1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Biển - đảo tư liệu 2012

76 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 5,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Nhóm phía đông có tên là nhóm An Vĩnh gồm 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước. Các đảo nhỏ khác có diện tích từ 0,4km 2 trở xuống, một số đảo có bờ cát t[r]

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

Tài liệu

GIÁO DỤC VỀ TÀI NGUYÊN, MÔI TRƯỜNG BIỂN,

HẢI ĐẢO CẤP TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

(Tài liệu lưu hành nội bộ, dành cho giáo viên và học sinh)

Trang 2

Chủ đề 1

BIỂN ĐÔNG VÀ VÙNG BIỂN VIỆT NAM

1 Khái quát về Biển Đông

a) Vị trí, giới hạn của Biển Đông

Với diện tích hơn 3447 nghìn km2, Biển Đông là một biển lớn, đứng thứ ba trong các biển của thế giới Chiều dài của Biển Đông là khoảng 1900 hải lí (từ vĩ độ

3oN đến vĩ độ 26oB), chiều ngang nơi rộng nhất khoảng 600 hải lí (từ kinh độ 100oĐ đến kinh độ 121oĐ)

Từ ranh giới phía bắc nằm giữa bờ biển Phúc Kiến (Trung Quốc) và điểm cực Bắc đảo Đài Loan, bờ Biển Đông chạy men theo lục địa châu Á xuống bờ biển Việt Nam, tiếp xúc với bờ biển Campuchia, Thái Lan, sang bờ đông bán đảo Mã lai, qua Xingapo, sang bờ phía bắc đảo Xumatra, tới đường ranh giới phía nam ở khoảng vĩ tuyến 3oN, giữa các đảo Banca và Bêlitung (Inđônêxia), kéo sang đảo Calimantan, rồi vòng lên bờ biển phía tây của quần đảo Philippin và trở về đường ranh giới phía Bắc Như vậy, có 10 quốc gia và vùng lãnh thổ nằm ven bờ Biển Đông: Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan, Philipin, Malaixia, Xingapo, Inđônêxia, Brunây, Thái Lan, Campuchia

Biển Đông là một biển nửa kín vì các đường thông ra đại dương đều có các đảo và quần đảo bao bọc Từ Biển Đông muốn ra đại dương hay sang các biển xung quanh, người ta phải đi qua các eo biển: Phía Bắc, qua eo biển Đài Loan để sang biển Hoa Đông

và qua eo biển Basi để ra Thái Bình Dương Phía Đông, qua eo biển Balabac để sang các biển Xulu và Xêlêbet Phía Nam, qua các eo biển Carimanta và Gaxpa sang biển Giava Phía tây, qua eo biển Malắcca để sang biển Anđaman rồi thông ra Ấn Độ Dương

Bản đồ Đông Nam Á

Trang 3

b) Một số đặc điểm tự nhiên của Biển Đông

Biển Đông có địa hình phức tạp Độ sâu trung bình là 1140m, nơi sâu nhất đạt 5559m Nhìn chung, Biển Đông sâu ở phía đông giáp Philippin và ở vùng trung tâm, nông ở phía tây và phía nam giáp Việt Nam, Malaixia… Vùng có độ sâu trên 2000m chiếm khoảng 1/4 diện tích Thềm lục địa của Biển Đông khá bằng phẳng Vùng thềm lục địa có độ sâu dưới 200m chiếm hơn 1/2 diện tích; trong đó, vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan, eo biển Đài Loan chỉ có độ sâu dưới 100m

Khí hậu Biển Đông mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chịu sự chi phối của 2 hệ thống khí áp: áp cao Xibia vào mùa đông và áp thấp Ấn Độ- Mianma vào mùa hạ Tuy nhiên, khí hậu có sự khác biệt giữa khu vực phía bắc và khu vực phía nam Ở phía bắc, vào mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau) có gió mùa Đông Bắc thống lĩnh, tốc

độ gió trung bình 4- 6m/giây, mạnh nhất là 20- 24m/giây; vào mùa hạ (từ tháng 5 đến tháng 10), gió thịnh hành là gió mùa Nam hoặc Đông Nam, cũng có khi là Tây Nam, tốc độ gió trung bình 3- 5m/giây, mạnh nhất là 20- 22m/giây Ở phía nam, vào mùa đông không chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, khi này gió thịnh hành là gió Mậu dịch Đông Bắc, tốc độ gió trung bình 5- 7m/giây, mạnh nhất là 18- 20m/giây; vào mùa

hạ, gió thịnh hành là gió mùa Tây Nam, tốc độ trung bình 4- 6m/giây, mạnh nhất là 20- 22m/giây

Nhìn chung, Biển Đông là một biển vùng nhiệt đới, có nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình của nước tầng mặt trên toàn Biển Đông là khoảng 27- 28oC Tuy nhiên, nhiệt độ có sự thay đổi theo vĩ độ và theo mùa Xu thế chung của nhiệt độ nước Biển Đông là tăng dần từ bắc xuống nam Vào mùa đông, ở phần phía bắc nhiệt độ trung bình là 22- 24oC, ở phần phía nam nhiệt độ trung bình là 25- 27oC Vào mùa hạ, nhiệt

độ tầng mặt của Biển Đông tương đối đồng đều, trung bình khoảng 29- 30oC

Mỗi năm trung bình có 9- 10 cơn bão hoạt động trên Biển Đông, trong đó khoảng 4- 5 cơn hình thành tại chỗ, số còn lại là từ vùng Tây Thái Bình Dương đổ bộ vào Mùa bão và áp thấp nhiệt đới hoạt động trên Biển Đông thường từ tháng 5 đến hết tháng 10 Trong các tháng đầu mùa, bão hoạt động ở các vĩ độ thấp, sau đó tiến dần lên các vĩ độ cao hơn, vào các tháng 8- 9 bão có thể hoạt động ở các vĩ độ tương đối cao (20- 22oB), từ tháng 10 vị trí bão lại có xu hướng lùi dần về các vĩ độ thấp Thời gian tồn tại trung bình của các cơn bão là vào khoảng 4- 5 ngày, khi dài nhất lên tới 11 ngày và khi ngắn nhất chỉ 2 ngày là tan Những cơn bão và áp thấp nhiệt đới hình thành trên Biển Đông có đường đi đặc biệt phức tạp và chuyển hướng nhiều lần hơn so với những cơn bão từ Tây Thái Bình Dương đi vào

Độ muối của nước Biển Đông chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố như: chế độ gió mùa, sự trao đổi nước giữa Biển Đông với Thái Bình Dương và với các biển lân cận, nước của các con sông đổ ra… Vì vậy, độ muối của nước Biển Đông thay đổi theo mùa

và theo điều kiện địa phương ven Nhìn chung, độ muối ven bờ thấp hơn ngoài khơi khoảng 2%o Ở ngoài khơi, vào mùa đông, phần phía bắc có độ muối 33,5- 34,5%o, phần phía nam có độ muối 32,5- 33%o; vào mùa hạ, phần phía bắc có độ muối 33- 33,5%o, phần phía nam có độ muối 32- 32,5%o

Trang 4

Hoàn lưu nước trên Biển Đông chịu ảnh hưởng lớn của gió mùa và của địa hình

bờ biển Trong mùa đông, gió mùa Đông Bắc tạo nên một hải lưu chảy theo hướng đông bắc- tây nam dọc bờ biển Việt Nam, đó là dòng nước lạnh, tốc độ trung bình khoảng 60- 70m/giây Ngoài khơi có dòng nghịch lưu hướng tây nam- đông bắc, rõ nhất ở phía nam thuộc hải phận Malaixia- Inđônêxia và ở phía bắc thuộc hải phận Philippin Tất cả tạo thành hải lưu vòng tròn mùa đông chảy ngược chiều kim đồng hồ Mùa hạ, gió mùa Tây Nam tạo nên hải lưu chảy theo hướng tây nam- đông bắc, chảy sát bờ biển Trung Bộ Việt Nam, càng lên vĩ độ cao càng lệch sang hướng đông, tốc độ trung bình khoảng 30m/giây Ngoài khơi có dòng nghịch lưu chảy theo hướng đông bắc- tây nam, rõ nhất là ở bộ phận phía nam Biển Đông Tất cả tạo thành hải lưu vòng tròn mùa hạ, chảy thuận chiều kim đồng hồ

c) Vị trí địa chiến lược và tiềm năng kinh tế của Biển Đông

- Tầm quan trọng về địa chiến lược của Biển Đông

Biển Đông có tuyến đường giao thông huyết mạch, nối các nền kinh tế trên bờ Thái Bình Dương với các nền kinh tế trên bờ Ấn Độ Dương và Đại Tây Dương Đây là tuyến hàng hải quốc tế nhộn nhịp thứ hai thế giới nếu tính theo tổng lượng hàng hóa thương mại chuyển qua hàng năm

Mỗi ngày có khoảng 150- 200 tàu các loại qua lại Biển Đông, trong đó khoảng 50% là tàu có trọng tải trên 5000 tấn, hơn 10% là tàu có trọng tải từ 30000 tấn trở lên Ven Biển Đông có trên 530 cảng biển, trong đó có 2 cảng vào loại lớn và hiện đại bậc nhất thế giới là cảng Xingapo và cảng Hồng Công

Nhiều nước châu Á (Nhật Bản, Hàn Quốc, Xingapo, Trung Quốc…) có nền kinh tế phụ thuộc sống còn vào giao thông trên Biển Đông Có tới 70% khối lượng dầu

mỏ nhập khẩu và khoảng 45% khối lượng hàng hóa xuất khẩu của Nhật Bản được vận chuyển qua tuyến đường này Khoảng 60% lượng hàng hóa xuất nhập khẩu của Trung Quốc, 55% lượng hàng hóa xuất khẩu của các nước ASEAN là qua Biển Đông Hơn 90% lượng vận tải thương mại của thế giới được thực hiện bằng đường biển và 45% trong số đó đi qua Biển Đông Lượng dầu mỏ và khí hóa lỏng được vận chuyển qua vùng biển này lớn gấp 15 lần lượng chuyên chở qua kênh đào Panama

Quanh Biển Đông có những eo biển quan trọng đối với nhiều nước (eo biển Malắcca, eo biển Xunđa, eo biển Lômbôc…) Eo biển Malắcca nằm giữa đảo Xumatra (Inđônêxia) và bán đảo Mã Lai, nối Biển Đông với Ấn Độ Dương, dài hơn 800 km, rộng gần 38 km (nơi hẹp nhất chỉ 1,2 km) Dưới góc độ giá trị kinh tế và chiến lược, tầm quan trọng của eo biển Malắcca sánh ngang với kênh đào Xuyê hoặc kênh đào Panama Eo Malắcca tạo nên hành lang hàng hải chính giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nối 3 nước đông dân nhất thế giới là Ấn Độ, Inđônêxia và Trung Quốc

Vì vậy, đây được coi là điểm điều tiết giao thông đường biển quan trọng nhất châu Á Nơi đây, mỗi năm có hàng chục nghìn tàu thuyền qua lại, bao gồm tàu chở dầu, tàu chở công ten nơ, tàu đánh cá Khoảng 400 tuyến đường biển và 700 cảng biển trên thế giới phải nhờ eo Malắcca để quan hệ với cảng Xingapo Theo số liệu năm 2006- 2007 của Bộ Năng lượng Hoa Kì, gần 1/3 số dầu mỏ của thế giới được vận chuyển bằng tàu

Trang 5

thuyền qua eo biển này, biến nó trở thành 1 trong 2 tuyến đường biển quan trọng nhất thế giới (sau tuyến đường biển qua eo Hooc mut)

- Tiềm năng kinh tế của Biển Đông

Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là các tài nguyên sinh vật, khoáng sản, du lịch…

Xung quanh Biển Đông có các nước đánh bắt và nuôi trồng hải sản quan trọng của thế giới như Trung Quốc, Thái Lan, Việt Nam, Inđônêxia, Philippin Cả khu vực, đánh bắt khoảng 7- 8% tổng sản lượng đánh bắt cá của toàn thế giới

Biển Đông được coi là 1 trong 5 bồn trũng chứa nhiều dầu khí lớn nhất thế giới Các khu vực thềm lục địa có tiềm năng dầu khí cao là các bồn trũng Brunây- Xaba, Xaraoăc, Malay, Patani Thái, Nam Côn Sơn, Mê Công, Sông Hồng, cửa khẩu Châu Giang Hiện nay, hầu hết các nước trong khu vực đều là những nước khai thác và sản xuất dầu khí từ biển, trong đó Inđônêxia là thành viên của Tổ chức xuất khẩu dầu mỏ (OPEC) Theo đánh giá của Bộ Năng lượng Hoa Kì, lượng dự trữ dầu đã được kiểm chứng ở Biển Đông là 7 tỉ thùng, với khả năng sản xuất 2,5 triệu thùng/ngày Còn theo đánh giá của Trung Quốc thì trữ lượng dầu khí ở Biển Đông khoảng 213 tỉ thùng, trong đó trữ lượng dầu tại quần đảo Trường Sa có thể lên tới 105 tỉ thùng Ngoài ra, theo các chuyên gia Nga thì khu vực các quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa còn chứa đựng tài nguyên khí đốt đóng băng

2 Vùng biển Việt Nam

Giới hạn và độ cao của vùng trời thuộc lãnh thổ quốc gia cũng như độ sâu của lòng đất bên dưới tuy không được xác định chính xác là bao nhiêu kilômét, nhưng với khả năng kĩ thuật của nhân loại hiện nay thì mỗi quốc gia hoàn toàn có thể thực hiện chủ quyền của mình trong những phạm vi nhất định tới giới hạn tối đa là vành đai khí quyển nằm dưới quỹ đạo vệ tinh địa tĩnh và tới độ sâu cho phép thuộc bề dày của vỏ Trái Đất nằm bên dưới lãnh thổ của mình

Vùng biển của quốc gia ven biển được quy định bởi Công ước của Liên Hợp Quốc về luật biển được các nước kí kết vào năm 1982 (gọi là Công ước 1982), phê chuẩn vào ngày 16-11-1994 và từ đó bắt đầu có hiệu lực pháp luật quốc tế Việt Nam phê chuẩn Công ước 1982 vào năm 1994 Theo Công ước về luật biển năm 1982 thì

Trang 6

một quốc gia ven biển sẽ có 5 vùng biển là: nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Nội thủy

- Là vùng nước nằm phía bên trong đường cơ sở và giáp với bờ biển Đường cơ

sở là do quốc gia ven biển vạch ra Theo tuyên bố ngày 12-5-1977 của Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam thì đường cơ sở của Việt Nam là đường gãy khúc nối liền 11 điểm, từ điểm A1 (Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu, tỉnh Kiên Giang) đến điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị)

0 Nằm trên ranh giới phía Tây Nam

của vùng nước lịch sử của Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Campuchia

A1 Tại Hòn Nhạn, quần đảo Thổ Chu,

A7 Tại Hòn Đôi, tỉnh Khánh Hòa 12o39’0 109o28’0

A8 Tại mũi Đại Lãnh, tỉnh Phú Yên 12o53’8 109o27’2

A9 Tại Hòn Ông Căn, tỉnh Bình Định 13o54’0 109o21’0

A10 Tại đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi 15o23’1 109o09’0

A11 Tại đảo Cồn Cỏ, tỉnh Quảng Trị 17o10’0 107o20’6

Nội thuỷ và vùng biển

Trang 7

- Vùng nội thủy được xem như bộ phận lãnh thổ trên đất liền, có chế độ pháp lí của đất liền, nghĩa là được đặt dưới chủ quyển toàn vẹn, đầy đủ và tuyệt đối của quốc gia ven biển Tàu thuyền nước ngoài muốn vào ra vùng nội thủy phải xin phép nước ven biển và phải tuân theo luật lệ của nước đó Nước ven biển có quyền không cho phép tàu thuyền nước ngoài vào vùng nội thủy của mình

Trong vùng nội thủy, quốc gia ven biển sẽ thực hiện đầy đủ quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp giống như trên đất liền Mọi luật lệ do quốc gia ven biển ban hành đều được áp dụng cho vùng nội thủy mà không có một ngoại lệ nào

Các vùng biển quốc gia của Việt Nam theo Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982

Lãnh hải

- Là lãnh thổ biển, nằm ở phía ngoài nội thủy Ranh giới ngoài của lãnh hải được coi là đường biên giới quốc gia trên biển Công ước quốc tế về Luật biển 1982 quy định chiều rộng của lãnh hải là 12 hải lí tính từ đường cơ sở Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam cũng tuyên bố: “Lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lí, tính từ đường cơ sở”

- Quốc gia ven biển có chủ quyền hoàn toàn, đầy đủ trong vùng lãnh hải, song không tuyệt đối như nội thủy Tàu thuyền của các quốc gia khác được hưởng quyền qua lại không gây hại trong lãnh hải của nước ven biển

Tàu thuyền nước ngoài đi qua không gây hại trong lãnh hải tức là không được tiến hành bất kì hoạt động nào dưới đây:

+ Đe dọa hoặc dùng vũ lực chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ hoặc độc lập chính trị của quốc gia ven biển hay dùng mọi cách khác trái với các nguyên tắc luật pháp quốc tế đã được nêu trong Hiến chương Liên Hợp Quốc

+ Luyện tập hoặc diễn tập với bất kì kiểu loại vũ khí nào

+ Thu thập tình báo gây thiệt hại cho quốc phòng hay an ninh của quốc gia ven biển

Trang 8

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện bay

+ Phóng đi, tiếp nhận hay xếp lên tàu các phương tiện quân sự

+ Xếp hoặc dỡ hàng hóa, tiền bạc hay đưa người lên xuống tàu trái với các luật

và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hoặc nhập cư của quốc gia ven biển

+ Gây ô nhiễm cố ý và nghiêm trọng, vi phạm Công ước

+ Đánh bắt hải sản

+ Nghiên cứu hay đo đạc

+ Làm rối loạn hoạt động của mọi hệ thống giao thông liên lạc hoặc mọi trang thiết bị hay công trình khác của quốc gia ven biển

+ Mọi hoạt động khác không trực tiếp quan hệ đến việc đi qua

Nước ven biển không được ngăn cản hay phân biệt đối xử trong việc đi qua không gây hại của tàu thuyền bất cứ nước nào, nhưng xuất phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia đối với lãnh hải và để bảo vệ an toàn cho tàu thuyền qua lại, nước ven biển có thể quy định cho các tàu thuyền nước ngoài đi theo những tuyến phân luồng giao thông riêng Nước ven biển có quyền ban hành các luật lệ để kiểm soát và giám sát việc đi lại đó, cũng như truy tố, xét xử những người có hành động phạm pháp để bảo vệ quyền lợi của nước mình, phù hợp với luật pháp quốc tế

Vùng tiếp giáp lãnh hải

- Là vùng biển nằm ngoài lãnh hải và tiếp liền với lãnh hải Công ước quốc tế

về Luật biển nêu rõ: “Vùng tiếp giáp lãnh hải không thể mở rộng quá 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải”, nghĩa là chiều rộng của vùng tiếp giáp lãnh hải không vượt quá 12 hải lí tính từ đường ranh giới ngoài của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng biển tiếp liền phía ngoài của lãnh hải Việt Nam, có chiều rộng là 12 hải lí, hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam”

- Vì vùng tiếp giáp lãnh hải nằm ngoài vùng biển thuộc chủ quyền của quốc gia ven biển, nên quốc gia ven biển chỉ được thực hiện thẩm quyền hạn chế trong một số lĩnh vực nhất định đối với các tàu thuyền nước ngoài Trong vùng tiếp giáp lãnh hải, quốc gia ven biển có quyền tiến hành các hoạt động kiểm soát, nhằm:

+ Ngăn ngừa những vi phạm đối với các luật và quy định về hải quan, thuế khóa, y tế hay nhập cư trên lãnh thổ hoặc lãnh hải của mình

+ Trừng trị những vi phạm đối với các luật và quy định nói trên xảy ra trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải của mình

Vùng đặc quyền kinh tế

- Là vùng biển nằm ở phía ngoài lãnh hải và hợp với lãnh hải thành một vùng biển, có chiều rộng không vượt quá 200 hải lí tình từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố:

Trang 9

“Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải lí kể từ đường cơ sở để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam” Vùng đặc quyền kinh tế là một vùng đặc thù, trong đó quốc gia ven biển thực hiện thẩm quyền riêng biệt của mình nhằm mục đích kinh tế được Công ước về Luật biển 1982 quy định

- Vùng đặc quyền kinh tế có chế độ pháp lí riêng do Công ước về Luật biển

1982 quy định về các quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia ven biển cũng như quyền tự do của các quốc gia khác Cụ thể là:

+ Đối với các quốc gia ven biển:

 Quốc gia ven biển có các quyền chủ quyền về việc thăm dò và khai thác, bảo tồn và quản lí các tài nguyên thiên nhiên sinh vật hoặc không sinh vật của vùng nước bên trên đáy biển, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, cũng như về những hoạt động khác nhằm thăm dò và khai thác vùng này vì mục đích kinh tế

Đối với các tài nguyên không sinh vật, quốc gia ven biển tự khai thác hoặc cho phép quốc gia khác khai thác cho mình nhưng đặt dưới quyền kiểm soát của mình Đối với các tài nguyên sinh vật, quốc gia ven biển tự định ra tổng khối lượng có thể đánh bắt được, tự đánh giá khả năng thực tế của mình trong việc khai thác các tài nguyên sinh vật biển và ấn định số dư, từ đó cho phép các quốc gia khác khai thác số dư này trên cơ sở của các điều ước hoặc các thỏa thuận liên quan

 Quốc gia ven biển có quyền tài phán về việc lắp đặt và sử dụng các đảo nhân tạo, các thiết bị và công trình nghiên cứu khoa học về biển, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển Quốc gia ven biển có quyền thi hành mọi biện pháp cần thiết, kể cả việc khám xét, kiểm tra, bắt giữ và khởi tố tư pháp để bảo đảm việc tôn trọng các quy định luật pháp của mình

 Quốc gia ven biển có nghĩa vụ thi hành các biện pháp thích hợp để bảo tồn

và quản lí nhằm làm cho việc duy trì các nguồn lợi sinh vật trong vùng đặc quyền kinh

tế của mình khỏi bị khai thác quá mức

+ Đối với các quốc gia khác:

 Được hưởng quyền tự do hàng hải, hàng không

 Được tự do đặt dây cáp và ống dẫn ngầm, khi đặt phải thông báo và thỏa thuận với quốc gia ven biển

 Được tự do sử dụng biển vào các mục đích khác hợp pháp về mặt quốc tế

Khi thực hiện những quyền tự do này, các nước ngoài phải tôn trọng những luật

lệ của nước ven biển và luật pháp quốc tế nói chung

Thềm lục địa

- Là vùng đáy biển và lòng đất dưới đáy biển nằm bên ngoài lãnh hải của quốc gia ven biển, trên phần kéo dài tự nhiên của lãnh thổ đất liền cho đến bờ ngoài của rìa lục địa, hoặc đến cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải là 200 hải lí, khi

bờ ngoài của rìa lục địa ở khoảng cách gần hơn Trong trường hợp bờ ngoài của rìa lục

Trang 10

địa kéo dài tự nhiên vượt quá khoảng cách 200 hải lí tính từ đường cơ sở thì quốc gia ven biển có thể xác định ranh giới ngoài của thềm lục địa với một khoảng cách không vượt quá 350 hải lí tình từ đường cơ sở hoặc cách đường đẳng sâu 2500m một khoảng cách không vượt quá 100 hải lí Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam tuyên bố: “Thềm lục địa của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng của lãnh hải Việt Nam không đến

200 hải lí thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lí kể từ đường cơ sở”

- Chế độ pháp lí của thềm lục địa:

+ Quốc gia ven biển thực hiện các quyền chủ quyền đối với thềm lục địa về mặt thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên không sinh vật như dầu khí, tài nguyên sinh vật như cá, tôm ) của mình Những quyền chủ quyền trên là đặc quyền của quốc gia ven biển, nghĩa là nếu quốc gia ven biển không thăm dò thềm lục địa của mình hay không khai thác tài nguyên thiên nhiên của thềm lục địa thì không ai khác được quyền tiến hành các hoạt động như vậy, nếu không có sự thỏa thuận rõ ràng của quốc gia ven biển

+ Tất cả các quốc gia khác đều có quyền lắp đặt dây cáp và ống dẫn ngầm ở thềm lục địa Quốc gia đặt cáp hoặc ống dẫn ngầm phải thoả thuận với quốc gia ven biển về đường đi của ống dẫn hoặc cáp

+ Khi quốc gia ven biển tiến hành khai thác thềm lục địa ngoài 200 hải lí kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải thì phải có một khoản đóng góp theo quy định của Công ước

+ Quốc gia ven biển khi thực hiện quyền đối với thềm lục địa không được đụng chạm đến chế độ pháp lí của vùng nước phía trên hay của vùng trời trên vùng nước này, không được gây thiệt hại đến hàng hải hay các quyền tự do của các quốc gia khác

đã được Công ước thừa nhận

+ Quốc gia ven biển có đặc quyền cho phép và quy định việc khoan ở thềm lục địa vào bất kì mục đích gì

b) Đảo và quần đảo trong vùng biển Việt Nam

Theo Công ước về Luật biển năm 1982 thì đảo là một vùng đất tự nhiên có nước bao bọc, khi thủy triều lên vùng đất này vẫn ở trên mặt nước Quần đảo là một tổng thể các đảo, kể cả các bộ phận của các đảo, các vùng nước tiếp liền và các thành phần tự nhiên khác có liên quan với nhau chặt chẽ đến mức tạo thành một thể thống nhất về địa lí, kinh tế và chính trị hay được coi như thế về mặt lịch sử

Có những đảo và quần đảo nằm gần bờ của nước ven biển, nhưng cũng có những đảo và quần đảo nằm ngoài biển khơi, cách xa bờ (ví dụ: các quần đảo Hoàng

Sa và Trường Sa của Việt Nam)

Về mặt pháp lí, các đảo và quần đảo thuộc chủ quyền của một quốc gia giống như đất liền Trong trường hợp đảo hay quần đảo nằm gần bờ, luật quốc tế cho phép

Trang 11

kéo đường cơ sở đi qua các đảo ngoài cùng để vạch đường cơ sở thẳng cho nước ven biển, từ đó định ra bề rộng của lãnh hải Vì vậy, nhờ các đảo gần bờ mà vùng nước nội thủy ở phía trong đường cơ sở được nới rộng và lãnh hãi cũng được mở rộng ra ngoài biển Trường hợp đảo và quần đảo ở ngoài khơi xa đất liền thì người ta áp dụng chế độ pháp lí đảo theo Công ước Luật biển quy định Theo đó, mỗi đảo đều có vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa riêng của mình như đối với quốc gia lục địa ven biển Nếu các đảo của quần đảo ngoài khơi ở gần nhau (không

xa hơn một khoảng cách gấp đôi lãnh hải, tức là 24 hải lí) thì các đảo ấy, coi như hợp thành một thể thống nhất trên thực tế vì lãnh hải của các đảo ấy gắn liền với nhau và một quần đảo như vậy cũng có lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa riêng của nó Tuy nhiên, những đảo tồn tại dưới dạng tảng đất, đá hoang, không có người ở hoặc không có đời sống kinh tế riêng thì chỉ có lãnh hải mà không có vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa

Trên vùng biển nước ta có hơn 4000 hòn đảo lớn nhỏ Các đảo này hoặc nằm rải rác một mình như đảo Bạch Long Vĩ, đảo Lý Sơn hoặc họp thành nhóm như quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa, quần đảo Thổ Chu Nhiều đảo trên vùng biển nước ta có diện tích và điều kiện tự nhiên thuận lợi cho dân cư sinh sống và phát triển kinh tế - xã hội, thường xuyên giao lưu kinh tế, văn hóa với đất liền và với các đảo khác Về mặt hành chính, nhiều vùng đảo được tổ chức thành các huyện đảo Đến năm

2006, nước ta có các huyện đảo: huyện đảo Vân Đồn (Quảng Ninh), huyện đảo Cô Tô (Quảng Ninh), huyện đảo Cát Hải (Hải Phòng), huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), huyện đảo Hoàng Sa (Đà Nẵng), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Trường Sa (Khánh Hòa), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Kiên Hải (Kiên Giang), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang)

Sau đây là một số quần đảo và đảo trên vùng biển nước ta:

- Quần đảo Hoàng Sa

Trang 12

Quần đảo nằm trong khoảng vĩ độ 15o45’ - 17o15’B, kinh độ 111o-113oĐ, án ngữ ngang cửa Vịnh Bắc Bộ, cách đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi) hơn 120 hải lí, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) khoảng 140 hải lí Gồm trên 30 hòn đảo, bãi đá ngầm, cồn san

hô, bãi cát nằm rải trên một vùng biển rộng từ tây sang đông khoảng 100 hải lí, từ bắc xuống nam khoảng 85 hải lí, chiếm một diện tích khoảng 15.000km2

Các đảo của quần đảo Hoàng Sa chia thành 2 nhóm:

+ Nhóm phía đông có tên là nhóm An Vĩnh gồm 8 hòn đảo nhỏ và một số mỏm

đá san hô mới nhô lên khỏi mặt nước Trong đó, lớn nhất là đảo Phú Lâm và đảo Linh Côn, diện tích mỗi đảo khoảng 1,5km2; trên đảo có nhiều cây cối, xung quanh có những bãi san hô và bãi cát ngầm Các đảo nhỏ khác có diện tích từ 0,4km2 trở xuống, một số đảo có bờ cát trắng hoặc bãi san hô viền quanh

+ Nhóm đảo phía tây gồm 15 đảo nhỏ nằm sát liền nhau, cong như hình lưỡi liềm nên có tên là nhóm đảo Lưỡi Liềm Đảo lớn nhất là đảo Hoàng Sa, diện tích gần 1km2; các đảo khác có diện tích từ 0,5km2 trở xuống Trên đảo Hoàng Sa cây cối xanh tươi, có chỗ cây lớn mọc thành rừng, phần nhiều là dừa và phi lao Ở phía đông đảo Hoàng Sa có một cầu tàu bằng đá và bê tông dài khoảng 180m, do một công ti Nhật Bản được nhà cầm quyền Pháp trước đây cho phép khai thác phân chim xây dựng, nay vẫn còn nguyên dấu tích Cũng trên đảo này có một trạm khí tượng được xây dựng và hoạt động từ năm 1938 đến năm 1947, được đăng kí vào mạng lưới của Tổ chức Khí tượng thế giới, mang số hiệu khu vực của Việt Nam

Tổng diện tích phần nổi của các đảo trong quần đảo Hoàng Sa là khoảng 10km2 Ngoài các đảo còn có những cồn san hô, vành đai san hô bao bọc một vùng nước tạo thành đầm nước giữa biển khơi Có cồn dài tới 30km, rộng 10km, như cồn Cát Vàng

Quần đảo Hoàng Sa có khí hậu nóng quanh năm, nhiệt độ trung bình tháng 1 là

23oC, tháng 7 là 28oC Một năm chia làm 2 mùa: mùa khô từ tháng 1 đến tháng 6, mùa mưa từ tháng 7 đến tháng 12 Lượng mưa trung bình hằng năm khoảng 1170mm Từ tháng 6 đến tháng 8 thường có bão đi qua

Thảm thực vật của quần đảo Hoàng Sa rất đa dạng Có đảo cây cối um tùm, nhưng có đảo chỉ có cây nhỏ, cây bụi và cỏ dại Thực vật phần lớn thuộc các loài có nguồn gốc ở duyên hải miền Trung do nhiều triều Vua trước đây của nước ta đã ra lệnh đem các loài cây ra trồng để thuyền bè qua lại dễ nhận biết, tránh bỏ tai nạn

Trên các đảo có nguồn phốt phát vôi do phân chim tích tụ lâu ngày bị phân hóa, đây là nguồn phân bón có giá trị lớn Hải sản ở Hoàng Sa có tôm hùm, hải sâm, đồi mồi, rau câu Cát ở đây chứa tới 40% can xi, do những vụn san hô vỡ ra mà thành Vùng biển Hoàng Sa cũng có triển vọng lớn về đầu khí

Năm 1956, Trung Quốc cho quân đội ra chiếm nhóm đảo phía đông của quần đảo Hoàng Sa và tới ngày 20-1-1994, quân đội Trung Quốc đã chiếm toàn bộ quần đảo này

- Quần đảo Trường Sa

Trang 13

Thị trấn Trường Sa nhìn từ phía biển (Theo www.f5news.vn)

Quần đảo Trường Sa ở về phía đông nam nước ta, trong khoảng vĩ độ 6o50 -

12o00B, kinh độ 111o30 - 117o20’Đ, cách vịnh Cam Ranh (Khánh Hòa) khoảng 250 hải lí, cách đảo Hải Nam (Trung Quốc) trên 600 hải lí và cách đảo Đài Loan khoảng

960 hải lí

Quần đảo gồm hơn 100 hòn đảo, đá, cồn san hô và bãi san hô, nằm rải trên một vùng biển rộng, từ tây sang đông khoảng gần 350 hải lí, từ bắc xuống nam khoảng hơn

360 hải lí, chiếm một diện tích biển khoảng 160.000 - 180.000km2

Các đảo của quần đảo Trường Sa thấp hơn các đảo của quần đảo Hoàng Sa, độ cao trung bình trên mặt nước từ 3 đến 5m Đảo lớn nhất là đảo Ba Bình (rộng khoảng 0,6km2), tiếp đến là các đảo Song Tử Tây, Trường Sa, Nam Yết, Song Tử Đông, Thị

Tứ, Loại Ta, Sinh Tồn Ngoài ra còn có các bãi đá ngầm Các đảo ở đây cũng có vành san hô ngầm, rộng hàng trăm mét, che chở cho đảo khỏi bị sóng đánh tràn lên Tổng diện tích phần nổi của tất cả các đảo, đá, cồn, bãi ở quần đảo Trường Sa khoảng 10km2, tương đương quần đảo Hoàng Sa, nhưng quần đảo Trường Sa trải ra trên một vùng biển rộng gấp hơn 10 lần quần đảo Hoàng Sa

Đảo Song Tử Tây nằm cách bờ biển nước ta khoảng 450km, tấm bia chủ quyền của nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam được đặt ở gần trung tâm của đảo Trên đảo Trường Sa và đảo Song Tử Tây có đài khí tượng theo dõi và thông báo các

số liệu về thời tiết của vùng biển này cho mạng lưới quan trắc khí tượng thế giới Trên các đảo Song Tử Tây, An Bang, Đá Tây có đèn biển của Tổng Công ti bảo đảm Hàng hải Việt Nam

Khí hậu, thời tiết của vùng biển quần đảo Trường Sa khác biệt lớn so với các vùng ven bờ: mùa hạ mát hơn và mùa đông ấm hơn Một năm có thể chia làm 2 mùa:

Trang 14

mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Lượng mưa trung bình lớn, hơn 2500mm/năm Hằng năm ở quần đảo Trường Sa có tới 130 ngày có gió mạnh từ cấp 6 trở lên Hiện tượng dông rất phổ biến, có thể nói quanh năm, tháng nào cũng có dông Bão lớn cũng thường đi qua, tập trung vào các tháng mùa mưa

Một số đảo trong quần đảo có nước ngầm như ở các đảo Song Tử Tây, Trường

Sa, Song Tử Đông

Chất đất trên các đảo là cát san hô, có lẫn những lớp phân chim và mùn cây, có

bề dày từ 5 đến 10cm Trên các đảo có nhiều loại cây xanh như cây phong ba, phi lao, bàng vuông và một số loại dây leo, cỏ dại

Nguồn lợi hải sản của quần đảo Trường Sa rất phong phú, với nhiều loại cá tập trung với mật độ cao; đặc biệt có vích là loài động vật quý hiếm và cá ngừ đại dương

có giá trị kinh tế cao

Ngoài phốt phát vôi, đá san hô thì theo các chuyên gia, khu vực quần đảo Trường Sa cũng có dầu khí với trữ lượng khá lớn

Hiện nay, một số nước và lãnh thổ trong khu vực đã chiếm giữ một số đảo, bãi

đá ngầm trong quần đảo Trường Sa Các chiến sĩ hải quân Việt Nam đang có mặt ở 21 hòn đảo trên quần đảo Trường Sa của Tổ quốc

Trồng rau xanh ở Trường Sa

- Quần đảo Vân Hải

Là nhóm đảo ở phía đông vịnh Hạ Long, cách thành phố Hạ Long gần 50km Lớn nhất là đảo Trà Bản, dài 30km Phía nam đảo là vịnh Vân Đồn rộng gần 100km2, nơi có thương cảng Vân Đồn xưa kia nổi tiếng là phồn thịnh và sầm uất

Trang 15

- Quần đảo Cô Tô

Nằm ở khoảng vĩ độ 21o00B và kinh độ 107o45Đ, thuộc tỉnh Quảng Ninh Gồm

29 hòn đảo lớn nhỏ, trong đó 2 đảo lớn nhất là Cô Tô và Thanh Lam Đảo Cô Tô nổi tiếng về nghề nuôi trai lấy ngọc

- Quần đảo Phú Quý

Ở ngoài khơi bờ biển Bình Thuận Gồm gần 10 hòn đảo lớn nhỏ và một số bãi cạn nằm rải rác trong vùng biển kéo dài khoảng kinh độ 108o20’-109o20’Đ và vĩ độ

9o50’ - 10o45’B Lớn nhất là đảo Phú Quý (còn gọi là Cù Lao Thu), dài 6,5km, rộng khoảng 3,5km Đảo Hòn Hải trong quần đảo được chọn là một điểm để xác định đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

- Quần đảo Côn Sơn

Nằm cách Vũng Tàu 98 hải lí và cửa sông Hậu 45 hải lí Gồm 16 hòn đảo lớn nhỏ với diện tích tổng cộng khoảng 70km2 Đảo lớn nhất là Côn Đảo, tiếp đến là Hòn Bảy Cạnh, Hòn Bà Đây là quần đảo khá trù phú, đất đai màu mỡ, nhiều hải sản

- Quần đảo Nam Du

Thuộc tỉnh Kiên Giang, nằm khoảng vĩ độ 9o40’B, kinh độ 104o2’Đ, cách bờ biển hơn 27 hải lí Gồm 21 đảo đá lớn nhỏ, diện tích tổng cộng khoảng 11km2, quây quần trong một vùng biển rộng 60km2 Đảo lớn nhất là Nam Du, dài gần 6km, nơi rộng nhất khoảng 1,5km

- Quần đảo Thổ Chu

Thuộc tỉnh Cà Mau, nằm cách mũi Cà mau khoảng 85 hải lí về phía tây bắc Gồm 9 đảo lớn nhỏ, rải rác trên một vùng biển rộng khoảng 50km2 Đảo lớn nhất là Thổ Chu Hòn Nhạn là đảo nằm xa bờ nhất của quần đảo, được chọn làm điểm chuẩn A1 để vạch đường cơ sở tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam

- Đảo Cát Bà

Nằm ở phía đông thành phố Hải Phòng, diện tích khoảng 277km2 Gồm 1 đảo lớn và 366 đảo đá lớn nhỏ rải rác vây quanh Trên đảo Cát Bà có vườn quốc gia cùng tên

- Đảo Bạch Long Vĩ

Nằm khoảng vĩ độ 20o07’B và kinh độ 107o45’Đ, cách thành phố Hải Phòng 70 hải lí được coi là tiền đồn ngoài cùng phía đông bắc của Tổ quốc Đảo rộng khoảng 2,5km2, giàu sản vật biển: cá, tôm và đặc biệt là bào ngư

- Đảo Cồn Cỏ

Thuộc tỉnh Quảng Trị, có vĩ độ 17o10’ và kinh độ 107o21’Đ, cách đất liền hơn

20 hải lí Diện tích gần 4km2 Là một trong những đảo có đa dạng sinh học bậc nhất ở nước ta

- Đảo Lý Sơn

Trang 16

Còn có tên là Cù Lao Ré, thuộc tỉnh Quảng Ngãi Đảo dài trên 8km, rộng khoảng 2,5km Dân cư đông đúc, làm nghề đánh bắt hải sản, trồng tỏi

Đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi

c) Các căn cứ khẳng định chủ quyền biển và đảo Việt Nam

Nước Việt Nam nằm bên bờ phía tây của Biển Đông Bao đời nay, biển và hải đảo đã gắn bó chặt chẽ với các hoạt động sản xuất và đời sống của dân tộc ta Ngay từ thời Hùng Vương, tổ tiên chúng ta đã biết khai thác biển, lúc đầu là đánh bắt các hải sản ven bờ, sau tiến ra các đảo và vùng biển xa hơn Câu chuyện về chàng Mai An Tiêm bị vua cha hiểu lầm đuổi ra đảo hoang đã cùng vợ bỏ sức khai phá và trồng dưa hấu trên hòn đảo gần bờ biển vùng Nga Sơn (Thanh Hóa) đã phần nào phản ánh: Từ xa xưa, người Việt đã tới sinh sống và sản xuất trên các hải đảo ven bờ Không những vậy, cư dân Lạc Việt thời đó cũng đã có khả năng vượt biển tới những vùng đất xa, bằng chứng là những chiếc thuyền vũ trang có chở nhiều đồ đồng quý giá như trống, bình đồng mà người ta thấy được ở hầu khắp các đảo lớn thuộc Inđônêxia và ven bờ

Trang 17

biển Malaixia, Thái Lan Ở ven bờ biển Malaixia, người ta đào được một trống đồng Đông Sơn còn nguyên vẹn bên một tấm ván mà các nhà nghiên cứu ngờ rằng đó là một tấm ván thuyền

An Nam Đại Quốc Họa Đồ

Các triều đại phong kiến Việt Nam sau này đều thấy rõ vai trò của biển đối với

sự phát triển kinh tế và an ninh quốc phòng Bởi vậy, các kĩ thuật đóng tàu, xây dựng thủy quân, rèn luyện kĩ năng chiến đấu trên sông biển được chú trọng Trên cửa biển Bạch Đằng, vào năm 928, Ngô Quyền đã dàn thế trận cắm cọc gỗ, lập mưu đánh tan

thủy quân của nhà Nam Hán Đời Lý (1009 - 1225), theo sách Đại Việt sử ký toàn thư,

dưới thời Lý Anh Tông vào năm 1171 “Vua đi tuần các hải đảo, xem hình thế núi sông, muốn biết dân tình đau khổ và đường đi xa gần thế nào” Rồi vào tháng hai, mùa xuân năm 1172 “Vua lại đi tuần các hải đảo ở địa giới các phiên bang Nam Bắc, vẽ bản đồ và ghi chép phong vật rồi về” Cũng giai đoạn này, theo giáo sư Hoàng Xuân Hãn, người Việt đã đóng được những chiến thuyền có thể chở được trên 200 người cùng lương thảo, khí giới và vượt được biển xa hàng ngàn kilômét Trong các cuộc hành quân, số thuyền có thể lên tới hàng trăm chiếc Dưới thời Trần và đặc biệt là dưới thời Lê, tiến ra Biển Đông đã trở thành chiến lược phát triển của quốc gia Đại Việt Con đường mở mang bờ cõi xuống phía nam của người Việt cũng đồng thời là con đường tiến ra chiếm lĩnh biển, đảo Trong thời Trần, số chiến thuyền đã tăng lên nhiều,

có thể huy động đến hàng nghìn chiếc trong các cuộc hành quân Kĩ thuật chiến đấu trên biển cũng thuần thục hơn Điển hình là trận thuỷ chiến ở khu vực cảng Vân Đồn, trong quần đảo Vân Hải (cuối năm 1287) thủy quân của Trần Khánh Dư đã đánh tan hạm đội của Trương Văn Hổ, triệt lương của quân Nguyên xâm lược nước ta Theo ghi chép của Trần Phu, sứ giả của nhà Nguyên sang nước ta năm 1292 thì loại thuyền phổ biến của quân đội nhà Trần có 30 mái chèo, dài khoảng 20 mét, rộng hơn 3 mét; thậm chí có những thuyền lên tới 100 mái chèo, dài khoảng 30 mét, rộng hơn 4 mét

Trang 18

Ở thời Trần cũng đã xuất hiện những pháo thuyền - đại chiến thuyền hay còn gọi là đại chiến hạm có khả năng đi biển xa Dưới thời Lê, kĩ thuật thuyền bè lại tiến thêm một bước để đáp ứng yêu cầu chinh phạt và quản lí lãnh thổ ngày một mở rộng

Để chuẩn bị cho cuộc hành quân đại quy mô gồm hơn 1000 chiến thuyền và 70 vạn tinh binh đánh vào kinh đô Vijaya của Vương quốc Champa năm 1471, Lê Thánh Tông đã “Xuống chiếu cho quân Thuận Hóa ra biển tập thủy chiến” Đến năm 1496,

Lê Thánh Tông cũng lại huy động một đội thuyền chiến tới 5000 chiếc cùng 25 vạn quân để tiến đánh Đồ Bàn Chúa Nguyễn Hoàng vào Nam dựng nghiệp giữa lúc nhu cầu chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông đặt ra gay gắt và bức thiết Được thừa hưởng những kinh nghiệm của người Chăm và Vương Quốc Champa, Nguyễn Hoàng

đã sớm chăm lo xây dựng các đội thuyền, mở cửa buôn bán với nước ngoài để phát huy sức mạnh trong nước và chuẩn bị những bước đi đầu tiên cho việc chiếm lĩnh các quần đảo giữa Biển Đông

Trên nhiều tấm bản đồ cổ của nước ta cũng như của nước ngoài đều thể hiện

chủ quyền biển đảo Việt Nam Bộ Hồng Đức bản đồ gồm bản đồ cả nước và các địa

phương, trong đó có vùng biển, đảo đã ghi lại khá toàn diện hình ảnh của quốc gia Đại Việt ở cuối thế kỉ 14

Trang 19

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu thì trên những bản đồ cổ của Tây Phương và cả những bản đồ từ thế kỉ 15 của Trung Quốc đều dùng địa danh biển Giao Chỉ (tức là biển của Việt Nam) để chỉ vùng biển ở phía đông nước ta Giao Chỉ là tên gọi do các triều đại phong kiến Trung Quốc dùng để chỉ người và nước Việt Nam xưa Giao Chỉ là một trong 15 bộ của nước Văn Lang Các triều đại phong kiến Trung Quốc sau này nhiều khi vẫn dùng tên Giao Chỉ cũng như tên An Nam để chỉ quốc gia và nhân dân Đại Việt

Trên hai trang 11b và 12a trích từ sưu tập bản đồ Võ bị chí (ghi lại cuộc hành

trình của Trịnh Hòa trong thời gian các năm 1405- 1433 đi từ Trung Quốc qua Ấn Độ Dương tới châu Phi) có vẽ nước ta tuy đơn giản nhưng cũng rõ ràng: nước Giao Chỉ bắc giáp Khâm Châu của Trung Quốc, nam giáp nước Chiêm Thành, đông giáp biển mang tên Giao Chỉ dương (tức biển của nước Giao Chỉ)

Từ thế kỉ 19 và 20, biển Giao Chỉ bắt đầu được gọi là Đông Dương (tức là Biển

Đông) Năm 1842, tác giả người Trung Quốc là Ngụy Nguyên xuất bản sách Hải quốc

đồ chí mô tả và khắc vẽ bản đồ tất cả các nước và các biển, đại dương trên thế giới với

các kinh tuyến, vĩ tuyến Trong sách này, Ngụy Nguyên đã vẽ hai bản đồ về Việt Nam Trong đó, bản đồ thứ nhất vẽ sơ sài, chia nước ta ra làm 2 phần (Việt Nam Đông đô và Việt Nam Tây đô) Ở ngoài khơi phía đông 2 phần Việt Nam, Ngụy Nguyên ghi rõ là Đông Dương đại hải, tức là Biển Đông rất lớn Như vậy, hầu hết các bản đồ của Trung Quốc vẽ về Việt Nam từ thế kỉ 14 hoặc trước nữa cho tới đầu thế kỉ 20 đều ghi biển phía đông Việt Nam là Giao Chỉ dương hay Đông Dương đại hải đều có nghĩa là biển Giao Chỉ (tức là biển Việt Nam) hoặc đơn giản là Biển Đông (của Việt Nam)

Trong các sự kiện chinh phục biển cả, đáng chú ý nhất là việc ông cha chúng ta khám phá và khai thác quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa Ông cha chúng ta đã xác lập và thực thi chủ quyền ở hai quần đảo này bằng các việc cắm mốc, đo đạc, vẽ bản

đồ và hằng năm cử người ra kiểm tra và thu hồi sản vật ở đó Do nhiều biến động lịch

sử, nguồn thư tịch cổ của nước ta từ trước thế kỉ 15 đã bị thất truyền hầu hết Tuy nhiên, chỉ với những tài liệu sau này, chúng ta cũng đã có đủ chứng cứ lịch sử để khẳng định rằng Việt Nam là nước đầu tiên trên thế giới đã chiếm hữu và thực hiện chủ quyền của mình một cách liên tục và hòa bình các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa

Trong tài liệu Toàn tập thiên nam tứ chí lộ đồ thư của Đỗ Bá soạn năm Chính

Hòa thứ 7 (1686), phần bản đồ phủ Thăng Hoa và phủ Quảng Ngãi có vẽ Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) và ghi chú rõ: “Giữa biển có một dải cát dài, gọi là Bãi Cát Vàng, dài độ 400 dặm, rộng 20 dặm, đứng dựng giữa biển Hàng hóa và thương thuyền ngoại quốc đi qua bị nạn đều trôi dạt vào đấy Mỗi năm đến tháng cuối đông, (chúa Nguyễn) đưa 18 chiếc thuyền đến đó lấy hàng hóa, được phần nhiều là vàng bạc, tiền tệ, súng đạn” Đây là một trong những tư liệu quan trọng đầu tiên còn lưu lại được, nói về hoạt động của đội Hoàng Sa trên quần đảo Hoàng Sa được gọi tên thuần Việt là Bãi Cát Vàng Khoảng một thập kỉ sau, vào năm 1697, vị hòa thượng Trung Quốc nổi tiếng trụ trì ở chùa Trường Thọ, tỉnh Quảng Đông (Trung Quốc) là Thích Đại Sán sang Đàng Trong từ năm 1695, trên đường trở về Trung Quốc đã mô tả về bãi cát cách Đại Việt

700 dặm “rộng đến trăm dặm, chiều dài thăm thẳm chẳng biết bao nhiêu mà kể gọi là

Trang 20

Vạn lý Trường Sa” và cho biết “Các Quốc vương (tức các chúa Nguyễn) thời trước, hằng năm cho thuyền đánh cá đi dọc theo các bãi cát, lượm vàng bạc khí cụ của các thuyền hư hỏng dạt vào”

Từ rất lâu đời, các nhà hàng hải phương Tây đã coi các quần đảo giữa Biển Đông có quan hệ hữu cơ với vùng biển Đàng Trong Ở thế kỉ 17, số lượng tàu thuyền của người phương Tây đi đến vùng biển này thường xuyên hơn và nhận thức của họ về các quần đảo giữa Biển Đông cũng phong phú và chính xác hơn Nhiều tư liệu chép đến các vụ đắm tàu ở Paracel (Hoàng Sa) được người Việt xứ Đàng Trong ra tận nơi cứu hộ rồi đưa các nạn nhân về Quảng Nam Chính quyền Đàng Trong đã dành cho mình quyền giải quyết hậu quả và xử lí các hàng hóa, tiền bạc trên các tàu bị đắm ở khu vực Hoàng Sa Chính vì thế mà vào năm 1701, các giáo sĩ người Pháp trên tàu Amphitrite đã khẳng định “Paracel (Hoàng Sa) là một quần đảo thuộc về vương quốc

An Nam”

Sang thế kỉ 18, hoạt động chủ quyền của chúa Nguyễn ở các vùng quần đảo giữa Biển Đông càng trở nên nhộn nhịp, thu hút sự chú ý của nhiều người ở trong nước và ngoài nước Tư liệu về chủ quyền của Việt Nam ở Hoàng Sa và Trường Sa, bên cạnh các tài liệu chính thức của nhà nước, của các địa phương, còn có sự ghi chép của các thương nhân, giáo sĩ, các nhà quân sự, các phái bộ ngoại giao nước ngoài và các học giả trong nước, ngoài nước Trong hàng loạt những ghi chép như thế, Phủ biên tạp lục của nhà bác học Lê Quý Đôn phải được coi là tài liệu có giá trị tiêu biểu nhất Ông viết “Phủ Quảng Ngãi, ở ngoài cửa biển xã An Vĩnh, huyện Bình Sơn có núi gọi là Cù lao Ré rộng hơn 30 dặm, trước có phường Tứ Chính, dân cư trồng dâu, ra biển 4 canh thì đến; phía ngoài nữa lại có đảo Đại Trường Sa, trước kia có nhiều hải vật và những hóa vật của tàu, lập đội Hoàng Sa để lấy, đi 3 ngày 3 đêm thì đến…”, “Phủ Quảng Ngãi, huyện Bình Sơn có xã An Vĩnh ở gần biển, ngoài biển về phía đông bắc có nhiều cù lao, các núi linh tinh hơn 130 ngọn, cách nhau bằng biển, từ hòn này sang hòn kia hoặc đi một ngày hoặc vài canh thì đến Trên núi có chỗ có suối nước ngọt Trong đảo có bãi cát vàng dài, ước hơn 30 dặm, bằng phẳng, rộng lớn, nước trong suốt đáy… Trước họ Nguyễn đặt đội Hoàng Sa 70 suất, lấy người xã An Vinh sung vào, cắt phiên mỗi năm cứ tháng 2 nhận giấy sai đi, mang lương đủ ăn 6 tháng, đi bằng 5 chiếc thuyền câu nhỏ, ra biển 3 ngày 3 đêm thì đến đảo ấy Ở đây tha hồ bắt chim bắt cá mà ăn Lấy được hóa vật của tàu, như

là gươm, ngựa, hoa bạc, tiền bạc, hòn bạc, đồ đồng, khối thiếc, khối chì, súng, ngà voi, sáp ong, đồ sứ, đồ chiến, cùng là kiếm lượm vỏ đồi mồi, vỏ hải ba, hải sâm hột ốc vân rất nhiều Đến kì tháng 8 thì về, vào cửa Eo, đến thành Phú Xuân để nộp, cân và định hạng xong, mới cho đem bán riêng các thứ ốc vân, hải ba, hải sâm, rồi lĩnh bằng trở về… Họ Nguyễn lại đặt đội Bác Hải, không định bao nhiêu suất, hoặc người thôn Tứ Chính ở Bình Thuận, hoặc người xã Cảnh Dương, ai tình nguyện đi thì cấp giấy sai đi, miễn cho tiền sưu cùng các tiền tuần đò, cho đi thuyền câu nhỏ ra các xứ Bắc Hải, cù lao Côn Lôn và các đảo ở Hà Tiên tìm lượm vật của tàu và các thứ đồi mồi, hải ba, bào ngư, hải sâm, cũng sai cai đội Hoàng Sa kiêm quản”

Cũng đúng vào năm 1776 khi Lê Quý Đôn viết sách Phủ biên tạp lục thì ở quê

hương của đội Hoàng Sa, dân phường Cù lao Ré làm đơn nói rõ đội Hoàng Sa đã có

Trang 21

lịch sử lâu đời (ít nhất có từ trước năm 1691) và bên cạnh chức năng thu lượm hóa vật, hải vật còn có nhiều nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ an toàn vùng biển đảo: “Nguyên xã chúng tôi từ xưa đã có hai đội Hoàng Sa và Quế Hương…Bây giờ chúng tôi lập hai đội Hoàng Sa và Quế Hương như cũ gồm dân ngoại tịch, được bao nhiêu xin làm sổ sách dâng nạp, vượt thuyền ra các đảo, cù lao ngoài biển tìm nhặt các vật hạng đồng thiếc, hải ba, đồi mồi được bao nhiêu dâng nạp Nếu như có tờ truyền báo xảy ra chinh chiến, chúng tôi xin vững lòng ứng chiến với kẻ xâm phạm Xong việc rồi chúng tôi lại xin tờ sai ra tìm báu vật cùng thuế quan đem phụng nạp…”

Đại Nam Thống Nhất Toàn Đồ

Sang thế kỉ XIX hoạt động chủ quyền của nhà Nguyễn được tổ chức chặt chẽ, thường xuyên và phong phú hơn, nhất là dưới các triều vua Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị Nhà Nguyễn nối tiếp chúa Nguyễn và vương triều Tây Sơn đã thực thi chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa dưới nhiều hình thức và biện pháp khác nhau như vãng thám kiểm tra kiểm soát, khai thác các hóa vật và hải sản, tổ chức thu thuế và cứu hộ tàu bị nạn, khảo sát, đo vẽ bản đồ, dựng miếu thờ, lập bia chủ quyền, dựng bài gỗ lưu dấu để ghi nhớ, trồng cây để cho người qua lại dễ nhận biết… Lực lượng ra làm nhiệm vụ ở Hoàng Sa, Trường Sa không chỉ có các đội Hoàng Sa, Bắc Hải, các đội Thủy quân, biền binh, vệ giám thành mà cả binh đinh, dân phu (chủ yếu ở hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định) Mỗi chuyến đi ra Hoàng Sa, Trường Sa đều phải có quyết định của nhà nước dưới hình thức “tờ sai để thi hành công vụ” và nhiều khi chính nhà vua trực tiếp chỉ đạo việc quyết định cho thuyền ra khơi hay tạm dừng lại vì bão gió

Trang 22

Sau khi kết thúc công việc họ phải chạy thuyền thẳng về Huế để báo cáo tình hình, khai nộp hóa vật, hải vật Nhà vua thông qua Bộ Công để kiểm tra, đánh giá và tùy mức độ đóng góp hay vi phạm mà luận công hay định tội, thưởng phạt công minh Những người hoàn thành nhiệm vụ đều được Nhà nước cấp bằng xác nhận

Trong Lịch triều hiến chương loại chí và Đại Nam thực lục tiền biên, các sự việc trên cũng được ghi chép đầy đủ, rõ ràng Đại Nam thực lục chính biên, quyển 50

và 52 có chép: “Gia Long nhiều lần sai thủy quân và đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình ở Hoàng Sa” Quyển 104 thuật chuyện tháng 8 năm Quý Tị (1833), Minh Mạng nhận thấy thuyền buôn bị nạn ở Hoàng Sa, ra lệnh cho Bộ Công chuẩn bị phái người dựng miếu, lập bia và trồng cây để cây cối to lớn xanh tốt, người dễ nhận thấy, thuyền bè tránh mắc cạn Quyển 154 thuật chuyện tháng 6 năm Ất Mùi (1838), thủy quân Việt Nam cùng phu thuyền thuộc tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định dựng miếu ở Hoàng Sa Quyển 165 thuật chuyện Minh Mạng sai đội thủy quân Phạm Hữu Nhật mang bài gỗ (mỗi bài gỗ dài 5 thước, rộng 5 tấc, dày 1 tấc) dựng bia chủ quyền ở

Hoàng Sa Trong các tài liệu khác như Khâm Định Đại Nam hội điển sử lệ, Việt sử

cương giám khảo lược, Đại Nam nhất thống chí, Quốc triều chính biên toát yếu cũng

đề cập đến các sự kiện trên

Khi nhà vua cử các đội đi Hoàng Sa, do biết cuộc ra đi vô cùng khó khăn, nên đã cho mỗi người mang theo một đôi chiếu, 7 đòn tre, 7 sợi dây lạt và một tấm thẻ bài có khắc tên họ, bản quán để phòng xa, nếu chẳng may hy sinh thì đồng đội sẽ bỏ xác vào chiếu thả trôi trên biển Trước khi lên đường, thường là vào tháng 2 Âm lịch, làm lễ gọi

là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” Đồng thời làm những “ngôi mộ gió” chôn những hình nhân tượng trưng cho những người lính hi sinh ở Hoàng Sa Tên của nhiều người trong các đội Hoàng Sa đã được lấy để đặt cho các hòn đảo như đảo Hữu Nhật (mang tên của cụ Phạm Hữu Nhật), đảo Quang Ảnh (cụ Phạm Quang Ảnh), đảo Duy Mộng (cụ

Lê Duy Mộng)… Hằng năm, cứ đến ngày 20 tháng 2 Âm lịch, người dân trên đảo Lý Sơn vẫn tổ chức lễ tế chiến sĩ tử trận cho những người lính đội Hoàng Sa ra đi không trở

về, một cách thành kính, theo những nghi thức cổ, để tưởng nhớ những người anh hùng

đã hi sinh thân mình vì chủ quyền của đất nước trên Biển Đông

Tập tài liệu của Trung Quốc Ngũ quốc Nam hải chư đảo sử liệu hội biên do

Hàn Chấn Hoa chủ biên, trang 115 thiên thứ nhất, cũng ghi chép dấu vết trên đảo Vĩnh Hưng (Phú Lâm) ở Hoàng Sa có miếu gọi là Hoàng Sa tự (Hoàng Sa tự được vua Minh Mạng triều Nguyễn cho xây dựng)

Sau khi xâm chiếm Việt Nam, thực dân Pháp đã quản lí và khai thác 2 quần đảo này Năm 1899, Toàn quyền Đông Dương Pôn Đume kí sắc lệnh xây dựng hải đăng ở quần đảo Hoàng Sa Tiếp đó là hàng loạt cuộc khảo sát, nghiên cứu về hải dương học

và địa chất ở quần đảo này Ngày 15-6-1932, Toàn quyền Đông Dương kí nghị định đặt quần đảo Hoàng Sa thuộc địa phận tỉnh Thừa Thiên Năm 1933, chiến hạm Pháp tiến ra chiếm quần đảo Trường Sa Theo nghị định do Toàn quyền Đông Dương kí ngày 21-12-1933, Trường Sa thuộc địa phận tỉnh Bà Rịa Để quản lí về hành chính, ngày 29-2 năm Bảo Đại thứ 12 (30-3-1938), nhà vua đã ra chỉ dụ số 10, sáp nhập Hoàng Sa, Trường Sa vào tỉnh Thừa Thiên Trong Chiến tranh thế giới thứ Hai, phát

Trang 23

xít Nhật chiếm đóng và khai thác cả 2 quần đảo Sau chiến tranh, do bại trận, Nhật Bản phải từ bỏ quyền lợi đó Sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954, Hoàng Sa và Trường Sa thuộc quyền quản lí của chính quyền Sài Gòn Ngày 22-10-1956, chính quyền Sài Gòn

ra Sắc lệnh số 143/NV quy định quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu Ngày 3-7-1961, Ngô Đình Diệm- Tổng thống Việt Nam Cộng hòa kí quyết định quần đảo Hoàng Sa thuộc Thừa Thiên- Huế và gọi là xã Định Hải thuộc quận Hòa Vang Ngày 6-9-1973, Bộ trưởng Bộ Nội vụ Sài Gòn kí Nghị định số 420/BNV-HCDB-26, sáp nhập Trường Sa vào xã Phước Hải, quận Đất Đỏ, tỉnh Phước Tuy Sau khi thống nhất đất nước, ngày 9-2-1982, Hội đồng Bộ trưởng nước ta đã ra Nghị định tổ chức quần đảo Hoàng Sa thành huyện Hoàng Sa thuộc tỉnh Quảng Nam- Đà Nẵng (nay thuộc Thành phố Đà Nẵng) và quần đảo Trường Sa thuộc tỉnh Đồng Nai Ngày 28-12-

1982, tại kì họp thứ 4 Quốc hội khóa VII đã ra Nghị quyết đưa huyện Trường Sa sáp nhập vào tỉnh Phú Khánh (nay thuộc tỉnh Khánh Hòa)

Từ khi chiếm lĩnh được hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, ông cha ta đã cho người ra cắm mốc chủ quyền Khi chính quyền Pháp bảo hộ, họ cũng đã cắm bia chủ quyền ghi “Cộng hòa Pháp- Đế quốc An Nam quần đảo Hoàng Sa”

Vào năm 1956, khi người Pháp rút, bàn giao 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường

Sa cho chính quyền Việt Nam Cộng hòa, nhân cơ hội đó, Trung Quốc đã đưa quân đánh chiếm đảo Phú Lâm phía đông Hoàng Sa Ngày 20-1-1974, Trung Quốc đưa quân đánh chiếm nốt phía tây để chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam

3 Một số vấn đề cơ bản của Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

Thế kỉ 21 được thế giới xem là thế kỉ của đại dương Bước vào thế kỉ 21, giống như nhiều quốc gia khác, Việt Nam đang hướng mạnh ra biển để tăng cường tiềm lực kinh tế của mình Khai thác biển để phát triển kinh tế là cách làm đầy hứa hẹn, mang tình chiến lược và được đánh giá là có vai trò ngày càng quan trọng trong công cuộc phát triển kinh tế - xã hội nước ta

Trên cơ sở đó, Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã thông qua nghị quyết về “Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020”

a) Các quan điểm chỉ đạo về định hướng chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

- Một là, nước ta phải trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giầu từ biển trên cơ

sở phát huy mọi tiềm năng từ biển, phát triển toàn diện các ngành, nghề biển với cơ cấu phong phú, hiện đại, tạo ra tốc độ phát triển nhanh, bền vững, hiệu quả cao với tầm nhìn dài hạn

- Hai là, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế - xã hội với đảm bảo quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, kết hợp giữa phát triển vùng biển, ven biển, hải đảo với phát triển vùng nội địa theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

- Ba là, khai thác mọi người lực để phát triển kinh tế - xã hội, bảo vệ môi trường biển trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, phát huy đầy đủ và có hiệu quả các nguồn lực bên trong; tranh thủ hợp tác quốc tế, thu hút mạnh các nguồn lực bên

Trang 24

ngoài theo nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ đất nước

b) Mục tiêu của chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

- Mục tiêu tổng quát:

Đến năm 2020, phấn đấu đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển, bảo đảm vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, đảo, góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, làm cho đất nước giàu mạnh

- Mục tiêu cụ thể:

+ Xây dựng và phát triển toàn diện các lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học - công nghệ, tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2020 kinh tế trên biển và ven biển đóng góp khoảng 53-55% tổng GDP của cả nước

+ Giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống nhân dân vùng biển và ven biển để có thu nhập bình quân đầu gnười cao gấp hai lần so với thu nhập bình quân chung của cả nước

+ Cùng với xây dựng một số thương cảng quốc tế có tầm cỡ khu vực, hình thành một số tập đoàn kinh tế mạnh, sẽ xây dựng một số khu kinh tế mạnh ở ven biển; xây dựng cơ quan quản lí tổng hợp thống nhất về biển có hiệu lực, hiệu quả, mở rộng hợp tác quốc tế trong các lĩnh vực về biển

c) Những định hướng của chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020

- Về kinh tế - xã hội

+ Đẩy mạnh công tác điều tra cơ bản về tài nguyên biển và bảo vệ môi trường biển; phát triển khoa học - công nghệ biển; xây dựng kết cấu hạ tầng biển gắn với phát triển mạnh các ngành dịch vụ; xây dựng tuyến đường ven biển, trong đó có một số đoạn cao tốc và các tuyến vận tải cao tốc trên biển

+ Hình thành một số lĩnh vực kinh tế mạnh gắn với xây dựng các trung tâm kinh tế để ra biển, làm động lực thúc đẩy sự phát triển của đất nước

+ Đến năm 2020, phát triển thành công, có bước đột phá về kinh tế biển, ven biển gồm: khai thác, chế biến dầu khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến hải sản; phát triển du lịch và kinh tế hải đảo; xây dựng các khu kinh tế, các khu công nghiệp tập trung và khu chế xuất ven biển gắn với phát triển các khu đô thị ven biển

+ Trước mắt, sẽ đầu tư phát triển du lịch biển, xây dựng cảng biển, phát triển công nghiệp đóng tàu, phát triển những ngành dịch vụ mũi nhọn như vận tải biển, các khu kinh tế ven biển; tạo các điều kiện cần thiết bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân hoạt động, sinh sống trên biển, đảo và ở những vùng thường bị thiên tai

- Về quốc phòng, an ninh đối ngoại:

+ Phát huy sức mạnh tổng hợp, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chru quyền, quyền tài phán, toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, vùng trời Tổ quốc

Trang 25

+ Kết hợp chặt chẽ các hình thức, biện pháp đấu tranh chính trị, ngoại giao, pháp lí, kinh tế, quốc phòng trong quản lí vùng trời, bảo vệ biển, đảo của Tổ quốc gắn với thế trận an ninh nhân dân

+ Xây dựng lực lượng vũ trang, nòng cốt là hải quân, không quân, cảnh sát biển, biên phòng, dân quân tự vệ biển mạnh, làm chỗ dựa vững chắc cho ngư dân và các thành phần kinh tế sản xuất và khai thác tài nguyên biển

+ Sớm xây dựng chính sách đặc biệt để thu hút và khuyến khích mạnh mẽ nhân dân ra đảo định cư lâu dài và làm ăn dài ngày trên biển, phát triển kinh tế kết hợp làm nhiệm vụ bảo vệ vùng biển của Tổ quốc

- Về phát triển khoa học - công nghệ biển:

+ Xây dựng tiềm lực khoa học - công nghệ biển đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, phục vụ hiệu quả quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

+ Đẩy mạnh nghiên cứu và hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ứng dụng khoa học - công nghệ, phục vụ công tác điều tra cơ bản, dự báo thiên tai và khai thác tài nguyên biển; nhanh chóng nâng cao tiềm lực khoa học - công nghệ cho nghiên cứu và khai thác tài nguyên biển, đáp ứng được yêu cầu giai đoạn phát triển mới của đất nước

- Về xây dựng kết cấu hạ tầng biển

+ Phát triển mạnh hệ thống cảng biển quốc gia, xây dựng đồng bộ một số cảng đạt tiêu chuẩn khu vực và quốc tế, đặc biệt chú trọng các cảng nước sâu ở cả 3 miền của đất nước, tạo những cửa mở lớn vươn ra biển thông thương với thế giới

+ Tăng cường đầu tư chiều sâu, cải tiến đồng bộ và hiện đại hóa cơ sở vật chất

kĩ thuật, sớm khắc phục tình trạng lạc hậu về trình độ kĩ thuật - công nghệ các cảng; tăng nhanh năng lực bốc xếp hàng hóa, giảm thiểu tối đa chi phí, bảo đảm có sức cạnh tranh cao trong hội nhập kinh tế quốc tế

+ Sớm hoàn chỉnh khai thác có hiệu quả hệ thống sân bay ven biển, xây dựng tuyến đường ven biển và đường cao tốc Bắc - Nam trên biển

4 Quan điểm phát triển kinh tế biển đảo Việt Nam

a) Thực trạng kinh tế biển Việt nam

- Trong những năm qua, đất nước chúng ta đã có nhiều nỗ lực trong việc phát triển kinh tế biển Kinh tế biển Việt Nam đã và đang đóng góp phần không nhỏ vào nền kinh tế chung của đất nước Một số ngành kinh tế biển đã đạt được những thành tựu to lớn: Khai thác hải sản và nuôi trồng thủy sản nước lợ là lĩnh vực kinh tế đặc trưng của biển đã đóng góp khoảng 4,5 tỉ USD trong tổng giá trị thủy sản xuất khẩu năm 2008, tạo việc làm cho hơn 1 triệu lao động đánh cá trực tiếp và nuôi trồng thủy sản, cùng 50 vạn lao động dịch vụ liên quan Mức khai thác dầu khí năm 2008 là 14,9 triệu tấn dầu và 7,5 tỉ mét khối khí, kim ngạch xuất khẩu dầu đạt 10,4 tỉ USD, là ngành đóng góp lớn nhất vào GDP kinh tế biển hiện nay

Kinh tế trên một số đảo đã có bước phát triển nhờ chính sách di dân và đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng trên các đảo

Trang 26

- Tuy nhiên, quy mô phát triển kinh tế biển nước ta như hiện nay là chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh vốn có Cơ sở hạ tầng các vùng biển, ven biển và hải đảo nhìn chung còn yếu kém, lạc hậu Hệ thống cảng biển nhỏ bé, manh mún, thiết bị nhìn chung còn lạc hậu và chưa đồng bộ nên hiệu quả thấp Các chỉ tiêu hàng hóa thông qua cảng trên đầu người rất thấp so với các nước trong khu vực

Đến nay Việt Nam vẫn chưa có đường bộ cao tốc chạy dọc theo bờ biển, nối liền các thành phố, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển thành một hệ thống kinh tế biển liên hoàn Các thành phố, thị trấn, khu công nghiệp, khu kinh tế ven biển mới đang trong thời kì xây dựng Hệ thống các cơ sở nghiên cứu khoa học - công nghệ biển, đào tạo nhân lực cho kinh tế biển, các cơ sở quan trắc, dự báo, cảnh báo thời tiết, thiên tai, các trung tâm tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn còn nhỏ bé, trang thiết bị thô sơ Việc sử dụng biển và hải đảo chưa thật hiệu quả, thiếu bền vững Trình độ khai thác biển của nước ta đang ở tình trạng lạc hậu bậc nhất trong khu vực

b) Một số quan điểm về phát triển kinh tế biển

Quan điểm chung về phát triển kinh tế biển của Việt Nam trong những năm tới là:

- Xây dựng Việt Nam trở thành một quốc gia mạnh về kinh tế biển, có cơ cấu kinh tế hiện đại, thực sự làm động lực thúc đẩy kinh tế cả nước phát triển với tốc độ nhanh Tạo sự kết hợp kinh tế ven biển, kinh tế trên biển và kinh tế hải đảo với các khu vực nội địa để phát triển nhanh, ổn định và bền vững

- Mở cửa, hợp tác quốc tế để phát triển kinh tế biển và vùng ven biển một cách toàn diện Phát huy triệt để và có hiệu quả các nguồn lực bên trong, kết hợp với tranh thủ sự hợp tác và thu hút các nguồn lực từ bên ngoài theo nguyên tắc cùng có lợi, tôn trọng chủ quyền và trên tinh thần chủ động, tích cực mở cửa, hội nhập

- Coi phát triển kinh tế biển và vùng ven biển là động lực để lôi kéo, thúc đẩy các vùng khác cùng phát triển Kinh tế biển và vùng ven biển là “hạt nhân” tạo sự chuyển biến

cơ bản và toàn diện theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển và vùng ven biển với bảo vệ tài nguyên môi trường sinh thái, tái tạo và phát triển các nguồn tài nguyên biển, đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường sống của vùng biển, ven biển và các hải đảo

Trang 27

Chủ đề 2

VẤN ĐỀ PHÁT TRIỂN TỔNG HỢP CÁC NGÀNH KINH TẾ BIỂN

Ở VIỆT NAM

Hình 2.1: Lược đồ tiềm năng một số ngành kinh tế biển

1 Tại sao phải khai thác tổng hợp các ngành kinh tế biển?

Hoạt động kinh tế biển rất đa dạng bao gồm đánh bắt và nuôi trồng hải sản, khai thác các đặc sản, khai thác khoáng sản trong nước biển và trong lòng đất, du lịch biển

và giao thông vận tải biển Chỉ có khai thác tổng hợp mới đem lại hiệu quả kinh tế cao

và bảo vệ môi trường

Trang 28

Môi trường biển là không chia cắt được Bởi vậy, một vùng biển bị ô nhiễm sẽ gây thiệt hại cho cả vùng bờ biển, cho các vùng nước và đảo xung quanh

Môi trường đảo, do sự biệt lập nhất định của nó, không giống như trên đất liền, lại do có diện tích nhỏ, nên rất nhạy cảm trước tác động của con người Chẳng hạn, việc chặt phá rừng và lớp phủ thực vật có thể làm mất đi vĩnh viễn nguồn nước ngọt, biến đảo thành nơi con người không thể cư trú được

2 Khai thác và nuôi trồng hải sản

a) Những điều kiện thuận lợi và khó khăn để phát triển ngành khai thác và nuôi trồng hải sản

- Nước ta có bờ biển dài 3260km và vùng đặc quyền kinh tế rộng khoảng 1 triệu

km2 Vùng biển nước ta có nguồn lợi hải sản khá phong phú Tổng trữ lượng hải sản khoảng 3,9 – 4,0 triệu tấn, cho phép khai thác hàng năm khoảng 1,9 triệu tấn

+ Biển nước ta có hơn 2000 loài cá, trong đó có hơn 100 loài có giá trị kinh tế Các loài có sản lượng cao nhất thuộc nhóm cá nổi là cá nục, cá trích, cá cơm, cá nhám,

cá căng, cá hồng, cá hố, cá đỏ môi, cá ngừ, cá thu, cá chuồn, cá chim, cá liệt Thuộc nhóm cá tầng đáy có cá lượng, cá mối, cá hồng, cá khế, cá trác, cá miễn sành, cá sạo,

cá song, cá đối, cá phèn, cá đù, cá úc

Trữ lượng cá nổi khoảng trên 1,7 triệu tấn và khả năng khai thác hàng năm đạt khoảng 700.000 tấn Nơi khai thác nhiều nhất là vùng biển phía đông Nam Bộ chiếm 30,3%, sau đó đến miền Trung khoảng 28,9%, vịnh Bắc Bộ 22,5% và sau cùng là vùng biển phía tây Nam Bộ (vịnh Thái Lan) 18,3%

Trữ lượng cá tầng đáy khoảng hơn 1 triệu tấn với khả năng khai thác khoảng trên 400000 tấn/năm Vùng biển phía đông Nam Bộ cũng là nơi nhiều cá tầng đáy nhất, chiếm tới 67,91% trữ lượng và khả năng khai thác, sau đến vịnh Thái Lan chiếm 18,5%, vịnh Bắc Bộ chiếm 7,6% và cuối cùng là miền Trung chiếm 6%

Như vậy tổng trữ lượng cá biển trên biển Đông Việt Nam là khoảng hơn 2,7 triệu tấn, với khả năng khai thác khoảng 1,1 triệu tấn, trong đó cá nổi chiếm 62,8%, cá tầng đáy 37,2% Nơi giàu nhất là khu vực đi từ Ninh Thuận đến Kiên Giang, sau đó đến vịnh Bắc Bộ, nghèo nhất từ Đà Nẵng đến Nha Trang (xem hình 2.1)

+ Biển nước ta có khoảng 1647 loài giáp xác, trong đó tôm, cua là những loài

có giá trị kinh tế cao

 Tôm có khoảng 100 loài, nhiều loài có giá trị kinh tế (khoảng 50%) đa số sống ở vùng biển nông tới độ sâu 50m, rất thuận lợi cho việc đánh bắt Cũng có loài sống ở ngoài khơi, xa vùng cửa sông, nhưng ở các thời kì tôm con và lớn lên chúng vẫn thường cư trú ở các bãi triều cửa sông ven biển

Tôm he tập trung nhiều nhất từ Vũng Tàu đến Phú Quốc, thứ hai là vùng ven biển Quảng Ninh đến Hà Tĩnh, thứ ba là ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận Các loài tôm he có giá trị kinh tế cao là tôm he bạc, tôm rảo, tôm bộp, tôm sắt, tôm thẻ rằn,

Trang 29

tôm sú, tôm vàng, tôm đuôi xanh Tôm sú có kích thước lớn nhất, dài trung bình 20cm, năng 150g, tối đa có thể đạt đến 30cm, nặng 250g

Tôm hùm và tôm rồng tập trung ở vùng duyên hải Trung Bộ từ Quảng Bình đến Ninh Thuận Các loài tôm hùm có giá trị kinh tế cao là tôm hùm sao (loài lớn nhất, tối

đa dài đến 36cm, năng 3,4kg, còn trung bình dài khoảng 23cm, năng 2kg), tôm hùm

ma, tôm hùm đỏ, tôm hùm sỏi, tôm hùm xanh, tôm hùm lông Tôm hùm đỏ và tôm hùm sỏi chiếm khoảng 70% tổng sản lượng tôm hùm

Tôm vỗ tập trung ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ngoài khơi Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên, ngoài khơi Ninh Thuận – Bình Thuận và vùng Côn Đảo

Khả năng khai thác tôm ở vùng biển nước ta khoảng 55 – 70 ngàn tấn/năm, trong đó (1):

40 – 50m Ngoài ra, nhân dân vùng ven biển còn khai thác cáy rạn, cùm cụp, cáy xanh làm thực phẩm

+ Vùng biển nước ta có rất nhiều loài nhuyễn thể, với hơn 2500 loài

 Mực có 37 loài thuộc 4 họ (mực nang, mực ống, mực xim, mực ommastrephidae) Trong số này mực nang và mực ống có số lượng lớn và phân bố rộng Mực phân bố ở độ sâu khoảng 10 - 70m, có nồng độ muối khoảng 30‰ và nhiệt

độ nước biển trên 200C

Những nơi mực tập trung thành các ngư trường lớn phân bố ở vùng đảo Cái Chiêm – Vĩnh Thực, quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) Hòn

Mê (Thanh Hóa), Hòn Mắt (Nghệ An), vùng biển Phan Thiết – Hàm Tân (Bình Thuận) Ngoài ra, mực còn có ở vùng biển Nha Trang (Khánh Hòa), Phan Rang (Bình Thuận), Côn Đảo, Cà Mau nhưng số lượng không lớn

Trữ lượng mực ở vùng biển nước ta khoảng gần 60 nghìn tấn, trong đó khả năng đánh bắt khoảng gần 24 ngàn tấn, chiếm 40% trữ lượng

(1)

Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 30

Bảng 2.1: Trữ lượng mực ở các vùng biển (đơn vị: tấn) (2)

Loại mực Vịnh Bắc Bộ Biển miền Trung Đông Nam Bộ Tây Nam Bộ

 Ốc có mặt ở hầu hết các vùng ven biển nước nông Ở vịnh Bắc Bộ, trong nhóm các loài ốc thì có giá trị kinh tế cao là bào ngư Bào ngư phân bố ở nhiều quần đảo Cô Tô, Ba Mùn, Thượng Mai (Quảng Ninh) Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), ven biển

Hà Tĩnh, Quảng Trị, quần đảo Côn Sơn Ở ngoài khơi, trên các rạn san hô của Hoàng

Sa, Trường Sa và vùng biển phía Nam có nhiều loài ốc kích thước lớn, vỏ có nhiều vân đẹp như: ốc đụn, ốc xà cừ, ốc gáo, ốc lam, vú nàng không chỉ làm thực phẩm mà còn

khai thác vỏ để làm hàng mĩ nghệ

 Trai ngọc: chủ yếu khai thác để lấy ngọc sản xuất các mặt hàng mĩ nghệ xuất khẩu Chúng thường phân bố ở các rạn đá, rạn san hô của vùng đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Nam Trung Bộ, Côn Đảo

 Sò huyết: là sản phẩm có giá trị dinh dưỡng cao Những vùng sò huyết có hàm lượng và chất lượng cao phân bố ở Quảng Ninh, Lăng Cô (Thừa Thiên – Huế), Ô Loan (Khánh Hòa), ven biển Đông Nam Bộ

 Hàu: thường phân bố trong vùng biển có rạn đá quanh các đảo, các vùng cửa sông Tại những vùng nước lợ có mực triều cao, giàu thức ăn, hàu phát triển nhanh

 Ngoài ra còn các loài như vẹm xanh, trai tai tượng, hến biển chỉ thấy phân bố

ở vùng biển Nam Trung Bộ, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa Những loài có kích thước lớn, cho sản lượng thịt cao Những giống loài khác như: tu hài, don, dắt, móng tay, quéo bùn cũng được nhân dân ta khai thác làm thực phẩm

+ Đã phát hiện được 653 loài rong biển trong vùng biển Đông Việt Nam Trong các ngành rong, rong đỏ có 310 loài (chiếm 47,5%), rong lục 151 loài (21,1%), rong nâu 124 loài (19%), rong lam 68 loài (chiếm 12,4% còn lại Số loài rong biển có giá trị kinh tế khoảng 90 loài, chiếm 13,7% trong tổng số 653 loài, trong đó rong mơ và rong câu là quan trọng nhất

 Rong mơ có trữ lượng khoảng 35.000 tấn, tập trung nhiều ở phía Nam (chiếm 61,42%), nhất là từ Phú Yên đến Bình Thuận, còn ở miền Bắc (chiếm 38,58%), tập trung hầu hết ở Quảng Ninh

 Rong câu có trữ lượng khoảng 9300 tấn, vịnh Bắc Bộ có khoảng 5500 tấn chiếm 59,1%, còn miền Nam có 3800 tấn, chiếm 48,9% Các tỉnh có nhiều rong câu là Quảng Ninh, Hải Phòng, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên

(2)

Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002

Trang 31

+ Vùng biển nước ta còn có nhiều loài chim biển (khoảng 200 loài chim với các nhóm: hải âu, bồ nông, rẽ, mòng biển, yến ) và nhiều loài bò sát quý hiếm, nằm trong Sách đỏ thế giới

- Nước ta có nhiều ngư trường, trong đó 4 ngư trường trọng điểm đã được xác định là : ngư trường Cà Mau - Kiên Giang (ngư trường vịnh Thái Lan), ngư trường Ninh Thuận - Bình Thuận - Bà Rịa - Vũng Tàu, ngư trường Hải Phòng -Quảng Ninh (ngư trường vịnh Bắc Bộ) và ngư trường quần đảo Hoàng Sa, quần đảo Trường Sa Đây là nơi có nhiều cá, tôm và các hải sản khác, thuận lợi cho việc khai thác, cho năng suất và sản lượng cao

- Dọc bờ biển nước ta có những bãi triều, đầm phá, các cánh rừng ngập mặn

Đó là những khu vực thuận lợi cho nuôi trồng hải sản Ở một số hải đảo có các rạn đá,

là nơi tập trung nhiều hải sản có giá trị kinh tế Ven bờ có nhiều đảo và vũng, vịnh tạo điều kiện cho các bãi cá đẻ

- Nhân dân ta có kinh nghiệm và truyền thống đánh bắt và nuôi trồng hải sản Các phương tiện tàu thuyền, ngư cụ được trang bị ngày càng tốt hơn Hoạt động khai thác và nuôi trồng được thuận lợi hơn do phát triển dịch vụ thuỷ sản và mở rộng chế biến thuỷ sản

- Cùng với sự tăng dân số thế giới và trong nước, nhu cầu về các mặt hàng thuỷ sản tăng nhiều trong những năm gần đây Các mặt hàng thuỷ sản của nước ta cũng đã thâm nhập được vào thị trường châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kì

- Những đổi mới trong chính sách của Nhà nước đã và đang có tác động tích cực tới sự phát triển ngành thuỷ sản Khai thác đi đôi với bảo vệ nguồn lợi và giữ vững chủ quyền vùng biển, hải đảo

- Tuy nhiên, việc phát triển ngành hải sản ở nước ta gặp không ít khó khăn + Hàng năm có tới 9 - 10 cơn bão xuất hiện ở Biển Đông và khoảng 30 - 35 đợt gió mùa đông bắc, nhiều khi gây thiệt hại về người và tài sản của ngư dân, hạn chế số ngày ra khơi

+ Tàu thuyền, các phương tiện đánh bắt nói chung còn chậm được đổi mới, do vậy năng suất lao động còn thấp Hệ thống các cảng cá còn chưa đáp ứng yêu cầu

+ Ở một số vùng ven biển, môi trường bị suy thoái và nguồn lợi thuỷ sản cũng

bị đe doạ suy giảm

b) Thực trạng khai thác và nuôi trồng hải sản

* Đánh bắt và khai thác hải sản

- Đánh bắt hải sản: cá, tôm, cua, mực

Nhìn chung, sản lượng đánh bắt hải sản (chủ yếu là cá biển) trong những năm qua liên tục tăng

Trang 32

Hình 2.3: Ra quân đánh bắt thủy sản ở Sa Huỳnh (Quãng Ngãi) Ảnh Nguyễn Đăng Lâm

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010

Trong cơ cấu sản lượng hải sản, cá biển chiếm ưu thế tuyệt đối, phần còn lại là tôm, mực và các hải sản khác

Bảng 2.3: Cơ cấu sản lượng khai thác hải sản (%)

nhiều nhất ở vùng biển thuộc Đồng

bằng sông Cửu Long (chiếm gần

42,3%), Duyên hải Nam Trung Bộ

(chiếm hơn 29%) và Đông Nam Bộ

(chiếm khoảng 12%) Riêng ba vùng

này chiếm tới 83,3% sản lượng cá

biển được khai thác của cả nước

Các tỉnh dẫn đầu về sản lượng đánh

bắt là Kiên Giang, Bà Rịa - Vũng

Tàu, Bình Thuận và Cà Mau

Trang 33

Việc gia tăng sản lượng khai thác hải sản trong những năm gần đây là do số lượng tàu đánh bắt tăng và ngày càng hiện đại Các tàu có thể đánh bắt xa bờ với thời gian dài, góp phần hạn chế suy giảm nguồn lợi hải sản ven bờ và bảo vệ chủ quyền đất nước

Bảng 2.4: Số tàu đánh bắt hải sản xa bờ

Năm Số tàu đánh bắt

(chiếc)

Tổng công suất các tàu đánh bắt (nghìn CV)

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010

Tuy nhiên việc đánh bắt hải sản vẫn còn nhiều tồn tại cần phải giải quyết: + Mặc dù phương tiện đánh bắt ngày càng hiện đại nhưng vẫn còn nhiều phương tiện đánh bắt lạc hậu, nên việc đánh bắt ven bờ vẫn diễn ra phổ biến làm cho nguồn lợi hải sản ven bờ bị suy giảm nhanh chóng

+ Việc sử dụng ánh sáng quá mức, sử dụng chất độc hoặc nổ mìn không những tận diệt loại hải sản đang khai thác mà còn gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến các loài sinh vật khác

Hình 2.4: Đánh bắt hải sản bằng thuốc nổ

+ Việc sử dụng mắt lưới quá nhỏ khiến các loài bị khai thác triệt để, không còn con giống để phát triển cho mùa sau

Hình 2.5: Nguồn lợi hải sản giảm sút

+ Còn đánh bắt vào mùa cá sinh sản Việc đánh bắt vào mùa cá sinh sản sẽ làm thiệt hại đến cá mẹ, cá non, ấu trùng

Trang 34

Hình 2.6: Con vích này có chiều dài 1,8m, chiều ngang lưng 1m, nặng khoảng 200kg Toàn bộ cơ thể vích chỉ một màu đen, đã được ngư dân huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An)

http://tuoitre.vn

Để khai thác nguồn lợi hải sản

một cách bền vững, góp phần bảo vệ

nâng cấp phương tiện đánh bắt xa bờ;

hoàn thiện và mở rộng các cơ sở hạ

tầng và dịch vụ hậu cần nghề cá; tạo

mọi điều kiện thuận lợi cho ngư dân

bám biển dài ngày, nhất là vùng biển

quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa;

không sử dụng hình thức đánh bắt

mang tính hủy diệt; quy định kích

thước mắt lưới, thời gian và khu vực

khai thác; cứu hộ và thả về biển

những sinh vật quý hiếm

Hộp 2.1: KHAI THÁC HẢI SẢN VEN BỜ VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Khai thác hải sản đã trở thành một nghề của đa số cư dân ven biển, với việc

sử dụng tàu, thuyền cỡ nhỏ, tập trung khai thác ở vùng nước nông, ven bờ Chính việc gia tăng số lượng tàu, thuyền đánh bắt ven bờ (được coi là nơi sinh sản chủ yếu của nhiều loài hải sản), đã làm cho nguồn lợi, môi trường sinh thái bị đe dọa, gây ảnh hưởng lớn đến tính đa dạng sinh học ở vùng bờ và ven bờ Nhiều loài sinh vật biển đang có dấu hiệu suy giảm và nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng Nhiều loài

có giá trị kinh tế cao đang bị giảm dần Năng suất đánh bắt, chất lượng, kích cỡ hải sản giảm Chẳng hạn, nếu như năm 1997, số lượng tàu khai thác dưới 90 CV (tàu khai thác ven bờ) có 58.396 chiếc, thì năm 2008 đã tăng lên 88.087 chiếc, chiếm 84,6% tổng số tàu đánh bắt hải sản Tuy số lượng tàu tăng, nhưng năng suất khai thác giảm rõ rệt Điều này cho thấy, rõ ràng, nguồn lợi hải sản và vai trò sản xuất của ngành khai thác đang giảm sút nghiêm trọng trong thời gian qua

Theo tính toán của Viện nghiên cứu hải sản, sản lượng cho phép khai thác tối ưu ở vùng nước ven bờ ở vào mức 600.000 tấn, nhưng thực tế sản lượng khai thác ở đây đã vượt quá con số hơn 1.000.000 tấn Điều này chứng tỏ áp lực khai thác ven bờ lên nguồn lợi thủy sản là quá lớn Một điểm đáng chú ý, khai thác ven

bờ mang nhiều nét truyền thống với quy mô tàu nhỏ, công nghệ và phương pháp khai thác lạc hậu, chủ yếu dựa vào kinh nghiệm với nhiều loại nghề và phương tiện khai thác như lưới rùng, lưới mành, lưới rê, lưới kéo, lưới vây… Thậm chí, không ít ngư dân sử dụng cả những phương pháp đánh bắt mang tính hủy diệt nguồn lợi như xung điện, chất nổ, chất độc,… đã làm suy giảm rất lớn số lượng sinh vật biển và nguy hại tới môi trường sống của chúng, số lượng loài có nguy cơ

tuyệt chủng và cạn kiệt ngày càng gia tăng

Trong đợt phối hợp kiểm tra liên tỉnh ven biển Nam Bộ năm 2009 của Thanh tra Thủy sản và Chi cục Khai thác và Bảo vệ nguồn lợi thủy sản thuộc các

Trang 35

Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thực hiện trên tổng số 900 phương tiện,

đã phát hiện có 16 trường hợp vi phạm sử dụng xung điện, 116 trường hợp vi phạm về giấy phép khai thác, 2 trường hợp vi phạm sử dụng ánh sáng, 1 trường hợp sử dụng chất nổ, 9 trường hợp sử dụng lưới mắt nhỏ hơn quy định để khai thác hải sản… Việc sử dụng lưới mắt quá nhỏ, nên tỷ lệ cá nhỏ trong các mẻ lưới cao Theo Viện Kinh tế quy hoạch thủy sản, đã có trên 70 loài hải sản phải đưa vào danh sách đỏ Việt Nam, khoảng 85 loài hải sản ở trong tình trạng nguy cấp với nhiều mức độ khác nhau, trong đó nhiều loài vẫn đang là đối tượng khai

thác…

Nguồn: Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam; http://paicom.org.vn

- Khai thác rong biển

+ Rong biển có rất nhiều công dụng

Nhóm dùng làm thực phẩm chiếm tới 33%, do rong biển giàu protein, chủ yếu gồm các loài như rong cải biển, rong mứt, rong đông, rong giấy, rong cạo, rong thun thút dùng để làm nộm hoặc nấu thạch, chế biến nước giải khát, có thể phơi khô để dùng dần

Nhóm dùng trong công nghiệp chiếm 27%, chủ yếu để chế biến agar, alginate Agar được chế biến từ rong câu có trên 50 công dụng, như làm tăng độ trong của rượu, làm xốp bánh mì, lấy giấy bọc kẹo, vỏ bọc thuốc, hồ tơ lụa, làm thuốc đánh răng Alginate chế biến từ rong mơ cũng được dùng để sản xuất cao su, xà phòng, keo dính, giấy không thấm nước, kem bôi da, thuốc nhuộm tóc, dầu bôi trơn

Nhóm dùng trong y dược chiếm 20% để chế thuốc giun, thuốc điều tiết sinh sản, điều trị huyết áp, điều chế thuốc gây mê, chữa bệnh bướu cổ, làm chỉ khâu vết thương

Ngoài ra, rong biển còn được khai thác làm thức ăn cho gia súc, làm phân bón hữu cơ …

+ Về sản lượng khai thác: rong câu có sản lượng khai thác khoảng 7000 tấn, trong đó rong câu chỉ vàng chiếm tuyệt đại đa số (trên 90%) Sản lượng rong mơ khai thác chỉ được khoảng 2000 tấn

+ Do rong biển có nhiều giá trị, cho nên trong những năm gần đây, người dân vùng ven biển đã ồ ạt khai thác cây rong biển, gây tác động xấu đến môi trường sinh thái biển, tận diệt các loài thủy sản trú ngụ, sinh sản ở các vùng có cây rong biển sinh sống

Nhiều nơi rong biển khai thác lên được phơi trên cát hoặc chất thành từng đống Trước kia, mỗi năm người ta chỉ vớt rong vào tháng 5 và 6, còn bây giờ, nhiều nơi rong được khai thác từ tháng 3 tháng 4; thay vì chỉ vớt ven bờ ở độ sâu khoảng 3 mét nước thì nhiều người khai thác lặn xuống lấy rong cả ở những nơi rất sâu, kể cả ở các rạn san hô quý hiếm Cũng vì cho thu nhập cao mà rất ít ngư dân biết được rằng, việc

Trang 36

khai thác rong một cách vô tội vạ như vậy sẽ khiến môi trường sinh thái biển bị tổn hại

và chính họ sẽ là những người trước tiên bị tác động tiêu cực Theo một số tài liệu khoa học, việc khai thác rong như vậy sẽ khiến các rạn san hô bị phá hủy và tôm, cá không còn nơi trú ngụ, sinh sản Trong thời gian từ tháng 3 đến tháng 7 hàng năm là thời gian sinh sản của các loài hải sản và sinh vật biển, do đó hệ sinh thái biển cần được duy trì và bảo vệ một cách tốt nhất, tạo điều kiện cho các loài hải sản và sinh vật biển phát triển

Hình 2.7 Rong được phơi dọc bờ

biển Quảng Ngãi (http://dantri.com.vn)

Hình 2.8 Phơi rong biển ở đảo Cô

(http://baoquangninh.com.vn)

HỘP 2.2: KHAI THÁC RONG MƠ ĐƯỢC GÌ, MẤT GÌ? (3)

Do chưa nhận thấy được những giá trị to lớn về mặt sinh thái của rong mơ cũng như mong muốn tìm được một nguồn thu cho gia đình vào những lúc biển giả khó khăn, đã có những thời điểm, người dân đảo Cù Lao Chàm khai thác rong

mơ một cách rầm rộ để bán cho các thương lái Nguy hiểm hơn, ngư dân lại khai thác vào thời điểm rong đang độ phát triển mạnh (từ tháng 3 đến tháng 7), đây là thời điểm mà trên các nhánh rong chứa vô số trứng của các loài cá chuồn, cá dìa, mực và rất nhiều loài hải sản khác trong Khu bảo tồn biển Cù Lao Chàm

Hình 2.9 Rong mơ mang nhiều trứng các loài thủy sản bị giật cả gốc, mang theo cả san hô (Ảnh: Chu Mạnh Trinh, 7/2011)

Để khai thác rong mơ, người dân lặn xuống và giật mạnh từng bụi rong làm

vỡ nát, hư hại nhiều diện tích san hô, các riềm đá, kéo theo sự hủy hoại các hợp phần đáy và các quần xã sinh vật sống cùng Với phương cách khai thác như vậy, ngư dân đã vô tình làm hủy hoại nghiêm trọng môi trường sống, cắt đứt nhiều mắc xích quan trọng trong chuỗi thức ăn tự nhiên Việc khai thác rong mơ đồng nghĩa với việc mất đi một số lượng lớn trứng các loài thủy sản do chúng dính vào rong Một số trứng bị tách khỏi giá thể (cành rong), trôi lơ lửng làm mồi cho địch hại

3 Lê Ng c Th o - Ban qu n lí Khu b o t n bi n Cù Lao Ch m

Trang 37

Cá thể nhỏ không có nơi cư trú, cá trưởng thành không có nơi sinh sản… và toàn

bộ ngôi nhà sinh thái của chúng bị đảo lộn hoàn toàn

Rong mơ phơi khô được các thương lái mua với giá 5.000 đ/kg Theo các nhà khoa học ước tính trong 1 kg rong mơ đó có hàng ngàn trứng các loài thủy sản

mà theo tự nhiên chúng sẽ phát triển cung cấp cho ngư trường hàng tạ sản lượng thủy sản vào năm sau Qua đó chúng ta có thể thấy được kết quả của một bài toán nhỏ: Khai thác 1 kg rong mơ người dân thu được vài ngàn đồng nhưng đã làm mất

đi hàng triệu đồng! Nhìn rong được khai thác chất thành từng đống lớn trên bãi biển, phơi trên các triền đá, một lão ngư với hơn 50 năm gắn bó với nghề biển tại

Cù Lao Chàm thở dài: “Khai thác rong mơ kiểu ni thì còn chỗ mô cho con cá, con tôm, con mực nó “rạy” (trú ẩn, sinh sản)? Sang năm chắc chắn sẽ mất mùa cá

chuồn, cá dìa, mực!”

+ Vẫn biết rong biển mang lại nhiều lợi ích cho con người, là loài có chu trình đời sống 1 năm, nếu không được khai thác thì chúng cũng bị tàn lụi, thối rữa Tuy nhiên cần phải bảo vệ, có biện pháp khai thác hợp lí bằng cách:

 Qui hoạch vùng khai thác, ấn định thời gian khai thác rong biển để tránh tác động xấu đến môi trường biển, làm giảm nguồn lợi thuỷ sản

 Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát khai thác rong biển

 Khuyến cáo người dân tuân thủ những nguyên tắc chung khi tiến hành khai thác rong biển

 Tổ chức tuyên truyền đến cộng đồng dân cư về nguồn lợi, giá trị của rong biển đối với môi trường, đa dạng sinh học, hệ sinh thái biển

- Các loài khác: ráp xác (cua, ghẹ ) nhuyễn thể (ốc, sò, tu hài, vẹm ), chim

biển (chim yến) cũng được khai thác ngày càng nhiều để phục vụ cho nhu cầu của người dân, nhất là khách du lịch Một số loài bò sát biển có nguy cơ bị tuyệt chủng do

bị săn bắt ráo riết để làm thực phẩm, làm đồ mỹ nghệ

2005 đến 2007 tăng nhanh, nhưng năm 2008 giảm, năm 2009, 2010 đã tăng trở lại

Về cơ cấu diện tích nuôi trồng thủy sản biển, tôm chiếm ưu thế tuyệt đối Tôm

sú, tôm càng xanh, tôm hùm được nuôi nhiều

Bảng 2.5: Diện tích nuôi trồng thủy sản biển (nghìn ha)

Trang 38

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010

Mặc dù diện tích nuôi trồng không ổn định nhưng sản lượng luôn tăng

Nguồn: Niêm giám thống kê tóm tắt, 2010

Các tỉnh có sản lượng tôm nuôi lớn nhất là Cà Mau, Bạc Liêu, Sóc Trăng, Bến Tre và Kiên Giang Nghề nuôi tôm cũng đang phát triển mạnh ở hầu hết các tỉnh duyên hải

Việc phát triển nghề nuôi tôm mang lại nhiều lợi ích cho nhân dân nhưng cũng gây tác hại tới môi trường Rừng ngập mặn có xu hướng giảm về diện tích, suy giảm

đa dạng sinh học, một trong những nguyên nhân là do sự gia tăng về diện tích nuôi tôm

Cần phải tính toán kĩ lưỡng khi nuôi tôm trong rừng ngập mặn làm sao không ảnh hưởng đến rừng ngập mặn, đồng thời giúp cải thiện kinh tế cho nhân dân Quỹ Quốc tế về Bảo vệ thiên nhiên (WWF) phối hợp với các tổ chức quốc tế khác đã đưa ra

Ngày đăng: 05/03/2021, 10:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Biển và đảo Việt Nam (Tài liệu bồi dưỡng giáo viên PTTH), Hà Nội 1994 Khác
2. Phùng Ngọc Đĩnh, Tài nguyên Biển Đông Việt Nam, NXB Giáo dục, 2002 Khác
3. Vũ Phi Hoàng, Kể về hải đảo của chúng ta, NXB Giáo dục, 1984 Khác
4. Vũ Tự Lập, Địa lí tự nhiên Việt Nam, NXB Giáo dục, 1999 Khác
5. Nguyễn Văn Phòng, Hải dương học và biển Việt Nam, NXB Giáo dục, 1998 Khác
6. Lê Bá Thảo, Việt Nam lãnh thổ và các vùng địa lí, NXB Thế giới, 1998 Khác
7. Nguyễn Minh Tuệ (Chủ biên) và nnk, Địa lí du lịch Việt Nam, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Khác
8. Lê Thông (Tổng Chủ biên) và nnk, Sách giáo khoa Địa lí 12, NXB Giáo dục Việt Nam, 2010 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w