- Phải đảm bảo thực hiện đúng, đủ các tiết kiểm tra, kiểm tra thực hành, kiểm tra học kì, kiểm tra thường xuyên đúng theo quy định.. Riêng khối lớp 12, môn Giáo dục quốc phòng – An ninh [r]
Trang 1UBND TỈNH LONG AN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Độc lập-Tự do-Hạnh phúc
Số: 404/SGDĐT-GDTrH Long An, ngày 13 tháng 3 năm 2012
Kính gửi:
- Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, thành phố;
- Hiệu trưởng các trường phổ thông trực thuộc Sở;
- Giám đốc các TTGDTX &KTTH-HN huyện, thành phố;
- Giám đốc TTKTTH-HN tỉnh
Trong những năm qua, việc thực hiện quy chế chuyên môn của các trường tương đối
ổn định Tuy nhiên trong quá trình thực hiện còn một số vấn đề cần được quan tâm, nhằm thực hiện tốt việc quản lí chuyên môn của các cơ sở giáo dục, Sở giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện quy chế chuyên môn cấp trung học cụ thể như sau:
I Thực hiện chương trình
1.1 Hướng dẫn dạy các bộ môn văn hóa
Thực hiện văn bản số 7608/BGDĐT-GDTrH ngày 31/8/2009 về việc khung phân phối chương trình THCS, THPT năm học 2009-2010, văn bản 5842/BGDĐT-VP ngày 01/9/2011 của
Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) về việc hướng dẫn điều chỉnh nội dung dạy học GDPT, Sở Giáo dục và Đào tạo đang điều chỉnh tài liệu phân phối chương trình chi tiết các môn văn hóa và
sẽ phát hành sử dụng trong toàn tỉnh kể từ năm học 2012-2013 Gồm 37 tuần thực học, trong đó học kỳ I: 19 tuần, học kỳ II: 18 tuần
Riêng năm học 2011-2012, trên cơ sở phân phối chương trình đang sử dụng, hiệu trưởng nhà trường chỉ đạo tổ chuyên môn thống nhất phân phối chương trình có kết hợp các nội dung điều chỉnh của Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phù hợp với điều kiện thực tế của nhà trường, hiệu trưởng ký duyệt và sử dụng trong nhà trường
Các môn Âm nhạc, Mĩ thuật lớp 9, tùy theo tình hình thực tế của địa phương, phòng Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo các trường trên địa bàn thực hiện cho phù hợp
- Đối với các trường có đủ điều kiện có thể dạy cả 2 môn ở học kì I
- Đối với các trường chưa đủ điều kiện có thể dạy một học kì 1 môn, dạy môn nào ở học kì nào do phòng Giáo dục và Đào tạo quyết định
1.2 Hướng dẫn dạy học tự chọn
1.2.1 Môn học tự chọn và Dạy học tự chọn
a) Môn học tự chọn là môn học được dạy và đánh giá như 1 môn học trong kế hoạch
giáo dục Ở chương trình trung học cơ sở, môn tự chọn là: Tin học, Ngọai ngữ 2, nghề phổ thông (dạy học ở Trung tâm GDTX&KTTH-HN, TT KTTH-HN); ở chương trình THPT phân ban môn học tự chọn là các môn học nâng cao trong Ban cơ bản
b) Dạy học tự chọn theo chủ đề (gọi tắt là chủ đề tự chọn) là nội dung dạy học sao cho phù hợp với yêu cầu của đối tượng Chủ đề tự chọn có 2 lọai: chủ đề nâng cao và chủ đề bám sát.
Ở chương trình trung học cơ sở dạy học tự chọn chỉ dạy chủ đề bám sát; ở chương trình THPT phân ban chủ đề tự chọn nâng cao thuộc 8 môn học có chương trình nâng cao, chủ đề bám sát thuộc các môn học trong kế hoạch giáo dục
1.2.2 Tổ chức dạy môn tự chọn, chủ đề tự chọn
a) Thời lượng dạy môn tự chọn, chủ đề tự chọn:
- Ở cấp trung học cơ sở, mỗi cấp lớp có 2 tiết/tuần dành cho dạy học tự chọn Dạy học
tự chọn có 2 hình thức: dạy theo hình thức môn tự chọn và dạy theo hình thức chủ đề tự chọn
Nếu học sinh đã học môn tự chọn thì không học chủ đề tự chọn hoặc ngược lại.
Về việc hướng dẫn thực hiện quy chế
chuyên môn cấp trung học
Trang 2- Ở cấp trung học phổ thông:
+ Lớp 10 có 4 tiết/tuần đối với Ban cơ bản; 1,5 tiết/tuần đối với Ban KHTN, Ban KHXH-NV;
+ Lớp 11 có 4 tiết/tuần đối với Ban cơ bản; 1 tiết/tuần đối với Ban KHTN, Ban KHXH-NV;
+ Lớp 12 có 4 tiết/tuần đối với Ban cơ bản; 1,5 tiết/tuần đối với Ban KHTN, Ban KHXH-NV
- Môn tự chọn dạy học theo chương trình, sách giáo khoa của Bộ Chủ đề tự chọn dạy
học theo chương trình của Bộ và tài liệu của Bộ hoặc của tỉnh biên soạn hoặc do giáo viên biên soạn (Hiệu trưởng duyệt)
- Cách xếp thời khóa biểu đối với chủ đề tự chọn 1,5 tiết/tuần do Hiệu trưởng các
trường tự bố trí có thể học kỳ 1 xếp 1 tiết/tuần, học kỳ 2 xếp 2 tiết/tuần; hoặc học kỳ 1 xếp 2 tiết/tuần, học kỳ 2 xếp 1 tiết/tuần, đảm bảo trung bình 1,5 tiết/tuần
b) Nội dung dạy chủ đề tự chọn
Dạy chủ đề tự chọn theo 2 hình thức:
- Dạy học chủ đề bám sát là để ôn tập, hệ thống hóa, khắc sâu kiến thức, kĩ năng, cho
học sinh ở một môn học trong phạm vi chương trình của một chương, một học kì, một lớp hoặc nhiều lớp, không bổ sung kiến thức nâng cao mới Đối tượng theo học chủ đề bám sát là những học sinh còn hạn chế kiến thức
- Chủ đề nâng cao là chủ đề dạy học nhằm bổ sung, nâng cao, vận dụng kiến thức đã
học cho học sinh ở một môn học trong phạm vi chương trình của một chương, một học kì, một lớp hoặc nhiều lớp Đối tượng theo học chủ đề nâng cao là những học sinh có học lực khá, giỏi
Khi thực hiện chủ đề bám sát, chủ đề nâng cao tuyệt đối không được dạy trước chương trình ở từng thời điểm dạy học
c) Chương trình, tài liệu dạy chủ đề tự chọn
THPT phân ban, giáo viên bộ môn căn cứ bản chương trình của Bộ GD&ĐT để biên
sọan chủ đề tự chọn sao cho sát với đối tượng học tập Sau khi biên sọan, tài liệu này phải được
thông qua tổ chuyên môn góp ý và Hiệu trưởng (hoặc PHT) duyệt trước khi giáo viên dạy và đồng thời gửi về Sở để báo cáo
THCS, Bộ GD&ĐT chưa ban hành chương trình chủ đề tự chọn, do đó các trường có thể tự biên soạn nội dung để dạy theo chủ đề bám sát; tài liệu biên soạn này phải được Hiệu trưởng (hoặc PHT) duyệt và báo cáo Phòng Giáo dục và Đào tạo (ở lớp 8 có thể dùng tài liệu chủ
đề tự chọn do Sở tổ chức biên soạn ở năm học 2005-2006) Khi có chương trình, tài liệu dạy học của Bộ, các trường thực hiện theo chương trình, tài liệu đó, hoặc giáo viên biên soạn cho phù hợp, Hiệu trưởng duyệt, đồng thời gửi báo cáo về Phòng GD&ĐT
Khi có tài liệu dạy học tự chọn của Bộ GD&ĐT (THCS, THPB), để phù hợp với tình hình thực tế, có 2 phương án thực hiện như sau:
- Phương án 1: Giáo viên giảng dạy theo đúng như phân phối chương trình và tài liệu của Bộ GD&ĐT
- Phương án 2: Căn cứ theo phân phối chương trình, giáo viên có thể tham khảo tài liệu dạy học tự chọn do Bộ ban hành để sọan lại và tài liệu này cũng phải thông qua Hiệu trưởng và Hiệu trưởng phải báo cáo với Sở hoặc Phòng Giáo dục và Đào tạo
1.3 Hướng dẫn dạy môn Tin học
a) Ở trung học cơ sở, Tin học là môn học tự chọn chỉ được tổ chức dạy ở những trường
có điều kiện về cơ sở vật chất, giáo viên (không thực hiện chế độ giáo viên thỉnh giảng)
Những nơi không đủ điều kiện dạy môn tự chọn Tin học thì tổ chức dạy chủ đề tự chọn ở các
môn học khác
Do điều kiện về cơ sở vật chất, giáo viên nên ở một cấp lớp, môn Tin học không nhất thiết phải dạy đủ ở tất cả các lớp, nhưng khi tổ chức dạy ở một số lớp nào thì phải bảo đảm dạy liên tục cho học sinh ở các lớp đó đến lớp 9
Trang 3Thực hiện dạy môn tự chọn Tin học từ năm học 2009-2010 trở đi, học Tin học lớp 6, 7,
8, 9 đều theo chương trình, sách giáo khoa của Bộ
Khi thực hiện dạy môn tự chọn Tin học thì môn học này được đánh giá như các môn học khác theo đúng qui chế đánh giá xếp loại học sinh THCS, THPB của Bộ
b) THPT phân ban, tất cả các trường THPT đều phải dạy môn Tin học
1.4 Hướng dẫn thực hiện hoạt động Giáo dục Ngoài giờ lên lớp
Thực hiện đầy đủ các chủ đề qui định cho mỗi tháng, với thời lượng 2 tiết/tháng Đưa nội dung giáo dục về Công ước Quyền trẻ em của Liên Hợp quốc vào Hoạt động Giáo dục Ngoài giờ lên lớp ở lớp 9, 10 và các hoạt động hưởng ứng phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” do Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động
1.5 Hướng dẫn thực hiện hoạt động Giáo dục Hướng nghiệp
Thực hiện họat động chương trình giáo dục hướng nghiệp và tăng cường tư vấn hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp THCS và THPT
a) Giáo dục hướng nghiệp: Nghiêm túc triển khai thực hiện đầy đủ hoạt động giáo dục
hướng nghiệp ở các trường THCS, THPT, THCS&THPT và các trung tâm KTTH-HN, GDTX-KTTH theo chương trình đã được ban hành
+ Đối với cấp THCS: Căn cứ kế hoạch giáo dục của trường THCS chỉ có ở khối 9 thực hiện chương trình hoạt động giáo dục hướng nghiệp với thời gian là 9 tiết/năm do trường THCS đảm nhiệm, nội dung sinh họat hướng nghiệp biên soạn và thực hiện theo sách giáo khoa Giáo dục hướng nghiệp lớp 9
+ Đối với cấp THPT: Ở các khối lớp phân ban (cả 3 ban): Trường THPT đảm nhiệm Giáo dục hướng nghiệp với thời gian là 9 tiết/năm, nội dung Giáo dục hướng nghiệp biên soạn và thực hiện theo sách giáo khoa Giáo dục hướng nghiệp của khối lớp tương ứng
b) Tư vấn hướng nghiệp: Các trường THCS, THPT, THCS&THPT và các trung tâm
GDTX&KTTH-HN, TT KTTH-HN tổ chức các buổi tư vấn hướng nghiệp cho học sinh khối 9, 12
- Đối với khối lớp 9: Nội dung tư vấn là chuẩn bị cho học sinh lớp 9 lựa chọn ban ở các trường THPT hợp lý, lựa chọn trường tham gia tuyển sinh 10 theo đúng năng lực của học sinh; kế hoạch tổ chức tham quan các trường trung cấp chuyên nghiệp, các nhà máy, xí nghiệp
- Đối với khối lớp 12: Nội dung tư vấn là giúp học sinh 12 lựa chọn ngành nghề học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, phù hợp với năng lực của bản thân và yêu cầu đào tạo nhân lực của địa phương và cả nước; Tổ chức tham quan trường Trung cấp Chuyên nghiệp, Cao đẳng, Đại học, xí nghiệp ít nhất 1 lần/1 năm học
1.5 Hướng dẫn thực hiện dạy nghề phổ thông
a) Cấp THCS: Quán triệt mục tiêu giáo dục toàn diện, phòng GD&ĐT huyện (thành phố)
chỉ đạo trường THCS chủ động phối hợp với các Trung tâm GDTX&KTTH-HN, TT KTTH-HN
tổ chức cho học sinh tự nguyện đăng ký học nghề phổ thông từ lớp 8 theo 1 trong 2 hình thức sau:
- Hình thức 1: môn học tự chọn
- Hình thức 2: học nghề phổ thông
* Đối với hình thức 1 (môn học tự chọn):
- Các trường THCS chỉ được dạy nghề phổ thông theo hình thức môn học tự chọn khi có
đủ điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên đào tạo đúng chuyên môn của nghề phổ thông mà trường
tổ chức
- Sở GD&ĐT ủy quyền cho các Trung tâm GDTX&KTTH-HN, TT KTTH-HN chủ động kết hợp với phòng GD&ĐT kiểm tra điều kiện cơ sở vật chất và giáo viên ở các trường THCS tổ chức nghề phổ thông theo hình thức môn học tự chọn
- Thời gian học là 2 tiết/tuần, chương trình, nội dung thực hiện theo chương trình 70 tiết nghề phổ thông hiện hành như: điện dân dụng, tin học văn phòng, nấu ăn, nhiếp ảnh, làm vườn, thêu, cắt may, …
* Đối với hình thức 2 (học nghề phổ thông): Các trường THCS chủ động phối hợp với các
Trung tâm GDTX&KTTH-HN, TT KTTH-HN tổ chức cho học sinh đăng ký học nghề từ đầu
Trang 4năm lớp 8 hoặc từ đầu năm lớp 9 Tùy theo điều kiện cơ sở vật chất, giáo viên nghề của trường và trung tâm mà tổ chức học sinh học nghề tại trường hoặc tại trung tâm Thực hiện chương trình nghề phổ thông 70 tiết Học phí và lệ phí tiêu hao vật tư thực hành thực hiện theo quy định hiện hành Học sinh có đủ điều kiện được tham gia thi lấy chứng chỉ nghề
b) Cấp THPT: Giáo dục nghề phổ thông cấp THPT
Hoạt động giáo dục nghề phổ thông lớp 11 (105 tiết) bắt buộc cho tất cả học sinh lớp 11 theo qui định tại khoản a mục 1 phần II của văn bản số 8608/ BGD&ĐT-GDTrH ngày 16/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn hoạt động giáo dục nghề phổ thông lớp 11 năm học 2007-2008 Nơi có đủ giáo viên đào tạo đúng chuyên môn, đủ cơ sở vật chất phải thực hiện hoạt động giáo dục nghề phổ thông lớp 11, Hiệu trưởng các trường THPT, THCS&THPT kết hợp với Giám đốc Trung tâm GDTX&KTTH, KTTH-HN, những học sinh sau khi hoàn thành chương trình 105 tiết nếu đạt từ trung bình trở lên thì đủ điều kiện dự thi tốt nghiệp nghề Nơi chưa đủ giáo viên đào tạo đúng chuyên môn, cơ sở vật chất thì Hiệu trưởng các trường THPT, THCS&THPT phối hợp với các trung tâm GDTX&KTTH, KTTH-HN để thực
hiện chương trình hoạt động Giáo dục nghề phổ thông lớp 11 Đảm bảo 100% học sinh hoàn thành chương trình nghề 105 tiết đạt từ trung bình trở lên được tham gia dự thi tốt nghiệp nghề.
Những học sinh có giấy chứng nhận nghề loại khá trở xuống, nếu có nguyện vọng được phép thi lại cấp giấy chứng nhận mới (thủ tục thực hiện như thi lần đầu)
- Các trường THPT, THCS&THPT tùy theo điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên của trường, giáo viên dạy nghề của các Trung tâm GDTX&KTTH, KTTH-HN địa phương mà chọn một nghề trong các nghề của họat động Giáo dục nghề phổ thông lớp 11 đăng ký và tổ chức dạy tại trường hoặc tại trung tâm (báo cáo số lượng theo phụ lục về phòng GDTrH chậm nhất là ngày 15-9 hàng năm) Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh học nghề phổ thông thực hiện theo mục 2 phần II tại công văn số 8608/BGD&ĐT-GDTrH ngày 16/08/2007 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc hướng dẫn họat động giáo dục nghề phổ thông lớp 11 năm học 2007-2008
- Các Trung tâm GDTX&KTTH, KTTH-HN phải tạo điều kiện về cơ sở vật chất và tăng cường giáo viên dạy nghề cho các trường THPT, THCS&THPT trong khu vực của địa phương để hoàn thành hoạt động giáo dục nghề phổ thông lớp 11 trên cơ sở phối hợp với Hiệu trưởng các trường THPT, THCS&THPT trên địa bàn Các giáo viên tăng cường giảng dạy được hưởng chế
độ theo qui định hiện hành
- Hoạt đông Giáo dục Nghề phổ thông lớp 11 có 105 tiết, nhà trường có thể chọn các nghề
Sở GD&ĐT đã biên soạn tài liệu: làm vườn, nuôi cá, trồng rừng, điện dân dụng, sửa chữa xe máy, cắt may, nấu ăn, thêu tay, tin học văn phòng Những trường có đủ điều kiện phải tổ chức ít nhất là 2 nghề cho học sinh lựa chọn
Trong quá trình thực hiện hoạt động Giáo dục nghề phổ thông lớp 11 hiệu trưởng các trường phổ thông trực thuộc Sở cần lưu ý một số vấn đề sau
- Chỉ đạo thực hiện chương trình họat động Giáo dục nghề phổ thông lớp 11 ngay từ đầu năm học
- Bố trí dạy nghề phổ thông phải bảo đảm thời khóa biểu dạy 3 tiết liên tục trong 1 buổi/tuần
- Kiểm tra việc ghi sổ đầu bài (1 tuần/lần), sổ điểm (1 tháng/lần)
- Đảm bảo cơ sở vật chất (thiết bị thực hành nghề điện dân dụng, diện tích đất để học nghề làm vườn….)
- Chú ý tính đa dạng của nghề phổ thông, nên tổ chức dạy nhiều nghề trong nhà trường, những trường có đủ điều kiện tránh chỉ dạy một nghề và nên lưu ý quan tâm đến việc lựa chọn nghề của học sinh
- Căn cứ vào tình hình đội ngũ giáo viên và quyết định chọn nghề để dạy cho phù hợp với phân công lao động của đơn vị
1.6 Hướng dẫn thực hiện Giáo dục Quốc phòng – An ninh
1.6.1 Chương trình học
Trang 5Thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông cấp THPT, ban hành theo Quyết định
số 79/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 24/12/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành chương trình Giáo dục Quốc phòng – An ninh và Phân phối chương trình môn học
GDQP-AN năm học 2009-2010 của Sở Giáo dục và Đào tạo biên soạn
1.6.2 Tổ chức giảng dạy
- Các khối 10, 11 tổ chức học rải trong năm học, mỗi tuần học 1 đến 2 tiết tùy theo nội dung bài học (các bài giảng lý thuyết bố trí 1 tiết/tuần, các bài giảng thực hành bố trí 2 tiết liền kề /tuần)
- Riêng khối 12 học rải trong học kỳ 1 của năm học, mỗi tuần dạy 2 tiết liền kề/tuần
- Trong thực hành huấn luyện phải đảm bảo tuyệt đối an toàn về người, vũ khí trang bị và tổ chức bắn đạn thật tỷ lệ 10% cho khối 12 theo Thông tư Liên tịch số 182/2007/TTLT-BQP-BCA-BGDĐT-BNV ngày 04/12/2007 về hướng dẫn thực hiện Nghị định 116/2007/NĐ-CP ngày 10/7/2007 của Chính phủ về Giáo dục Quốc phòng – An ninh
1.6.3 Các trường hợp được miễn học môn Thể dục, môn Âm nhạc, môn Mỹ thuật, phần thực hành môn giáo dục quốc phòng - an ninh (GDQP-AN)
- Học sinh được miễn học môn Thể dục, môn Âm nhạc, môn Mỹ thuật trong chương trình giáo dục nếu gặp khó khăn trong học tập môn học nào đó do mắc bệnh mãn tính, bị khuyết tật, bị tai nạn hoặc bị bệnh phải điều trị
- Hồ sơ xin miễn học gồm có: Đơn xin miễn học của học sinh và bệnh án hoặc giấy chứng nhận thương tật do bệnh viện từ cấp huyện trở lên cấp
- Việc cho phép miễn học đối với các trường hợp do bị ốm đau hoặc tai nạn chỉ áp dụng trong năm học; các trường hợp bị bệnh mãn tính, khuyết tật hoặc thương tật lâu dài được áp dụng cho cả năm học hoặc cả cấp học
- Hiệu trưởng nhà trường cho phép học sinh được miễn học môn Thể dục, môn Âm nhạc, môn Mỹ thuật trong một học kỳ hoặc cả năm học Nếu được miễn học cả năm học thì môn học này không tham gia đánh giá, xếp loại học lực của học kỳ và cả năm học; nếu chỉ được miễn học một học kỳ thì lấy kết quả đánh giá, xếp loại của học kỳ đã học để đánh giá, xếp loại cả năm học
- Đối với môn GDQP-AN:
Thực hiện theo Quyết định số 69/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14/11/2007 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn GDQP-AN
Các trường hợp học sinh được miễn học phần thực hành sẽ được kiểm tra bù bằng lý thuyết để có đủ cơ số điểm theo quy định
1.7 Hướng dẫn thực hiện giảng dạy chương trình giáo dục địa phương
Sở GD&ĐT đã xây dựng chương trình và biên soạn tài liệu học tập phục vụ giảng dạy nội dung giáo dục địa phương các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý cấp THCS và Lịch sử, Địa lý cấp THPT đưa vào chương trình giảng dạy chính khóa theo qui định của Bộ GD&ĐT kể từ năm học 2010-2011, được thực hiện như sau:
1.7.1 Tài liệu
Sử dụng tài liệu giáo dục địa phương các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý cấp THCS và Lịch
sử, Địa lý cấp THPT do Sở Giáo dục và Đào tạo biên soạn
1.7.2 Tổ chức thực hiện
Thực hiện giảng dạy các tiết Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý cấp THCS và Lịch sử, Địa lý cấp THPT đúng theo phân phối chương trình do Sở Giáo dục và Đào tạo phát hành
II Thực hiện điểm số, cách làm tròn điểm số
2.1 Thực hiện điểm số
2.1.1.Số cột điểm kiểm tra tối thiểu ở cấp THCS và THPT: thực hiện theo phụ lục
đính kèm
Lưu ý: trong cột điểm kiểm tra tối thiểu ở cấp THCS và THPT:
Trang 6- Không có phần điểm kiểm tra các loại chủ đề tự chọn, Hiệu trưởng các trường có trách nhiệm bổ sung phù hợp với trường mình phụ trách, đảm bảo đúng tinh thần của thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
- Trong số cột điểm KTtx theo qui định cột điểm tối thiểu, phải có thêm cột điểm của chủ đề dạy học tự chọn Điểm số của chủ đề tự chọn ở môn học nào thì được tham gia tính điểm trung bình học kì, cả năm của môn học đó
2.1.2 Đối với những môn có tiết thực hành như: Vật lý, Hóa học, Sinh học, Địa lý,
Tin học, việc tính điểm theo hệ số 1 hay hệ số 2 đã có hướng dẫn cụ thể trong tài liệu phân phối chương trình ở mục những vấn đề cụ thể của môn học, cụ thể như sau:
+ Môn Vật lý:
- Đối với THCS: Các bài thực hành trong chương trình, học sinh đều phải thực hiện và viết báo cáo Trong mỗi học kỳ, chỉ đánh giá tối đa 1 bài thực hành tính điểm hệ số 2 (việc chọn các bài thực hành để đánh giá tính điểm hệ số 2 là do tổ chuyên môn quy định), các bài thực hành khác cho điểm hệ số 1 (nếu có nhiều bài thực hành thì giáo viên tính điểm bình quân và lấy tối thiểu một cột điểm)
1- Đối với THPT: Các bài thực hành trong chương trình, học sinh đều phải thực hiện và viết báo cáo Trong mỗi học kỳ, chỉ đánh giá tối đa 1 bài thực hành tính điểm hệ số 2 Việc chọn các bài thực hành để đánh giá tính điểm hệ số 2 là do tổ chuyên môn quy định
+ Môn Hóa học:
Đánh giá bài thực hành của học sinh bao gồm hai phần: phần đánh giá kỹ năng thực hành, kết quả thực hành; phần đánh giá báo cáo thực hành (tường trình thí nghiệm) Điểm của bài thực hành bằng trung bình cộng điểm của hai phần trên và điểm này tính hệ số 1 (nếu có nhiều bài thực hành thì giáo viên tính điểm bình quân và lấy tối thiểu một cột điểm)
+ Môn Sinh học:
Đánh giá bài thực hành của học sinh bao gồm hai phần: phần đánh giá kỹ năng thực hành, kết quả thực hành; phần đánh giá báo cáo thực hành Điểm của bài thực hành bằng trung bình cộng của hai phần trên, điểm này được tính hệ số 1 (nếu có nhiều bài thực hành thì giáo viên tính điểm bình quân và lấy tối thiểu một cột điểm)
+ Môn Địa lý:
Sau mỗi bài thực hành của học sinh, giáo viên cần có đánh giá và cho điểm Phải dùng điểm này làm cột điểm (hệ số 1), nếu có nhiều bài thực hành thì giáo viên tính điểm bình quân và lấy tối thiểu 1 cột điểm
+ Môn Tin học:
- Lớp 9 thời lượng để kiểm tra, đánh giá là 03 tiết/học kỳ Trong đó, 2 tiết cho bài kiểm tra cuối học kì, 1 tiết còn lại dành cho các bài kiểm tra định kì trong học kì
- Lớp 10 phải dành 6 tiết để kiểm tra Trong đó có 2 tiết dành cho kiểm tra học kì (học
kì I: 1 tiết; học kì II: 1 tiết); 02 tiết kiểm tra (học kì I: 1 tiết; học kì II: 1 tiết); 02 tiết kiểm tra thực hành trên máy (học kì I: 1 tiết; học kì II: 1 tiết)
- Lớp 11, 12 phải dành 4 tiết để kiểm tra Trong đó có 2 tiết dành cho kiểm tra học kì (học
kì I: 1 tiết; học kì II: 1 tiết) và 02 tiết kiểm tra (trong đó có 1 tiết kiểm tra thực hành trên máy)
- Phải đảm bảo thực hiện đúng, đủ các tiết kiểm tra, kiểm tra thực hành, kiểm tra học
kì, kiểm tra thường xuyên đúng theo quy định
2.1.3 Đối với môn giáo dục Quốc phòng – An ninh
a) Kiểm tra đánh giá kết quả môn học
Tất cả học sinh học môn Giáo dục quốc phòng – An ninh lớp 10, 11, 12 đều phải được kiểm tra, đánh giá kết quả học tập theo thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông; Quyết định số 69/2007/QĐ-BGDĐT ngày 14/11/2007 về việc Ban hành Qui định tổ chức dạy, học và đánh giá kết quả học tập môn học Giáo dục quốc phòng – An ninh
Trang 7Riêng khối lớp 12, môn Giáo dục quốc phòng – An ninh chỉ dạy học rải trong 1 học kỳ thì lấy kết quả đánh giá, xếp loại của học kỳ đó làm kết quả đánh giá, xếp loại cả năm học
Tất cả học sinh đều phải có điểm Giáo dục Quốc phòng An ninh Nếu học sinh được miễn học phần thực hành thì điểm trung bình môn học được tính căn cứ vào điểm kiểm tra phần lý thuyết
b) Báo cáo kết quả
Kết thúc năm học các trường tổng hợp kết quả giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng – An ninh báo cáo về Sở GD&ĐT (Phòng Giáo dục Trung học) để tổng hợp báo cáo cấp trên
2.1.4 Cách ghi điểm số
- Khi ghi điểm số các loại bài kiểm tra của môn học vào Sổ gọi tên và ghi điểm, lần lượt ghi từ trái sang phải từng cột điểm của loại bài kiểm tra vào vị trí qui định dành cho loại bài kiểm tra đó theo đúng trình tự thời điểm kiểm tra
Cách ghi điểm đối với các khối lớp áp dụng thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông trong việc đánh giá xếp loại học sinh:
- Điểm kiểm tra miệng: ghi một số nguyên Ví dụ: 00; 01; 2; 3;…
- Các điểm kiểm tra còn lại phải ghi đủ một chữ số thập phân
Ví dụ: 00,0; 1,0; 7,0; 8,1; 5,0;…, 10,0
- Không nên ghi 7.0; 8.1;….
- Sổ gọi tên và ghi điểm THPT của các lớp phân ban được bổ sung như sau:
- Tại trang 1, mục lớp ghi tên lớp kèm theo tên ban Nếu là ban cơ bản sử dụng phần trống dưới mục lớp ghi rõ các môn học nâng cao
Ví dụ: Lớp 10A5 Ban cơ bản
Các môn học nâng cao: Ngữ văn, Toán, Ngoại ngữ
Giáo viên bộ môn tự ghi điểm trung bình hoặc kết quả xếp loại mỗi học kỳ, cả năm, kết quả kiểm tra lại (nếu có) của môn học do mình phụ trách vào các mục tương ứng đã qui định trong học bạ và ký xác nhận ĐTB hoặc xếp loại môn học và sửa chữa (nếu có), ký và ghi rõ họ tên
2.1.5 Cách làm tròn điểm số
- Việc làm tròn điểm kiểm tra thường xuyên (KTtx) hoặc điểm kiểm tra định kỳ (KTđk) theo hình thức đề trắc nghiệm hoặc đề có phần trắc nghiệm kết hợp với tự luận được lấy đến một chữ
số thập phân sau khi đã làm tròn, tại khoản 4 Điều 8 thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông thực hiện cụ thể như sau:
+ Xét chữ số thập phân thứ hai của điểm số
+ Nếu chữ số này nhỏ hơn 5 thì bỏ đi chữ số thập phân thứ hai này
+ Nếu chữ số này lớn hơn hoặc bằng 5 thì bỏ đi chữ số thập phân thứ hai này và tăng chữ số thập phân thứ nhất một đơn vị
Ví dụ: 7,25 làm tròn 7,3 8,78 làm tròn 8,8
7,22 làm tròn 7,2 8,04 làm tròn 8,0
- Điểm các bài KTtx theo hình thức tự luận cho điểm số nguyên
- Điểm KTđk theo hình thức tự luận cho điểm lẻ đến 0,5
Ví dụ: 00,0; 0,5; 1,0; 1,5; …
- Điểm thực hành của các môn học tính hệ số 1 hay hệ số 2 được quy định cụ thể trong cột điểm kiểm tra tối thiểu từng cấp học Nếu điểm thực hành hệ số 1 thì cho điểm số nguyên; nếu điểm thực hành hệ số 2 thì cho điểm lẻ đến 0,5
2.1.6 Cột điểm chủ đề dạy học tự chọn
- Đối với cấp THCS có 2 phương án ghi cột điểm chủ đề tự chọn
Trang 8+ Phương án 1: Ghi vào cột chủ đề tự chọn trang 19 ở học kỳ 1 và trang 27 ở học kỳ 2, kết thúc học kỳ sử dụng phần trống còn lại trong cột kiểm tra miệng để ghi cột điểm này tại môn học tương ứng
+ Phương án 2: Sử dụng phần trống còn lại trong cột kiểm tra miệng để ghi cột điểm này tại môn học tương ứng
- Đối với cấp THPT: Sử dụng phần trống còn lại trong cột kiểm tra miệng để ghi cột điểm này tại môn học tương ứng
- Nếu các trường ứng dụng Công nghệ thông tin trong quản lý điểm số thì cột điểm tự chọn của môn nào sẽ ghi ở vị trí cuối bên phải của cột điểm kiểm tra miệng, bên trên ghi tự chọn (TC)
2.1.7 Thực hiện số tiết/tuần và số cột điểm tối thiểu cấp THCS, THPT
Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo huyện, thành phố; Hiệu trưởng các trường THCS&THPT, THPT trực thuộc Sở thực hiện theo bảng quy định số tiết/tuần và số cột điểm tối
thiểu của Sở Giáo dục và Đào tạo (đính kèm) từ năm học 2011-2012
2.1.8 Hướng dẫn cách sửa chữa điểm số và các nội dung khác trong Sổ gọi tên và ghi điểm, học bạ
Việc sửa chữa điểm số và các nội dung khác trong Sổ gọi tên và ghi điểm, học bạ thực hiện theo phần hướng dẫn in trên các hồ sơ đó Cần lưu ý thực hiện cách sửa chữa như sau:
Trong Sổ gọi tên và ghi điểm và trong học bạ, khi muốn thay một điểm số bằng một điểm
số khác, hay thay một xếp loại bằng một xếp loại khác, dùng mực đỏ gạch ngang điểm hoặc xếp loại cũ, dùng mực đỏ ghi điểm mới hoặc xếp loại mới vào phía bên trên, bên phải vị trí điểm cũ Tuyệt đối không đóng bất cứ loại dấu nào (kể cả dấu “điều chỉnh”) lên trên chỗ có sửa chữa
a) Đối với Sổ gọi tên và ghi điểm
- Giáo viên bộ môn chỉ điền tổng số điểm có sửa chữa trong phần dành ghi điểm của môn mình vào mục “Trong trang này có … điểm được sửa chữa, trong đó môn …… điểm” ở bên dưới trang dành ghi điểm của môn và ký tên, ghi họ tên khi đã hoàn thành việc ghi điểm vào tất
cả các mục ở trang đó Việc này được thực hiện vào cuối mỗi học kỳ và cuối năm học
- Giáo viên chủ nhiệm chỉ ký tên và ghi họ tên vào vị trí xác nhận bên dưới mỗi trang phần ghi điểm trong Sổ gọi tên và ghi điểm khi các giáo viên dạy các môn có điểm số ghi đầy đủ vào trang đó đã ký xác nhận tổng số điểm có sửa chữa
b) Đối với học bạ
- Giáo viên bộ môn nếu có sửa chữa điểm phải thực hiện theo qui định như đối với Sổ gọi tên và ghi điểm (khi muốn thay một điểm số bằng một điểm số khác, hay thay một xếp loại bằng một xếp loại khác, dùng mực đỏ gạch ngang điểm hoặc xếp loại cũ, dùng mực đỏ ghi điểm mới hoặc xếp loại mới vào phía bên trên, bên phải vị trí điểm cũ) và ký xác nhận về sự sửa chữa bên cạnh điểm đã sửa
- Ở cuối trang ghi kết quả các môn học của mỗi cấp lớp (trang bên trái), khi tất cả giáo viên dạy môn đã hoàn thành việc ghi điểm trung bình vào tất cả các mục ở trang đó, giáo viên chủ nhiệm điền nội dung “Trong bảng này có sửa chữa ở … chỗ, thuộc các môn …… ” rồi ký tên và ghi họ tên xác nhận Sau đó Hiệu trưởng ký tên và ghi họ tên xác nhận
- Ở trang ghi kết quả xếp loại học kỳ và xếp loại cả năm của mỗi cấp lớp (trang bên phải), khi nội dung của tất cả các mục đã được ghi hoàn thành, nếu có trường hợp được sửa chữa, giáo viên chủ nhiệm ghi chú nội dung đã được sửa chữa vào mục “Nhận xét của giáo viên chủ nhiệm” rồi ký tên và ghi họ tên xác nhận
III Thực hiện ra đề, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
3.1 Thực hiện ra đề kiểm tra
- Nội dung đề kiểm tra đánh giá phải hướng vào mục tiêu toàn diện và vận dụng, thực hành lí thuyết, tuyệt đối không ra đề mang tính lí thuyết buộc học sinh phải viết lại những điều đã học thuộc lòng; yêu cầu của đề kiểm tra bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo
dục phổ thông với các cấp độ: Biết, Thông hiểu, Vận dụng sáng tạo.
Trang 9- Hình thức ra đề kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kì: loại đề tự luận, trắc nghiệm khách quan hoặc loại đề kết hợp hình thức đề tự luận và trắc nghiệm khách quan
- Riêng đối với đề kiểm tra học kì, cuối năm hình thức là tự luận đảm bảo dành tối thiểu 50% làm bài các nội dung thông hiểu, vận dụng và sáng tạo.
- Đối với lớp 12 cấp THPT đề kiểm tra học kì, cuối năm hình thức trắc nghiệm khách quan đối với các môn Vật lý, Hóa học, Sinh học, Tiếng Anh và đảm bảo dành tối thiểu 50% làm bài các nội dung thông hiểu, vận dụng và sáng tạo.
- Nội dung kiến thức giảng dạy chương trình giáo dục địa phương được tham gia kiểm tra, đánh giá trong kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ và kể cả trong các kỳ thi học sinh giỏi cấp huyện, cấp tỉnh, tuyển sinh 10
- Hiệu trưởng phải kiểm duyệt tất cả các loại đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết, cuối học kì, trước khi giáo viên tổ chức kiểm tra
3.2 Đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kể từ học kỳ II năm học 2011-2012 các trường thực hiện đánh giá kết quả học tập của học sinh theo đúng tinh thần thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và
Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
3.2.1 Đánh giá dạy chủ đề tự chọn
Trong 1 học kì, chủ đề tự chọn chỉ được đánh giá bằng hình thức kiểm tra thường
xuyên (kiểm tra miệng hoặc kiểm tra 15 phút), cụ thể như sau:
- Chọn môn nào dạy chủ đề tự chọn thì phải có cột điểm KTtx của phần chủ đề tự chọn của môn học đó bên trên ghi (TC), sau khi cộng số tiết môn học chính và số tiết thêm vào
của chủ đề tự chọn thì số cột điểm của môn học này phải đảm bảo đủ số cột điểm tối thiểu theo thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và trung học phổ thông
- Cột kiểm tra này thuộc môn học nào thì ghi vào môn học đó Như vậy, trong 1 môn học ở cột điểm kiểm tra thường xuyên có điểm kiểm tra của môn học chính và điểm kiểm tra của phần chủ đề tự chọn
3.2.2 Hình thức đánh giá và kết quả các môn học sau một học kỳ và cả năm học
1 Hình thức đánh giá
a) Đánh giá bằng nhận xét kết quả học tập (sau đây gọi là đánh giá bằng nhận xét) đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục
Căn cứ chuẩn kiến thức, kỹ năng môn học quy định trong Chương trình giáo dục phổ thông, thái độ tích cực và sự tiến bộ của học sinh để nhận xét kết quả các bài kiểm tra theo hai mức:
- Đạt yêu cầu (Đ): Nếu đảm bảo ít nhất một trong hai điều kiện sau:
+ Thực hiện được cơ bản các yêu cầu chuẩn kiến thức, kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra;
+ Có cố gắng, tích cực học tập và tiến bộ rõ rệt trong thực hiện các yêu cầu chuẩn kiến thức,
kỹ năng đối với nội dung trong bài kiểm tra
- Chưa đạt yêu cầu (CĐ): Các trường hợp còn lại
b) Kết hợp giữa đánh giá bằng cho điểm và nhận xét kết quả học tập đối với môn Giáo dục công dân:
- Đánh giá bằng cho điểm kết quả thực hiện các yêu cầu về chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ đối với từng chủ đề thuộc môn Giáo dục công dân quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS, cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành;
- Đánh giá bằng nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh theo nội dung môn Giáo dục công dân quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp THCS, cấp THPT do Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành trong mỗi học kỳ, cả năm học
Trang 10Kết quả nhận xét sự tiến bộ về thái độ, hành vi trong việc rèn luyện đạo đức, lối sống của học sinh không ghi vào sổ gọi tên và ghi điểm, mà được giáo viên môn Giáo dục công dân theo dõi, đánh giá, và phối hợp với giáo viên chủ nhiệm sau mỗi học kỳ tham khảo khi xếp loại hạnh kiểm
Hiện nay Bộ GD&ĐT chưa phát hành học bạ mới, môn GDCD tạm thời thực hiện như sau:
- Đánh giá bằng điểm số của môn GDCD giáo viên ghi vào sổ gọi tên và ghi điểm, ghi vào học bạ trang dành cho giáo viên bộ môn của các môn học
- Đánh giá bằng nhận xét của môn GDCD, giáo viên bộ môn phối hợp với giáo viên chủ nhiệm ghi ngắn gọn trong trang nhận xét của giáo viên chủ nhiệm
c) Đánh giá bằng cho điểm đối với các môn học còn lại
d) Các bài kiểm tra được cho điểm theo thang điểm từ điểm 0 đến điểm 10; nếu sử dụng thang điểm khác thì phải quy đổi về thang điểm này
2 Kết quả môn học và kết quả các môn học sau mỗi học kỳ, cả năm học
a) Đối với các môn học đánh giá bằng cho điểm: Tính điểm trung bình môn học và tính điểm trung bình các môn học sau mỗi học kỳ, cả năm học;
b) Đối với các môn học đánh giá bằng nhận xét: Nhận xét môn học sau mỗi học kỳ, cả năm học theo hai loại: Đạt yêu cầu (Đ) và Chưa đạt yêu cầu (CĐ); nhận xét về năng khiếu (nếu có)
3 Kết quả môn học của mỗi học kỳ, cả năm học
- Đối với các môn học đánh giá bằng cho điểm
a) Điểm trung bình môn học kỳ (ĐTBmhk) là trung bình cộng của điểm các bài KTtx, KTđk
và KThk với các hệ số quy định tại Điểm a, Khoản 3, Điều 7 của thông tư 58, cụ thể như sau:
TĐKTtx + 2 x TĐKTđk + 3 x ĐKThk
ĐTBmhk =
Số cột KTtx + 2 x Số bài KTđk + 3
+ TĐKTtx: Tổng điểm của các bài KTtx
+ TĐKTđk: Tổng điểm của các bài KTđk
+ĐKThk: Điểm bài KThk
b) Điểm trung bình môn cả năm (ĐTBmcn) là trung bình cộng của ĐTB mhkI với ĐTBmhkII, trong đó ĐTBmhkII tính hệ số 2:
ĐTBmhkI + 2 x ĐTBmhkII
ĐTBmcn =
3
c) ĐTBmhk và ĐTBmcn là số nguyên hoặc số thập phân được lấy đến chữ số thập phân thứ nhất sau khi làm tròn số
- Đối với các môn học đánh giá bằng nhận xét
a) Xếp loại học kỳ:
+ Đạt yêu cầu (Đ): Có đủ số lần kiểm tra theo cột điểm tối thiểu và 2/3 số bài kiểm tra trở lên được đánh giá mức Đ, trong đó có bài kiểm tra học kỳ
+ Chưa đạt yêu cầu (CĐ): Các trường hợp còn lại
b) Xếp loại cả năm:
+ Đạt yêu cầu (Đ): Cả hai học kỳ xếp loại Đ hoặc học kỳ I xếp loại CĐ, học kỳ II xếp loại Đ
+ Chưa đạt yêu cầu (CĐ): Cả hai học kỳ xếp loại CĐ hoặc học kỳ I xếp loại Đ, học kỳ II xếp loại CĐ
c) Những học sinh có năng khiếu được giáo viên bộ môn ghi thêm nhận xét vào học bạ
- Đối với các môn chỉ dạy trong một học kỳ thì lấy kết quả đánh giá, xếp loại của học
kỳ đó làm kết quả đánh giá, xếp loại cả năm học.