Đông Nam
Á cả về ngôn ngữ lẫn các phong tục tập quán
Ở Assam có người Ahôm, Khảm Ti thuộc họ ngôn ngữ Thái chuyên làm ruộng nước
Người Nagaland cư trú ở vùng thung lũng sát Assam gồm nhiều bộ lạc thuộc nhóm Tạng Miến, các tộc người chính là Ass, Angamio, Konyats
Lùi xuống vịnh Bengal có các quần đảo Andaman và Nicobar trên đó có các tộc người thuộc chủng người Đông Nam Á như người Onge thuộc giống Negrito ở Andaman hay giống hỗn chủng giữa các giống người Miến, Mã Lai, Môn và Shan ở Nicobar Trên các đảo này, cư dân trồng cây ăn quả đặc biệt là dừa, họ sản xuất dầu dừa và chế biến cơm dừa Từ thế kỷ XVIII, các thực dân phương Tây thống trị Ấn
Độ, người Anh dùng các quần đảo này làm nơi nhốt tù binh Ấn Năm 1947, khi Ấn
Độ giành được độc lập, hai quần đảo trên thuộc Ấn Độ; như vậy, về chính trị chúng thuộc Ấn Độ nhưng văn hóa lại thuộc về Đông Nam Á
Trên các hòn đảo của châu Đại Dương nằm rải rác ở Thái Bình Dương có các tộc người nói thứ tiếng thuộc ngữ hệ Malayo – Polynesian (Mã Lai – Đa đảo) là một trong những ngôn ngữ chính ở Đông Nam Á, do vậy, châu Đại Dương cũng thuộc
về khu vực văn hóa Đông Nam Á
Ngoài ra, còn có một hòn đảo nằm phía Đông Nam châu Phi là Madagascar,
về địa lý thuộc châu Phi nhưng văn hóa lại thuộc về Đông Nam Á bởi vì cư dân ở đây nói tiếng Austronesien (Nam đảo) của Đông Nam Á Tổ tiên của họ là người Mã Lai từ T.CN đã di cư ra đây và phát triển một nền văn minh trồng lúa và chăn nuôi
-Tiếng nói: Thuộc các nhóm ngôn ngữ đơn lập
-Kinh tế: Chủ yếu trồng lúa, nhất là lúa nước, nuôi trâu
Trang 14-Văn hóa: Thiên về nữ, tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ thần đất, đúc trống đồng,…
Tóm lại, từ các tiêu chí về chủng tộc, ngôn ngữ, kinh tế và văn hóa thì ngoài
11 nước Đông Nam Á, những khu vực thuộc văn hóa Đông Nam Á được xác định còn có thêm vùng Hoa Nam của Trung Quốc, đảo Đài Loan, một số lãnh thổ ở Đông Bắc Ấn Độ, quần đảo Andaman và Nicobar trong vịnh Bengal, châu Đại Dương và đảo Madagascar
Trang 15Phần thứ hai KHÁI QUÁT CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á 2.1 CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á HẢI ĐẢO
2.1.1 Brunei Darusalem (Vương quốc Hồi giáo Brunây)
-Brunei là nước đất nước nhỏ và có nền kinh tế giàu có về dầu lửa và khí gas,
có những khoản thu lớn từ đầu tư nước ngoài và từ sản xuất trong nước
-Văn hóa bị ảnh hưởng nhiều từ Ấn Độ và Hồi giáo (70% dân số theo đạo Hồi)
2.1.1.2 Văn hóa giao tiếp
-Khi khi chỉ vào ai đó nên dùng ngón tay cái của bàn tay phải hoặc trái thay cho ngón tay trỏ
-Sau khi bắt tay, thường áp bàn tay phải lên ngực phía bên trái để tỏ lòng chân thành, thân thiện
-Khi tặng quà nên đưa bằng tay phải hoặc để tay trái dưới cổ tay phải để nhận khi được tặng quà
-Khi vào thăm nhà thờ Hồi giáo phải bỏ giày, dép phía ngoài, rửa chân tay, lau mặt, tránh đi trước mặt những tín đồ trong lúc họ đang cầu nguyện hoặc đụng chạm vào sách Kinh Koran Nếu là phụ nữ phải dùng khăn che đầu, không để lộ đầu gối và cánh tay
-Không ngồi vắt chéo chân, nhất là là trước đông người hoặc trong các cuộc tiếp khách thăm viếng xã giao
-Không được uống rượu, bia, đồ uống có cồn nơi công cộng trừ khi ở một
số khách sạn được cho phép hoặc ở nhà riêng
Trang 16-Tránh mua những tranh ảnh có hình phụ nữ, con vật, đặc biệt là lợn làm quà tặng Đồ thủ công mỹ nghệ, gốm, sứ, vàng bạc, đá quý là những đồ được ưa thích
-Là thiếu lịch sự nếu ăn, uống ở những nơi công cộng, trừ những khu vực dành cho dã ngoại, các hội chợ ẩm thực hoặc trong tháng ăn chay
-Trong tháng ăn chay của người Hồi giáo hay còn gọi là tháng Ramadhan (tháng 9 hàng năm), không được ăn, uống từ lúc mặt trời mọc đến khi mặt trời lặn
2.1.2 East Timor (Cộng hòa Dân chủ Đông Timo)
2.1.2.1 Khái quát
-Đông Timor là đất nước nhỏ bé thuộc đảo (diện tích 14.800 km2), thành lập 20-5-2002
-Đa số dân chúng theo Công giáo (90%)
-Văn hoá Đông Timor bị ảnh hưởng mạnh bởi các truyền thuyết Austronesian
-Là đất nước có hệ sinh thái đa dạng, vốn là sự kết hợp giữa châu Á và châu
Úc Động vật hoang dã ở đây cũng có nhiều loài đến từ hai Châu lục này Có thể tìm thấy những loài thú có túi và chim của châu Úc lẫn các loài khỉ và cá sấu nước mặn
ở châu Á
2.1.2.2 Văn hóa giao tiếp
-Người dân Đông Timor có bản chất vui vẻ, hiếu kỳ và hiếu khách
-Khi được mời dùng bữa, khách thường ăn chung với người chủ gia đình Vợ
và con cái se lo phục vụ rồi ăn sau Theo phép lịch sự, lúc đầu bạn chỉ nên lấy một ít thức ăn, rồi sau đó xin thêm Làm thế, người nấu sẽ cảm thấy vui vì khách thích món
ăn của họ
2.1.3 Indonesia (Cộng hòa Inđônêxia)
2.1.3.1 Khái quát
-Chữ Indonesia xuất phát từ từ Indus trong tiếng Latinh, có nghĩa "Ấn Độ",
và từ nesos trong tiếng Hy Lạp, có nghĩa "hòn đảo“ (gồm 17.508 hòn đảo)
Trang 17-Indonesia nằm trên các rìa của các mảng kiến tạo Thái Bình Dương, Âu Á,
và Úc khiến nước này trở thành nơi có nhiều núi lửa và thường xảy ra các vụ động đất Indonesia có ít nhất 150 núi lửa đang hoạt động
-Indonesia là quốc gia có số dân theo Hồi giáo đông nhất thế giới
2.1.3.2 Văn hóa giao tiếp
-Luôn luôn cởi giầy trước khi vào nhà thờ Hồi giáo và thông thường phải cởi giầy trước khi vào nhà ai đó
-Không được vuốt đầu vì như thế là mất lịch sự Khi chào người lớn thường không ngẩng cao đầu mà hạ thấp cổ hay hạ thấp vai khi đi qua để thể hiện sự tôn trọng Khi đưa hay nhận một vật gì dùng tay phải
-Không được chống nạnh, cũng không nên mang kính mát khi nói chuyện vì như thế là không lịch sự và bị xem như là có thái độ coi khinh Không được bỏ tay vào túi quần, vì như thế bị xem là kiêu ngạo
-Khi vẫy gọi một người nào đó là mở rộng bàn tay và cử động các ngón tay theo hướng đi xuống giống như vẫy tay chào tạm biệt Những cách vẫy gọi khác có thể bị coi là mất lịch sự
-Không nên có các cuộc hẹn vào lúc 11H-13H vào các ngày thứ 6 vì thời gian này hầu hết mọi người Hồi giáo đều đến nhà thờ
TẶNG QUÀ
-Khi tặng quà, không nên mở trước mặt người Indonesia và khi được tặng quà thì từ chối đến 3 lần mới nhận vì sợ cho là tham lam
-Không được tặng hoa số lẻ vì như thế là điềm không may mắn
-Đàn ông tặng hoa hay quà cho một phụ nữ (nếu tặng thì phải nói món quà này là do vợ mình gửi tặng )
-Tránh tặng dao, kéo hay các đồ vật nhọn khác vì họ cho là dễ bị cắt đứt mối quan hệ; không tặng các vật sử dụng trong tang lễ như những đôi dép bằng rơm, đồng hồ, khăn tay, quà tặng được gói bằng giấy màu trắng, đen hay màu xanh
-Không được tặng rượu, nước hoa, thịt heo, những sản phẩm làm từ da lợn hay những đồ như: dao, chó đồ chơi, tranh hình con chó cho người theo đạo Hồi
Trang 18-Đối với những người theo đạo Hindu thì không nên phục vụ những món làm
từ thịt bò hay sản phẩm làm từ súc vật khác Ngoài ra, cũng không nên tặng các đồ vật làm từ da
2.1.4 Malaysia (Liên bang Malaixia)
2.1.4.1 Khái quát
-Malaysia là đất nước gồm bán đảo và hải đảo
-Malaysia là một Liên bang Quân chủ theo bầu cử lập hiến
-Malaysia giàu các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong các lĩnh vực như nông nghiệp, lâm nghiệp và khoáng sản
-Malaysia là một xã hội đa tôn giáo đa sắc tộc, đa văn hóa và đa ngôn ngữ và Đạo Hồi là tôn giáo chính thức của Malaysia
2.1.4.2 Văn hóa giao tiếp
-Người Malaysia thường mặc áo dài bằng vải hoa, nam giới mặc áo sơ mi không cổ và không được để hở cánh tay, đùi ở những nơi công cộng Phụ nữ thường mặc áo dài tay Du khách đến Malaysia nên chọn lựa những trang phục lịch sự, kín đáo, đặc biệt khi đến những nơi thờ tự
-Khi đến thăm các gia đình ở Malaysia, phải gọi điện thông báo trước Để giày dép phía ngoài trước khi vào nhà và không nên từ chối khi được mời bánh ngọt,
vì nếu từ chối sẽ bị cho là mất lịch sự
-Trong giao tiếp người Mã lai rất tuân thủ giờ giấc, coi trọng mũ áo chỉnh tề -Khi cho hoặc nhận tiền, quà hãy dùng tay phải! Tay trái bị xem là không sạch sẽ, vì thế khi ăn uống bạn cũng nên nhớ chỉ sử dụng tay phải và phải rửa tay trước khi ngồi vào bàn ăn
-Khi gặp và chào người khác, người Mã lai hơi cúi đầu, đưa một hoặc hai tay
ra chạm vào một hoặc hai tay của người khác rồi đưa bàn tay lên ngực
-Không bắt tay người khác giới đồng thời tránh những đụng chạm kể cả ngẫu nhiên giữa những người không cùng giới
Trang 19-Không đụng chạm vào đầu vì họ tin rằng đầu là nơi cư ngụ của linh hồn hay thần linh, nếu đụng chạm vào đó đồng nghĩa với việc bạn đã có hành động xúc phạm
họ
-Trước mặt người Mã lai, không đứng chống hai tay vào hông (chống nạnh),
vì đây là hành động biểu thị sự giận dữ
Quà tặng:
Tốt nhất là bút viết, sổ công tác, danh thiếp và những đồ vật mang dấu công
ty của đối tác Không nên tặng rượu (trừ người Hoa), bởi vì hầu hết người dân theo đạo Hồi ở Malaysia không uống rượu
2.1.5 Philippines (Cộng hòa Philíppin)
2.1.5.1 Khái quát
-Philippines trong tiếng Việt còn được gọi là Phi Luật Tân
-Philippines được chia thành ba miền là Luzon ở phía Bắc đất nước, Visayas
ở giữa đất nước, và Mindanao ỏ phía Nam đất nước Tên ba miền đặt theo tên ba đảo chính của Philippines
-Philippines là nước có cộng đồng Công giáo La Mã lớn thứ ba và có cộng đồng Tin lành đứng đứng thứ mười ba, cộng đồng Hồi giáo lớn thứ bốn mươi, cộng đồng Hindu lớn thứ 17 và cộng đồng Phật giáo lớn thứ 17
-Nền tảng của văn hoá Philippines dựa trên các truyền thống văn hoá của nhiều nhóm dân bản địa trong vùng Tuy nhiên, nó cũng bị ảnh hưởng lớn từ các văn hoá của người Trung Quốc, người Tây Ban Nha, người Mỹ
2.1.5.2 Văn hóa giao tiếp
-Người Philippines rất coi trọng thể diện và sợ làm mất mặt người khác Họ rất ít để lộ bất đồng ý kiến với người khác vì họ cho rằng cộng đồng thì quan trọng hơn cá nhân, muốn thành công phải biết sống hòa đồng
-Luôn cười trong mọi tình huống, khi được khen, bị chê, gặp khó khăn trong cuộc sống
Cách chào hỏi:
Trang 20• Người trẻ đặt lưng bàn tay của người lớn tuổi hơn lên trán mình gọi là chào Nhướn mày cũng là 1 cách chào hỏi phổ biến của người dân đất nước này
• Không nên nhìn chằm chằm vào người khác vì đấy là một cử chỉ khiêu khích, hay không được chống nạnh vì như thế tỏ ra kiêu căng, ngạo mạn
2.1.6 Singapore (Cộng hòa Xingapo)
2.1.6.1 Khái quát
-Singapore nằm ở phía nam bán đảo Malaysia và là quốc đảo nhỏ nhất trong khu vực Đông Nam Á Là một thành phố năng động giàu tương phản, đầy màu sắc, nhưng Singapore vẫn có sự phối hợp hài hòa của văn hóa, ẩm thực, nghệ thuật và kiến trúc Đầy ăm ắp năng lượng, “chiếc máy phát điện” nhỏ bé này ở vùng Đông Nam Á hiện thân cho những gì tốt đẹp nhất của cả “chất Đông” và “chất Tây”
-Singapore là một hòn đảo có hình dạng một viên kim cương bao quanh bởi nhiều đảo nhỏ khác
-Singapore - Thành phố sư tử xuất phát từ tiếng Malaysia (nguồn gốc của chữ Phạn Singa = sư tử, pura = TP) Tên gọi này bắt nguồn từ một vị hoàng tử tên là Sang Nila Utama Theo truyền thuyết, vị hoàng tử này nhìn thấy một con sư tử là sinh vật sống đầu tiên trên hòn đảo và do đó đặt tên cho hòn đảo là Thành phố Sư
Tử
2.1.6.2 Văn hóa giao tiếp
-Không vứt rác vừa bãi và chỉ ở một số ít nơi có biển báo bạn mới được hút thuốc lá
-Đến các đền chùa nên mặc trang phục lịch sự, đến đền thờ Ấn Độ giáo và Hồi giáo hãy cởi bỏ giầy dép bên ngoài
-Dùng ngón tay trỏ chỉ người khác, nắm chặt nắm tay hoặc ngón tay giữa đều
bị coi là những động tác cực kỳ vô lễ Hai tay không được tùy tiện chắp vào sườn bởi vì đó là biểu hiện của sự bực tức
-Không được bắt chéo chân khi ngồi đối diện với người lớn tuổi hơn hoặc có
Trang 21-"Mặt mũi ảm đạm" (mất sổ gạo) hay mất tự chủ nơi công cộng sẽ có hậu quả tiêu cực trong xã hội Singapore
2.2 CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á LỤC ĐỊA
2.2.1 Cambodia (Vương quốc Campuchia)
Trải qua gần 2000 năm, người dân Cambodia đã phát triển một tín ngưỡng Khmer độc đáo với các tín ngưỡng hỗn hợp gồm tín ngưỡng thuyết vật linh bản địa
và các tôn giáo Ấn Độ như Phật giáo và Hindu giáo
2.2.1.2 Văn hóa giao tiếp
• Cách chào hỏi phụ thuộc vào mối quan hệ, thứ bậc và tuổi tác
• Cách chào hỏi truyền thống là cuối người cùng với động tác chắp tay trước ngực (tương tự như động tác đặt tay khi cầu nguyện của Phật giáo)
• Một người muốn thể hiện sự kính cẩn với người đối diện sẽ cúi người thấp hơn và chắp tay ở vị trí cao hơn
• Đối với người ngoại quốc, người dân Campuchia cũng dùng cách bắt tay, tuy nhiên, phụ nữ nước này vẫn dùng cách chào truyền thống đối với khách Nguyên tắc ứng xử khi chào hỏi ở nước này rất đơn giản: đáp lại tất cả những lời chào mình nhận được
• Ở Campuchia, để gọi người khác một cách lịch sự và kính trọng, người ta thường thêm từ "Lok" đối với đàn ông và "Lok Srey" đối với phụ nữ trước họ hoặc họ và tên đầy đủ
Trang 22CÁCH TẶNG QUÀ
• Người Campuchia chỉ thường tặng quà cho nhau vào dịp tết cổ truyền của dân tộc (Chaul Chnam)
• Người dân Campuchia không tổ chức sinh nhật, Khi được mời đến nhà bạn
bè hoặc người khác dự tiệc, người dân thường mang theo một số món quà nhỏ
• Tránh tặng dao
• Quà tặng thường được gói cẩn thận trong những tờ giấy gói quà đầy màu sắc
• Không được mở quà ngay sau khi nhận
2.2.2 Laos (Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào)
2.2.2.1 Khái quát
-Lào là một quốc gia không giáp biển duy nhất tại vùng Đông Nam Á Lào giáp giới nước Myanmar và Trung Quốc phía tây bắc, Việt Nam ở phía đông, Campuchia ở phía nam, và Thái Lan ở phía tây Lào còn được gọi là "đất nước Triệu Voi" hay Vạn Tượng
-Lào cũng là quốc gia có nhiều loài động vật quí hiếm trên thế giới sinh sống, nổi bật nhất là hổ, voi và bò tót khổng lồ Rất nhiều loài đang đứng trước hiểm họa tuyệt chủng do nạn săn trộm và phá rừng
-Thủ đô và thành phố lớn nhất của Lào là Viêng Chăn (Tên gọi của thành phố bắt nguồn từ tiếng Pali nghĩa ban đầu của nó là "Khu rừng đàn hương của nhà vua Nghĩa của Viêng Chăn là "Thành (phố) Trăng" trong tiếng Lào)
2.2.2.2 Văn hóa giao tiếp
• Người Lào rất quý con và bình đẳng giữa con gái với con trai
• Tục kết nghĩa anh em, bạn bè và cách sống trung thực, thật thà, nghĩa tình tồn tại khá lâu và vẫn được duy trì
• Người Lào rất kị sờ đầu, tránh chui qua gầm nhà, dây phơi quần áo
• Khi đi cần tránh đụng vào hoặc bước qua chân người khác
Trang 232.2.3 Myanmar (Cộng hòa Liên bang Mianma)
2.2.3.1 Khái quát
-Myanma còn có các tên cũ Miến Điện, tên đầy đủ là Liên bang Myanma
(Một gốc của tên gọi này là từ Brahmadesh trong tiếng Phạn có nghĩa là "mảnh đất
của Brahma", vị thần Hindu của mọi sinh vật)
-Myanma là đầu mối xuất khẩu ma tuý lớn nhất (Trao đổi hàng hóa chủ yếu qua biên giới với Thái Lan)
-Nền văn hóa chiếm vị trí trọng yếu là Phật giáo và Bamar (Văn hóa Bamar từng bị ảnh hưởng từ các nền văn hóa các nước xung quanh Nó được biểu hiện qua ngôn ngữ, ẩm thực, âm nhạc, nhảy múa và sân khấu Nghệ thuật)
2.2.3.2 Văn hóa giao tiếp
-Người Myanmar không có họ, chỉ có tên Khi chào nhau, họ thường chắp hai tay trước ngực hoặc cúi đầu chào
-Gặp phải con trâu trên đường phải nhường đường cho trâu qua trước (trọng vọng) Khi vào thăm đình, chùa, bất kể ai cũng phải cởi giày dép
-Con gái phải có một dây đai thắt lưng lúc 5 tuổi, sau đó là thêu 30 cái thắt lưng nữa Khi chọn người con gái để thành gia thất, độ to nhỏ của vòng bụng người con gái cũng là một trong những tiêu chuẩn quan trọng đối với người con trai Myanmar
2.2.4 Thailand (Vương quốc Thái Lan)
2.2.4.1 Khái quát
-Thái Lan là một quốc gia nằm ở vùng Đông Nam Á, phía Bắc giáp Lào và Myanma, phía Đông giáp Lào và Campuchia, phía Nam giáp vịnh Thái Lan và Malaysia, phía Tây giáp Myanma và biển Andaman Lãnh hải Thái Lan phía Đông Nam giáp với lãnh hải Việt Nam ở vịnh Thái Lan, phía Tây Nam giáp với lãnh hải Indonesia và Ấn Độ ở biển Andaman
-Thái Lan là một quốc gia quân chủ lập hiến đứng đầu là Vua (Vua theo nghi thức là nguyên thủ)
-Là nước lớn thứ 50 trên thế giới và có dân số đông thứ 21 trên thế giới
Trang 242.2.4.2 Văn hóa giao tiếp
-Trong giao tiếp hàng ngày, người Thái chào nhau theo cách chắp 2 tay trước
ngực, đầu hơi cúi, khi bước vào nhà phải bỏ dày dép ra, đặc biệt khi bước vào nhà người Thái cần tránh dẫm lên ngưỡng cửa nhà họ vì người Thái cho rằng Thần linh
cư ngụ ngay ở ngưỡng cửa
-Người Thái cũng kiêng đụng chạm vào đầu của người khác, không xoa đầu trẻ em, không vỗ vai người khác
-Người Thái cũng cho rằng, tỳ cánh tay lên lưng chiếc ghế đang ngồi hoặc vỗ vai hay vỗ lưng người khác hoặc dùng ngón tay để chỉ vào ai đó đều được coi là những cử chỉ xúc phạm
-Người Thái cũng rất coi trọng sự kiềm chế trong tiếp xúc, vì vậy trong việc đàm phán với người Thái, điều kiêng kỵ nhất là hành động bức xúc hay tức giận
2.2.5 Việt Nam (Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)
2.2.5.1 Khái quát
-Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm
ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào, Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương Bờ biển Việt Nam dài 3 260 km, biên giới đất liền dài 4 510 km
-Sau khi Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc và Mặt trận dân tộc giải phóng miền nam Việt Nam giành chiến thắng trước Việt Nam Cộng hòa ở miền Nam ngày 30 tháng 4 năm 1975, hai miền Bắc-Nam được thống nhất Ngày 2 tháng
7 năm 1976 nước Việt Nam được đặt Quốc hiệu là Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
-Văn hóa Việt Nam đặc biệt là văn hóa miền Bắc rất đa dạng Nó được đúc kết qua hàng ngàn năm lịch sử Các phong tục như tục nhuộm răng, ăn trầu, các lễ hội như: lễ hội Chùa Hương, giỗ tổ Hùng Vương, hội Lim, hội xuống đồng của người Tày
Trang 252.2.5.2 Văn hóa giao tiếp
-Người Việt Nam có tính hiếu khách Cách chào hỏi ở mỗi địa phương, vùng miền khác nhau Lời chào biểu hiện cho phong cách con người, nề nếp gia đình, thuần phong mỹ tục của địa phương và cả dân tộc
-Câu chào có thể là câu hỏi, câu mời Câu chào hỏi thường dùng:“Ông khoẻ không?” “Bà đi đâu đấy?”, “Cô làm gì đấy?”… Hay như những lời chào mời trong trường hợp khách đến chơi nhà gặp lúc gia đình đang ăn cơm thay vì lời chào thì thường là lời chào mời: “Mời bác xơi cơm”
-Trẻ con khi gặp những người lớn, cụ già, bà lão thường khoanh tay trước ngực và chào lớn thành tiếng: “cháu chào cụ ạ!”, “cháu chào bác ạ!”…
-Chào không thành tiếng đó là những cử chỉ gật đầu, cười, hay chào bằng ánh mắt, bằng những hành động khác
-Khi không hiểu lời giải thích của ai đó người Việt hơi cúi đầu đưa tai về phía trước
Trang 26Phần thứ ba CÁC THÀNH TỐ CỦA VĂN HÓA ĐÔNG NAM Á 3.1 VĂN HÓA VẬT CHẤT
3.1.1 Ẩm thực
Nền kinh tế chính của cư dân Đông Nam Á là việc trồng lúa, và cây lúa là cây lương thực chính và đặc trưng nhất của khu vực Đông Nam Á Chính vì vậy, nguồn thức ăn chính và chủ yếu của cả cộng đồng cư dân Đông Nam Á là cơm (cơm tẻ hay cơm nếp)
Sống trong môi trường tự nhiên thuận lợi, người Đông Nam Á không đến nỗi phải vất vả lắm trong việc tìm kiếm thức ăn, vì thức ăn ở đây lúc nào cũng có: rau, hoa quả có sẵn ngoài ruộng, vườn; cá, tôm có sẵn dưới ao hồ, sông, suối; chim, thú
có sẵn trong rừng… Đây là một điểm khác biệt trong văn hóa ẩm thực của khu vực Đông Nam Á với nhiều vùng văn hóa khác trên thế giới, đó là vùng văn hóa thực vật (theo cách gọi của một số nhà khoa học khi nói đến Đông Nam Á) Một tác giả khác gọi đây là “một vũ trụ thực vật” hay nói nôm na “một thế giới rau cỏ Tuy nhiên, nếu chỉ dùng thực vật không thôi thì chưa đủ chất dinh dưỡng cho cơ thể cho những người lao động nông nghiệp, vì vậy, cư dân Đông Nam Á rất coi trọng cá và những sản phẩm động vật gắn liền với công việc đồng áng như tôm, cua, ốc cùng với các loài thủy, hải sản sẵn có trong tự nhiên Đông Nam Á là một trong những khu vực
có hệ thống sông ngòi dày đặc và biển rộng mênh mông, cho nên, cá trở thành thức
ăn phổ biến hơn thịt, cũng là lẽ tự nhiên Cá được chế biến theo mọi cách: luộc, nướng, kho, rán, nấu canh… Từ cá, người Đông Nam Á còn chế biến ra một loại thức ăn khá phổ biến trong toàn vùng, đó là mắm, khô hay nước mắm Các loại thủy, hải sản là nguồn thức ăn quan trọng và thường xuyên của cư dân, nhưng sau đó, vì chịu tác động của môi trường nên các loại thịt gia súc, gia cầm dần trở nên quan trọng để cung cấp chất dinh dưỡng cho con người Tuy mỗi nơi, mỗi dân tộc có những khẩu vị và cách ăn riêng nhưng công thức bao trùm của khu vực vẫn là cơm -
Trang 27đại, thức ăn tự nhiên ngày càng cạn kiệt nên cư dân Đông Nam Á sử dụng phổ biến thức ăn thịt như thịt gà, thịt vịt, thịt lợn… Trong bữa ăn thông thường của cư dân Đông Nam Á không thể không có các loại gia vị như tiêu, ớt, rau thơm các loại Hầu hết khẩu vị của cư dân Đông Nam Á là ăn khá cay
Như vậy, món ăn truyền thống của cư dân Đông Nam Á có thể khái quát bằng công thức theo thứ tự ưu tiên sau:
Cơ cấu bữa ăn = cơm + rau (củ, quả, cây…) + nước chấm + thủy, hải sản (cá, cua, tôm…) + thịt (gà, lợn, bò…)
Tuy nhiên, tùy vào mỗi quốc gia, dân tộc và tập tục của từng nơi mà cách chế biến thức ăn cũng có sự khác nhau, và tất nhiên ở mỗi dân tộc đều có những món ăn riêng biệt của mình tạo nên sự phong phú, đa dạng cho văn hóa ẩm thực Đông Nam
Lương thực chủ yếu của người Inđônêxia là gạo: gạo nếp và gạo tẻ, ngoài ra
họ còn có các loại lương thực khác: ngô, khoai, sắn và các loại đậu, trong đó gạo là quan trọng nhất Gạo nấu thành cơm hoặc đồ xôi, có thể dùng cho bữa sáng, bữa trưa và bữa tối cùng với các loại cá, thịt, rau hoặc trứng Xôi nếp thường được ăn với nước dừa hoặc mật Nói chung, người Inđônêxia thích ăn cơm để nguội Cơm xới ra rổ hoặc đĩa để tiếp tục pha chế thành những món cơm ưa thích, phổ biến nhất
Trang 28là nasi goreng (cơm rang), nasi ulam (cơm rau sống), đặc biệt món được ưa chuộng
là cơm nấu với nước dừa Ngày lễ hội, mọi người hay ăn xôi nếp với trứng luộc thái nhỏ, hành và đậu rang, và họ thích nấu cơm lam theo cách cổ truyền trong ống tre hoặc nứa
Những món ăn cơ bản của người Mã Lai là cơm, cá và rau, trong đó cơm được nấu chứ không đồ Cá được ăn có nhiều dạng: cá tươi, cá muối, cá khô và cá mắm Từ cá hay từ tôm, người Mã Lai làm ra các loại mắm ruốc khác nhau Món ăn
ưa thích của người Mã Lai: nasi goreng (cơm rang), solok cili (ớt xanh nhồi cá băm nhuyễn hấp), hay cà ry cá chua cay với trám xanh, trong đó món ăn nổi tiếng là nasi kerabu (cơm trộn rau thơm) Như vậy, công thức chung của một bữa ăn người Mã Lai không nằm ngoài cơm, rau, cá và sau này là thịt như các nước Đông Nam Á khác, tuy nhiên, cần nhấn mạnh là đối với một nước vừa hải đảo vừa lục địa như Malaixia thì cá chiếm phần chính trong bữa ăn Một đặc điểm đặc sắc của các món
ăn của người Mã Lai là rất cay Dù là cá, thịt hay rau và kể cả các món cơm nữa, thì các gia vị chính yếu: ớt tươi, ớt khô, tiêu, gừng, chanh, hành, tỏi… và một số gia vị khác như hồi, quế đã khiến các món ăn của người Mã Lai cay nồng, có mùi vị thật đặc trưng Cũng giống nhiều dân tộc khác ở Đông Nam Á, người Mã Lai bưng “đĩa” cơm bằng lá ở tay phải, bốc ăn bằng tay trái Vào những ngày lễ hội, một trong những loại bánh không thể thiếu đó là ketupat, được làm bằng gạo tẻ, gói bằng lá dừa đan kiểu nong mốt Ketupat luôn có mặt trong dịp lễ tết của người Mã Lai, cũng giống như bánh chưng, bánh tét trong dịp tết cổ truyền của người Việt vậy
Ở Philippin, thức ăn chính của họ là cơm và các sản phẩm nông nghiệp khác Người Philippin ít ăn thịt, món ăn chủ yếu là cá, rau và các loại hoa quả Món ăn mà
họ ưa thích nhất là món thịt hoặc cá hầm với me chua, thêm vài loại gia vị và lá cây trồng được ở quanh nhà Đặc biệt là món tapa, thịt của trâu bò ướp muối, phơi khô rồi đem chế biến, ngoài ra thịt lợn sữa quay hoặc chả nướng là món ăn hấp dẫn trong các bữa tiệc lớn Tuy nhiên, hàng ngày người dân Philippin chỉ có thể ăn đạm bạc và
Trang 29Người Mianma cũng như đa số các dân tộc ở Đông Nam Á, cơm là món chủ lực có mặt trong hầu hết các bữa ăn, cơm có thể chế biến các món cơm trộn, cơm chiên, nấu với nước cốt dừa hay trộn với cá Bữa ăn truyền thống của người Mianma cũng giống như bữa ăn của các dân tộc ở Đông Nam Á chủ yếu là cơm, canh, món trộn, thịt hoặc cá nấu cà ry, rau (ăn sống hoặc luộc, xào), chấm với nước mắm Món
ăn truyền thống và đặc trưng nhất của người Mianma là Ngapi Họ cũng thích nhiều loại gia vị và rau thơm vào món ăn: nghệ, ớt, hành, tỏi và gừng… Trong những dịp đặc biệt, người Mianma ăn món briyani (cà ry gà)
Người Lào có câu nói vui để khái quát đặc trưng văn hóa Lào: “ăn xôi, thổi khèn, ở nhà sàn cao, ấy chính là người Lào” Người Lào ăn gạo nếp là chính, và họ giữ thói quen này lâu bền nhất Trong bữa ăn của người Lào, cơm nếp bao giờ cũng
là món chính, thường ăn chung với cá, rau và đôi khi với thịt Cơm được đồ, nhưng
ưa thích nhất là cơm lam Người Lào ăn thịt không nhiều, vào ngày lễ lớn, họ mới ăn thịt bò, lợn Người vùng núi còn ăn thịt các loại chim, thú Thức ăn phổ biến là cá nhưng món được ưa thích và phổ biến nhất, là cá mắm, người Lào ăn rau khá nhiều
Cũng giống như các dân tộc khác ở Đông Nam Á, thức ăn của người Thái là cơm (nấu hoặc đồ), rau, cá Cá được muối làm mắm, khô, nấu, rán Một trong những món ăn ưa thích của người Thái là nậm pia (kiểu như mắm ruốc cá), ngoài ra, người Thái còn dùng những loại: nước mắm, nước tương khác nhau Cũng giống như các dân tộc: Lào, Cămpuchia, dân tộc Thái ăn bốc chứ không dùng thìa, đũa như dân tộc Việt Nam
Còn người Việt Nam từ xưa tới nay lấy cơm làm món chính trong bữa ăn, bữa ăn của người Việt, nói chung, không phải chỉ có món cơm, nhưng mời gọi ai dùng bữa vẫn thường nói “mời ăn cơm” Cơm ở đây là cơm tẻ, “cơm tẻ là mẹ ruột”
có lẽ đã quá rõ, cơm đóng vai trò chủ đạo trong bữa ăn, người ta có thể ăn “cơm” thay “thức ăn” nhưng không thể lấy “thức ăn” thay “cơm” (ngoại trừ trường hợp uống rượu, bia…) Trong đó, món ăn đầu tiên phải kể đến là rau, vì vậy, dân gian có câu “cơm không rau như đau không thuốc” Còn cá, lấy từ các nguồn thủy sản: đầm,
hồ, sông, biển… đó là nguồn cung cấp đạm vô tận cho con người mà tạo hóa đã ban
Trang 30tặng cho con người Việt Nam Ngoài cá ra, còn có cua, ốc, tôm, tép… là nguồn thức
ăn thật sự to lớn đối với người nông dân Vấn đề sử dụng thịt: thịt bò, thịt lợn, thịt ngang, thịt ngỗng… trong bữa ăn đối với nước ta ngày càng trở nên nhiều, và như thế không phải nó sẽ chiếm vị trí chủ đạo trong bữa ăn mà rau, cá vẫn có xu hướng
áp đảo, nổi trội hơn hẳn thịt Với những vật liệu như thế, tùy thuộc vào tầng lớp trong xã hội mà người ta sẽ có cách chế biến khác nhau, và có nhiều phương pháp: luộc, nấu canh, hầm, tần, kho, hấp, xào, rán, quay Trong tất cả các phương pháp nấu nướng trên thì luộc, nấu canh, kho, là cách chế biến mang tính thông dụng và được nhiều tầng lớp trong xã hội Việt Nam hay dùng nhất Các món ăn còn khác nhau ở cách dùng gia vị: nước mắm, mắm tôm, các loại rau: tía tô, mùi, ngò, hành, ớt, tiêu Đặc biệt, trong cách nấu nướng của người Việt Nam là cách pha chế nước chấm, và chế biến được các món ăn để lâu như dưa, cà, tương, mắm Vào dịp tết cổ truyền, bánh chưng, bánh tét,… là không thể thiếu đối với gia đình dân tộc Việt Nam
Ở một số nước Đông Nam Á như Đông Timo, Xingapo thì món ăn chính của
họ cũng giống như các quốc gia Đông Nam Á khác là cơm, rau, cá hoặc thịt
Điều cần lưu ý là bữa ăn, đặc biệt là các bữa tiệc trong các dịp lễ hội, tết… với hầu hết cư dân Đông Nam Á, thì đây còn là điểm hội tụ, gặp gỡ các thành viên trong gia đình, gia tộc và đôi khi là cộng đồng Văn hóa ăn uống của cư dân Đông Nam Á sớm trở thành nghệ thuật vì nó chứa đựng các yếu tố vật chất lẫn nghệ thuật Cho đến nay, dù có những thay đổi trong quá trình giao thoa văn hóa ẩm thực với các quốc gia bên ngoài, song bữa ăn có tính quy tụ các giá trị văn hóa của cư dân
Đông Nam Á vẫn được lưu giữ
3.1.2 Trang phục
Trang phục là một yếu tố ít nhiều mang tính bảo thủ, phản ánh sinh động các giai đoạn lịch sử của một dân tộc hay của một khu vực, mặt khác, trang phục cũng luôn luôn thay đổi theo thời gian và dễ dàng vay mượn hình thức trang phục của các dân tộc khác để tiếp cận
Trang 31Á, vì chúng là dạng y phục không chỉ cổ xưa nhất mà còn chung nhất của nhiều dân tộc và tộc người ở Đông Nam Á Hiện nay, chúng ta có thể thấy cách ăn vận để ngực trần ở người Gia Rai, Ê Đê, Xtiêng, Ba Na, Brâu… thuộc Đông Nam Á lục địa, ở người Papua, Tôrátgia, Batắc, Kalinga… thuộc vùng hải đảo là lẽ đương nhiên Khố cũng là đồ mặc phổ biến ở Đông Nam Á, và nó thường được làm bằng vỏ cây hay một loại vải thô hình chữ T, là y phục chủ yếu của đàn ông nơi đây Đây là loại y phục thô sơ nhất, giai đoạn đầu, hầu như không có trang trí, mọi thành viên trong cộng đồng đều mang một loại khố như nhau, dần dần, những chiếc khố hình chữ T được trang trí và mang những ý nghĩa xã hội khác nhau
Khố còn là y phục đôi khi duy nhất (đóng khố ở trần) của các cư dân thiểu số dọc Trường Sơn - Tây Nguyên, các cao nguyên Lào, Thái Lan… Ở tại miền Trung Thái Lan, cả đàn ông và đàn bà đều mặc khố, nhưng ở tại miền Bắc và Đông Bắc Thái Lan chỉ có nam giới sử dụng, còn nữ thì mặc váy Tuy ở Inđônêxia chiếc khố
đã được thay bằng váy, nhưng phụ nữ người Papua bao giờ cũng mặc khố khi tham
dự đám cưới hoặc tham gia hội lễ tế thần, thể hiện trang phục truyền thống của người dân nơi đây Ngày nay, ở Cămpuchia, phụ nữ dân tộc Samrê đều mặc váy, với kiểu cách và kích thước khác nhau, nhưng trước đây, phần lớn phụ nữ ở đây cũng đóng khố như nam giới Đến tận cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, ở nhiều dân tộc dọc hai bên dãy Trường Sơn, phụ nữ đôi khi cũng đóng khố theo kiểu đàn ông
Đến tận ngày nay, váy vẫn còn phổ biến ở nhiều dân tộc và tộc người trong một khu vực rộng lớn, cả Đông Nam Á lục đia lẫn hải đảo như Philippin, Inđônêxia, Malaixia đến Việt Nam, Thái Lan, Lào, Cămpuchia, Mianma Ở hầu hết các dân tộc
ở Đông Nam Á, váy là trang phục đặc trưng của phụ nữ và đều rất quen thuộc với mọi người Váy của phụ nữ Đông Nam Á được gọi bằng các tên khác nhau, tùy thuộc vào hình dáng, kiểu cách, màu sắc, hoa văn Váy có hai loại: người Malaixia, Inđônêxia, Brunây gọi là Kain chỉ đơn giản là một tấm vải quấn quanh thân mình (từ rốn trở xuống) và loại được khâu tròn thành hình ống (xà rông) Váy rất được cư dân Đông Nam Á ưa chuộng không phải chỉ nó thoáng, mát, gây cảm giác dễ chịu mà còn vì nó rất tiện lợi, phù hợp với công việc đồng áng Đi làm, gặp sông suối, trước