Do tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăng và tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạncũng tăng Vì thế tổng tài sản của công ty năm 2005 tăng so với năm 2004.. Qua đó ta thấy tình hình tài sản
Trang 1PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN CHẾ BIẾN NÔNG SẢN XUẤT KHẨU CẦN THƠ
I.PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY.
1.Đánh giá khái quát bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán là một phương pháp kế toán và là một báo cáo kế toán chủyếu phản ánh tổng quát tình hình tài chính của công ty Nó còn là bức tranh toàn cảnh
về tình hình tài chính của công ty tại thời điểm lập báo cáo Bảng cân đối kế toán là tàiliệu quan trọng đối với việc nghiên cứu, đánh giá khái quát tình hình tài chính, trình
độ quản lý và sử dụng vốn cũng như triển vọng kinh tế, tài chính của công ty để địnhhướng cho việc nghiên cứu tiếp theo
Việc đánh giá khái quát bảng cân đối kế toán được thực hiện thông qua sự sosánh các số liệu, các chỉ tiêu tổng thể trên bảng cân đối kế toán Đầu tiên so sánh tổngtài sản cuối kì và đầu kì Sự so sánh có thể cho thấy sự thay đổi về qui mô cũng nhưkhả năng huy động vốn của công ty Tiếp theo là xem xét cơ cấu vốn có hợp lý haykhông? Cơ cấu vốn có tác dụng như thế nào đến quá trình kinh doanh? Để làm đượcđiều này, ta cần xác định tỷ trọng của từng loại tài sản trong tổng tài sản và so sánhcác loại qua từng thời kì, để thấy được sự biến động về cơ cấu vốn Điều này chỉ pháthuy tác dụng khi chú ý đến tính chất và ngành nghề kinh doanh của công ty, kết hợpvới việc xem xét tác động của từng loại tài sản đến quá trình kinh doanh và hiệu quảkinh doanh đạt trong kì
Ngoài ra, ta cũng cần xác định mức độ độc lập về tài chính của công ty qua việc
so sánh từng loại nguồn vốn giữa các kì cả về số tuyệt đối lẫn tương đối Đồng thời sosánh và xác định tỷ trọng từng loại nguồn vốn trong tổng nguồn vốn Nếu nguồn vốncủa chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao và có xu hướng tăng thì điều đó cho thấy khả năng
tự đảm bảo về mặt tài chính của công ty là cao, mức độ phụ thuộc về tài chính củacông ty đối với chủ nợ là thấp và ngược lại
1.1.Đánh giá khái quát tổng tài sản.
Bảng1: Đánh giá khái quát tổng tài sản
Trang 2Tỷ trg(%)
Sốtiền
Tỷ trg(%) Số tiền
Tỷ lệ(%)
Số tiền
Tỷ lệ(%)A.TS lưu động
đầu tư ngắn hạn 4.207,9 96,7 887,5 47,3 2.892 72,13 - 3.320,4 -78,9 2004,5 225,8B.TS cố định -
Hình1: Phân tích khái quát tài sản
Qua bảng số liệu trên ta thấy tổng tài sản của công ty luôn biến động Cụ thể,năm 2004 tổng tài sản của công ty giảm 2.470 triệu (đ), tương đương 56,7% so vớinăm 2003 Tốc độ giảm này khá cao nguyên nhân là do tài sản lưu động và đầu tưngắn hạn giảm 78,9%, tương đương 3.320,4 triệu (đ)
Tuy tài sản cố định và đầu tư dài hạn năm 2004 tăng với một tỷ lệ rất cao 606%,tương đương 850,4 triệu (đ) Nhưng phần tăng giảm giữa tài sản lưu động -đầu tưngắn hạn và tài sản cố định - đầu tư dài hạn của năm 2004 so với năm 2003 thì phầntài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn giảm tới 3.320,4 triệu (đ) trong khi đó phần tàisản cố định và đầu tư dài hạn tăng lên chỉ có 850,4 triệu (đ) Chính phần tăng tài sản
cố định và đầu tư dài hạn thấp hơn phần giảm tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn Vìthế tổng tài sản năm 2004 thấp hơn năm 2003
Đến năm 2005 tổng tài sản tăng so với năm 2004 là 113,4% Nguyên nhân là dotài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn năm 2005 tăng so với năm 2004 là 2004,5 triệu
Trang 3(đ) chiếm 225,6%, chính vì sự gia tăng mạnh tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn này
đã làm cho tổng tài sản tăng theo Bên cạnh đó tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăngmột lượng 126,5 triệu (đ), tương đương 12,17% của năm 2004
Do tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăng và tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạncũng tăng Vì thế tổng tài sản của công ty năm 2005 tăng so với năm 2004
Qua đó ta thấy tình hình tài sản của công ty luôn có xu hướng biến động bấtthường, nhưng do năm 2003 công ty đang tiến hành cổ phần hóa vì thế tổng tài sảncủa công ty từ năm 2003 đến năm 2004 có chiều hướng giảm vì lúc này nguồn vốncủa công ty chỉ do những người trong công ty đóng góp lại chứ không phải do NhàNước cấp như lúc trước, nhưng từ năm 2004 đến năm 2005 thì tài sản của công ty có
xu hướng tăng lên do lúc này hoạt động của công ty đã trở lại bình thường
Mặt khác, tỷ trọng của từng loại tài sản cũng biến động qua ba năm Năm 2004
tỷ trọng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn của công ty giảm từ 96,7% xuống còn47,3% và tỷ trọng của tài sản cố định và đầu tư dài hạn tăng từ 3,3% năm 2003 đến52,7% năm 2004 Điều này thể hiện qui mô hoạt động của công ty đang được mở rộngcông ty đang đầu tư cho hoạt động mua sắm tài sản cố định và đầu tư dài hạn chuẩn bịcho những kế hoạch trong tương lai Sang năm 2005 tỷ trọng của tài sản lưu động vàđầu tư ngắn hạn tăng từ 47,3% đến 72,3% và tỷ trọng của tài sản cố định và đầu tư dàihạn giảm từ 52,7% xuống còn 27,87% năm 2005 Điều này thể hiện công ty có xuhướng ưu tiên đầu tư cho tài sản phục vụ trực tiếp cho kinh doanh hơn
1.2 Đánh giá khái quát tổng nguồn vốn
Bảng2:Đánh giá khái quát tổng nguồn vốn
Tỷtrg
Số tiền Tỷ lệ
(%)
Sốtiền
Tỷ lệ (%)
Trang 4Hình2: Phân tích khái quát nguồn vốn
Song song với sự biến động của tổng tài sản thì nguồn vốn cũng biến động liêntục qua ba năm Năm 2004 tổng nguồn vốn giảm so với năm 2003 là 2.470 triệu (đ),tương đương giảm 56,7% Nguyên nhân chủ yếu là do khoản phải trả và nguồn vốnchủ sở hữu đều giảm Cụ thể năm 2004 khoản phải trả giảm một lượng 1.485 triệu (đ),tương đương một tỷ lệ là 47,6%, và nguồn vốn chủ sở hữu cũng giảm một lượng 985triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 79% của năm 2004 so với năm 2003
Sang năm 2005 thì tổng nguồn vốn của công ty lại tăng lên cao hơn năm 2004một lượng 2.131triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 113,4% Nguyên nhân là do tuykhoản phải trả giảm đi so với năm 2004 một lượng 1.579 triệu (đ), tương đương vớimột tỷ lệ là 97,53% Nhưng nguồn vốn chủ sở hữu trong năm 2005 lại tăng lên vớimột lượng rất lớn là 3.710 triệu (đ), tương đương với một tỷ lệ 1433% so với năm2004
Về tỷ trọng các khoản mục trong nguồn vốn cũng luôn biến động Trong năm
2004 thì tỷ trọng khoản phải trả trong tổng nguồn vốn tăng từ 71,4% lên 86,2% Từ đó
ta thấy các khoản nợ mà công ty còn thiếu trong năm 2004 tăng hơn so với năm 2003.Nhưng đến năm 2005 thì tỷ trọng khoản phải trả trong tổng nguồn vốn chỉ chiếm 1%.Điều này cho thấy công ty có thể tăng được khoản nợ trong tương lai, vì trong kinhdoanh thì ta có thể huy động vốn từ bên ngoài nếu công ty của chúng ta có huy tín thì
Trang 5tăng khoản nợ hơn 1% trong tổng nguồn vốn đó cũng là một trong những cách tănghiệu quả hoạt động kinh doanh cho công ty Còn về nguồn vốn chủ sở hữu chiếm một
tỷ trọng 28,6% trong năm 2003 sang năm 2004 thì tỷ trọng này của công ty giảm đichỉ chiếm 13,8% trong tổng nguồn vốn Nhưng sang năm 2005 thì tỷ trọng của nguồnvốn chủ sở hữu trong tổng nguồn vốn chiếm một tỷ lệ rất cao 99% Điều này cho thấykhả năng tự đảm bảo về mặt tài chính của công ty là rất cao và mức độ phụ thuộc vềmặt tài chính đối với chủ nợ là thấp
Tình hình tăng giảm tài sản của công ty sau một thời kỳ hoạt động kinh doanhphản ánh các nguồn lực tài chính của công ty và để thấy được một cách đầy đủ thựctrạng tài chính của công ty, ta cần phải xem xét thêm các tỷ số sau:
1.3 Phân tích tỷ số tài trợ và tự tài trợ
Để thấy được khả năng tự trang bị tài sản của công ty như thế nào? Và xem xétcông ty có những định hướng cho tương lai như thế nào cho việc đầu tư vào tài sản cốđịnh, đặt biệt với nguồn vốn chủ sở hữu của công ty thì khả năng đầu tư vào tài sảnchiếm một tỷ lệ ra sao?, vì thế ta tiến hành phân tích các tỷ số tài trợ và tự tài trợ đểthấy rỏ hơn
Bảng 3: Bảng phân tích tài trợ - tự tài trợ
Trang 6a.Tỷ suất đầu tư tài sản cố định
Tỷ suất này phản ánh tình hình trang bị cơ sở vật chất kỹ thuật và tài sản cố địnhcủa công ty Qua số liệu ta thấy tỷ số này có sự biến động mạnh qua 3 năm Cụ thể,năm 2004 tăng so với năm 2003 0,49 (lần) từ 0,03 (lần) tăng lên 0,52 (lần) Nhưngsang năm 2005 thì lại giảm xuống so với năm 2004 là 0,25 (lần) Điều này cho thấy ,trong năm 2004 thì công ty có nhu cầu đầu tư cho tài sản cố định và trang bị cơ sở vậtchất kỹ thuật nhưng sang năm 2005 thì lại hạn chế hơn năm 2004 nhưng về tỷ trọngcủa tài sản cố định trong tổng tài sản của công ty lại chiếm tỷ lệ nhỏ hơn trong năm
2005 Nghĩa là trong năm 2005 công ty đã chú trọng giữ lại tài sản lưu động và đầu tưngắn hạn hơn so với đầu tư vào tài sản cố định Công ty chú trọng đầu tư vào tài sảnphục vụ trực tiếp cho kinh doanh hơn
b Tỷ suất tự tài trợ tài sản cố định
Tỷ suất này phản ánh tỷ lệ về vốn chủ sở hữu để trang bị tài sản cố định Trongnăm 2004 tỷ suất này là 0,26 (lần), giảm 8,6 (lần) so với năm 2003 Nguyên nhân là
do trong năm 2004 thì nguồn vốn chủ sở hữu của công ty giảm đi 985 triệu (đ), trongkhi đó phần đầu tư cho tài sản cố định lại tăng lên 850,5 triệu (đ) Sang năm 2005 thì
tỷ suất này lại có xu hướng tăng lên 3,29 (lần) so với năm 2004 Điều này thể hiệnnguồn vốn chủ sở hữu của công ty có xu hướng tăng lên 3.710 triệu (đ) Điều này chothấy tình hình tài chính của công ty luôn biến động lúc thì nguồn vốn chủ sở hữu tănglên và ngược lại Vì thế năng lực tài chính còn nhiều hạn chế
2 Phân tích mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán của công ty.
Để thấy rỏ mối quan hệ giữa các chỉ tiêu trong bảng cân đối kế toán ta tiến hànhphân tích mối quan hệ giữa chúng để có thể đánh giá được khái quát tình hình tàichính của công ty Nguồn hình thành nên 2 loại tài sản lưu động và tài sản cố định chủyếu bằng nguồn vốn chủ sở hữu, nhưng trong công ty thực tế thì có khi công ty lạithừa nguồn vốn chủ sở hữu nhưng lại có khi thiếu nguồn vốn chủ sở hữu để đầu tưcho 2 tài sản trên Vì thế ta sẽ phân tích tình hình sử dụng nguồn vốn chủ sở hữu củacông ty trong 3 năm qua
Bảng 4: Quan hệ giữa tài sản - NVCSH
Trang 7Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua bảng số liệu trên ta thấy trong năm 2003 thì vốn chủ sở hữu của công ty sửdụng không hết cho tài sản (thừa nguồn vốn), nên đã bị các công ty hoặc các đốitượng khác chiếm dụng dưới các hình thức như: công ty bán chịu thành phẩm, hànghóa, dịch vụ hoặc ứng trước tiền cho bên bán, các khoản thế chấp, ký cược…với sốnguồn vốn thừa trong năm 2003 là 95,9 triệu (đ), tương đương 7,7%
Sang năm 2004 thì ta thấy công ty thiếu nguồn vốn để trang trải tài sản cho mọihoạt động kinh doanh của mình Bởi vậy, để hoạt động kinh doanh được bình thường,công ty phải huy động thêm nguồn vốn từ các khoản vay hoặc đi chiếm dụng vốn từcác đơn vị khác dưới nhiều hình thức như: mua trả chậm, thanh toán chậm hơn so vớithời hạn phải thanh toán thiếu một lượng 1.264,4 triệu (đ)
Năm 2005 thì nguồn vốn chủ sở hữu của công ty sử dụng không hết cho tài sản(thừa nguồn vốn) một lượng 862 triệu(đ)
Và nếu như công ty bị thiếu vốn nghĩa là bằng với nguồn vốn chủ sở hữu màcông ty vẫn chưa có thể trang trãi cho mọi tài sản của công ty thì buộc công ty phải đivay nhưng trên thực tế thường xãy ra hai trường hợp:một là thừa nguồn vốn chủ sởhữu cộng với phần đi vay, hai là với nguồn vốn chủ sở hữu cộng với phần đi vaynhưng công ty vẫn thiếu vốn Để thấy được mối quan hệ giữa tài sản và phần vốn chủ
sở hữu cộng với lãi vay của công ty như thế nào ta cần tiến hành phân tích mối quan
Trang 8(Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005-Phòng kế toán)
Nhìn chung qua bảng số liệu trên ta thấy nguồn vốn cộng vay của công ty sửdụng không hết qua các năm, nên đã bị các đơn vị khác chiếm dụng, như: khách hành
nợ tiền chưa thanh toán, trả trước cho người bán, tạm ứng, tài sản sử dụng vào việc thếchấp, ký cược, ký quỹ.v.v Nhưng năm 2004 ta nhận thấy nguồn vốn cộng với lãi vaycủa công ty bị thiếu hụt
Vì thế công ty có biện pháp đồi nợ, thúc đẩy quá trình thanh toán đúng hạn,nhằm năng cao hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất kinh doanh của công ty
Trong một công ty thường thì có hai trường hợp xãy ra hoặc là công ty bị chiếmdụng vốn nghĩa là số tiền mà công ty cho khách hàng thiếu chiếm tỷ lệ cao hơn so với
số tiền mà công ty thiếu nợ hoặc là công ty chiếm dụng vốn của các đơn vị khác nghĩa
là số tiền mà doanh nghiệp thiếu chiếm tỷ lệ cao hơn so với số tiền mà công ty chokhách hàng thiếu
3.Phân tích biến động từng khoản mục trong bảng cân đối kế toán.
Trang 9Hình3 :Tài Sản Lưu Động và Đầu Tư Ngắn Hạn
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn là những tài sản tham gia trực tiếp vào quátrình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty Nhìn chung Tài sản lưu động và đầu
tư ngắn hạn của công ty luôn biến động liên tục qua 3 năm
Năm 2003 tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn chiếm 96,7% trong tổng tài sản.Sang năm 2004 thì tỷ trọng này giảm xuống còn 47,3%, chủ yếu do các khoản mụctrong tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn đều giảm Đặt biệt là các khoản phải thutrong năm 2004 giảm 93,28% so với năm 2003 và hàng tồn kho giảm 98,97% trongnăm 2004, tuy vốn bằng tiền trong năm 2004 tăng 12965% nhưng phần tăng nàykhông bù đắp các khoản giảm trong khoản mục tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạnchính vì thế, tổng tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn trong năm 2004 giảm so vớinăm 2003
Trong một công ty mà các khoản phải thu có xu hướng giảm chứng tỏ năm hoạtđộng đó công ty đã thu được lượng tiền mặt chiếm tỷ lệ cao và khoản phải thu kháchhàng giảm đi chứng tỏ khách hàng ít thiếu nợ của công ty, điều này sẽ có lợi cho công
ty vì trong kỳ công ty đã hoàn thàmh tốt việc thu hồi các khoản nợ
Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn bao gồm nhiều khoản mục, ứng với mỗikhoản mục đó được sử dụng với những mục đích khác nhau, đặc điểm khác nhau Do
đó phân tích tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn ta cần phân tích cụ thể biến động củatừng khoản mục
* Vốn bằng tiền
Tiền là một loại tài sản có tính lưu động nhất có thể sử dụng để chi cho các mụcđích khác nhau, do đó ta cần quản lý chặt chẽ khoản mục này theo những nguyên tắcnhất định Phân tích khoản mục tiền nhằm mục đích thấy được tình hình tăng giảm vànguyên nhân của nó Qua đó thấy được nhu cầu đáp ứng kinh doanh, để có biện phápquản lý hữu hiệu Nếu trong một công ty mà lượng tiền mặt chiếm tỷ lệ cao thì cũngthể hiện công ty làm ăn chưa thật sự có hiệu quả và ngược lại nếu lượng tiền mặt quá
ít thì khả năng tự chủ của công ty cũng bị hạn chế
Bảng6: Vốn bằng tiền
ĐVT: triệu đồng
Trang 102003 2004 2005 2004/2003 2005/2004Số
Tiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷTr(%) Số Tiền
TỷTr(%)
SốTiền
Tỷlệ(%) Số Tiền
Tỷlệ(%)
1.Tiền mặt tại quỹ 2,9 0,06 271 14,42 15,5 0,38 268,1 9186 - 255.5 - 94,22.Tiền gửi NH 1,1 0,03 251,6 13,4 1.967,9 49,08 250,5 22349 1.716,3 681
Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua số liệu trên ta thấy tài khoản vốn bằng tiền của công ty luôn có xu hướngtăng qua 3 năm Trong năm 2003 thì vốn bằng tiền của công ty là 4 triệu (đ), chiếmmột tỷ trọng 0,09% trong tổng tài sản Nhưng sang năm 2004 thì lượng vốn bằng tiềncủa công ty tăng lên với con số 522,6 triệu (đ), chiếm tỷ trọng 27,82% trong tổng tàisản, nó tăng hơn so với năm 2003 một lượng là 518,6 triệu (đ), tương đương với một
tỷ lệ là 12839% Nguyên nhân làm cho vốn bằng tiền của công ty tăng nhanh như thế
là do tiền mặt tại quỹ và tiền gửi ngân hàng của công ty trong năm 2004 đều tăng, cụthể năm 2004 lượng tiền mặt tại quỹ của công ty tăng lên một lượng 268,1 triệu (đ),tương đương một tỷ lệ là 9186% và tiền gửi ngân hàng của công ty tăng lên với một tỷ
lệ cao 22349%, tương đương một lượng 250,5 triệu (đ), chính sự gia tăng của haikhoản mục này làm cho tỷ trọng của chúng trong tổng vốn bằng tiền cũng tăng lêntrong năm 2004 tỷ trọng tiền mặt tại quỹ cũng tăng lên từ 0,06% tăng lên 14,42% và
tỷ trọng tiền gửi ngân hàng cũng tăng lên từ 0,03% lên 13,4%
Đến năm 2005 thì tài khoản vốn bằng tiền của công ty lại tiếp tục tăng lên vớicon số là 1.983,4 triệu (đ), chiếm một trọng 49,46% trong tổng tài sản của công tytăng hơn so với năm 2004 một lượng 1.460 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ 279%,nhưng tốc độ tăng chậm hơn so với năm 2004 Nguyên nhân tăng này là do tiền gửingân hàng của công ty tăng lên 1.716,3 triệu (đ), tương đương với một tỷ lệ là681% ,mặt dù tiền mặt tại quỹ có giảm đi một lượng 255,5 triệu (đ), nhưng lượnggiảm này vẩn thấp hơn so với lượng tăng tiền gửi ngân hàng chính vì thế trong năm
2005 thì vốn bằng tiền của công ty lại tiếp tục tăng
Tóm lại: vốn bằng tiền của công ty tăng liên tục qua 3 năm Điều này thể hiệnkhả năng thanh toán nhu cầu cấp thiết trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhđược nâng cao Tuy nhiên lượng tiền mặt trong công ty lớn cũng chưa hẳn là tốt vì nó
sẽ làm cho khả năng sinh lời giảm đi Vì vậy, cần xóm đưa lượng tiền này vào lưuthông để tăng nhanh vòng quay của vốn
Trang 11* Khoản phải thu
Công nợ phải thu là khoản tiền hoặc tài sản của công ty hiện đang bị đơn vị, cánhân khác chiếm dụng một cách hợp pháp và bất hợp pháp mà công ty có trách nhiệmphải thu hồi
Quản lý công nợ phải thu đồi hỏi các nhà quản trị phải nắm vững tính chất, nộidung và thời gian thu hồi các khoản công nợ Tù đó để có những quyết định thu hồicông nợ hữu hiệu Quản lý công nợ phải thu có ý nghĩa rất quan trọng vì nó ảnh hưởngtrực tiếp đến việc đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn, phát hiện ngăn ngừa tình trạngchiếm dụng vốn và mất vốn trong kinh doanh
Bảng7: Các khoản phải thu
ĐVT: Triệu đồng
Chỉ Tiêu
SốTiền
Tỷ Tr(%)
SốTiền
Tỷ Tr(%)
SốTiền
Tỷ Tr(%) Số Tiền
Tỷ Lệ(%)
SốTiền
Tỷ Lệ(%)II.Khoản phải
thu
3.040 69,91 204,1 10,86 172,5 4,30 -2.835,9 -93,28 -31,6 -15,481.Phải thu
Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua bảng số liệu trên ta thấy, khoản phải thu của công ty luôn giảm đi trong 3năm qua và tỷ trọng của chúng trong tổng tài sản cũng giảm xuống liên tục Trongnăm 2003 thì tỷ trọng của khoản phải thu là 69,91% trong tổng tài sản với một lượng3.040 triệu (đ), và chủ yếu là do khách hàng thiếu Nhưng sang năm 2004 thì tỷ trọngkhoản phải thu của công ty giảm xuống còn 204,1 triệu (đ) giảm so với năm 2003 mộtlượng 2.835,9 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 93,28% Nguyên nhân là khoản phải
Trang 12thu khách hàng giảm đi một lượng 2.893,9 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ 95,19% vàtrong năm 2004 thì công ty đã trả trước cho người bán một khoản tiền là 58 triệu (đ),nhưng khoản tiền này rất nhỏ so với khoản giảm của phải thu khách hàng Vì vậy,khoản phải thu trong năm 2004 giảm mạnh so với năm 2003.
Sang năm 2005 thì tỷ trọng của khoản phải thu lại tiếp tục giảm so với năm 2004một lượng là 31 triệu (đ), tương đương với một tỷ lệ là (15,48%) Nguyên nhân là dotuy giá trị thuế GTGT được KT trong năm 2005 là 0,2 triệu (đ), và các khoản phải thukhác trong năm 2005 là 55,3 triệu (đ), nhưng lại nhỏ hơn phần giảm phải thu kháchhàng và phần trả trước cho người bán
Tóm lai: khoản phải thu của công ty trong 3 năm qua luôn có xu hướng giảm đi.Đây cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng lượng tiền mặt tại quỹ hay là tăngnguồn vốn bằng tiền của công ty Vì công ty đã thực hiện những chính sách thu hồitiền nhanh, điều này có lợi cho công ty nếu công ty biết cách tận dụng khoản tiền này
để phục vụ cho việc kinh doanh thì mang lại kết quả kinh doanh tốt hơn
* Hàng tồn kho
Để thực hiện tốt kế hoạch bán ra đòi hỏi công ty phải đảm bảo về số lượng, chấtlượng, kết cấu chủng loại, kiểu cách mẩu mã Quản trị hàng tồn kho là nội dung quantrọng vì nó ảnh hưởng trực tiếp và quyết định thực hiện kế hoạch bán ra, đến tốc độchu chuyển vốn lưu động và kết quả kinh doanh Do đó cần phân tích tình tình vàđánh giá thực trạng hàng tồn kho, để đưa ra quyết định phù hợp với hiện tại
TỷTr(%)
SốTiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷLệ(%)
SốTiền
TỷLệ(%)IV.Hàng tồn kho 1.004 23,08 10,3 0,54 6,6 0,16 -993,7 -98,97 -3,7 -35,521.Nguyên vật liệu
Trang 13-Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua bảng số liệu trên ta thấy, trong 3 năm qua hàng tồn kho luôn có sự biếnđộng mạnh và có xu hướng giảm đi trong 3 năm Cụ thể, năm 2003 giá trị hàng tồnkho là 1.004 triệu (đ) giảm xuống còn 10,3 triệu (đ) vào năm 2004 giảm với mộtlượng là 993,7 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 98,97% Nguyên nhân làm cho giátrị hàng tồn kho giảm mạnh như thế là do trong năm 2004 thì công ty không cónguyên vật liệu tồn kho mà chỉ có công cụ dụng cụ tồn kho nhưng giá trị của công cụdụng cụ tồn kho cũng giảm một lượng 2,6 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 20,15%,
và năm 2004 thì công ty không có thành phẩm tồn kho Chính những nguyên nhân nàylàm cho hàng tồn kho của năm 2004 giảm mạnh so với năm 2003 Chính sự giảmmạnh giá trị của hàng tồn kho làm cho tỷ trọng của hàng tồn kho của tổng tài sản cũnggiảm từ 23,08% xuống còn 0,54% của năm 2004 so với năm 2003 và chính nguyênnhân này vẫn đến vốn bằng tiền của công ty trong năm 2004 tăng hơn so với năm2003
Sang năm 2005 thì giá trị hàng tồn kho của công ty lại tiếp tục giảm một lượng3,7 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 35,92% Nguyên nhân là do trong năm 2005 thì
tỷ trọng của hàng tồn kho giảm từ 0,54% xuống còn 0,16% do trong năm 2005 công
ty không có giá trị nguyên vật liệu tồn kho và thành phẩm tồn kho còn giá trị công cụdụng cụ tồn kho giảm từ 10,3 triệu (đ) xuống còn 6,6 triệu (đ), giảm một lượng là 9,5triệu (đ), tương đương một tỷ lệ 35,52%
Tóm lại: giá trị hàng tồn kho của công ty qua 3 năm luôn giảm liên tục, điều nàythể hiện những chính sách của công ty giảm lượng hàng tồn kho để tăng lượng vốnbằng tiền
Trang 14SốTiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷLệ(%)
SốTiền
TỷLệ(%)V.Tài sản lưu
Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua bảng số liệu trên ta thấy tài sản lưu động khác luôn biến động qua 3 năm.Phần tài sản lưu động khác chiếm một tỷ trọng không cao qua 3 năm Cụ thể, năm
2003 khoản mục tài sản lưu động khác chiếm một tỷ trọng 3,67% trong tổng cơ cấu tàisản Đặt biệt trong năm 2003 thì ở khoản mục tài sản lưu động khác công ty chỉ chicho phần tạm ứng tương đương một lượng 159,9 triệu (đ) trong năm 2003 Sang năm
2004 thì tổng tài sản của công ty giảm so với năm 2003 là 2.470 triệu (đ), tươngđương một tỷ lệ là 56,8% Chính nguyên nhân này nên mặt dù trong năm 2004 tỷtrọng của tài sản lưu động khác mặt dù tăng so với năm 2003 nhưng về số lượng thìnhỏ hơn năm 2003 với một lượng 9,4 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ là 5,89%,nhưng xét về phương diện tỷ trọng thì trong năm 2004 tài sản lưu động khác của công
ty lại tăng lên, nghĩa là tuy tỷ trọng của tạm ứng trong tài sản lưu động khác không có
Trang 15biến động nhưng trong năm 2004 thì công ty lại chi trả trước một khoản 54,6 triệu(đ),chiếm 2,9% trong tổng tài sản của công ty và trong năm này công ty đã chi chophần chi phí kết chuyển chiếm một lượng 28,5 triệu (đ), tương đương một tỷ trọng là1,51% và chính nguyên nhân này nó làm cho tăng giá trị tài sản lưu động khác vềphương diện tỷ trọng.
Trong một công ty thì việc chi cho tạm úng và chi trả trước là không thể thiếuđược, tuy nhiên trong năm hoạt động đó nếu xét về mặt kinh tế thì phần tạm ứng vàchi trả trước mà tăng thì sẽ không tốt cho công ty
Đến năm 2005 tăng hơn năm 2004 một lượng 368 triệu (đ), tương đương một tỷ
lệ là 244,5% Nguyên nhân là do phần tạm ứng của công ty tăng thêm 62,9 triệu (đ),tương đương một tỷ lệ 93,22%, và phần chi trả trước tăng thêm 333,6 triệu (đ), tươngđương một tỷ lệ 610%, chính sự tăng nhanh của chi trả trước làm cho tăng tỷ trọngcủa tài sản lưu động khác trong tổng tài sản với một lượng 368 triệu (đ) và với một tỷtrọng 244,5% trong tổng tài sản, trong đó chi trả trước chiếm tới 9,68%, tương đươngmột lượng 388,2 (đ)
Tóm lai: nhìn chung về tình hình tài sản lưu động khác của công ty có xu hướngtăng, đặt biệt là phần chi trả trước nó không thể thiếu trong hoạt động của công ty.Tuy nhiên nếu khoản mục này chiếm tỷ trọng cao thì nó làm giảm đi lượng tiền mặttại công ty
b.Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Tài sản cố định và đầu tư dài hạn là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sửdụng hữu ích lâu dài phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất kinh doanh Đây lànhững tài sản mà doanh nghiệp năm giữ để sử dụng chứ không phải để bán, và đượccoi như những tài sản dài hạn dùng trong một số năm
Trang 16Hình4:Tài sản cố định và đầu tư dài hạn
Qua bảng số liệu trên ta thấy, tài sản cố định và đầu tư dài hạn của công ty có xuhướng tăng qua 3 năm Cụ thể, năm 2003 tỷ trọng tài sản cố định và đầu tư dài hạnchiếm 3,22% trong tổng tài sản Đến năm 2004 thì tỷ trọng này tăng lên 52,74% trongtổng tài sản tăng một lượng 850,4 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ 606% Sang năm
2005 thì khoản mục này lại tiếp tục tăng lên chiếm một tỷ trọng 27,87% trong tổng tàisản, chính vì trong năm 2005 tổng tài sản của công ty tăng lên một lượng 2.131triệu(đ), tương đương một tỷ lệ là 113,4% nên tuy tỷ trọng của tài sản cố định và đầu tư dàihạn có giảm đi nhưng về giá trị thì nó cao hơn so với năm 2004 và để tìm hiểu mộtcách cụ thể xem những nguyên nhân nào làm cho khoản mục tài sản cố định và đầu tưdài hạn tăng lên và phân tích những mặt `tích cực và hạn chế của sự tăng lên đó, ta sẽ
đi sâu từng khoản mục trong tài sản cố định và đầu tư dài hạn
*Tài sản cố định hữu hình
Trong khoản mục tài sản cố định và đầu tủ dài hạn thì công ty chỉ chú trọng đếnvấn đề tài sản cố định vì đây chỉ là một công ty tương đối nhỏ nên chú trong đầu tưvào tài sản cố định ít quan tâm đến vấn đề đầu tư tài chính Chính vì thế ta chỉ phântích phần tài sản cố định và đặt biệt là tài sản cố định hữu hình
Bảng10:Tài sản cố định hữu hình
ĐVT: Triệu đồng
Trang 17Số Tiền
TỷTr(%)
Số Tiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷTr(%)
SốTiền
TỷLệ(%)
SốTiền
TỷLệ(%)I.Tài sản cố
mòn luỹ kế
-1.083,4 -24,91 -2.029 108 1.233 30,74 945,6 87,3 -796 39,2
Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua bảng số liệu tên ta thấy, tài sản cố định hữu hình của công ty đều tăng qua 3năm Cụ thể năm 2003 tài sản cố định hữu hình là 140,1 triệu (đ), tương đương một tỷtrọng là 3,22% trong tổng tài sản đến năm 2004 thì tài sản cố định hữu hình tăng lênmột lượng 850,4 triệu (đ), tương đương một tỷ lệ 606% chứng tỏ trong năm 2004công ty đầu tư chú trọng vào tài sản cố định hữu hình, vì trong giai đoạn này công tymới bước vào hoạt dộng độc lập chính vì thế cần phải đầu tư cho tài sản nhiều hơn.Đến năm 2005 thì tài sản cố định hữu hình của công ty lại tiếp tục tăng Nguyênnhân trong năm 2005 tuy phần nguyên giá của tài sản cố định hữu hình giảm đi mộtlượng 669,5 triệu (đ), tương đương 22,1% nhưng trong năm công ty đã trích khấu haogiảm đi một lượng 796 triệu (đ), tương đương 39,23% chính vì thế tổng tài sản cốđịnh hữu hình của công ty trong năm 2005 lại tiếp tục tăng lên một lượng 126,7 triệu(đ), tương đương 12,7%
Còn về tỷ trọng thì trong năm 2004 tài sản cố định hữu hình chiếm tỷ trọng caonhất trong tổng tài sản chiếm đến 52,7% trên tổng tài sản Nguyên nhân do nguyên giácủa tài sản cố định hữu hình trong năm 2005 chiếm một tỷ trọng rất cao 160% vớihkấu hao 108% Đến năm 2005 thì tài sản cố định hữu hình tuy tăng lên 12,7%, nhưngchỉ chiếm một tỷ trọng 27,87% Nguyên nhân là do trong năm 2005 thì tổng tài sảncủa công ty tăng lên và công ty đã trích khấu hao ít đi 39,2% chính vì thế làm cho tàisản cố định hữu hình của năm 2005 là cao nhất
Trong một công ty nếu ta chú trọng đến việc đầu tư cho tài sản cố định hữu hìnhnhiều thì đó cũng là vấn đề tốt vì cho thấy được khả năng đầu tư cho sản xuất trongtương lai, tuy nhiên ta cũng cần cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định đầu tư cho tài
Trang 18sản cố định hữu hình, vì nếu đầu tư cho tài sản nhiều mà không đem lại kết quả kinhdoanh cao hơn thì xem như việc đầu tư của công ty kém hiệu quả,
3.2 Phân tích nguồn vốn
Để thực hiện tốt chức năng kinh doanh và phục vụ các doanh nghiệp cần có tàisản lưu động và đầu tư ngắn hạn, tài sản cố định và đầu tư dài hạn Để hình thành hailoại tài sản trên phải có các nguồn vốn tài trợ tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn(nợ phải trả) và nguồn vốn dài hạn (nguồn vốn dài hạn bao gồm nợ trung hạn và vốnchủ sở hữu)
Vốn và nguồn vốn là hai mặt của một thể thống nhất, đó là lượng tài sản củacông ty Do đó ngoài việc phân tích tình hình phân bổ vốn, cần phân tích kết cấunguồn vốn Việc phân tích này giúp cho công ty nắm được khả năng tự tài trợ về mặttài chính, mức độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh và những khó khăn mà công ty gặpphải trong khai thác các nguồn vốn
Qua bảng số liêu trên ta thấy nợ phải trả của công ty có xu hướng giảm dần qua
3 năm Cụ thể năm 2003 nợ phải trả là 3.104 triệu (đ) chiếm một tỷ trọng 71,39%trong tổng nguồn vốn Sang năm 2004 thì nợ phải trả giảm xuống còn 1.619 triệu (đ)
Trang 19và chiếm một tỷ trọng rất cao 86,21% Nguyên nhân do trong năm 2004 tổng nguồnvốn của công ty giảm xuống Nhưng đến năm 2005 thì nợ phải trả của công ty giảmmạnh xuống chỉ còn 40 triệu (đ) và chiếm một tỷ trọng là 0,99% trong tổng nguồnvốn Và để thấy rỏ ràng hơn những nguyên nhân làm cho tình hình biến động của nợphải trả ta tiến hành phân tích từng khoản mục của chúng.
TỷTr(%)
Số tiền
TỷTr(%)
Sốtiền
TỷTr(%)
Số tiền Tỷ lệ
(%) Số tiền
Tỷ lệ(%)I.Nợ ngắn hạn 2.970 68,3 1.582 84,23 32,5 0,8 -1.388 -46,73 -1.549,5 -97,941.Phải trả
Nguồn: Bảng cân đối kế toán 2003-2005- Phòng kế toán
Qua bảng số liệu trên ta thấy: nợ ngắn hạn của công ty trong 3 năm qua luônbiến động và có xu hướng giảm qua 3 năm Cụ thể, năm 2003 nợ ngắn hạn của công
ty chiếm 68,3% trong tổng nguồn vốn, trong đó khoản mục phải trả cho các đơn vị nội
bộ khác chiếm một tỷ trọng rất cao 49,47% trong tổng nguồn vốn, tương đương một
Trang 20lượng 2.152,2 triệu (đ) và phải trả công nhân viên chiếm một tỷ trọng 11,42%, tươngđương một lượng 496,8 triệu (đ).
Sang năm 2004 thì nợ ngắn hạn giảm đi một lượng 1.388 triệu (đ), tương đương46,73% Nguyên nhân giảm do tất cả các khoản mục trong nợ ngắn hạn đều giảm đitrong đó đặt biệt là phải trả người bán giảm 96,42%, tương đương một lượng 227,3triệu (đ), phải trả công nhân viên giảm một lượng 491,1 triệu (đ), tương đương98,86% xét về mặt tỷ trọng thì nợ ngắn hạn trong năm 2004 lại chiếm tỷ trọng cao hơnnăm 2003 84,23% Nguyên nhân do trong năm 2004 nguồn vốn của công ty giảm56,8% Đến năm 2005 thì nợ ngắn hạn giảm mạnh một lượng 1.549,5 triệu (đ), tươngđương 97,94% và nó chiếm một tỷ trọng rất nhỏ 0,8% trong tổng nguồn vốn Nguyênnhân do trong năm công ty chỉ còn thiếu nợ người bán 5 triệu ( đ), tương đương0,13% tỷ trọng trong tổng nguồn vốn và phần các khoản phải trả phải nộp khác chiếm0,54%, tương đương một lượng 21,8 triệu (đ), vì chỉ có 2 khoản mục trong tổng nợngắn hạn nên tỷ trọng của chúng giảm mạnh
Nếu nhìn nhận một cách khách quan thì trong công ty nếu tỷ lệ nợ giảm qua cácnăm thì thể hiện công ty đó hoạt động có hiệu quả Tuy nhiên, nếu phân tích cụ thể ,nếu tỷ lệ này giảm thể hiện sự chiếm dụng vốn của công ty kém, vì thế xét về mặtkinh tế thì tỷ lệ nợ ngắn hạn giảm sẽ là không tốt, vì như thế nó sẽ làm giảm lượngtiền mặt hay là nguồn vốn của công ty
* Nợ khác
Là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh giá trị các khoản chi phí phải trả, tài sản thừa chờ
xử lý, các khoản nhận ký quỹ, ký cược dài hạn
SốTiền
TỷTr(%)
SốTiền
Tỷ Tr(%)
SốTiền
Tỷ Lệ(%)
SốTiền
Tỷ Lệ(%)III.Nợ