1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 12

Bai giang Lich su VN can dai

133 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 200,86 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

(Cã nhiÒu tµi liÖu sö dông mét trong hai mèc thêi gian nµy ®Ó ®¸nh dÊu sù ra ®êi cña Héi).. + ViÕt tµi liÖu ph©n tÝch ý nghÜa kinh tÕ chÝnh trÞ cña níc ta ®èi víi lîi Ých níc Ph¸p. Thùc [r]

Trang 1

đề cơng bài giảng:

Lịch sử Việt Nam cận đại

Việt Nam ở nửa sau thế kỷ XIX.

A Mục đích, yêu cầu:

Học phần này nhằm cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản vềquá trình xâm lợc Việt Nam củ a thực dân Pháp cùng với những cuộc đấutranh chống xâm lợc của nhân dân ta từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX Đồng thời,bớc đầu góp phần giúp sinh viên nhìn nhận và đánh giá khách quan, xác đáng

về vai trò và trách nhiệm của triều Nguyễn đối với lịch sử dân tộc trong thời

kỳ lịch sử này

B khái quát chung và Tài liệu tham khảo chính:

 Khái quát chung :

- Nửa sau thế kỷ XIX là thời điểm nớc ta chính thức bớc vào thời cận

đại, nhng không phải bằng một cuộc CMTS nh các nớc Anh, Pháp, Mỹ đẫ tiếnhành, cũng không phải bằng một cuộc duy tân đất nớc nh Nhật Bản, TháiLan để đa đất nớc tiến lên CNTB ; mà là bằng một cuộc chiến tranh chốngxâm lợc giữa một bên là nớc Việt Nam đang chìm đắm trong chế độ phongkiến chuyên chế trung ơng tập quyền với một bên là nớc Pháp đã tiến hànhthắng lợi CMTS, đang đi vào cuộc CMCN và đang cần mở rộng phạm vi ảnhhởng của CNTB ra khỏi biên giới quốc gia để thiết lập hệ thống thuộc địa vàthu lợi nhuận Khác với lịch sử cận đại của các nớc phơng Tây là quá trình xáclập và phát triển của CNTB, thời kỳ cận đại của nớc ta có nội dung chủ yếu làquá trình xâm lợc của thực dân Pháp đồng thời với cuộc kháng chiến chốngxâm lợc nhằm bảo vệ và giành độc lập dân tộc của nhân dân

- Thời gian: từ 1858 đến cuối thế kỷ XIX: mở đầu là sự kiện thực dânPháp nổ súng xâm lợc, kết thúc bằng sự thất bại của phong trào Cần Vơng vàcác phong trào vũ trang tự vệ chống Pháp của nhân dân ta dới ngọn cờ phongkiến Đây chính là thời gian thực dân Pháp hoàn thành quá trình xâm lợc vàbình định nớc ta về quân sự, bắt đầu thiết lập bộ máy cai trị để từng bớc hoànthành việc bình định xứ An Nam Vì vậy, nửa sau thế kỷ XIX là giai đoạn lịch

sử “đau thơng và oanh liệt” của dân tộc Việt Nam

- Một số nội dung khác: Đánh giá các nhân vật lịch sử (Phan ThanhGiản, Nguyễn Tri Phơng, Hoàng Diệu, Nguyễn Văn Tờng…), và trách nhiệmcủa Tự Đức cùng với triều đình Huế trong việc để mất độc lập dân tộc nửa sauthế kỷ XIX

 Tài liệu tham khảo chính:

1 Trần Văn Giàu (2001), Chống xâm lăng, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.

2 Trần Văn Giàu, Đinh Xuân Lâm, (1961 - 1962), Lịch sử cận đại Việt

Nam, Tập 1, 2, NXB Giáo dục.

3 Hoàng Văn Lân, Ngô Thị Chính (1979), Lịch sử Việt Nam (từ 1858 đến

cuối thế kỷ XIX), NXB Giáo dục.

4 Đinh Xuân Lâm (cb) (1998), Đại cơng lịch sử Việt Nam, Tập 2, NXB

Giáo dục

5 (1995), Những vấn đề về lịch sử và văn hóa triều Nguyễn, NXB Thành

phố Hồ Chí Minh

6.(2002), Kỷ yếu HTKHQG: Nghiên cứu và giảng dạy lịch sử thời Nguyễn

ở Đại học, cao đẳng s phạm và phổ thông, Hà Nội.

7 Nhiều tác giả, T tởng canh tân đất nớc dới triều Nguyễn, NXB Thuận

Hóa, 1999

8 Yoshiharu Tsuboi, (1992), Nớc Việt Nam đối diện với Pháp và Trung

Hoa 1847 - 1885, Hội sử học Việt Nam xuất bản

9 Nguyễn Khánh Toàn (cb), (1985), Lịch sử Việt Nam, Tập 2, NXBKHXH, Hà Nội

10 Trần Bá Đệ, (2001), Lịch sử Việt Nam từ 1858 đến nay, NXB ĐHQG,

Hà Nội

Trang 2

ơng 1 : nớc đại Nam trớc nguy cơ xâm lợc của

thực dân Pháp.

I Tình hình Việt Nam tr ớc khi Pháp xâm l ợc.

- Năm 1802, Nguyễn ánh lên ngôi, lấy hiệu là Gia Long, lập ra vơngtriều Nguyễn - triều đại cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Khi mớilên ngôi, Nguyễn ánh đứng trớc những khả năng và thuận lợi lớn để xây dựng

đất nớc: sau hơn 200 năm chia cắt Đàng Trong - Đàng Ngoài (XVI - XVIII),non sông nay đợc thống nhất về một mối, cơng vực quốc gia đợc mở rộng hơnbao giờ hết Đây là công lao to lớn nhất mà nhà Nguyễn đã đóng góp cho lịch

sử dân tộc Quá trình thống nhất đồng thời cũng là củng cố đất nớc đợc thựchiện qua 3 đời vua:

+ Quang Trung: là ngời đặt tiền đề cho sự nghiệp thống nhấtbằng việc chấm dứt tình trạng cát cứ, chia cắt sau hơn 200 năm Tuynhiên sau thắng lợi, sự rạn nứt bắt đầu xuất hiện trong nội bộ, dẫn tớivẫn tồn tại hiện tợng phân quyền dới Vơng triều Tây Sơn - 3 anh emtrấn giữ 3 vùng khác nhau

+ Gia Long: thừa hởng những thành quả của Quang Trung, tiếptục thống nhất đất nớc từ Bắc xuống Nam nhng mới chỉ ở trên đất liền,

đất nớc vẫn chia làm 2 miền: Gia Định thành và Bắc thành

+ Minh Mạng: là vị vua đã hoàn thiện sự nghiệp thống nhất đấtnớc không chỉ ở trên đất liền mà còn cả ngoài hải đảo: cho cắm móc vàxây các đồn cố thủ trên quần đảo Hoàng Sa và Trờng Sa để khẳng địnhchủ quyền; vơn tay đến vùng biên giới phên dậu của đất nớc khôngchấp nhận chế độ thổ quan nh trớc mà thay bằng chế độ lu quan (đaquan lại ở miền xuôi lên cai trị ở vùng dân tộc, miền núi) nhằm thiết lập

Trang 3

quyền thống trị của mình tại các tỉnh ngoại biên Đặc biệt sự nghiệpthống nhất đất nớc dới triều Minh Mạng còn gắn liền với việc tập trungquyền lực vào tay Hoàng đế thông qua cải cách hành chính năm 1831– 1832 (Có thể minh họa bằng sơ đồ bộ máy hành chính thời MinhMạng để làm nổi bật sự thâu tóm quyền lực tuyệt đối vào tay nhà vua) Ngoài ra, thời kỳ này các nớc phơng Tây đẩy mạnh các hoạt động buônbán trao đổi với phơng Đông nên nớc ta có cơ hội và điều kiện để giao lu, mởrộng quan hệ với các nớc bên ngoài Đây cũng chính là một nhân tố thuận lợicho nhà Nguyễn phát triển kinh tế, xây dựng đất nớc.

- Mặc dù vậy, ngay từ đầu, nhà Nguyễn đã không nhận đợc sự ủng hộnhiệt tình của nhân dân nh các triều đại mới lên trớc đây Do: khác với cáctriều đại trớc thờng đợc thiết lập dựa trên thành quả của những cuộc đấu tranhchống ngoại xâm, giải phóng dân tộc hoặc là cuộc nội chiến cung đình để thaythế một vơng triều đã thoái hóa, triều Nguyễn khởi nghiệp lại bắt đầu từ kếtquả của một cuộc nội chiến chống lại vơng triều Tây Sơn, dựa vào sự giúp sứccủa t bản nớc ngoài để tranh ngôi đoạt vị Mặt khác, sau khi lên ngôi, Nguyễn

ánh đã cùng với những vị vua kế tiếp đã tiến hành trả thủ Tây Sơn rất dã man,gây tâm lý bất bình, thậm chí cả chống đối trong nhân dân

Năm 1847: Tự Đức lên ngôi đối diện với nguy cơ xâm lợc của t bản

Pháp Trớc khi thực dân Pháp xâm lợc, nớc Việt Nam, trực tiếp là dới thời vua

Tự Đức, ở trong tình trạng ra sao?

1 Chính trị - xã hội: Rối loạn và bất ổn.

- Bộ máy cai trị: Triều Nguyễn ngay từ khi thành lập đã là một nhà nớc

quân chủ chuyên chế tập trung cao độ Đến thời Tự Đức, vua thâu tóm mọiquyền lực tuyệt đối và vô hạn, sử dụng phần lớn tài lực của đất nớc vào việcxây dựng lăng tẩm, cung điện một cách lãng phí Bộ máy quan lại thamnhũng, bất tài, không có hiệu quả làm việc, thờng xuyên sử dụng thuế má đểhạch sách nhân dân Chính Tự Đức cũng đã phải thừa nhận: “quan vui thì dânkhổ, ích trên thì tổn dới, tính tệ không kể xiết” Năm 1855, Tự Đức nhận đợcbáo cáo: “bọn tổng lý, hơng hào nhà nào cũng giàu có, nuôi tôi tớ từ 100, ít thìcũng khoảng 60 - 70 ngời, rồi chiêu tập côn đồ, chứa ngầm vũ khí" Bộ máyvua quan dới triều Tự Đức vẫn chìm trong t tởng bảo thủ, trọng xa hơn nay,trói buộc nhân dân vào đủ thứ thuế má, xích xiềng khiến cho khoảng cáchgiữa triều đình và vua quan với nhân dân ngày càng rộng, hố sâu ngăn cáchcàng lớn thì sự thống nhất trong nớc càng yếu dần

- Chính sách đối nội và đối ngoại: ở trong nớc, Tự Đức tiếp tục đàn ápcác cuộc khởi nghĩa của nhân dân khiến cho không chỉ lực lợng quân dội củatriều đình suy yếu mà còn làm khơi sâu mâu thuẫn xã hội Triều đình càngtăng cờng đàn áp các cuộc đấu tranh của nhân dân thì càng khiến tình hìnhtrong nớc rơi vào cảnh rối loạn, bất ổn Chính sách đối ngoại của triều đình Tự

Đức rất sai lầm và thiển cận: đối với các nớc láng giềng thì tiếp tục tiến hànhxâm lợc (năm 1827 bắt Lào thần phục vua Nguyễn, năm 1835 biến Cao Miênthành một tỉnh ở phía Nam, ), đối với các nớc phơng Tây thì tuyệt đối đóngcửa, không giao thiệp với bên ngoài Bằng chính sách đối nội, Tự Đức đã làmtăng mâu thuẫn từ bên trong, còn chính sách đối ngoại lại làm nảy sinh mâuthuẫn với các nớc bên ngoài, tự cô lập đất nớc mình, đặt mình ra ngoài xu thếphát triển của thế giới, gây nên những bất lợi lớn cho vấn đề bảo vệ và pháttriển đất nớc

- Xã hội: Vơng triều Nguyễn là vơng triều thờng xuyên xảy ra các xung

đột, các mâu thuẫn xã hội, đặc biệt là mâu thuãn giai cấp gay gắt dẫn tới sựbùng nổ ngày càng nhiều các cuộc khởi nghĩa của nông dân (có gần 500cuộc) Tự Đức mới lên ngôi nhng đã có hơn 40 cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ củanông dân chống lại triều đình phong kiến, trong đó có cuộc khởi nghĩa “chàyvôi” phản ứng việc xây dựng lăng tẩm tốn kém của nhà vua, khiến cho Tự Đức

và quan quân phải hết sức chật vật để đối phó

2 Kinh tế:

Trang 4

- Nông nghiệp: Cũng nh các triều đại phong kiến khác, nông nghiệp dới

thời Nguyễn vẫn là nguồn sống chính của nông dân và là ngành kinh tế chủ

đạo của triều đình Trên thực tế, các vua Nguyễn đã cố gắng quan tâm đếnnông nghiệp, nhất là tình hình sản xuất, mở rộng diện tích canh tác, củng cố,xây dựng các công trình thủy lợi

Dới thời Tự Đức, tình hình nông nghiệp vẫn ở trong tình trạng lạc hậu

và chậm phát triển Ruộng đất t ngày càng chiếm u thế do sự thắng thế củagiai cấp địa chủ, xâm phạm nghiêm trọng đến bộ phận ruộng đất công (Theothống kê của Nguyễn Công Tiệp, ở nửa đầu thế kỷ XIX, ruộng t chiếm82,92%; ruộng công chỉ chiếm 17,08% tổng số diện tích canh tác của cả nớc -

sách Sĩ hoạn tu tri lục) Nạn bao chiếm ruộng đất của quan lại, cờng hào hết

sức trắng trợn khiến cho dân nghèo không có đất canh tác ngày càng nhiều.Nông dân đi xiêu tán khắp nơi trở thành hiện tợng xã hội phổ biến dới thờiNguyễn Ngoài ra, nạn giặc giã, thiên tai (nhất là hiện tợng vỡ đê Văn Giang,Hng Yên trong 18 năm liền ), mất mùa liên miên khiến cho đời sống nhândân vô cùng tăm tối, cơ cực Để xoa dịu tình hình, nhà Nguyễn nói chung vàvua Tự Đức đã phải tiến hành một số biện pháp có ý nghĩa tích cực, nhất làchính sách khẩn hoang, phục hóa do Nguyễn Công Trứ và Nguyễn Tri Phơngthực hiện đã lập ra những huyện mới, góp phần giải quyết những khó khăncho nhân dân Tuy nhiên, do không triệt để và không quyết tâm nên hiệu quảthu lại không lớn nh mong đợi của toàn dân, sau khai hoang, ruộng đất lại rơivào tay của địa chủ Tình hình sản xuất nông nghiệp và đời sống nông dân dớitriều Tự Đức vẫn không đợc cải thiện hơn trớc Đến lúc này, Tự Đức và quanlại phải đứng trớc hàng loạt những vấn đề cấp thiết về nông nghiệp, yêu cầucần phải giải quyết

- Thủ công nghiệp: Nhà nớc nắm độc quyền các ngành sản xuất nh đúc

tiền, đóng thuyền, đúc vũ khí Đồng thời, tiếp tục duy trì chế độ công tợng đểquản lý chặt chẽ và gắt gao các hoạt động sản xuất thủ công nghiệp trong dângian gây nên sự kìm hãm đối với ngành kinh tế này, hạn chế sự phát triển tay

- Thơng nghiệp: Về nội thơng, nhà nớc nắm độc quyền buôn bán các

mặt hàng nh kim loại (đề phòng nhân dân tích trữ kim loại để làm vũ khíchống triều đình), lâm sản quý và đánh thuế cao đối với các mặt hàng thiếtyếu của nhân dân nh lúa gạo, muối để hạn chế sự trao đổi buôn bán giữa các

địa phơng Về ngoại thơng, triều đình duy trì hạn chế các hoạt động buôn bánvới thơng nhân Trung Quốc, còn đối với thơng nhân đến từ phơng Tây thì kiênquyết đóng cửa Dới thời Gia Long và Minh Mạng, nhà nớc đã cho phép thơngnhân trong nớc đợc đóng thuyền đi buôn bán và học tập ở Xingapo, Malaixia

khiến cho số lợng thơng nhân nớc ngoài đến Việt Nam khá đông nhngthời Tự Đức do sợ sự can thiệp của phơng Tây nên cho thi hành chính sách

đóng cửa, bế quan tỏa cảng khiến cho ngoại thơng không có điều kiện pháttriển Trớc đây, sở thu thuế cửa quan có đến 60 sở thì năm 1852 chỉ còn 21 sở(Thống kê của Cao Xuân Huy) Thơng nghiệp không có điều kiện phát triểnnên một số đô thị trớc đây vốn sầm uất nh Thăng Long, Phố Hiến, Hội An naytàn lụi dần

Tóm lại, trớc khi thực dân Pháp xâm lợc, nhất là dới triều vua Tự Đức,

tiềm lực kinh tế tài chính của nớc ta rất yếu ớt, suy thoái nghiêm trọng

3 Quân đội:

Trớc khi quyền thống trị của nhà Nguyễn đợc thiết lập, quân đội đãhình thành để làm nhiệm vụ chống lại Tây Sơn Từ 1802, quân số chính quy

Trang 5

của triều đình Huế khá đông, đợc trang bị vũ khí lớn và đợc tổ chức thành 4

bộ phận: tợng binh, bộ binh, pháo binh, thủy binh Hầu hết binh lực đều đợc

bố phòng tại các thành ở kinh đô và các tỉnh, huyện nên nhìn chung khá mạnh

so với các nớc trong khu vực lúc bấy giờ Tuy nhiên, do quân lính không ờng xuyên đợc luyện tập, trang bị lại rất thô sơ và lạc hậu, khoảng 50 ngờimới có 1 khẩu súng điểu thơng để chiến đấu, cách bảo quản vũ khí lại khôngkhoa học nên hiệu quả chiến đấu của quân đội nhà Nguyễn không cao, nhất làtrớc một kẻ thù luôn có u thế hơn về phơng tiện và kỹ thuật nh thực dân Phápthì sự lúng túng trong việc đối phó là điều đã đợc báo trớc

th-4 Văn hóa : Đây là lĩnh vực mà nhà Nguyễn rất “đợc mùa”, đạt đợc

một số thành tựu nổi trội hơn so với thời kỳ trớc, nhất là về kiến trúc nghệthuật do chịu ảnh hởng của phơng Tây nên xuất hiện kiểu kiến trúc “vô băng”khá độc đáo trong các công trình lăng tẩm, cung điện Thời kỳ này đã xuấthiện những nhân vật nổi tiếng trong văn học nh Cao Bá Quát, Nguyễn VănSiêu, trong sử học nh Phan Huy Chú, Trịnh Hoài Đức, Lê Quý Đôn… Tuynhiên, do sự xâm nhập của Thiên Chúa Giáo cùng với sự xúi giục, kích độngcủa các giáo sĩ và lực lợng phản động nên trong nửa đầu thế kỷ XIX ở nớc ta

đã nảy sinh vấn đề xung đột lơng - giáo gây nên những cuộc nổi loạn chốngtriều đình của giáo dân ở một số địa phơng

Kết luận:

+ Trớc khi thực dân Pháp xâm lợc, nhất là thời Tự Đức, nớc ta tuy đạt

đ-ợc một số thành tựu, trong đó có những thành tựu nổi trội hơn so với các triều

đại trớc nhng nhìn chung đất nớc vẫn ở trong tình trạng lạc hậu, kiệt quệ vàmất ổn định Những gì các vua Nguyễn làm đợc chỉ có tính cách bộ phận, rờirạc, còn nhìn trên phạm vi tổng thể với những yêu cầu đặt ra cho những vị cầmquyền lúc bấy giờ thì những thành tựu ấy không có tác dụng khai thông con đ-ờng phát triển đang bế tắc của đất nớc

+ Trong bối cảnh kinh tế kiệt quệ, tài chính suy vi, quân đội lạc hậu,mâu thuẫn giai cấp bùng phát dữ dội thành các phong trào nông dân rộng khắpkhiến cho sức đề kháng của đất nớc trở nên yếu ớt thì thực dân Pháp nổ súngxâm lợc nớc ta Thực trạng đất nớc khủng hoảng, suy yếu đới thời Tự Đức làmột bất lợi lớn cho vị thế của Việt Nam trong các mối quan hệ với bên ngoài,

từ đó đã vô tình tạo cơ hội để các nớc t bản phơng Tây, trong đó có t bản Pháp

- vốn là kẻ đang lăm le và nuôi ý định bành trớng từ lâu khẩn trơng hơn, quyếttâm hơn trong vấn đề xúc tiến xâm lợc nớc ta ở nửa sau thế kỷ XIX

II Quá trình thăm dò, chuẩn bị xâm l ợc Việt Nam của thực dân Pháp

- Không phải đợi đến khi tiến hành xong CMTS các nớc phơng Tây mới

đặt ra vấn đề xâm lợc thuộc địa, mà ngay sau các phát kiến địa lý (XV -XVI)

đã có nhiều nớc thực dân thực hiện âm mu bành trớng của mình đến nhữngvùng đất mới Đi tiên phong và sớm trở thành 2 nớc có nhiều thuộc địa trênthế giới lúc bấy giờ là thực dân phong kiến Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha Ngoàichâu Mĩ latinh và châu Phi, các nớc Tây Âu còn giơng cao khẩu hiệu “hãy đi

về hớng Đông”- nơi đó đang có nhiều mảnh đất màu mỡ nhng vẫn cha thuộcquyền làm chủ của một nớc phơng Tây nào

Sau khi chiếm đợc đảo Goa (1510), bán đảo Malacca (1511, gồm TháiLan, Malaixia), Bồ Đào Nha tiến hành nhòm ngó Trung Quốc và các nớc

Đông Nam á, trong đó có Việt Nam Hội An là điểm dừng chân của ngời Bồ.Sang thế kỷ XVI, Hà Lan do đã tiến hành CMTS nên có điều kiện hơn và đã v-

ợt Bồ Đào Nha, đặt thơng điếm tại Hội An, Phố Hiến Thơng nhân Hà Lan lợidụng tình trạng chia cắt và mâu thuẫn Trịnh - Nguyễn để can thiệp quân sự(giúp chúa Nguyễn), thực hiện ý đồ xâm lợc Việt Nam nhng không thành.Tiếp đó, nớc Anh sau CMTS cũng nhanh chóng tiến đến Viễn Đông Tại ViệtNam, Anh đã chiếm đảo Côn Lôn, bắt lính Malaixia sang chiếm giữ nhng đếnnăm 1703 thì bị mất đảo vào tay quan trấn thủ Biên Hòa

Trang 6

Nh vậy, trớc Pháp đã có các nớc thực dân phơng Tây nhòm ngó và nuôi

ý định xâm lợc để biến Việt Nam thành thuộc địa nhng không thành công Tại sao? Có thể: do các nớc này trong quá trình thăm dò đã cha thiết lập đợc cơ sở

vững chắc ở Việt Nam nh Pháp sau này; hơn nữa vào thế kỷ XVII trớc mộtvùng rộng lớn với nhiều miếng mồi ngon nh ấn Độ, Nhật Bản, Trung Quốc thì

Đông Dơng cha phải đã là một mục tiêu hấp dẫn các nớc phơng Tây Sau cáccuộc CMTS với những đòi hỏi cấp thiết về thị trờng, nguyên liệu, tham vọngbành trớng, xâm chiếm thuộc địa mới trở nên nóng bỏng và gấp gáp đối vớithực dân phơng Tây

- Tiếp theo Anh, Hà Lan, Pháp là nớc thực dân t bản từ phơng Tây đếnViệt Nam cũng với âm mu xâm lợc thuộc địa

ý đồ, âm mu xâm lợc Việt Nam của thực dân Pháp bắt đầu xuất hiện từ khi nào, trớc hay sau CMTS Pháp 1789?

Âm mu xâm lợc Việt Nam của thực dân Pháp là âm mu có từ khá sớm,lâu dài, liên tục và ngày càng trắng trợn Trớc khi nổ súng xâm lợc, thực dânPháp đã có một quá trình thăm dò, chuẩn bị kỹ lỡng từ thế kỷ XVII đến giữathế kỷ XIX Để hoàn thành công cuộc xâm lợc Việt Nam, thực dân Pháp đã sửdụng 3 yếu tố: giáo sĩ, lái buôn và tàu chiến, đại bác

Quá trình chuẩn bị của thực dân Pháp trải qua 3 thời điểm chính:

a Trớc khi Tây Sơn khởi nghĩa (1771), mu đồ xâm lợc đã bắt đầu xuất hiện nhng nấp sau bóng các giáo sĩ truyền đạo và lái buôn.

+ Năm 1624: Alếchxanđrôt đến Việt Nam truyền đạo

Alexandre de Rhodes (1591 - 1660) là một giáo sĩ ngời Pháp

nh-ng đã thề trunh-ng thành với vua Tây Ban Nha, tình nh-nguyện đến truyền

đạo ở châu á Đây là ngời Pháp đầu tiên giới thiệu về tình hình Việt Nam một cách có hệ thống, tỉ mỉ bằng một thái độ say sa và thích thú Sau 6 tháng đến Việt Nam ông đã nói thành thạo tiếng bản địa và dùng

ký tự latinh để phiên âm tiếng nói của ngời Việt, trở thành ngời sáng tạo ra chữ Quốc ngữ ở Việt Nam Khi về châu Âu, Alexandre de Rhodes kêu gọi Giáo hoàng La Mã và các giám mục thành lập các cơ quan truyền giáo ở Viễn Đông để đào tạo đội ngũ linh mục ở các nớc này.

+ Năm 1658: Hội truyền giáo hải ngoại của Pháp đợc thành lập ở

Pari nhng đến năm 1664 mới chính thức đi vào hoạt động (Có nhiều tài

liệu sử dụng một trong hai mốc thời gian này để đánh dấu sự ra đời của Hội) Nhiệm vụ của Hội là đẩy mạnh hoạt động truyền giáo ở Đông

Nam á, Nhật Bản, Triều Tiên, Trung Quốc đồng thời đào tạo giámmục để tạo ra cơ sở lâu dài

Hội truyền giáo hải ngoại của Pháp ngay từ đầu đã rất chú ý đến ViệtNam, do: giáo sĩ Pháp nhập cuộc sau Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Anh nên đếnlúc này chỉ còn Đông Dơng vẫn đang là “vùng đất trống”; thái độ của ChúaNguyễn ở Đàng Trong có phần cởi mở với các giáo sĩ hơn Chúa Trịnh; truyềnthống chung sống hòa bình dẫn tới “tam giáo đồng nguyên” của nhân dân ViệtNam khiến Thiên Chúa Giáo dễ du nhập

+ Năm 1664: Thủ tớng Côn be thành lập Công ty Đông ấn Đây là mộtcông ty vừa có mục đích thơng mại vừa có mục đích truyền giáo, những thơng

điếm của công ty đồng thời là những cơ sở truyền đạo, nhiều giáo sĩ đợc lậpthơng điếm buôn bán trên đất liền Ngời Pháp đã dùng thơng nhân, lái buôn đểthâm nhập sâu vào nớc ta bằng con đờng thơng mại

Nh vậy, liệu ý đồ xâm lợc đã đợc các giáo sĩ và thơng nhân mang theo khi sang Việt Nam truyền đạo và buôn bán không, hay phải đợi đến khi có cơ hội thì mục đích truyền đạo, buôn bán mới gắn liền với ý đồ xâm lợc?

Giáo sĩ và lái buôn có vai trò nh thế nào đối với quá trình xâm lợc của thực dân Pháp?

Những công việc mà lực lợng này đã tiến hành ở Việt Nam:

+ Vẽ bản đồ địa hình Việt Nam

+ Cung cấp thông tin về Việt Nam cho Pháp ở chính quốc

Trang 7

+ Viết tài liệu phân tích ý nghĩa kinh tế chính trị của nớc ta đối với lợiích nớc Pháp Alexandre de Rhodes sau 25 năm ở nớc ta, về cuối đời đãkhẳng định: “đây là một vị trí cần phải chiếm lấy, và chiếm đợc vị trínày thì thơng gia châu Âu sẽ tìm đợc một nguồn lợi nhuận và tàinguyên dồi dào.”

+ Thời gian sau: tham gia các cuộc khởi nghĩa nổi dậy chống triều điình

để gây rối loạn, tiêu biểu là Khởi nghĩa Lê Văn Khôi

Rõ ràng, những hành động của giáo sĩ và lái buôn ban đầu không mang

ý đồ xâm lợc nhng bằng những việc làm cụ thể nhằm phục vụ truyền đạo vàbuôn bán, dần dần họ trở thành công cụ và bị bọn t bản thực dân biến thànhcông cụ đắc lực và ngày càng có hiệu quả trong việc giúp chúng thực hiện đợcmục tiêu xâm lợc Việt Nam Đến lúc này, giáo sĩ và lái buôn đóng vai trò lànhững “tiêm quân”, là ngời dẫn đờng, hớng đạo các vị trí cần phải chiếm lĩnh,trớc hết là để mở rộng phạm vi ảnh hởng của Thiên Chúa giáo, sau đó là đểbành trớng thế lực bằng việc xâm lợc thuộc địa Tiếng là để truyền đạo, để trao

đổi thơng mại nhng thông qua các hoạt động cụ thể, lực lơng này đã tiến hành

dò la, xem xét tình hình, nắm giữ các thông tin cơ mật của Việt Nam, từ đókích thích và làm tăng quyết tâm xâm lợc của t bản thực dân ở chính quốc.Giáo sĩ và lái buôn là những lá bài để bọn thực dân thực hiện đợc ý định củamình, chứng tỏ sự phối hợp ăn ý và nhuần nhuyễn giữa những kẻ đi mở đờng

và những kẻ trực tiếp nổ súng sau này

- Do trong thế kỷ XVII, thực dân Pháp cha bám sâu đợc vào Việt Namnên chúng hớng đến mục tiêu là Xiêm - nơi mà Pháp đã có cơ sở từ các giáo sĩ

và thơng nhân Thực dân Pháp đã ép buộc vua Xiêm phải cho chúng đóngquân ở Băng cốc và phụ cận, chúng còn thông đồng với một số quan lại trongtriều đình Xiêm, âm mu lật đổ vua Xiêm nhằm áp đặt quyền thống trị trêntoàn lu vực sông Mênam, từ đó sẽ thực hiện chiến thuật vết dầu loang bành tr-ớng sang Cao Miên, Việt Nam, Miến Điện, từng bớc xâm nhập Trung Quốc.Tuy nhiên kế hoạch bị bại lộ, năm 1688 Pháp bị đuổi khỏi Xiêm nhng vẫn tiếptục nuôi ý đồ thông qua tầng lớp thơng nhân

- Đến giữa thế kỷ XVIII, ở Pháp có nhiều phơng án đa ra đề nghị chiếmmột số cảng miền Trung và Đàng Ngoài nhng vẫn không thực hiện đợc docuộc chiến tranh giành thuộc địa Anh - Pháp đã nổ ra và kéo dài 7 năm (1756-1763) Pháp thất bại, phải chấp nhận nhờng hết các thuộc địa béo bở cho Anh

nh Canađa, Bắc Mỹ, ấn Độ, Xiêm Lúc này, ở Đông Nam á, chỉ còn bán đảo

Đông Dơng là nơi mà thực dân Anh cha có điều kiện để vơn tới Điều đó càngkhiến cho Pháp thấy cần phải gấp rút hành động để không bị mất Việt Namvào tay Anh

b Nguyễn ánh cầu viện, thực dân Pháp có cớ can thiệp vào Việt Nam.

- Từ 1776 - 1782, Nguyễn ánh bị Tây Sơn đánh bật ra khỏi Gia Địnhnhiều lần Trong cuộc nội chiến này, các nớc phơng Tây đều cho ngời đếnthăm dò tình hình và đều muốn giúp Nguyễn ánh chống Tây Sơn, nhân đó lấy

cớ can thiệp vào nớc ta Nguyễn ánh dã cầu viện Xiêm nhng thất bại, lại nhờgiáo sĩ sang Manila cầu cứu thực dân Tây Ban Nha nhng không thành Thựcdân Pháp nắm đợc cơ hội này, không muốn để Việt Nam rơi vào tay nớc khácnên đã dùng Giám mục Bá Đa Lộc (G Pigneau de Béhaine) làm chiếc cầu nốigiữa Nguyễn ánh và vua Pháp (Lui XVI)

Pigneau de Béhaine (các tên goi: Bá Đa Lộc, Cha Cả, Giám mục Adran): là một giáo sĩ lúc bấy giờ đang đứng đầu Hội truyền giáo hải ngoại, phụ trách truyền giáo ở Hòn Đất - Kiên Giang Đây là một nhà

tu hành đầy tham vọng, sớm đọc kinh thánh, tra chiều nghiên cứu lịch

sử chinh chiến và xâm lăng của Xêza (La Mã), nuôi mộng lập nên một

đế quốc thực dân rộng lớn ở Đông Nam á cho nớc Pháp: tay trái lẫn chuỗi, tay phải mài gơm

Khi Tây Sơn vào đánh Gia Định, Bá Đa Lộc đã cùng với Nguyễn ánhchống lại nhng thất bại Sau đó (1784), Nguyễn ánh đồng ý để Bá Đa Lộc đacon trai là Hoàng tử Cảnh về Pháp làm con tin để thơng lợng với vua Pháp về

Trang 8

vấn đề cầu viện Bá Đa Lộc về Pháp với t cách là đại diện của Nguyễn ánhthỏa thuận với Vua Lui XVI các điều khoản của một hiệp ớc viện trợ.

Ngày 28.11.1787, Hiệp ớc Versailles (Véc - xai) đợc ký kết giữa Bá ĐaLộc và Môngmôranh (Montmorin) gồm 10 điều khoản với các nội dung chínhsau:

 Pháp đồng ý giúp Nguyễn ánh tàu chiến, súng đạn, quân lính

để đánh Tây Sơn (4 tàu, hơn 1600 quân)

 Nguyễn ánh đồng ý nhờng cho Pháp quyền sở hữu cảng Hội

An và đảo Côn Lôn

 Pháp đợc tự do và độc quyền hoàn toàn về thơng mại

Đây là hiệp ớc đã xâm phạm nghiêm trọng đến độc lập và chủ quyềncủa nớc ta Trong tình thế quẫn bách, Nguyễn ánh đã “rớc voi về giày mả tổ”,tạo nên nguyên cớ thuận lợi nhất để thực dân Pháp có thể biến ý đồ thành sựthực là xâm lợc Việt Nam Liên minh Nguyễn ánh - Bá Đa Lộc mở đầu cho

sự cấu kết ngày một chặt chẽ giữa thực dân và bọn phong kiến phản độngtrong việc cùng thống trị, nô dịch nhân dân Việt Nam về sau

- Con đờng xâm nhập và tiến sâu vào lãnh thổ Việt Nam tởng nh đã đợckhai thông hợp pháp và mở rộng Thế nhng, quân Pháp lúc này đã gặp phảimột sự cản trở rất lớn từ chính trong lòng nớc Pháp CMTS 1789 bùng nổ, nớcPháp quân chủ của Vua Lui XVI phải hết sức khó khăn và dốc toàn lực để đốiphó với nớc Pháp cách mạng, nhng cuối cùng cũng bị lật đổ Liền sau đó làcuộc chiến tranh chinh phạt châu Âu (1792 - 1815) của Napoleon I đã vô tìnhlàm cản trở việc thực hiện kế hoạch xâm lợc Việt Nam của thực dân Pháp doHiệp ớc 1787 không đợc thực hiện đầy đủ Thực dân Pháp phải tạm hoãn ý đồcan thiệp và từng bớc chiếm giữ Việt Nam làm thuộc địa Sau khi ổn định đợctình hình trong nớc, thực dân Pháp lại tiếp tục bằng mọi thủ đoạn nhằm tạo ranhững duyên cớ mới để có thể thực hiện đợc tham vọng đã từng nung nấu hơn

- Đầu thế kỷ XIX, dới Vơng triều Nguyễn, Pháp đã có một cơ sở khávững vàng ở nớc ta:

+ Giáo sĩ hoạt động ngày càng ráo riết, số lợng tín đồ tăng nhanh,nhiều trờng truyền giáo đợc mở rộng Một số giáo sĩ đã xúi giục, kích

động khơi sâu mâu thuẫn lơng giáo, gây rối loạn tình hình nớc ta bằngcác cuộc khởi nghiã của giáo dân

+ Trong ttriều Gia Long, có 2 quan cận thần ngời Pháp làChaigneau (Sê - nô) và Vainier (Vai - nhê) thờng xuyên đại diện chovua Nguyễn giao thiệp với nớc Pháp để báo cáo tình hình, thậm chí canthiệp trực tiếp vào công việc triều chính, nhất là việc phản đối Gia Longnhờng ngôi cho Hoàng tử Đảm, yêu cầu phải cho Hoàng tử Cảnh lênngôi để dễ bề thao túng

+ Thơng nhân hoạt động buôn bán ngày một đông và tự do, âmthầm mu toan đảo chính nh ở Xiêm

Năm 1817, Vua Lui XVIII cử ngời sang gặp Gia Long để thơng thuyếttrên cơ sở Hiệp ớc 1787 Trớc sự can thiệp công khai và trắng trợn vào triềuchính của ngời Pháp khiến Gia Long nghi ngại và không tiếp sứ Pháp

Năm 1820, Minh Mạng lên ngôi kiên quyết thực hiện chính sách cấm

đạo, giết đạo và đóng cửa đối với thơng nhân ngời Pháp

- Thêm vào đó, lúc bấy giờ nớc Anh đang tiến nhanh trong cuộcCMCN, áp dụng những thành tựu khoa học vào quân sự, trở thành cờng quốchải quân làm chủ mặt biển châu Âu và đang lăm le quay lại Viễn Đông Anh

đã sẵn sàng cho cuộc tấn công vào Trung Quốc Để không rơi vào mâu thuẫn

Trang 9

truyền kiếp với thực dân Anh trong vấn đề tranh giành thuộc địa, lợi dụng cớvua Nguyễn cấm đạo và đóng cửa, thực dân Pháp khẩn trơng chuẩn bị xâm lợcViệt Nam vào cuối những năm 30 của thế kỷ XIX.

Từ 1825 đến 1845, thực dân Pháp liên tiếp cho tàu chiến khiêu khích vàthị uy tại các cửa biển miền Trung, đòi tự do truyền đạo và buôn bán

Ngày 15 4 1847, tàu chiến Pháp dùng đại bác bắn phá chiến thuyềncủa triều đình tại Đà Nẵng Cùng lúc đó, trong nội địa, giáo sĩ cỡng chế một

số giáo dân làm tay sai, ráo riết dò la tin tức cấp báo cho tàu chiến ở trên biển

Tháng 11 1847, Tự Đức lên ngôi, đối diện trực tiếp với nguy cơ xam

l-ợc của thực dân Pháp ngày một đến gần

- Giữa lúc đó, cách mạng 1848 - 1849 bùng nổ ở Pháp và lan khắp châu

Âu, kế hoạch tấn công Việt Nam phải tạm thời hoãn lại, một lần nữa thực dânPháp cha thực hiện đợc ý đồ Năm 1852 Napoleon III lên ngôi, xác lập nền Đếchế II với phơng châm “đế chế là chiến tranh” Napoleon III thực hiện liêntiếp các cuộc chiến tranh xâm lợc để tái lập và tiếp tục mở rộng thuộc địa.(1854 - 1856: chiến tranh Crm với Nga; 1859: chiến tranh với áo ) Tại châu

á, Anh - Pháp gây chiến tranh Nha phiến với Trung Quốc, tháng 6 1858 buộcnhà Thanh ký điều ớc Thiên Tân, các nớc t bản chia nhau quyền lợi ở TrungQuốc, Pháp có điều kiện, rảnh tay để bắt đầu bớc vào cuộc chiến tranh xâm l-

ợc Việt Nam

Tóm lại:

+ Âm mu xâm lợc Việt Nam của thực dân Pháp xuất hiện sớm, trắngtrợn và công khai nhng phải kéo dài do bị chi phối và tác động bởi tình hìnhchính trị trong và ngoài nớc Pháp

+ Quá trình thăm dò, chuẩn bị xâm lợc của thực dân Pháp còn diễn ra

đồng thời với quá trình chúng phải từng bớc khống chế và loại dần sự dòmngó, can thiệp của các nớc t bản thực dân khác, tiến đến độc quyền chiếm trọnlãnh thổ Việt Nam

Nh vậy: Với tham vọng mở rộng quyền thống trị ra khỏi biên giới quốc

gia ngày càng lớn, bằng một quá trình dòm ngó, chuẩn bị lâu dài từ thế kỷXVII của thực dân Pháp thì việc Việt Nam bị xâm lợc là điều khó tránh khỏi.Vấn đề ở đây là sự ứng phó của triều đình Huế nh thế nào trớc nguy cơ bị xâmlợc đang đến gần? Các vua Nguyễn đầu thế kỷ XIX, trực tiếp là vua Tự Đứckhông phải là không nhìn thấy nguy cơ đó Lịch sử đặt ra cho những ngời cótrách nhiệm với đất nớc lúc bấy giờ một sự lựa chọn: hoặc là chấp nhận mởrộng quan hệ với các nớc bên ngoài đồng thời tiến hành ổn định tình hìnhtrong nớc, học tập phơng Tây thực hiện canh tân làm cho đất nớc phú cờng đủsức đơng đầu với kẻ xâm lợc; hoặc là đóng cửa, khớc từ mọi yêu cầu duy tân

đất nớc để cuối cùng Việt Nam trở thành thuộc địa của thực dân Pháp Thực tếcho thấy, tình hình khủng hoảng trầm trọng của nớc ta trớc khi Pháp xâm lợc,nhất là thời Tự Đức đã tạo thêm cơ hội thuận lợi và kích thích thực dân Phápkhẩn trơng tiến hành xâm lợc

Trang 10

Ch ơng 2:

Thực dân Pháp phát động chiến tranh xâm lợc đại Nam.

Nhân dân Nam Kỳ đấu tranh chống Pháp.

Giữa thế kỷ XIX, nền Đế chế II đợc thành lập, ngnoài những nhu cầu

về thị trờng, nguyên liệu, nhân công phục vụ cho sự phát triển của CNTB, thựcdân Pháp còn đặt ra yêu cầu phải tạo ra những thắng lợi về quân sự để tăngthêm uy tín cho đế chế Chiến tranh lúc này trở thành giải pháp và là “chiếcbục gỗ để kê ngai vàng đế chế” Tham vọng về thơng mại và chính trị - quân

sự “trở thành chiếc roi quất vào mông con ngựa thực dân trong thời đế chế,khiến chúng chạy nhanh hơn, khẩn trơng hơn trong các cuộc xâm lợc thuộc

địa Việc tấn công Việt Nam vào giữa thế kỷ XIX đối với Pháp “là tiếp tụctruyền thống cũ” của một chủ trơng từ lâu đã nằm trong “quốc sách” màchúng đã theo đuổi từ hơn 2 thế kỷ Đến lúc này không có lý do gì để thực dânPháp phải trì hoãn kế hoạch xâm lợc của mình

I Thực dân Pháp đánh chiếm Đà Nẵng - Gia Định.

1. Mặt trận Đà Nẵng.

(Sử dụng bản đồ chiến sự Đà Nẵng để minh hoạ)

- Tháng 10 1856 thực dân Pháp cho chiến hạm Catina khiêu khích ở ĐàNẵng, chúng đa quốc th nhng Tự Đức không nhận, quân Pháp cho rằng triều

đình Huế đã “làm nhục quốc kỳ Pháp”

- Tháng 1 1857, Napoleon III cử phái bộ Môn-ti-nhi sang thơng thuyếtvới Tự Đức về Hiệp ớc 1787 và yêu cầu đợc tự do truyền đạo nhng thực chấtnhằm đánh lừa d luận Pháp rằng chính phủ Pháp đã cố gắng và có thiện chí th-

ơng lợng nhng vì triều đình Huế khớc từ nên phải tiến hành nổ súng đánh ĐàNẵng để cứu các con chiên của Chúa Đây là một sự dọn đờng cho những hoạt

động quân sự về sau

Ngày 27 6 1858: Pháp Anh Tây Ban Nha buộc nhà Thanh ký điều

-ớc Thiên Tân, các n-ớc t bản Âu Mỹ chia nhau quyền thống trị ở Trung Quốc

- Ngày 31.8.1858, Liên quân Pháp - Tây Ban Nha đợc lệnh từ TrungQuốc kéo về gây hấn ở Đà Nẵng với duyên cớ vua Nguyễn thực hành chínhsách cấm đạo, giết đạo

Tại sao Pháp lại tiến hành liên minh với Tây Ban Nha? Tây Ban Nha

đã từng dòm ngó và có ý định xâm chiếm Đàng Ngoài, giáo sĩ Tây Ban Nhacũng bị triều đình bắt giam và giết hại nên chúng muốn nhân cơ hội này đểchia sẻ quyền lợi

Tại sao Pháp chọn nguyên cớ là triều đình Huế cấm đạo để tấn công?

Chúng hy vọng sẽ nhận đợc sự tiếp ứng từ bên trong của giáo dân Đà Nẵng,lấy cớ này chúng còn tin rằng sẽ đợc d luận nớc Pháp đồng tình và ủng hộ

Tại sao Pháp chọn Đà Nẵng làm mục tiêu tấn công đầu tiên?

 Đã Nẵng là cổ họng của kinh thành, chỉ cách Huế chừng 100

km, nếu chiếm đợc Đà Nẵng sẽ dễ dàng vợt đèo Hải Vân tấncông ra Huế Việt Nam là một nớc quân chủ, nếu nhà vua đã

đầu hàng thì Pháp nhất định thuận lợi trong việc bẻ gẫy ý chíkháng cự của nhân dân, từ đó chúng sẽ hoàn thành kế hoạch

đánh nhanh thắng nhanh để kết thúc chiến tranh và đỡ hao tổnbinh lực

 Có hải cảng sâu rộng, thuận lợi cho tàu chiến lớn ra vào, cóbán đảo Sơn Trà chắn gió bão nên tàu bè dễ neo dậu Đây làmột vị trí chiến lợc về quân sự

 Là một đội quân viễn chinh nên vấn đề hậu cần luôn đợc đặt

ra cấp thiết Từ Đà Nẵng, Pháp sẽ nhanh chóng chiếm dợcQuảng Nam giàu có, đông dân, thực hiện phơng án lấy chiếntranh nuôi chiến tranh

 Phán đoán của Pellerin: quan đội của triều đình yếu, không

đ-ợc sự ủng hộ của nhân dân nên dễ đánh, đồng thời thực dân

Trang 11

Pháp sẽ nhận đợc sự ủng hộ của giáo dân vùng ven biển nếuchúng khởi sự.

Vì vậy, theo sự phân tích của Pháp, Đà Nẵng là mục tiêu lý tởngnhất để chúng giành đợc thắng lợi ở trận mở màn, và đáp ứng đợc cảyêu cầu về hậu cần, hoàn thành cuộc chiến tranh chớp nhoáng để chiếmtoàn bộ Việt Nam

- Về phía triều đình Huế: Sau nhiều lần Pháp dùng tàu chiến, đại bácphô trơng thanh thế và khiêu khích ở Đà Nẵng, cùng với những đề nghị củacác đình thần, Tự Đức đã nhận thức đợc tầm quan trọng của vị trí này và tiếnhành cho xây dựng Đà Nẵng thành một điểm phòng thủ quan trọng bằng cách

bố trí nhiều đồn lũy kiên cố và tăng cờng số đại bác lên gấp 3 lần, quân línhcanh phòng thờng xuyên:

 Tại cửa sông Đà Nẵng: xây dựng đồn Đông và đồnTây, xungquanh có chiến lũy, chiến hào để ngăn chặn địch theo đờngsông tiến sâu vào nội địa, trực tiếp bảo vệ thành Đà Nẵng

 Phía Tây Bắc, nơi đầu đèo Hải Vân: cho bố trí các đồn quantrọng với nhiều đạn gang, chốt chặn đờng ra kinh thành

 Trên bán đảo Sơn Trà: dựng đồn An Hải và Điện Hải, bố trí

đại bác chĩa xuống nơi tàu bè thờng neo đậu

- Chiến sự ở Đà Nẵng:

Rạng sáng ngày 1.9.1858, quân Pháp đa ra tối hậu th yêu cầu quan trấnthủ Đà Nẵng phải trả lời, nhng không đợi đến 2 giờ chúng đã nổ súng bắn đạibác lên các đồn phòng thủ Quan trấn thủ Trần Hoàng cho bắn trả nhng khônghiệu quả do quân lính ít đợc tập luyện, Pháp lại có u thế hơn về vũ khí, tàuchiến Chỉ sau 2 ngày, Pháp chiếm đợc 2 đồn Điện Hải và An Hải cùng vớibán đảo Sơn Trà, làm chủ hoàn toàn cửa biển Đà Nẵng, chuẩn bị tiến sâu vàonội địa

Trớc tình hình đó, Tự Đức sai Trần Đình Lý và Phạm Khắc Thân dẫn 2nghìn quân đến Đà Nẵng tiếp viện; cách chức Trần Hoàng; cử Nguyễn Tri Ph-

ơng làm tổng chỉ huy quân thứ Quảng Nam - Đà Nẵng, trực tiếp chỉ huy mặttrận Đà Nẵng Đại quân đóng ở huyện Hòa Vang, xây dựng các phong tuyến

và chống cự với quân Pháp

Kế hoạch của Nguyễn Tri Phơng:

 Kiên quyết bất hợp tác với thực dân Pháp

 Dời dân vào sâu nội địa, thực hiện vờn không nhà trống, tránh

bị địch bắt hoặc giết hại, tránh bị mua chuộc và làm lộ kếhoạch hành quân

 Thiết lập phòng tuyến Liên Trì kéo dài từ chân đèo Hải Vântới Thạch Giản (hơn 4 km) để bảo vệ thành Đà Nẵng và ngănchặn đờng tiến quân vào nội địa của địch

Nhận xét về phơng án đối phó của Nguyễn Tri Phơng? Nguyễn Tri

Ph-ơng đã không chủ động điều quân tấn công đối phPh-ơng để giành u thế và

uy hiếp kẻ thù, ngợc lại, chỉ thực hiện kế hoạch phòng thủ, bao vây bênngoài nên vô tình đã nhờng quyền chủ động tấn công cho thực dânPháp Tuy vậy, biện pháp của ông đã phần nào cầm chân đợc thực dânPháp, không cho chúng có cơ hội tiến sâu vào đất liền

Tại các đồn trên bán đảo Sơn Trà và cửa sông Đà Nẵng, Pháp liên tiếptấn công, quan trấn thủ đồn tử trận, chúng mở rộng tấn công vào phòng tuyếnLiên Trì nhng không chiếm thêm đợc đất và dân, lại thờng xuyên bị nhân dânphục kích nên hao tổn tơng đối nhiều

Sau 5 tháng cầm cự ở Đà Nẵng, đến đầu năm 1860, thực dân Pháp đãbuộc phải đa ra phơng án rút lui, do:

 Chỉ mới chiếm đợc bán đảo Sơn Trà và một vài làng ven biểnkhông có dân c nên bớc đầu thất bại trong âm mu lấy chiếntranh nuôi chiến tranh, dẫn tới những khó khăn về hậu cần, l-

ơng thực

Trang 12

 Liên quân Pháp - Tây Ban Nha không thích hợp với điều kiệnkhí hậu, thủy thổ nên mắc nhiều dịch bệnh (chết 200 lính, số

bị thơng không có y tế chăm sóc )

 Không nhận đợc bất kỳ sự ủng hộ và hậu thuẫn nào của lực ợng giáo dân nh các giáo sĩ đã hứa, ngợc lại chúng còn vấpphải sự kháng cự quyết liệt của nhân dân các làng ven biểnvới những đồn lũy, phòng tuyến khá vững vàng và kiên cố.Cuộc kháng chiến chống xâm lợc của nhân dân đã bắt đầu vớilực lợng bao gồm “những ngời nào không tàn tật và không đauốm” Thực dân Pháp đã rút ra kết luận: ngời Việt Nam theoCông giáo không phải là theo Pháp, thân Pháp, không phải là

l-kẻ sẵn sàng bán nớc

Chúng lo ngại “nếu chiến tranh mà tiếp tục theo kiểu này thì

nó sẽ kéo dài hàng trăm năm”

Pháp chấp nhận rút khỏi Đà Nẵng không có nghĩa là chúng từ bỏ âm

m-u thôn tính Việt Nam Tm-uy nhiên, phải rút khỏi Đà Nẵng nghĩa là Pháp bớc

đầu đã thất bại trong âm mu tiến hành một cuộc chiến tranh chớp nhoáng, từ

kế hoạch đánh nhanh thắng nhanh phải chuyển sang đánh lâu dài Chính lànhân dân chứ không phải là triều đình Huế đã đặt thực dân Pháp vào tình thếkhó khăn đó

2 Mặt trận Gia Định:

Sau Đà Nẵng, thực dân Pháp có nhiều mục tiêu để chọn lựa: Huế, Bắc

Kỳ, Nam Kỳ

? Tại sao Pháp không chọn Huế hay Bắc Kỳ mà lại chọn Nam Kỳ.

* Huế: Lúc đầu G de Genouilly (Rigô đờ Giơnuiy) có ý định tấn cônglên Huế nhng sau phải từ bỏ do:

+ Đờng đèo nguy hiểm, đờng sông cạn, cửa Thuận An nông, hẹplại đợc quân triều đình bố phòng khá chặt, không dễ gì có thể hànhquân

+ Tâm lý hoang mang, nản lòng của quân lính Pháp sau nhữngthơng vong ở Đà Nẵng

+ Năm 1859, chiến tranh Pháp - ý bùng nổ, viện binh cho quânPháp ở Việt Nam nhỏ giọt, nếu tấn công ra Huế sẽ dễ gặp thất bại

* Bắc Kỳ: Rigô đã cho 2 chiến thuyền ra Bắc để do thám tình hình vànhận thấy:

+ ở Bắc Kỳ không có những điều kiện thuận lợi nh Pellerin báocáo (40 vạn giáo dân ủng hộ, có tiếp tế hậu cần, có dõng dõi vua Lê đểtiến hành phù Lê diệt Nguyễn)

+ Thời điểm đầu năm 1859: khí hậu gió mùa từ Bắc thổi xuốngNam sẽ gây ngợc gió cho thuyền buồm của Pháp, việc hành quân bằngthủy binh sẽ không thể nhanh chóng và thuận lợi đợc

+ Bắc Kỳ gần Trung Quốc, nếu gây chiến tranh ở đây chắc chắnPháp sẽ gặp phải sự can thiệp của nhà Thanh vì lúc bấy giờ về danhnghĩa, Việt Nam vẫn là một phiên quốc thần phục Trung Quốc, quan hệThiên triều - ch hầu sẽ dẫn tới cuộc đụng độ lớn trên bộ giữa Pháp - TâyBan Nha với Trung Quốc - Việt Nam, Pháp sẽ không đủ sức để đối phó

* Thực dân Pháp quyết định chọn Nam Kỳ, trớc tiên là Gia Định vì:

+ Sông Sài Gòn thuận lợi cho tàu lớn ra vào, thuận gió sẽ giúpPháp có khả năng phong tỏa về thơng mại Vị trí này xa Huế, triều đìnhtiếp viện chậm và khó khăn hơn

+ Nam Kỳ là vựa lúa của cả nớc, nếu chiếm đợc Pháp sẽ khôngnhững vừa giải quyết đợc vấn đề hầu cần mà còn đồng thời cắt đứt đờngtiếp tế lơng thực ra kinh đô và Bắc Kỳ của triều đình, tạo cớ để ép Tự

Đức đầu hàng

+ Nam Kỳ vốn là thủ phủ của dòng họ Nguyễn, sau khi thực hiện

kế hoạch Nam tiến từ thế kỷ XVI, các chúa Nguyễn đã xây dựng đợc cơ

sở xã hội vững chắc ở Đàng Trong, nhất là ở vùng Gia Định thông qua

Trang 13

lực lợng địa chủ Khi chủ trơng đánh Nam Kỳ, Pháp còn nhằm mục

đích cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ giữa triều đình Huế với chỗ dựa cănbản là Đàng Trong, đặt vua Nguyễn trong thế bị cô lập để dễ bề thaotúng

+ Từ Nam Kỳ, Pháp sẽ có điều kiện mở rộng phạm vi chiếm đóng

ra Cao Miên, mở đờng để củng cố mối giao hảo Pháp - Xiêm

+ Quân Anh sau khi chiếm đợc Hơng Cảng và Xingapo cũng

đang có ý định chiếm nốt Sài Gòn làm vị trí trung gian giữa 2 cảng này.Vì thế, Pháp cần phải khẩn trơng tấn công Nam Kỳ, không để tuột vàotay Anh Mặt khác, đánh Nam Kỳ, Pháp ít gặp sự can thiệp của nhàThanh hơn ở Bắc Kỳ, do vậy có thể rảnh tay đối phó với sự chống cựcủa nhân dân

- Chiến sự Gia Định:

(Sử dụng bản đồ chiến sự ở Gia Định để minh hoạ)

Đầu tháng 2 1859, thực dân Pháp rút đại bộ phận quân từ Đà Nẵng vàoNam Kỳ, chỉ để lại một lực lợng nhỏ cầm chân quân triều đình

Ngày 9 2 1859: Pháp dàn trận ở Vũng Tàu, liên tiếp tấn công vào Gia

Định từ cửa sông Cần Giờ Trên đờng tiến quân do gặp phải sức kháng cự củanhân dân 2 bên bờ sông nên đến ngày 16 2 chúng mới chiếm đợc 2 đồn trựctiếp bảo vệ Thành Gia Định Ngày 17 2, Pháp cho tàu chiến theo dọc sôngBến Nghé ngợc lên dàn trận ngay trớc mặt Thành Gia Định, gần tra cho quân

đổ bộ lên đánh thành

Thành Gia Định: nằm ở hữu ngạn sông Bến Nghé, cách sông chừng 800m Thành này trớc đây do Nguyễn ánh với

sự giúp đỡ của Pháp đã xây theo kiểu Vôbăng để chống lại Tây Sơn Khi Lê Văn Khôi khởi nghĩa chống triều đình (1833) và chiếm thành, sau đó thất bại thì thành cũ bị phá

đi Từ 1837, Minh Mạng cho xây thành mới, nhỏ hơn và gần sông Bến Nghé hơn, vuông cạnh 475 thớc, tờng cao bằng đá ong, gạch, đất, xung quanh bao bọc bởi cây cối và nhà dân.

Trấn giữ Thành Gia Định lúc này là Vũ Duy Ninh do bị bất ngờ, mấtcảnh giác, lực lợng lại yếu nên đã ra lệnh rút quân, chạy khỏi thành, bỏ lạinhiều vũ khí và lơng thực (200 khẩu đại bác, 2 vạn vũ khí các loại, 86 nghìnbao thuốc súng, kho lơng đủ nuôi quân trong 1 năm) Sau khi chiếm đợcthành, nhận thấy không đủ sức giữ thành, mặt khác Pháp không muốn đểthành cho quân ta tái chiếm để dễ bề phong tỏa đờng sông khi chúng tiến sâuvào nội địa nên Giơnuiy đã cho đốt thành, phá đồn phòng thủ, đa quân xuốngtàu chiến đậu dới lòng sông dể tránh bị quân ta đột kích Lúc đầu Pháp chỉ đểchừng 800 quân co cụm trên sông nhng sau đó phải rải mỏng ra từ Chùa MaiSơn (đồn cây Mai) đến rạch Thị Nghè, lập phòng tuyến quanh các chùa ở phíaNam thành Gia Định Lực lợng còn lại đợc lệnh quay ra tiếp viện cho ĐàNẵng, đồng thời cử ngời ra điều đình với Tự Đức

- Phản ứng của triều đình Huế khi bị mất thành Đà Nẵng và Gia Định:

+ Tự Đức cho họp Viện cơ mật để xác định thái độ đối với thựcdân Pháp (6 1859), đã có nhiều ý kiến trái ngợc nhau: chủ trơngthủ để hòa, hòa có mức độ, chống và giữ để gây tâm lý mệt mỏicho Pháp, chủ chiến và chủ hòa Trớc nhiều ý kiến tranh cãi đódẫn tới những mâu thuẫn khiến cho Tự Đức lúng túng trong việc

đề ra những đối sách để ứng phó với tình hình đang ngày mộtnguy cấp

+ Tự Đức cho điều lão tớng Nguyễn Tri Phơng (NTP) từ Đà Nẵngvào Gia Định để tổ chức đối phó với thực dân Pháp: Khi vào đếnGia Định, NTP thực hiện kế sách án binh bất động, chỉ lo đắp hàoxây lũy, cố thủ trong thành Ông cho xây Đại đồn Kỳ Hòa chừng

3 km2 về phía Tây thành Gia Định; lập phòng tuyến dài 12 kmvới hơn 1 vạn quân kéo dài từ sông Bến Nghé, qua rạch Thị Nghè

Trang 14

xuống tận chùa Cây Mai để bao vây địch; Ngoài ra, NTP còn tiếnhành một số hoạt động du kích lẻ tẻ để tiêu hao lực lợng địch,không chủ trơng đánh lớn bằng những đòn quyết định cho dù lúcnày quân Pháp ở Gia Định rất mỏng, chỉ khoảng 1 nghìn quân lại

đang phải căng ra trên một dải phòng tuyến gần 10 km ChínhNTP đã tự bỏ qua nhiều cơ hội để phát động tấn công quân địch,không nhìn thấy khó khăn của giặc mà chỉ nhìn thấy sự non yếucủa mình dẫn tới không tự tin và quyết tâm đánh Pháp

- Giữa lúc triều đình Huế đang có nhiều ý kiến không thống nhất, Tự

Đức cha đa ra dợc kế sách đối phó thì thực dân Pháp rơi vào khó khăn mới:

+ Tháng 4 1859: Pháp đánh nhau với áo ở Bắc ý, hầu hết lực ợng hải quân tập trung ở Địa Trung Hải nên không đủ để viện binh choquân Pháp ở Việt Nam

l-+ Liên quân Anh - Pháp thất bại ở sông Bạch Hà - Trung Quốcbuộc Pháp sau khi chiếm đựơc thành Gia Định phải dồn quân lên phíaBắc tiếp viện Do đó, lực lợng của quân Pháp ở Việt Nam lúc này rấtmỏng, lại gặp phải những khó khăn do khí hậu, thiếu lơng thực

Trớc tình hình đó, Pháp chủ động đề nghị thơng thuyết và rút quân khỏiGia Định với điều kiện triều đình thả giáo sĩ, cho truyền đạo và Pháp đựoc tự

do thông thơng, đặt lãnh sự tại Nam kỳ Tuy nhiên, do chính sách bế quan tỏacảng và t tởng bảo thủ nên Tự Đức đã không biết tận dụng cơ hội để hòa hoãnvới Pháp, ngợc lại kiên quyết khớc từ yêu cầu đợc truyền đạo và tự do thơngmại do Pháp đa ra

Ngày 25 10 1860: Pháp buộc TQ ký điều ớc Bắc Kinh, giải quyết tạmthời xung đột ở phía Bắc, có điều kiện rảnh tay để đối phó với triều đình Huế

Tháng 11 1860: Kế hoạch hòa nghị Pháp - Việt kết thúc thất bại, quânPháp tăng lực lợng, mở rộng phạm vi xâm lợc ra các tỉnh Nam kỳ: Sau khi phá

vỡ phòng tuyến của NTP, ngày 24 2 1861, Pháp tấn công Đại đồn Kỳ Hòa

Rạng sáng ngày 24.2, quân Pháp từ đồn Mai Sơn bắn đại bác lên

Đại đồn theo hớng Đông Nam, phòng tuyến các chùa thực hiện

kế hoạch ngăn chặn quân triều đình chạy xuống sông Bến Nghé

và Biên Hòa Quân ta tổ chức bắn trả từ Đại đồn nhng không gây nhiều thơng vong cho địch Ngày 25 2, Pháp vào đợc trong thành Đại đồn, NTP ra lệnh rút lui về đồn Thuận Kiều ở phía Tây Bắc Trong trận đánh này, quân triều đình thơng vong hơn 1nghìn, mất hầu hết vũ khí tích trữ đợc trong vòng 2 năm qua Ngày 27 2 địch do thám và nắm đợc điểm yếu của ta: đồn nhỏ, thiếu lơng thực, NTP và tớng tá bị thơng Ngày 28 2 chúng tổ chức tấn công và chiếm đồn Thuận Kiều.

Sau trận Đại đồn, thực dân Pháp mở rộng chiến sự ra toàn Gia Định,tiếp đó chiếm Định Tờng (4 1861), Biên Hòa (12 1861), Vĩnh Long (3.1862) Ba tỉnh miền Đông rơi vào tay thực dân Pháp

II Điều ớc Nhâm Tuất (1862) Nhà Nguyễn chuộc ba tỉnh miền

đông, để mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

1 Điều ớc Nhâm Tuất (1862)

Sau khi thực dân Pháp đánh chiếm xong ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ,trong triều đình Huế vốn không thống nhất về kế sách chống Pháp nay lạicàng phân liệt và hoang mang dao động Trong số các quan văn võ cuối cùngchỉ còn lại 3 ý kiến: chủ hòa = hàng, thủ để hòa, chủ chiến Tự Đức đứng vềphía Phan Thanh Giản, Lâm Duy Hiệp, chủ trơng thủ để hòa, cuối cùng là hòa

Triều đình Huế chủ trơng hòa với Pháp trong tình hình nh thế nào?

+ Quân đội của triều đình đang mạnh, nhiều quân thứ ở ngoàiBắc cha đợc huy động vào mặt trận Đà Nẵng - Gia Định

+ Phong trào chống Pháp trong nhân dân đang sục sôi và ngàycàng rộng khắp với khí thế và tinh thần “sống đánh giặc, chếtcũng đánh giặc” Chính ngọn lửa chống xâm lợc của quân dân

Trang 15

Nam Kỳ - Trung Kỳ đã khiến Pháp phải tính chuyện làm lại cuộcchiến tranh từ đầu.

+ Pháp đang gặp phải một số khó khăn lớn: d luận trong nớc lên

án, sa lầy ở các thuộc địa Mỹ latinh, châu Phi Đây là cơ hội tốt

để triều đình phát động kháng chiến chống thực dân Pháp trongtoàn dân nhng cuối cùng đã bị bỏ qua, tạo điều kiện cho Pháp cóthời gian ổn định tình hình và củng cố lực lợng

Tại sao thực dân Pháp cũng muốn hòa hoãn với triều đình Huế?

+ Pháp cần có thời gian để chinh phục lại những phần đất đãchiếm đợc Mục tiêu của cuộc chiến này đối với Pháp không phải

là chiếm đất, chiếm thành mà đó chỉ là phơng tiện để chiếm dân,biến dân Việt Nam thành nô lệ Nhng trên thực tế, suốt 5 nămqua chúng mới chỉ chiếm đợc mấy tỉnh miền Tây Nam Kỳ và vẫncha khuất phục đợc dân chúng An Nam

+ Quân đội Pháp gặp phải sức kháng cự và chống trả quyết liệtcủa nhân dân, tiêu biểu là các cuộc khởi nghĩa do Nguyễn TrungTrực, Trơng Định, Lê Huy lãnh đạo đã gây cho chúng quá nhiềuthơng vong Một mặt, quân Pháp lúc này đang bị sa lầy ởMêhicô, không có điều kiện tiếp viện nên không đủ sức để mởrộng phạm vi chiếm đóng, đồng thời cũng không còn d binh lực

để vừa chống đỡ với nhân dân vừa bình định những nơi chiếm

đ-ợc ý đồ của Pháp là muốn hòa hoãn với triều đình Huế để đẩymũi tấn công của nhân dân quay sang triều đình, từ đó dùng triều

đình để giải tán và đè bẹp cuộc kháng chiến của nhân dân, gâymâu thuẫn và chia rẽ sâu sắc nội tình Việt Nam

+ Lúc này, quân Pháp ở Nam Kỳ đang gặp khó khăn trong vấn đềtiếp viện và liên tục bị giới t bản chính quốc lên án vì thành quảchúng đạt đợc ở nớc ta suốt 5 năm qua chỉ là mấy tỉnh thành nhỏ

bé, lại tiêu tốn hơn 139 triệu Fr Ngân sách cho cuộc chiến ởNam Kỳ trong thời gian tới cha đợc quốc hội phê duyệt Hơn nữamâu thuẫn giữa chủ trơng tập trung (giữ đất, giữ thành) với phântán (mất đất) ở Nam Kỳ khiến quân Pháp không khỏi lúng túng

và hoang mang

Vì vậy, mục đích hòa hoãn với triều đình của thực dân Pháp là muốnnhân đó để tranh thủ thời gian củng cố lại lực lợng, rảnh tay đối phó với cácthuộc địa khác và cải thiện d luận trong nớc, chờ đợi cơ hội tốt hơn để mởrộng chiến sự ra toàn quốc Thoát khỏi khó khăn này, quân Pháp sẽ có cơ hộilớn Chính chúng đã nắm đợc điểm yếu của triều đình Huế là sợ giặc, khôngtin vào sức chiến đấu của nhân dân, mong muốn nghị hòa để bảo toàn tínhmạng nên gấp rút chuẩn bị cho việc ký Điều ớc 1862

- Điều ớc Nhâm Tuất: Đại diện Liên quân Pháp - Tây Ban Nha là Đô

đốc Bô - na (Bonard) và Palăngca, phía triều đình Huế là Phan Thanh Giản vàLâm Duy Hiệp ký ngày 5 6 1862, đợc Tự Đức phê duyệt ngày 16 4 1863,gồm có 12 điều khoản với các nội dung chính sau:

(Lời mở đầu: Đây là sự thể hiện tình bầu bạn vững bền giữa quấc

+ Cam kết: Pháp bắt đợc kẻ chống triều đình thì giao cho triều

đình xét xử, ngợc lại triều đình bắt đợc ngời chống Pháp cũngphải giao cho Pháp xử

Trang 16

+ Mọi hoạt động giao hảo, nhờng đất đai với nớc nào của triều

đình Huế đều phải đợc sự chấp thuận của Pháp, quyền đối ngoạicủa triều đình Huế bị khống chế

Hậu quả:

 Đây là một điều ớc không phải là sự thể hiện tình giao hảogiữa 2 quốc vơng Việt Nam và Pháp, mà thực chất về phíaPháp là điều ớc cớp nớc trắng trợn, về phía triều đình là vănbản chính thức ghi nhận sự thỏa hiệp đối với kẻ thù

 Điều ớc này là hệ quả của sự không quyết tâm chống Phápcủa triều đình Huế Tự Đức đã nhiều lần bỏ qua cơ hội thuậnlợi để đánh Pháp hoặc hòa hoãn có lợi cho nhân dân, vội vàngcắt đất cho giặc và cam kết giải tán các cuộc khởi nghĩa chốngPháp của nhân dân Thông qua đó đã thể hiện bản chất hènnhát, bạc nhợc của giai cấp phong kiến, sợ dân hơn sợ giặc,không đủ lòng tin vào sức mạnh của nhân dân

 Từ đó dẫn tới: Đến lúc này tại Nam Kỳ, chống Pháp cũng cónghĩa là chống cả triều đình nhà Nguyễn, chống lại các quyết

định thỏa hiệp của nhà vua Do đó, trong nội bộ lực lợngchống Pháp, nhất là tầng lớp văn thân sĩ phu bị phân hóa: hoặc

là theo lệnh vua sẽ phản bội lại nhân dân, hoặc là chống lệnhvua, cùng với nhân dân chống giặc thì không trọn chữ

“trung”, khi đó “trung quân” không còn gắn với “ái quốc”nữa (Tuần phủ Đỗ Quang sau khi triều đình ký điều ớc 1862

đã từ chối ra Nam Định nhận nhiệm vụ mới với lý do “thầnkhông biết đặt mình vào đâu, nếu thần tuân lệnh triều đình thì

có tội với nhân dân, nếu đi với nhân dân thì chữ Trung khôngtrọn, thần chỉ mong đợc trở về với ruộng vờn để giữ trọn liêm

sỉ và khí tiết của hạ thần”

 Sau điều ớc này, quan niệm về đạo đức và chuẩn mực làm

ng-ời trong đông đảo nhân dân và sĩ phu đã thay đổi: chỉ nên tậntrung với những vị “minh quân” sáng suốt và biết đặt lợi íchcủa đất nớc lên trên hết, còn hiện tại ngời ta đang nghi ngờhành động cắt đất cho Pháp của nhà vua

2 Nhà Nguyễn chuộc ba tỉnh miền Đông, để mất ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ.

- Ngày 16 4 1863, thực dân Pháp yêu cầu Tự Đức phê duyệt Điều ớcNhâm Tuất, khẳng định tính pháp lý của văn bản cớp nớc mà chúng vừa đạt đ-

ợc Đổi lại, phía Pháp thỏa thuận cho phép Tự Đức cử một phái bộ sang Parichuộc lại 3 tỉnh miền Đông nhng thực ra đó chỉ là sự lừa bịp Triều đình Huếvẫn không thể thoát ra cái ý nghĩ sai lầm “ Pháp ở quá xa Việt Nam nên Phápkhông thể thôn tính Việt Nam”, “Pháp đánh ta vì ta lạnh nhạt với chúng” dovậy cần phải xuống thang, vồn vã với chúng, tất sẽ chuộc đợc 3 tỉnh miền

Đông Đoàn sứ bộ gồm 65 thành viên do Phan Thanh Giản dẫn đầu làm chánh

sứ, Phạm Phú Thứ làm phó sứ sang Pháp chuộc 3 tỉnh miền Đông với lời căndặn của Tự Đức: “đất cát ấy, nhân dân ấy tiền triều mở mang để lại, nay phải

đồng tâm cứu vớt kẻo để ta xấu hổ” Phan Thanh Giản ra đi với lời hứa:

“chúng thần sẽ tận tâm tận sức, còn thành hay bại là tùy ở Tây kinh”

- Lẽ ra khi sang Pháp, sứ bộ Việt Nam sẽ có một t thế khác nếu trớc đóbiết dựa vào dân cùng đồng tâm đánh Pháp, chí ít cũng làm cho chúng phải lo

sợ trớc uy lực của triều đình, hoặc ngay lúc ở Pháp, nếu Phan Thanh Giản biếtnhìn nhận tình hình, thấy rõ quân Pháp đang sa lầy ở Mêhicô thì hẳn đã tậndụng đợc cơ hội này mà gây áp lực để thơng thuyết có lợi cho ta Thế nhng, sứ

bộ chỉ thấy mình hèn yếu mà không thấy địch cũng đang hết sức lúng túng,chỉ thấy choáng ngợp trớc những thành tựu kinh tế - văn hóa của Pháp màkhông thấy đợc sức mạnh vô bờ của nhân tâm trong nớc Vì lẽ ấy mà sinh ra

tự ti và khiếp đảm:

" Từ ngày đi sứ đến Tây kinh,

Trang 17

Thấy việc Âu châu phải giật mình"

Thực dân Pháp đã nhìn thấy rõ sự ngu muội của sứ bộ triều đình Huế,Napoleon III hứa cử Ôbarê từ Xiêm qua Việt Nam để sửa chữa lại Điều ớc

1862 Ngày 18 7 1864, Tạm ớc Ôbarê - Phan Thanh Giản đợc thỏa thuận:

+ Pháp trả lại 3 tỉnh miền Đông nhng giữ lại Thành Sài Gòn, ThủDầu Một và phụ cận

+ Đồng ý cho triều đình Huế trả 50 vạn quan tiền (2 triệu Đôla)chiến phí mỗi năm và phải trả trong 40 năm

+ Đặt lãnh sự ở 3 cảng Đà Nẵng, Quảng Yên, Ba Lạt

Giữa lúc đó, phái thực dân hiếu trong chính phủ Pháp thắng thế trongviệc đấu tranh không trả 3 tỉnh miền Đông, tên đại úy thực dân Rơniê viết cuốnsách “Vấn đề Nam Kỳ dới phơng diện quyền lợi của Pháp” lại càng làm tăng ỹnghĩa chiến lợc của các tỉnh miền Đông đối với lợi ích nớc Pháp trong những kếhoạch lâu dài về sau Chính phủ Pháp thay đổi ý kiến Do Tạm ớc 18 7 1864 ch-

a đợc Napoleon phê chuẩn nên không đợc công nhận, Hòa ớc 1862 vẫn giữnguyên hiệu lực, 3 tỉnh miền Đông vẫn thuộc quyền chiếm giữ của thực dânPháp

- Những năm sau đó, quân Pháp tăng cờng chuẩn bị cho việc đánhchiếm nốt ba tỉnh miền Tây Trớc đó, chúng đã đánh tan liên quân Khơme -Việt do Pukumpao - Trơng Quyền lãnh đạo, chiếm giữ một vùng Khơme rộnglớn Năm 1866, quân Pháp nhận đợc sự ủng hộ của chính giới Pháp trong vấn

đề Nam Kỳ Mục tiêu miền Tây trở nên dễ dàng hơn với quân Pháp Chúngnhận thấy: triều đình chủ hòa không kháng cự, bây giờ là mùa ma nên hiệuquả tấn công của vũ khí triều đình rất kém, hơn nữa nớc sông dâng cao rấtthuận tiện di chuyển bằng thủy quân, tránh đợc hỏa công của nhân dân

Ngày 15 6 1867, Pháp tập trung lực lợng, ngày 18 6 chúng từ Mỹ Tho

về dàn trận tại Vĩnh Long Giữ thành Vĩnh Long lúc này là Phan Thanh Giản bịbất ngờ nên chấp nhận nộp thành vào ngày 20 6, đồng thời còn viết th khuyênquan quân ở An Giang, Hà Tiên nộp thành Ngày 21 Pháp chiếm An Giang,ngày 24 chúng chiếm Hà Tiên và hoàn thành việc thôn tính miền Tây

Ngày 15.10 1867: D La-grăng-đie gửi cho triều đình Huế một bản dựthảo hiệp ớc gồm có 14 điều khoản, trong đó yêu cầu triều đình Huế chấpnhận nhợng 6 tỉnh Nam Kỳ, đảo Côn Lôn, Phú Quốc… Tự Đức không phảnứng, chỉ xin đổi 3 tỉnh miền Tây để lấy lại Biên Hòa nhng không đợc chấpnhận Tuy nhiên đây mới chỉ là dự thảo, cha đợc sự ủy nhiệm của Chính phủPháp nên không có giá trị, nhng sẽ trở thành duyên cớ để Pháp mở rộng chiếntranh ra Bắc Kỳ sau này

Chẳng những triều đình Huế không chuộc đợc 3 tỉnh miền Đông màcòn để mất luôn 3 tỉnh miền Tây vào tay Pháp một cách dễ dàng Chính PhanThanh Giản đã phải than thở cho sự bất lực của mình rằng:

Những tởng một lời an bốn cõi Nào hay ba tỉnh lại chầu ba

 Đánh giá nh thế nào về Phan Thanh Giản?

Phan Thanh Giản (1796 - 1867): vốn gốc ngời Hoa, sang c trúchính trị ở nớc ta từ thời nhà Minh (XV) Năm 1826 ông đậu Tiến

sĩ ở Huế, đợc bổ nhiệm làm Phủ doãn phủ Thừa Thiên và làmquan suốt 3 triều vua từ Minh Mạng đến Tự Đức Năm 1832 ông

đợc cử đi sứ ở Trung Quốc, khi về ông dâng lên Minh Mạng một

kế hoạch về việc xây dựng bộ máy hành chính tơng tự nh củaTrung Quốc Năm 1835 giữ chức Tổng đốc Quảng Nam, chức vụcao nhất trong triều chính của ông là Thợng th Bộ Hình và là mộttrong 4 vị quan của Viện Cơ mật

Năm 1862 Phan Thanh Giản đợc cử làm đại diện cho triều đìnhHuế soạn thảo ra Điều ớc Nhâm Tuất với những điều khoản nặng

nề Sau khi ký điều ớc này Phan Thanh Giản bị những ngời trongphe chủ chiến phản đối kịch liệt và kết tội là kẻ bán nớc, mặc dù

đã đợc ủy quyền của vua Tự Đức nhng sau khi điều ớc đợc ký Tự

Trang 18

Đức đã mắng ông: “các ngơi không những là tội nhân của bảntriều mà còn của cả thiên cổ”; khắp nơi trong dân chúng đều lantruyền khẩu hiệu “Phan, Lâm mãi quốc, triều đình khi dân”(Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp bán nớc, triều đình bỏ rơinhân dân).

Tuy nhiên, đánh giá một cách khách quan thì thấy:

+ Phan Thanh Giản soạn thảo và chấp nhận những điềukhoản nặng nề của điều ớc 1862 là thực hiện mệnh lệnh của vua:bằng mọi giá phái ký hòa ớc với Pháp để có thời gian đàn áp khỏinghĩa nông dân và cuộc nổi dậy của Tạ Văn Phụng do giáo sĩ xúigiục ở Bắc Kỳ Dới thời quân chủ, trái lệnh vua là mắc tội “khiquân”, Phan Thanh Giản biết rõ điều đó và đã làm hết sức mình

để tuân mệnh vua, còn mệnh lệnh ấy đúng hay sai lại là mộtchuyện khác

+ Phan Thanh Giản chỉ là ngời ký tắt với đại diện củaPháp, việc điều ớc có hiệu lực hay không là phụ thuộc vào sựchuẩn y của vua Việt Nam và vua Pháp Ngày 16 4 1863 Tự

Đức đã tự tay phê chuẩn điều ớc 1862, thừa nhận tính pháp lý củavăn bản này cũng có nghĩa ngời đầu tiên phải chịu trách nhiệm vềnhững điều khoản trong đó là Tự Đức chứ không thể là PhanThanh Giản, Lâm Duy Hiệp hay bất kỳ một vị quan nào kháctrong triều

+ Trong triều đình, lúc đầu ông là ngời chủ trơng thủ đểhòa, sau khi từ Pháp về ông đã nhận thấy không thể đánh nổiPháp nên chuyển sang hòa và muốn tiến hành canh tân đất nớc,nhất là trong việc nội trị nhng không đợc Tự Đức chấp nhận.Phan Thanh Giản không phải là không nhìn thấy khoảng cáchcủa Việt Nam với phơng Tây, nhất là sau khi đi sứ ở Pháp về ôngnhận thấy không thể đánh đợc Pháp nên đã chủ động đề nghị Tự

Đức có quan hệ gần gũi với các nớc láng giềng, mở cảng biểncho thơng nhân buôn bán, cử ngời đi học tại các nớc văn minh đểlàm cho dân chúng văn minh hơn, để làm cho đất nớc cờng thịnhhơn

+ Việc Phan Thanh Giản ra lệnh nộp thành Vĩnh Long dẫntới để mất 3 tỉnh miền Tây năm 1867 là hành động chứng tỏ sựbất lực của không chỉ riêng ông mà còn là của một bộ phận quanlại lúc bấy giờ Có thể, Phan Thanh Giản chỉ muốn tránh choquân lính và nhân dân một sự thơng vong không cần thiết vì hơn

ai hết ông là ngời biết rõ thực lực của mình không thể chống chọi

đợc với tàu to súng lớn của Pháp Chỉ tiếc là ông đã không đánhgiá đúng khả năng của nhân dân vốn đang sục sôi chống Phápphía ngoài thành, từ đó gây nên những đánh giá khác nhau vềchính cuộc đời ông

Mặc dù vậy, kết tội Phan Thanh Giản bán nớc hại dân là

điều không thực sự xác đáng Ông đã từng dám can ngăn MinhMạng không nên du hành đến Quảng Nam vào đúng vụ mùa năm

1836 vì việc nghênh đón vua sẽ làm lỡ công việc của nhân dân.Sau khi nộp thành, ông đã tuyệt thực đến tận khi qua đời, địch dụhàng không theo Giả sử nếu có động cơ phản quốc thì tại sao

ông lại không nhân cơ hội ấy để cấu kết và cộng tác với giặc?Phan Thanh Giản là ngời đứng giữa khoảng cách vốn đang ngàycàng rộng thêm giữa triều đình Huế với nhân dân do những đốisách sai lầm của Tự Đức, ở vị trí ấy nếu không phải là ông mà làmột nhân vật khác thì có lẽ kết cục cũng không thể khả quan hơn.Phan Thanh Giản là hiện thân của một bộ phận quan lại đơng thờiphải đứng trớc một sự chọn lựa, hoặc là tận trung với vua tức làquay lng lại với nhân dân, hoặc là đứng về phía nhân dân để chữ

Trang 19

“trung” không tròn vẹn, và xem ra phẩm chất thứ nhất đã đợcnhiều ngời lựa chọn hơn cả.

3 Bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Nam Kỳ.

- Sau khi chiếm dợc các tỉnh Nam Kỳ bằng quân sự, thực dân Pháp tiếptục quá trình bình định chinh phục lại thông qua việc áp đặt chế độ cai trị củamình, để từng bớc biến Nam Kỳ thành thuộc địa của chúng Bộ máy cai trị củaPháp ở Nam Kỳ đợc xây dựng theo chế độ quân sự trực trị (chế độ trực tiếp sửdụng võ quan ngời chính quốc sang cai trị ở bản xứ):

Lý do:

+ Thực dân Pháp không thể tìm đợc cơ cơ sở để cấu kết với bộmáy quan lại bản xứ nh ý định ban đầu Sau điều ớc 1862 triều đình đãcho rút hết quan lại hoặc có một số đi theo nhân dân kháng chiến

+ Thực dân Pháp tìm cách mua chuộc, dụ dỗ những sĩ phu, vănthân ra làm quan trong bộ máy của chúng nhng đều bị từ chối, họ bấthợp tác với giặc qua phong trào “tỵ địa”, tẩy chay ngời Pháp

Vì không tìm đợc một lực lợng làm tay sai nên trong thời gian 1863

-1865 bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Nam Kỳ rất đơn giản: Nam Kỳ thuộc

Bộ hải quân, có viên thống đốc và các thanh tra nội chính đều là ngời Pháp,

d-ới địa phơng là các chánh tổng, xã trởng, phó lý ngời bản xứ

- Đến nửa sau những năm 60, bộ máy ấy đợc tổ chức lại hoàn thiện hơn,

gồm có: (Vẽ sơ đồ bộ máy cai trị của thực dân Pháp ở Nam Kỳ)

+ Đứng đầu là thống đốc toàn quyền, cho thành lập Hội đồng thuộc địaNam Kỳ gồm ngời Pháp và ngời Việt (sau này phải là ngời Việt đã nhậpquốc tịch Pháp) làm nhiệm vụ t vấn cho Thống đốc mọi vấn đề trừchính trị, hội đồng sử dụng tiếng Pháp; thành lập Tổng biện lý trông coiluật pháp

+ Giám đốc đứng đầu Nha nội chính, chịu trách nhiệm về các vấn đềquân sự, an ninh

+ Chánh chủ trì phụ trách kinh tế Nam Kỳ, chịu trách nhiệm về nhữngvấn đề Nam Kỳ có liên quan đến chính quốc

+ Hội đồng t mật gồm những ngời đứng đầu Tổng biện lý, Nha nộichính, Chánh chủ trì thuộc quyền điều khiển trực tiếp của Thống đốc,làm nhiệm vụ thảo luận luật pháp, kinh tế, an ninh

+ Thanh tra các công việc bản xứ nh luật pháp, hành chính, thuế

+ Thành lập 4 tiểu khu ở Nam Kỳ do Hội đồng t vấn đứng đầu: Sài Gòn,

Mỹ Tho, Vĩnh Long và Bát Xác gồm các tỉnh cuối, (đến 1902 đổi tiểukhu thành tỉnh), thành phố ngang với tiểu khu có các cơ quan t vấn nhhội đồng thành phố, ủy ban thanh phố Cử đổng lý là ngời dứng đầutiểu khu hoặc thành phố Cuối cùng là trung tâm hành chính thuộc tiểukhu và các tổng, huyện, xã

Bộ máy này tồn tại khá lâu, thực hiện chính sách bóc lột, vơ vét kinh tế,nhất là lúa gạo ở Nam Kỳ, thực hiện giáo dục thực dân, chỉ đào tạo thôngngôn làm tay sai cho chúng Về sau do có những biện pháp nới lỏng hơn nênthực dân Pháp đã thu hút đợc một bộ phận phong kiến đầu hàng, cấu kết chặtchẽ để cùng thống trị nhân dân Việt Nam

III Phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân các tỉnh miền đông Nam Kỳ.

- Ngay từ khi thực dân Pháp đặt chân vào cửa biển Đà Nẵng, nhân dânkhắp nơi đã nhất tề nổi dậy, sát cánh cùng với quân đội triều đình, tự vũ trangchống lại kẻ xâm lợc có u thế hơn hẳn về vũ khí và phơng tiện chiến tranh

- 1859 – 1864: Khởi nghĩa Trơng Định

- 1861 – 1868: Khởi nghĩa Nguyễn Trung Trực

- 1867 – 1868: Khởi nghĩa Phan Tam, Phan Ngũ

- Một số cuộc chiến đấu của quan quân triều đìnhphối hợp với dân binh nh Nguyễn Tri Phơng, Lê

Đình Lý, Phạm Văn Nghị

Trang 20

Nhận xét về các phong trào đấu tranh chống Pháp của nhân dân Nam Kỳ?Diễn ra trong điều kiện nào, lực lợng lãnh đạo?

* Khái quát chung:

+ Phong trào diễn ra mạnh mẽ, sôi nổi trong điều kiện triều

đình Huế từ chỗ lúng túng không đa ra đợc kế sách đúng đắn tớiviệc từng bớc nhợng bộ và đầu hàng thực dân Pháp Từ đó, trongmột số cuộc khởi nghĩa, nhân dân chẳng những chống Pháp màcòn chống lại cả những quyết định sai lầm của triều đình Một

điều nghịch lý là trong khi nhân dân cùng đồng tâm chống kẻxâm lợc thì Tự Đức không ủng hộ và không tổ chức đánh Pháp đã

đành, ngợc lại còn tập trung lực lợng để khống chế và đàn ápthần dân của mình

+ Lực lợng lãnh đạo của các phong trào đấu tranh chốngthực dân Pháp từ khi chúng mới bắt đầu đánh chiếm nớc ta chính

là những quan lại không chấp hành mệnh lệnh của triều đình, tríthức địa phơng, văn thân sĩ phu phong kiến yêu nớc hoặc nhândân đợc nghĩa quân tín nhiệm vì bất bình với triều đình và cămgiận trớc hành động cớp nớc của quân Pháp nên đã đứng lên phất

cờ khởi nghĩa

+ Trong cuộc đấu tranh này mặc dù thất bại nhng đã bắt

đầu có sự liên minh chiến đấu chống kẻ thù chung của nhân dânKhơme - Việt, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Pokumpao - Tr-

ơng Quyền

+ Từ những cuộc đấu tranh phân tán, lẻ tẻ trong thời gian

đầu, phong trào càng về sau càng có sự tập trung, quy tụ thànhcác trung tâm khởi nghĩa độc lập dới sự lãnh đạo của một số thủlĩnh xuất sắc nh Nguyễn Trung Trực, Trơng Định, Nguyễn HữuHuân, Trơng Quyền

+ Hình thức đấu tranh tơng đối phong phú, không chỉ đấu

tranh trực diện mà còn thông qua văn thơ của các văn sĩ

+ Kết quả tuy đều thất bại nhng đã chứng tỏ đợc sức mạnhquyết tâm chống Pháp đến cùng của nhân dân ta, không nhân nh-ợng và đầu hàng kẻ xâm lợc

Ch ơng 3 : Thực dân Pháp mở rộng chiến tranh ra phạm vi cả nớc

Triều đình Huế đầu hàng hoàn toàn.

I Tình hình kinh tế xã hội và những đề nghị canh tân đất n

ớc ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX

1 Kinh tế - xã hội.

- Sau khi mất Nam kỳ lục tỉnh, triều đình Huế vẫn không đa ra đợc mộtquyết sách nào có hiệu quả để khẳng định vai trò của ngời lãnh đạo đất nớc

- Kinh tế quốc gia ngày càng kiệt quệ và suy vi:

+ Tiếp tục duy trì chính sách trọng nông ức thơng, hạn chế tối đa

sự phát triển của công thơng nghiệp, nông nghiệp đình đốn

+ Tăng cờng bóc lột vơ vét của nhân dân, dùng thuế thu đợc vàoviệc xây dựng thành quách, lăng tẩm

+ áp dụng không quyết tâm và không dứt khoát một số yêu cầu

về mở mang nền kinh tế, nhất là thơng nghiệp, do đó chẳngnhững không đem lại hiệu quả mà còn tiêu tốn nhiều tiền của củanhân dân

- Chính trị xã hội ngày một rối ren, loạn lạc, bất ổn

+ Giặc cớp, mâu thuẫn lơng giáo phát triển dẫn tới những cuộcnổi loạn

Trang 21

+ Triều đình đàn áp khốc liệt phong trào chống Pháp của nhân dân + Sao nhãng việc quân cơ, phòng bị.

+ Xã hội loạn lạc, tầng lớp quan lại phân hoá ngày một sâu sắc

Bộ phận tâm huyết: dâng hiến nhiều kế hay nhằm tiến tới

đánh đuổi quân Pháp nhng không đợc trọng dụng

Bộ phận tham nhũng: tạo nên khoảng cách ngày một lớngiữa nhân dân và triều đình

Kinh tế tài chính ngày một thâm hụt, khánh kiệt, chính trị xã hội lạicàng thêm rối loạn, khủng hoảng khiến cho sức dân ngày càng suy yếu

2 Những đề nghị canh tân đất n ớc:

? Đề nghị canh tân đất nớc xuất hiện trong điều kiện lịch sử nào?.

+ Kinh tế, chính trị - xã hội của đất nớc đang lâm vào tình trạng khủnghoảng trầm trọng, nguy cơ mất nớc đang đến gần

+ Bộ phận sĩ phu phong kiến có sự phân hoá rõ rệt:

Phái chủ chiến triệt để bất hợp tác với thực dân Pháp, trungthành tuyệt đối với chủ trơng chống Pháp đến cùng, tiêu biểu nhHoàng Diệu, Nguyễn Tri Phơng, Tôn Thất Thuyết

Phái chủ hoà phân hoá làm hai: hoặc là hoà buông xuôi đồngnghĩa với đầu hàng; hoặc là hoà sách lợc tức là hoà hoãn để cóthời gian thực hiện canh tân, đây là bộ phận sĩ phu tiến bộ, thứcthời, họ đã nhìn thấy đợc sự chậm trễ của đất nớc; thấy rõ khoảngcách quá xa giữa nớc ta với phơng Tây; nắm đợc xu hớng chuyển

động tất yếu của Trung Quốc, Nhật Bản, Xiêm, do vậy họ chorằng canh tân lúc này đồng nghĩa với một phơng cách cứu nớc

đúng đắn và phù hợp

- Những nhân vật có t tởng canh tân tiêu biểu:

+ Quan lại: Trần Đình Túc, Nguyễn Huy Tế, Nguyễn Hiệp, Lê

Năm 25 tuổi, Nguyễn Trờng Tộ bắt đầu tiếp xúc với những tri thức tiến

bộ Cha Hậu không chỉ dạy ông tiếng Pháp mà còn tạo điều kiện để NguyễnTrờng Tộ có điều kiện đi ra nớc ngoài, mở rộng tầm hiểu biết nh đến HơngCảng, Xingapo và du học ở Pari 2 năm Những kiến thức thu nhận đợc trongthời kỳ này sẽ trở thành nền tảng căn bản hình thành nên t tởng duy tân đất n-

ớc của Nguyễn Trờng Tộ về sau Bằng khối lợng kiến thức uyên thâm, đồ sộcộng với sự nhạy cảm tinh tế trớc thời cuộc, những bản điều trần của NguyễnTrờng Tộ đã đa tầm nhìn của ông vợt lên trên tầng lớp quan lại đơng thời, tơngphản gay gắt với Tự Đức Nguyễn Trờng Tộ trở thành nhân vật tiêu biểu, là đạidiện xuất sắc cho t tởng canh tân đất nớc nửa sau thế kỷ XIX ở Việt Nam

Từ 1861 đến 1871, Nguyễn Trờng Tộ đã dâng lên Tự Đức 58 bản điềutrần - thành quả của sự kết hợp nhuần nhuyễn tinh hoa văn hoá Đông - Tâynhằm đề nghị canh tân đất nớc Ông đã đề cập một cách trọn vẹn, chi tiết vàtoàn diện trên mọi lĩnh vực

- Nội dung cơ bản những đề nghị canh tân của Nguyễn Trờng Tộ:

a Kinh tế:

+ Nông nghiệp: là nguồn thu nhập chủ yếu của đất nớc nhng nông

nghiệp dới thời Tự Đức sa sút nghiêm trọng do sự hiểu biết về khoa học nông

Trang 22

nghiệp của quan dân còn thấp, cha biết tổ chức thành ngành kinh tế phát triển.Nguyễn Trờng Tộ đã đề nghị:

 Đào tạo và bổ nhiệm mỗi huyện một ngời chuyên trông coinông nghiệp, gọi là nông quan Để làm đợc điều đó, trớc mắtphải tuyển chọn những ngời đỗ đạt, có những hiểu biết nhất

định về kỹ thuật chọn giống cây trồng cho nông dân, về lâudài phải cho họ đi học ở nớc ngoài để có kiến thức về sinh vậthọc, thủy lợi

 Cần có những biện pháp để khắc phục thiên tai bằng cáchtrồng rừng đầu nguồn, ven biển, thành phố để không chỉ có gỗxuất khẩu mà còn giúp cân bằng môi trờng

 Thành lập các tổ chức gọi là các khoa nh khoa nông lợi, sơnlợi, hải lợi, thủy lợi; tổ chức tổng kết rút kinh nghiệm

+ Công thơng nghiệp:

 Nhấn mạnh vấn đề khai thác tài nguyên để làm giàu đất nớc

nh rừng, các loại mỏ khoáng sản Nguyễn Trờng Tộ đề nghịkhai thác các mỏ bằng cách hợp tác với ngời nớc ngoài để mộtmặt học tập đợc cách làm của họ, mặt khác giải quyết đợcviệc làm cho nhân dân, đợc chia lợi từ sản phẩm khai thác đ-

ợc, sử dụng đợc các cơ sở vật chất của họ nh đờng sá, bệnhviện Về sau nhân dân có thể tự đứng ra tổ chức khai thác

 Nguyễn Trờng Tộ kịch liệt phản đối quan niệm mở cửa buônbán với nớc ngoài đồng nghĩa với mở cửa cho giặc Ông chaphân tích đợc nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự xâm lợc của thựcdân Pháp với các nớc phơng Đông nhng đã nhìn thấy đó là

điều khó tránh Do đó, Nguyễn Trờng Tộ đề nghị mở cửa, tiếptục truyền thống mà vua Gia Long và Minh Mạng đã tạo ra:nhà nớc nên khuyến khích thơng nhân Việt Nam đóng thuyền

để đi buôn bán, hoặc ban thởng lớn cho những ai tạo đợcnguồn vốn lớn trong quá trình buôn bán với ngời nớc ngoài.Làm đợc nh thế sẽ giúp triều đình Huế giải quyết đợc nhữngkhó khăn về kinh tế

+ Tài chính: Đây là vấn đề khó khăn nhất của đất nớc hiện nay nên

những điều trần của Nguyễn Trờng Tộ về tài chính là đáng chú ý nhất

Ông đã đề nghị thực hiện 6 biện pháp sau:

 Nhanh chóng khai thác tài nguyên để xuất khẩu

 Tận thu các nguồn thuế, nhất là thuế nông nghiệp: tiến hànhkiểm tra diện tích đất canh tác, xác định các loại ruộng đấtnhằm chống nạn bao chiếm ruộng đất của địa chủ, đánh thuếnhà giàu

 Vay vốn nhân dân với lãi suất 1%/ năm, khi lãi gấp đôi vốngốc thì đợc xóa vón

 Vay vốn nớc ngoài

 Kêu gọi nớc ngoài đầu t vào các lĩnh vực kinh tế

 Tiến hành liên doanh với nớc ngoài

b Giáo dục:

+ Nguyễn Trờng Tộ phê phán lối giáo dục truyền thống: học thuộc lòngnhững điều không giúp ích thiết thực vào thực tiễn Ông kêu gọi ápdụng một lối giáo dục mang tính thực dụng: dạy những điều cha biết để

mà ứng dụng vào thực tế sẽ có lợi lâu dài

về nông nghiệp, khai khoáng, thủy lợi

 Cử ngời đi học nớc ngoài

Trang 23

 Hình thành các trung tâm đào tạo ngoại ngữ, khuyến khíchmọi ngời tự học ngoại ngữ và tổ chức kiểm tra để công nhậntrình độ

 Yêu cầu coi trọng ngời lính thông qua chế độ đãi ngộ thỏa

đáng, trang bị đầy đủ phơng tiện chiến đấu , kích thích tinhthần quân sĩ hăng say luyện tập và chiến đấu

 Đào tạo ngời chỉ huy quân đội một cách bài bản, cung cấp cho

họ lý thuyết công thủ, tự vạch ra đợc trận địa, có hiểu biết về

địa đồ quân sự bằng cách mời chuyên gia quân sự phơngTây

 Có quy hoạch tổng thể về công tác bố phòng trên phạm vi cảnớc

 Chú ý nguyên tắc trông đối ngoại: vừa mềm mỏng vừa cứngrắn và hai bên cùng có lợi

 Nên hòa hoãn với Pháp, phải kìm chân Pháp hoặc không chochúng mở rộng phạm vi chiếm đóng; phải đa ngời của mìnhvào trong nội bộ quân Pháp; phải xây dựng lực lợng ngầmngay tại nơi thực dân Pháp chiếm đóng; phải cho ngời sangPari lâu dài để nắm bắt tình hình, xem xem khi nào thuận lợi

để đuổi Pháp

d Cải cách quan chế và một số vấn đề xã hội:

+ Nguyễn Trờng Tộ nêu thực trạng bộ máy hành chính của nớc ta lúcnày là hết sức cồng kềnh, quan liêu, tham nhũng, mất lòng dân (10 con

dê 9 ngời chăn, một con ngựa 9 ngời giữ)

+ Đề nghị:

 Củng cố lại bằng cách tuyển chọn quan lại, chọn ngời tài,thanh liêm, vì dân vì nớc nắm giữ các chức vụ trong bộ máyhành chính

 Cai trị đất nớc bằng pháp luật, yêu cầu quan lại phải am hiểu

và nắm vững pháp luật để hành xử

 Phải giảm số lợng quan lại bằng tháp các đơn vị hành chính Mặc dù không tán thành những đệ trình của Nguyễn Trờng Tộ nhng Tự

Đức vẫn kết luận ông “đã khám phá ra sự tình của đất nớc".

Đánh giá nh thế nào về những đề nghị canh tân?

+ Canh tân lúc bấy giờ trở thành xu hớng chung của các nớctrong khu vực Trớc sức ép ngày một lớn của CNTD phơng Tây, nguy cơ

bị xâm lợc và mất độc lập đang đến gần, các quốc gia ở châu á nh:Nhật Bản, Trung Quốc, Thái Lan,Việt Nam đang phải đối diện với bàitoán là làm thế nào để giữ đợc độc lập dân tộc Mỗi quốc gia đã có những

đối sách khác nhau và đã đạt đợc những kết quả không giống nhau:

* Nhật Bản: Năm 1868, Minh trị Duy tân dựa vào đội tiên phong

là tầng lớp tri thức tiến bộ cùng với lực lợng Samurai Yếu tố

Trang 24

quyết định thắng lợi là do ngời đứng đầu - Minh Trị là ông vua

có kiến thức, quyết tâm canh tân, có thực quyền và thức thời Giai cấp t sản Nhật Bản lúc này còn non yếu, thoả hiệp với phong kiến và phụ thuộc Tokugawa.

* Xiêm: Vua Mong Kut (Rama IV) và con là Chulalongkơra có học thức, có tầm nhìn xa trông rộng, nắm đợc xu thế tất yếu nên

đã thực hiện mở cửa cải cách đất nớc bằng đờng lối ngoại giao khôn khéo.

* Trung Quốc: Năm 1898 vua Quang Tự cùng Khang Hữu Vi,

L-ơng Khải Siêu tiến hành Bách nhật Duy tân nhng thất bại do không có thực quyền, tổ chức non yếu, lực lợng chống đối canh tân quá mạnh.

Đặc điểm của các phong trào canh tân ở các nớc: đều do giới lãnh đạo,chóp bu tiến hành, đợc sự hậu thuẫn của trí thức tiến bộ, giai cấp t sản

và quần chúng không giữ vai trò chủ đạo chứng tỏ vai trò ngời đứng đầuquyết định sự thành bại mục tiêu canh tân

+ Đối với phong trào canh tân ở Việt Nam hiện nay đang có

nhiều ý kiến khác nhau:

* GS Nguyễn Văn Hồng: T tởng canh tân ở Việt Nam lúc này

nh là “tiếng gà gáy sớm” tức là thiếu giai cấp t sản nên thất bại là

đơng nhiên

* Nếu diễn ra sớm hơn (trớc 1861) thì có thể đã đợc thực hiện

* Thiếu tính giai cấp, không đề cập đến vấn đề ruộng đất chonông dân nên không đợc sự hậu thuẫn từ dới lên của nhân dân

* Thiếu cơ sở vật chất từ bên trong, không đặt ra vấn đề giảiquyết mâu thuẫn cơ bản lúc đó là mâu thuẫn dân tộc và mâuthuẫn giai cấp nên không đợc nhân dân ủng hộ

Đánh giá khách quan cho thấy:

+ Hoàn cảnh Việt Nam lúc này cũng tơng đồng, không có gì cáchbiệt với Thái Lan, Nhật Bản.Việc Nhật Bản, Thái Lan duy tânthành công không phải do nhân dân ủng hộ, giai cấp t sản cũngcha đủ mạnh Vì vậy, nói phong trào duy tân ở Việt Nam không

đợc nhân dân ủng hộ và thiếu cơ sở xã hội là không thực sự thỏa

đáng

+ Thời điểm đề nghị canh tân: Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc

đều canh tân khi đã bị thực dân phơng Tây khiêu khích, thậm chí

đã xâm lợc, do đó Việt Nam nếu tiến hành canh tân cũng khôngnhất thiết phải trớc khi thực dân Pháp xâm lợc

+ Phong trào canh tân ở Việt Nam thất bại là do Tự Đức và triều

đình nhà Nguyễn không có đợc những phẩm chất căn bản và cầnthiết của ngời đứng đầu đất nớc Hơn nữa, việc thiếu một lực lợngủng hộ nh tầng lớp Samurai ở Nhật Bản cũng khiến cho những đềnghị canh tân ở nớc ta ít nhiều khó có điều kiện thực hiện

II Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất.

Điều ớc Giáp Tuất

1 Thực dân Pháp đánh chiếm Bắc Kỳ lần thứ nhất.

- Nếu nh sau thất bại ở Đà Nẵng 1859, quân Pháp chủ động tiến vào Nam

Kỳ và không dám ra Bắc Kỳ, thì nay mục tiêu của chúng là phải chiếm cho kỳ

đợc Bắc Kỳ để nhanh chóng hoàn thành quá trình xâm lợc Việt Nam

Tại sao Pháp gấp rút tổ chức tấn công Bắc Kỳ?

 Nhà Thanh đã suy yếu, thực dân phơng Tây đã tràn vào Trung Quốcbằng các điều ớc bất bình đẳng, Trung Quốc không có khả năng canthiệp vào Việt Nam nếu Tự Đức cầu cứu

 Vào những năm 60, thực dân phơng Tây đi tìm con đờng ngắn nhất

để chiếm lĩnh thị trờng Tây Nam (TQ), mở rộng xuống Miến Điện:Thực dân Anh dự kiến mở đờng từ ấn Độ trở xuống nhng do sự phản

Trang 25

đối của nhân dân Tứ Xuyên nên kế hoạch không thành; Thực dânPháp cho thăm dò đờng thuỷ từ sông Mêkông ở Nam Kỳ ngợc lênVân Nam nhng địa hình hiểm trở nên tàu thuyền không qua đợc.Chúng nhận thấy chỉ có duy nhất con đờng tiến lên Tây Nam TrungQuốc là từ Biển Đông theo dọc sông Hồng qua Bắc Kỳ là ngắn nhất

và có khả năng thực hiện hơn cả

Nh vậy, mục tiêu của Pháp lúc này chính là Bắc Kỳ, để từ đó làm bàn

đạp tiến lên Trung Quốc Cùng lúc đó, Thủ tớng Phổ Bixmac lên tiếng: “nếuPháp không nhanh chóng khai thông đờng từ sông Hồng để lên Tây Nam thìsớm muộn Phổ cũng sẽ làm điều đó” càng khiến thực dân Pháp ở Nam Kỳtăng thêm quyết tâm phải khẩn trơng tiến quân ra Bắc Kỳ, sớm làm chủ con đ-ờng huyết mạch này

- Thống đốc Đuy - prê ở Nam Kỳ đã điện về yêu cầu chính phủ Phápchuẩn y kế hoạch tiến ra Bắc Kỳ Lúc bấy giờ đã diễn ra cuộc đấu tranh trongnội bộ chính phủ Pháp với quân Pháp ở Nam Kỳ về vấn đề đánh Bắc Kỳ:

a Chính phủ Pháp: Do dự, phản đối vì:

 Nớc Pháp đang phải đối mặt với chiến tranh Pháp - Phổ (1870) vàcông xã Pari (1871), một phần lãnh thổ đang bị Phổ chiếm đóng và

đang phải trả chiến phí rất nặng

 Phổ liên tiếp phô trơng thanh thế và tiến hành liên minh với Anh,chờ đợi cơ hội để tấn công Pháp

 Quân Pháp ở Nam Kỳ đang rất mỏng do không đợc tiếp viện Chínhphủ Pháp sợ bị sa lầy ở Viễn Đông, sợ bị Trung Quốc can thiệp Mặtkhác, d luận chính quốc đang phản đối và nghi ngờ cuộc chiến tranhViệt Nam

b Quân Pháp ở Nam Kỳ: Quyết tâm và khẩn trơng chuẩn bị tiến ra Bắc

Kỳ gây chiến tranh vì:

 Nhận thức đợc tình thế lúc này là phải khẩn trơng tấn công Bắc Kỳ

để tránh để mất vào tay Anh, Phổ

 Hiểu rõ thực lực triều đình và quân đội nhà Nguyễn không đủ sứcchống cự lại đòn tấn công của Pháp

 Triều đình Mãn Thanh không thể can thiệp

 Đã có tên lái buôn Đuypuy tiền trạm từ trớc ở Bắc Kỳ

Do đó, Đuyprê và Đuypuy liên tiếp đề nghị chính phủ Pháp đồng ý chotấn công ra Bắc Kỳ:

Trong th gửi cho Bộ trởng Bộ Hải quân Pháp, Đuy prê viết: "Tôi

không cần có viện binh gì cả, tôi làm với khả năng mà tôi có Chắc chắn thành công Tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm về kết quả cuộc viễn chinh này, dù sẽ phải bị bỏ rơi, sẽ bị gọi về Pháp hoặc

bị mất chức Tôi không đòi hỏi Ngài cho viện binh; tôi chỉ xin Ngài làm ngơ rồi nếu tôi bị thất bại thì Ngài cứ có thể tuyên bố

là không hề tán thành hành động của tôi".

Trớc quyết tâm ấy, Chính phủ Pháp tuy không tỏ thái độ tán thành hay

phản đối nhng cuối cùng đã làm ngơ cho Đuyprê và nói rằng: "nếu ông

thấy đa quân ra Bắc Kỳ có thể đạt đợc mục đích thì ông cứ làm, đó là việc của ông".

Rõ ràng, cả chính phủ Pháp lẫn quân Pháp ở chiến trờng Việt Nam đềucuối cùng đã gặp nhau ở một mục tiêu là chiếm Bắc Kỳ, tuy chỉ khác nhau vềthời điểm thực hiện mà thôi

- Đuypuy gây hấn ở Hà Nội, Đuyprê tiến quân ra Bắc Kỳ:

Jean Dupis là một tên lái buôn ngời Pháp, chuyên chở thuốc súng, vũ khí đến bán cho bọn tớng tá Mãn Thanh đàn áp phong trào khởi nghĩa của nhân dân Trung Quốc Đờng đi ban đầu của

y là theo dọc sông Trờng Giang rất xa xôi và tốn kém, mất 5 tháng mới đợc một chuyến hàng Khi gặp đoàn thăm dò của Pháp do Gácnie dẫn đầu, y biết rằng con đờng ngắn nhất đến đ-

ợc Tây Nam Trung Quốc là qua sông Hồng - miền Bắc Việt Nam.

Trang 26

Năm 1872, Đuypuy đề nghị chiếm Bắc Kỳ Cuối năm 1872, y chở súng

đạn đến Vân Nam cho tớng Mã, khi qua Sài Gòn đợc Đuyprê ủng hộ và cungcấp thêm chiến hạm Khi đến Hải Phòng: Yêu cầu Tổng đốc Lê Tuấn báo chotriều đình cho phép y đi lên Vân Nam bằng sông Hồng nhng cha đợc phép, yvẫn tự tiện tiến vào Quảng Yên, Bắc Ninh và Hà Nội

- Ngày 22.12.1872, tại Hà Nội, y đã xả súng thị uy lên bờ, sau đó để lạimột phần vũ khí, tiến lên Vân Nam Ngày 18.4.1973, về đến Hà Nội, với quân

do tớng Mã cấp, mộ thêm và vũ khí hiện đại, Đuypuy cho đóng quân bên bờsông Hồng, đa yêu sách đòi quyền lợi

- Trớc tình hình đó, triều đình Huế rất hoang mang:

 Tháng 8.1873: cử Lê Tuấn và Nguyễn Văn Tờng vào Gia định gặp

Đuyprê xin đợc đi sứ sang Pháp để thơng thuyết Đuyprê không cho

đi vì nội tình nớc Pháp lúc này đang khó khăn, theo nhận định của ynếu sứ bộ sang Pháp và biết chớp thời cơ sẽ có thể làm trở ngại kếhoạch của y

 Triều đình Huế đề nghị Đuyprê cử ngay một sỹ quan ra Hà Nội đểcan thiệp vụ Đuypuy, đồng thời điều Nguyễn Tri Phơng ra giữ HàNội Đây là cái cớ vô cùng thuận lợi để Đuyprê tiến quân ra Bắc Kỳ:

"Đuypuy hành động nh ở trên một nớc đã bị chiếm cứ rồi Chính phủ

An Nam yếu ớt lắm nên mới nhờ tôi buộc Đuypuy ra khỏi Bắc Kỳ Nếu

tự lực Đuypuy mà y đã đánh bại đợc lực lợng khốn nạn của chính phủ

An Nam thì có tốn gì cho ta để đặt chân lên đất nớc này"

- Từ Nam Kỳ, Đuyprê đã tiến hành:

 Viết th cảm ơn Tổng đốc Lỡng Quảng Trung Quốc đã can thiệp cho

Đuypuy đợc xâm nhập vào Trung Quốc bằng sông Hồng, đề nghị ớng tá Trung Quốc không can thiệp vào công việc ở Bắc Kỳ để Pháp

Đức cho rằng nếu làm thế quân Pháp sẽ có cớ tấn công ta trớc nên vẫn cố gắngkhông cho quân tiếp viện và chờ vào việc giải quyết vụ Đuypuy của đại uýGácniê Tự Đức đã khiến cho Nguyễn Tri Phơng và quân triều đình chủ quan,không đề phòng cẩn thận về mặt quân sự cho nên “thợng tớng sẽ chết vì têntiểu quỷ hiếu chiến và bất tài Đuypuy’

Vẽ sơ đồ Thành Hà Nội và các hớng tấn công của Gácniê và Đuypuy:

Ngày 19 11 1873, Gácniê yêu cầu Nguyễn Tri Phơng nộp thành HàNội trớc 6 giờ chiều, ra bố cáo tuyên bố độc quyền thơng mại của Pháp ở sôngHồng lên Vân Nam Trung Quốc, thủ tiêu mọi quyền thơng chính của triều

Do phán đoán quân Pháp cha tấn công sớm nên Nguyễn Tri Phơng chủquan, bị bất ngờ và rơi vào tay giặc 7 giờ sáng 20 11, thành Hà Nội bị Phápchiếm giữ, chúng chỉ bị thơng 1 tên, chết một tên trong khi quân triều đìnhchết 80 ngời, bị thơng 300 ngời

Trang 27

Chiếm thành Hà Nội xong, quân Pháp liên tục tấn công các tỉnh BắcKỳ: Hng Yên (24 11); Phủ Lý (26 11: mất 15 phút); Ninh Bình (5 12: chỉ với

6 tên Pháp); Nam Định (10 12) Quân đội triều đình phản ứng yếu ớt, Phápnhanh chóng làm chủ các thành xung quanh Hà Nội

* Nguyễn Tri Phơng (1800-1873):

Nguyễn Tri Phơng (Quan võ) cùng với Trơng Đăng Quế (Chínhtrị) và Phan Thanh Giản (Quan văn) là 3 vị quan đầu triều Ông là ngờiThừa Thiên, thông minh, ham học và học giỏi nhng không đi thi Ôngbắt đầu tham gia triều chính từ Bộ Hộ, do ngay từ đầu đã thể hiện khảnăng hơn ngời nên ông sớm đợc trọng dụng

- Năm 1832 1834: Minh Mạng cử đi Xingapo, Mã Lai

- Năm 1834.1835: đợc giao dẹp khởi nghĩa Lê Văn Khôi và giáodân nổi loạn chống triều đình

- Năm 1841: Làm Tổng đốc hai tỉnh Quảng Nam Đà Nẵng

- Năm 1842: Làm Tổng đốc hai tỉnh Hà Tiên An Giang

- Từ 1844: Giữ chức Tổng chỉ huy quân đội

- Tháng 5 1873, ra Hà Nội giải quyết vụ Đuypuy và làm nhiệm

vụ giữ thành Hà Nội

Trong 53 năm làm triều chính, đặc biệt là hoạt động trong lĩnh vực quân

sự, Nguyễn Tri Phơng đợc thực dân Pháp đánh giá là “kẻ đấu tranhkhông khoan nhợng” với kẻ thù Đến bất kỳ mặt trận nào việc đầu tiêncủa ông bao giờ cũng là triệt để bất hợp tác với kẻ thù, tuyệt đối trungthành với đất nớc Là một võ quan luôn luôn dẫn đầu phái chủ chiếntrong triều đình, Nguyễn Tri Phơng thờng xuyên đề nghị phải đánhPháp nhng ông lại chỉ đánh khi nào chúng tổ chức tấn công còn trớc đóphải lo phòng thủ bằng cách xây thành, dựng đồn đắp luỹ bao vây ngănchặn địch Đó là một t tởng quân sự không hoàn toàn tiêu cực và đã có

ít nhiều hiệu quả trong việc ngăn chặn đờng tiến công của địch, nhngrất thụ động, không tận dụng đợc nhiều cơ hội tốt để chủ động đánh

địch Hầu nh ở mặt trận nào ông cũng thực hiện phơng án án binh bất

động, ngồi trong thành đợi giặc, khi chúng tấn công thì mới cấp báo vềtriều đình thì đã quá muộn Sự trầm tĩnh đến mức thiếu cảnh giác trớchành động khiêu khích ngày càng trắng trợn của kẻ thù đã dẫn NguyễnTri Phơng đến chỗ không kịp đề phòng và cuối cùng phải chịu thất bại

Nguyễn Tri Phơng hy sinh cùng với sự kiện mất thành Hà Nộinăm 1873 Ông là tấm gơng sáng về lòng trung thành và tuyệt đốikhông nhân nhợng trớc kẻ thù Ngay khi bị thơng và bị bắt, quân Phápcho chữa chạy với hy vọng sau này có thể mua chuộc, nhng với khí tiếtanh dũng, ông đã xé băng, tuyệt thực mà chết

2 Điều ớc Giáp Tuất:

- Trong khi nhân dân các tỉnh vẫn đứng lên chống Pháp quyết liệt thì Tự

Đức cử ngời ra Hà Nội gặp Gácniê để thơng thuyết

Tháng 12.1873, khi cuộc thơng thuyết đang diễn ra, Hoàng Tá Viêmcùng với Lu Vĩnh Phúc chỉ huy đội quân Cờ đen từ Sơn Tây kéo về bao vây vàkhiêu khích quân Pháp ở thành Hà Nội Gácniê đình chỉ hội đàm, chủ quanchỉ đa 20 quân nghênh chiến với nghĩa quân Tại Cầu Giấy, Gacniê rơi vào ổphục kích của ta và tử trận (21.12.1873) Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ nhất

đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào chống Pháp trên toàn Bắc Kỳ Cùng thời gian,nhân dân các tỉnh Ninh Bình, Nam Định, Hải Dơng đứng lên kháng chiến vàthắng lợi, đẩy quân Pháp vào thế bị động, hoang mang, mất ý chí chiến đấu

Trang 28

Trong điều kiện đó, thực dân Pháp và triều đình Tự Đức cùng gặp nhau

ở một mong muốn ký đợc với nhau một điều ớc càng sớm càng tót

Vì sao ?

* Về Phía Pháp:

+ Chính quốc gặp khó khăn lớn do chiến tranh Tháng 11.1873, Bộ Hảiquân Pháp không đồng ý đánh Bắc Kỳ nên không cho quân tiếp viện + ảnh hởng của phong trào kháng chiến của nhân dân ta ngày một lớn,nhất là sau khi Gácniê chết, Pháp lo sợ triều đình sẽ chịu áp lực củanhân dân mà phát động cuộc kháng chiến chống lại chúng

Bộ Thuộc địa chỉ thị cho Đuyprê: "Ông hãy gấp rút bằng mọi cách để ký hiệp

ớc, kết quả của hiệp ớc này là sự trao thành Hà Nội Chính phủ đòi hỏi một cách tuyệt đối rằng không thể chiếm đóng lâu dài bất cứ một bộ phận nào cuả Bắc Kỳ".

* Về phía Triều đình Huế:

+ Quá khiếp sợ phong trào đấu tranh của nhân dân, muốn ký hoà ớc để

có thời gian kìm hãm nhân dân kháng chiến

+ Cần rảnh tay để dùng quân đội triều đình đàn áp phong trào nông dânvốn đang nổi lên mạnh mẽ và uy hiếp trực tiếp đến quyền lợi của giaicấp phong kiến

+ Tin tởng vào kết quả của hoà nghị: các thành sẽ đợc trao trả, lãnh thổ

sẽ đợc thu hồi, các quyền lợi sẽ đợc phục hồi và quân Pháp sẽ về nớc

Tự Đức không nhìn thấy sự lật lọng của Pháp khi chúng chỉ coi thơngthuyết là kế hoãn binh tạm thời

+ Năm 1874: trong triều đình diễn ra cuộc tranh giành ngôi báu giữaHồng Bảo (anh) và Hồng Nhậm (em, tức Tự Đức) Hồng Bảo dựa vàophu xây lăng chống Tự Đức Tự Đức yếu thế và bị Pháp lợi dụng mâuthuẫn

Ngày 15.3.1874, Hoà ớc Giáp Tuất đợc ký kết Theo kế hoạch (trớc khiGácniê chết), đại diện thơng thuyết phía triều đình là Trần Đình Túc vàNguyễn Trọng Hơp; phía Pháp là Gácniê tại Hà Nội Sau khi Gácniê tử trận,Nguyễn Văn Tờng và Lê Tuấn đợc cử làm đại diện của triều đình ký hoà ớc dophái viên Pháp là Philastre (Philat) đã soạn thảo sẵn từ Pháp với Đuyprê tạiGia Định

Hoà ớc Giáp Tuất có 22 điều khoản, gồm các nội dung chính:

+ Triều đình thừa nhận chủ quyền của Pháp ở Nam Kỳ lục tỉnh

+ Pháp trả lại Bắc Kỳ nhng đặt lãnh sự ở Hà Nội, Hải Phòng và Huế,mỗi nơi có 40 đến 100 quân

+ Triều đình mở mang các cảng Quy Nhơn, Hải Phòng, mở cửa sôngNhị hà để Pháp đợc quyền tự do thơng mại, kỹ nghệ

+ Ngời Pháp hay ngời ngoại quốc muốn vào Việt Nam phải có giấythông hành cho phép của Pháp, không có quyền buôn bán, không đợc tự

ý xử ngời Pháp nếu họ phạm tội

Nhận xét về Điều ớc Giáp Tuất?:

 Đây là một thắng lợi lớn của Pháp, chẳng những giúp chúng hoá giải

đợc những khó khăn và thất bại trớc mắt mà còn đạt đợc những cơ sởkinh tế, chính trị, quân sự quan trọng, các quyền lợi kinh tế chính trị

Trang 29

 Một lần nữa ghi nhận sự thoả hiệp ngày một lớn của triều đình trớc

kẻ xâm lợc, Tự Đức đã tự phủ nhận vai trò lãnh đạo đất nớc và đi

ng-ợc lại nguyện vọng lợi ích của đất nớc và nhân dân Từ đây nhân dântiến hành chống Pháp đồng nghĩa với chống triều đình

Sau khi hoà ớc ký kết, Lê Tuấn tự tử vì xét thấy đây là hoà ớc hại dân hại nớcchứ chẳng phải là một thắng lợi của triều đình

"ở đâu cũng thế, chính quyền nhà vua không còn đợc tôn sùng nữa, nó bất lực; đa số các sĩ phu không thừa nhận hoà ớc và sẽ nhất tế nổi lên tất cả Chúng ta sẽ phải bảo vệ, bảo vệ những ai theo chúng ta và bảo vệ cả nhà vua nữa"

(Th Ray–na gửi cho Tổng chỉ huy quân Pháp ở Bắc Kỳ ngày 15.11.1874)

III Chiến sự mở rộng ra phạm vi cả n ớc triều đình Huế đầu hàng hoàn toàn.

1 Thực dân Pháp đánh Bắc Kỳ lần thứ hai:

- Vào những năm 70 của thế kỷ XIX, nớc Pháp bớc vào một giai đoạnmới: giai đoạn đế quốc chủ nghĩa - t bản ngân hàng kết hợp với t bản côngnghiệp thành t bản tài chính và các tập đoàn tài phiệt lớn

Nền kinh tế Pháp đứng trớc những đòi hỏi gay gắt về thị trờng, nguyênliệu và nhân công, chúng bắt đầu bớc vào cuộc chạy đua giành giật thuộc địavới các nớc t bản Âu Mỹ Trong lúc này, bọn tài phiệt chủ trơng khôi phục sựcờng thịnh của nớc Pháp nhng không phải bằng cách gây chiến tranh ở châu

Âu để tấn công Đức, lấy lại hai tỉnh Andát và Loren (bị mất sau Chiến tranhpháp - Phổ 1870) mà là bằng cách mở rộng thuộc địa khắp nơi, nhất là ở Viễn

Đông Từ sau 1880, các tập đoàn t bản tài chính ráo riết xúc tiến việc xâm lợcViệt Nam

- Khác với những lần trớc, quân Pháp chủ động đa quân ra Bắc Kỳ mộtcách không do dự và không cần nguyên cớ lý do

Vì sao có sự khác nhau về thái độ nh vậy?.

 Lần I chính phủ Pháp không đồng ý cho quân Pháp ở Nam Kỳ tiến

ra Bắc do những khó khăn trong nớc nên không thể tiếp viện, còn lầnnày, trớc sự thắng thế ngày một rõ ràng của lực lợng thực dân trongNghị viện Pháp, chính phủ Pháp trực tiếp ra lệnh cho quân Pháp ởNam Kỳ khẩn trơng đa quân tấn công Bắc Kỳ để chiếm lĩnh miếngmồi ngon này và liên tiếp đa quân sang chiến trờng Viễn Đông hỗtrợ

 Lợi dụng những điều khoản rộng rãi trong điều ớc 1874, thực dânPháp đã thiết lập đợc những cơ sở kinh tế, chính trị, quân sự chắcchắn ở Bắc Kỳ, tạo điều kiện hậu thuẫn khi chiến sự bùng nổ Đồngthời, chúng không bỏ qua cơ hội triều đình Huế nhờ đàn áp nhữngcuộc nổi loạn ở Bắc Kỳ để đem quân vào ngày một nhiều hơn Dovậy, nếu tấn công lần này Pháp có cơ hội thắng lợi nhiều hơn trớc

 Chúng nhận thức đợc triều đình Huế không còn khả năng chống cựbằng vũ lực mà chỉ trông chờ vào thơng thuyết, hoà nghị Anh, Đức,Tây Ban Nha cũng đang lợi dụng tình hình đó để tiến hành hội đàmvới Tự Đức, không những để chia sẻ quyền lợi ở Bắc Kỳ mà còn trêntoàn lãnh thổ Việt Nam Dù bằng bất cứ giá nào, chính phủ Phápcũng phải gấp rút hành động

 Từ kinh nghiệm lần thứ nhất, Pháp nhận thấy việc tấn công ra Bắckhông gặp phải một trở ngại nào lớn trong việc chiếm đóng cácthành, ngoại trừ quân của Hoàng Tá Viêm và Lu Vĩnh Phúc Tuynhiên đây là nhìn nhận sai lầm của Pháp khi chúng bỏ qua sức mạnhcủa nhân dân

Nh vậy, thái độ trong hai lần đa quân ra Bắc của thực dân Pháp là khácnhau, lần thứ nhất do dự, phản đối bao nhiêu thì lần sau quyết tâm và ráo riết,khẩn trơng bấy nhiêu Một khi đã có sự hạ lệnh thúc giục, hỗ trợ và tiếp viện

từ chính quốc, một khi kẻ cầm đầu đã quyết tâm xâm lợc thì bọn quan thầy

Trang 30

Pháp ở Nam Kỳ chỉ còn một việc duy nhất là thừa hành mệnh lệnh càng sớmcàng tốt

- Năm 1881, Chính phủ Pháp tăng viện binh cho Bắc Kỳ Tháng 1.1882,Henri Riviere cùng 228 quân có mặt tại Hà Nội, chúng ngang nhiên đóngquân tại Đồn Thuỷ, buộc Hoàng Diệu phải giải tán quân lính và phá huỷ các

đồn luỹ Ngày 4.4, Riviere vào thành Hà Nội lấy cớ là để yết kiến Hoàng Diệunhng thực chất là để nhằm dò la, xem xét cách bố phòng của thành

- Trớc tình hình đó, Hoàng Diệu khẩn trơng chuẩn bị tinh thần cho quânlính để đối phó, thực hiện di tản dân và cho ngời về cấp báo với triều đình, yêucầu Tự Đức cho quân thứ của Hoàng Kế Viêm về hỗ trợ Trớc đó, Hoàng Diệucùng với Hoàng Kế Viêm đã cho xây lại thành Hà Nội, tôn cao 1,5 m , đắpdày thêm 60 cm, khoét thêm các lỗ châu mai và đặt thêm đại bác, cửa thành đ-

ợc làm lại bằng gỗ lim

Hoàng Diệu: "Tôi trộm nghĩ Hà thành là cuống họng của Bắc Kỳ, lại là

khu yếu hại của bản quốc, nếu một ngày tan tành nh đất lở thì lần lợt các tỉnh mất nh ngói bung.”

Sự đối phó của Hoàng Diệu đã bị Tự Đức phê phán và cho rằng nếu làm

nh thế quân Pháp sẽ có cớ tấn công ta trớc Tự Đức vẫn mong chờ một cuộcthơng thuyết để hoá giải tình hình nh năm 1874

- Cuối tháng 3 đầu tháng 4 1882, Riviere tập trung quân và vũ khí về

Hà Nội, huy động thêm lực lợng từ Hải Phòng và Ninh Bình hỗ trợ Quân sốcủa Riviere lên tới 600 tên và 3 chiến hạm

Rạng sáng ngày 15.4.1882, Riviere gửi tối hậu th cho Hoàng Diệu:

"Đúng 8 giờ Ngài phải thân hành đến dinh tôi hàng phục, có mặt đông

đủ các quan tuần phủ, bố chánh, án sát, đề đốc, chánh phó lãnh binh Nếu đúng 8 giờ Ngài và toàn thể thuộc viên của Ngài không đến lãnh

sự quán để tỏ vẻ chấp thuận những điều kiện của tôi thì quân đội của tôi lập tức tấn công vào thành".

8 giờ đến 10 giờ, 3 chiến hạm nã đại bác lên thành 10 giờ, Riviere dànquân đánh vào cửa Bắc và cửa Đông Hoàng Diệu dẫn đầu xông lên mặt thànhnghênh chiến Do trong thành án sát Tôn Thất Bá phản bội, làm nội ứng choPháp nên chúng rất thông thạo mọi ngõ ngách, dễ dàng hạ thành chỉ sau mộtbuổi tấn công

*Hoàng Diệu(1829 - 1882):

Hoàng Diệu là ngời Điện Bàn, Quảng Nam Năm 1851, đỗ Phó bảng

đ-ợc cử làm chức Tri phủ huyện Tuy Viễn, Bình Định Ông là ngời thơng dân hếtmực, chính Tự Đức cũng phải khen: “chăm lo cho dân Bắc Hà, ngoài HoàngDiệu ra không ai hơn”

Năm 1873, ông đợc bổ làm Tham tri Bộ Hình, sau đó là Bộ Lại kiêm

Đô sát viện

Năm 1878, làm tổng đốc An - Tĩnh

Năm 1880 - 1882: ông đợc Tự Đức bổ nhiệm làm Tổng đốc Hà - Ninh(Hà Nội - Ninh Bình), trực tiếp chỉ huy quân sự bảo vệ thành Hà Nội Trớctình hình ngày càng căng thẳng ở Bắc Kỳ, Hoàng Diệu đã nhiều lần đề nghị

Tự Đức tăng cờng bố phòng và ra lệnh tấn công Pháp nhng Tự Đức khôngnghe, còn quở trách Hoàng Diệu Ông đã cùng với Tuần phủ Hoàng HữuXung, Đề đốc Lê Văn Trinh, Bố chánh Phan Văn Tuyển, án sát Tôn Thất Bá,lãnh binh Lê Trực cùng uống rợu hòa máu thề quyết tâm giữ thành Hà Nội.Khi thành Hà Nội đứng trớc nguy cơ thất thủ hoàn toàn, nhận thấy không đủsức chống cự, Hoàng Diệu mặc chiếc áo the thâm, chít khăn nhiễu xanh lên

đầu, tay cầm kiếm tuốt trần cỡi voi vào Hành cung (nơi vua thờng đến và

ngự) Tại đây ông truyền lệnh: "ai muốn về kinh thì về, còn ai muốn chiến đấu

nữa thì lên Sơn Tây tập hợp với đại quân của Hoàng Kế Viêm chờ ngày báo phục", sau đó soạn tấu biểu gửi về triều đình nhằm bày tỏ nỗi niềm và sự bất

lực của mình trớc sự tấn công ồ ạt của quân Pháp:

"Nếu thần tìm kế sách để giữ thành cho kỳ cùng thì trái với mệnh vua, giữ thành mà để cho bầy lang sói chiếm thành thì thần có tội với

Trang 31

dân với nớc Khi giặc chiếm thành, thần chỉ còn biết đem lòng cô trung thề với Long thành (tức Thành Hà Nội) và nguyện đi theo hơng hồn của Nguyễn Tri Phơng "

Hoàng Diệu thắt cổ tự vẫn trớc đền Quan Công Tự Đức đã hạ chiếukhen Hoàng Diệu đã tận trung tử tiết, yêu cầu tổng đốc Quảng Nam làm lễquốc táng, về sau thi hài ông chôn ở Học chính đờng, nay là phố Trần QuýCáp, sau ga Hà Nội Tôn Thất Thuyết đến viếng ông bằng 2 câu đối:

Nhất cử thành danh, tự cổ anh hùng phi sở nguyện Bình sanh trung nghĩa, đơng niên đại cuộc khởi vô tâm.

(Một chết đã thành danh, đâu phải anh hùng từng nguyện trớc Bình sinh trung nghĩa, đơng trờng đại cuộc tất lu tâm)

Hơn thua một vận truân phong Nghìn thu để tiếng anh hùng sử xanh.

- Việc thực dân Pháp ngang nhiên tấn công Bắc Kỳ không thể khôngkhiến cho triều đình Mãn Thanh lo ngại và tìm mọi cách để đối phó, tránh sự

uy hiếp trực tiếp lên Vân Nam của Pháp Cùng lúc đó, sau sự kiện Hà Thànhthất thủ lần thứ II, Tự Đức cầu cứu Mãn Thanh Nhà Thanh một mặt khôngthừa nhận Hiệp ớc 1874, vẫn tự coi là Thiên triều của Việt Nam nên khi Tự

Đức cầu cứu đã cho quân vào đóng ở các tỉnh Tuyên Quang, Sơn Tây, BắcNinh vào cuối năm 1882 Mặt khác, chúng tiến hành hội đàm với Pháp đểcùng chia nhau thống trị Bắc Kỳ Tại Pari, cuộc thơng thuyết diễn ra trong thếgiằng co, Nhà Thanh lấy cớ Việt Nam vẫn là thuộc quốc của mình nên cóquyền can thiệp, phía Pháp yêu cầu nhà Thanh rút quân vì đã vi phạm Hiệp ớc

1874 về đối ngoại của Việt Nam (thực chất là của Pháp) Tuy nhiên, tại BắcKinh, đại sứ Pháp là Buarê hiểu rõ thực tình hơn ai hết nên đã chủ động đềnghị nhà Thanh chia Bắc Kỳ làm hai khu vực bằng Điều ớc Thiên Tân ngày

20 12 1882

 Bắc sông Hồng có nhiều mỏ thuộc quyền cai quản của nhà Thanh

 Nam sông Hồng nhiều lúa gạo thuộc sở hữu của Pháp

Chính phủ Pháp không thoả mãn với sự phân chia này vì đối với chúng quantrọng và đem lại nhiều lợi nhuận nhất là “Bắc Kỳ mỏ” Chúng yêu cầu suý phủPháp ở Nam Kỳ phải khẩn trơng chiếm toàn bộ Bắc Kỳ Yêu cầu đó càng làmtăng thêm quyết tâm mở rộng chiến sự ra toàn Bắc Kỳ của thực dân Pháp

Tháng 3.1883, Pháp đánh Hòn Gai, khống chế mặt biển Bắc Kỳ nhằmngăn chặn ý đồ thơng lợng với Tự Đức để thuê mỏ Hòn Gai của triều đìnhMãn Thanh và thực dân Anh Từ Hòn Gai, Riviere chiếm Quảng Yên và tấncông xuống Nam Định Cuối tháng 3, Nam Định thất thủ

Trong lúc Riviere đang ở Nam Định, Hoàng Tá Viêm cùng Lu VĩnhPhúc từ Sơn Tây điều quân về bao vây và khiêu khích quân Pháp ở thành HàNội Quân ta dán bố cáo, yết thị khắp nơi gọi Riviere ra giao chiến tại phủHoài Đức, đồng thời lợi dụng đêm tối lọt vào thành phá hoại địch Tâm lý củaquân Pháp vô cùng hoang mang lo sợ, Riviere nhận thấy cần phải xuất quân

để trấn tĩnh tinh thần cho binh lính, hy vọng giành đợc thắng lợi

Rạng sáng ngày 19.5.1883, Riviere chỉ huy 550 quân cùng 3 đại bác dãchiến nhằm hớng phủ Hoài Đức theo đờng Sơn Tây mà tiến

Lu Vĩnh Phúc chỉ huy quân tổ chức phục kích ở Cầu Giấy, số đại quâncòn lại do Hoàng Tá Viêm tập trung ở Hoài Đức 5 giờ sáng, khi quân Phápvừa qua khỏi Cầu Giấy thì rơi vào trận địa phục kích của ta Henri Riviere tửtrận lúc 7 giờ sáng Chiến thắng Cầu Giấy lần thứ II đã giáng một đòn mạnh

mẽ xuống đầu quan thầy Pháp, cổ vũ phong trào kháng Pháp của nhân dânxung quanh Hà Nội Hoàng Tá Viêm đợc phục chức, Lu Vĩnh Phúc đợc phongchức Đề đốc

2 Điều ớc h ácmăng 1883 và Điều ớc Patơnốt 1884 Triều đình Huế đầu hàng hoàn toàn.

- Khác với khi nhận đợc tin Gácniê tử trận, sau khi Riviere bỏ mạng ởtrận Cầu Giấy II, quân Pháp càng đẩy mạnh quyết tâm xâm chiếm Bắc Kỳ vàthôn tính toàn bộ lãnh thổ Việt Nam Lấy cớ trả thù cho Riviere, sau khi đã

Trang 32

thu xếp tơng đối ổn thoả các vấn đề rắc rối ở châu Âu, bọn thực dân ở Pari kêugọi Nghị viện Pháp ủng hộ cuộc chiến tranh Việt Nam Tháng 5.1883, Nghịviện thông qua ngân sách và đề ra một kế hoạch xâm lợc mới, từ Bắc Kỳ mởrộng vào kinh thành Huế để kết thúc chiến tranh trong thời gian sớm nhất.

- Chính phủ Pháp tăng cờng viện trợ cho quân Pháp ở Việt Nam:

 Chi viện cho Bắc Kỳ 3000 quân Pháp và 1000 quân nguỵ cùng nhiều

+ Điều Harmand đang làm Lãnh sự Thái Lan về làm Cao uỷ Pháp

ở Bắc Kỳ

- Đầu tháng 7.1883, thực dân Pháp tổ chức hội nghị quân sự, xác địnhmục tiêu tấn công lúc này là Huế và Sơn Tây Sơn Tây lúc này là trung tâmkháng chiến, đặc biệt lúc này là có Hoàng Tá Viêm và Lu Vĩnh Phúc trấn giữ

“Huế là trung tâm chính trị, Huế mất thì Sơn Tây phải nhụt, Sơn Tây mất thìHuế không còn hy vọng gì”

 Sơn Tây: Thực dân Pháp quyết định đánh vào trung tâm kháng chiếncủa nhân dân ta ở phía Bắc và dụ hàng Lu Vĩnh Phúc nhng bị cựtuyệt Quân ta chiến thắng trận Vọng (15.8.1883) khiến cho kếhoạch đánh Sơn Tây bị trì hoãn và phải bỏ chạy về Hà Nội

 Thuận An: Thực dân Pháp mở cuộc tiến công vào Huế với mục đích

“khi nào Tự Đức nghe tiếng đại bác đầu tiên thì Tự Đức mới ký hoà ớc” Cuốc - bê và ác măng chỉ huy trận này

-Ngày 17.7.1883, Tự Đức qua đời, triều đình Huế hỗn loạn trong tang lễ

và tôn vơng, các cuộc tranh giành kế vị diễn ra dẫn tới những mâu thuẫn nội

bộ hết sức sâu sắc Thực dân Pháp lợi dụng cơ hội này để tấn công

Ngày 16.8, các hạm đội Bắc Kỳ và tàu chiến từ Sài Gòn tập trung ở ĐàNẵng Sáng 18.8.1883, địch kéo từ Đà Nẵng ra tấn công Thuận An, nhiềuquan trấn thủ tử nạn

Ngày 25.8.1883; Hiệp Hoà vừa mới lên ngôi khiếp sợ trớc tiếng vọng

đại bác đã vội vàng cử ngời xin đình chiến 48 giờ và rút quân, huỷ vũ khí,chấp nhận ký hoà ớc do Harmand chủ động đa ra sau khi thảo ra nó từ Pari

Ngày 25.8.1883, Hiệp ớc Harmand đợc ký kết giữa Nguyễn Trọng Hợp,Trần Đình Túc với Harmand và De Champeaux với 27 điều

Harmand: Nguyên là quân y sĩ trong phái đoàn Francis Garnier từ Sài Gòn ra Hà Nội để giải quyết vụ Dupuis tháng 11.1873 Sau đó, từ 1875

đến 1877, Harmand đợc nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng ở Thái Lan, Lào và Trung Kỳ và từng là Lãnh sự Pháp ở Băng Cốc.

Tháng 6.1883, Harmand đợc chỉ thị làm Cao uỷ Pháp ở Bắc Kỳ, nắm tất cả các quyền hành chính và quân sự ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, cắt đứt mối quan hệ Bắc Kinh - Huế, tiêu diệt hoặc mua chuộc Lu Vĩnh Phúc, ngăn chặn sự can thiệp của Trung Quốc vào Việt Nam, tổ chức ép triều

đình Huế ký hoà ớc mới thừa nhận quyền bảo hộ hoàn toàn và vĩnh viễn của thực dân Pháp.

- Nội dung chính của Điều ớc Hácmăng:

 Chia Việt Nam làm 3 kỳ: Bắc Kỳ là xứ Bảo hộ; Trung Kỳ là xứ 1/2Bảo hộ, thuộc triều đình; Nam Kỳ là xứ thuộc địa

 Cắt Bình Thuận nhập vào Nam Kỳ thuộc địa, Thanh - Nghệ Tĩnhthuộc Bắc Kỳ, từ Khánh Hoà đến Đèo Ngang thuộc Trung Kỳ

 Xoá nợ của triều đình cha trả hết

 Đặt Tòa Khâm sứ tại Huế bên cạnh triều đình để giúp đỡ vuaNguyễn, thực chất là nhằm điều khiển triều đình

 Có quyền đóng quân bất kỳ ở đâu, hởng mọi quyền lợi kinh tế, chínhtrị

Trang 33

Với điều ớc này, Việt Nam chính thức trở thành thuộc địa của Pháp.Quyền lực của triều đình Huế về thực chất chỉ còn là danh nghĩa, chỉ hạn chếtrong các tỉnh Trung Kỳ Tất cả mọi quyền hành kinh tế, chính trị, quân sự,ngoại giao đều phụ thuộc hoàn toàn vào tay thực dân Pháp Mặc cho nhân dânnhất loạt đứng lên khởi nghĩa chống Pháp, có lúc thu đợc thắng lợi giòn giãnhng triều đình Huế vì quá khiếp sợ trớc sức mạnh của tàu chiến và đại bácnên đã quay lng lại với nhân dân, chấp nhận những điều kiện ăn cớp của thựcdân Pháp, tự thủ tiêu quyền tự chủ và lãnh đạo của mình đối với giang sơn xãtắc Điều ớc 1883 gần nh là sự hoàn chỉnh quá trình thoả hiệp, đầu hàng củatriều đình Huế trớc thực dân Pháp từ 1858 đến 1883.

- Ký đợc Điều ớc Hác măng, thực dân Pháp tiếp tục đa quân ra Bắc Kỳ,tấn công đại bản doanh Hoàng - Lu ở Sơn Tây và một số địa phơng khác.Nhân dân Bắc Kỳ tiếp tục chống Pháp, cùng với Hoàng - Lu tổ chức lập cácphòng tuyến quanh sông Đáy, xiết chặt vòng vây Hà Nội Phong trào phản đối

Điều ớc 1883 ngày một dâng cao Triều đình Huế chẳng những không ứng cứu

mà còn ra lệnh cho Hoàng - Lu phải triệt binh, triệu hồi về kinh nhng không

đợc các tớng tá võ quan chấp hành Mặc dù rất anh dũng và kiên quyết chống

cự nhng trớc sức mạnh quá lớn của thực dân Pháp, các cuộc đấu tranh củaquân ta bị bẻ gãy và tan rã dần

- Đồng thời với cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân ta là cuộc

đấu tranh giành quyền lợi ở Bắc Kỳ của triều đình Mãn Thanh đã dẫn tới cuộcchiến tranh Trung - Pháp từ sau Điều ớc 1883:

+ Phía nhà Thanh, sau khi Pháp ký Điều ớc Hác măng, Lý Hồng Chơngkhông tránh khỏi lo ngại và cho quân tiến sâu vào Bắc Kỳ, tranh giành ảnh h-ởng với Pháp và không cho Pháp có cơ hội tiến lên lãnh thổ Trung Quốc Triều

đình Mãn Thanh đứng trớc một mâu thuẫn lớn: một mặt muốn giữ toàn quyềnlực của Thiên triều đối với phiên quốc Việt Nam, nhng mặt khác lại muốn cấukết bắt tay với thực dân để chia nhau quyền lợi ở phơng Nam Lý Hồng Chơng

hy vọng có thể lợi dụng mâu thuẫn giữa Pháp với các nớc đế quốc thực dân

nh Đức, Anh để dùng các nớc này ngăn chặn sự bành trớng của Pháp

+ Âm mu của Pháp là sau khi chiếm đợc Bắc Kỳ sẽ ngợc lên chiếm toàn

bộ vùng Vân Nam Trung Quốc Quân Pháp ngày càng chiếm đợc u thế vềquân sự trên các mặt trận, nhất là sau khi ký Điều ớc 1883 loại bỏ ảnh hởngcủa nhà Thanh đối với Huế thì lại càng có lợi thế hơn để thơng nghị với BắcKinh

Sau nhiều lần đấu tranh bằng thơng lợng và bằng cả chiến tranh, Pháp

và nhà Thanh cùng đi đến ký kết Điều ớc Thiên Tân vào ngày 9.6.1885 giữaJules Patenôtre và Lý Hồng Chơng Theo điều ớc này, quân nhà Thanh sẽ phảilần lợt rút khỏi Bắc Kỳ, không can thiệp vào Việt Nam, Pháp độc chiếm hoàntoàn Việt Nam Cũng từ đây, mối quan hệ thiên triều - phiên quốc giữa triều

đình Mãn Thanh và triều đình Huế chính thức chấm dứt khi ấn tín do vuaThanh ban cho vua Nguyễn - biểu tợng cuối cùng của quyền hạn nhà Thanh

đối với Huế bị nấu chảy, cũng là lúc Việt Nam chuyển từ sự phụ thuộc hoàntoàn vào Trung Quốc suốt hàng trăm năm với chế độ triều cống, thần phụcsang sự phụ thuộc tuyệt đối vào thực dân Pháp - kẻ thù đến từ châu Âu và pháttriển hơn hẳn một PTSX

- Tiếp sau Điều ớc Hác măng, thực dân Pháp điều Jules Patenôtre sangBắc Kinh làm đặc phái viên bên cạnh vua nhà Thanh, y đợc lệnh ghé vào Huế

để cùng với vua Nguyễn lập một điều ớc mới quy định rõ thêm sự đô hộ cuảthực dân Pháp ở Việt Nam

Ngày 6 6 1884, Nguyễn Văn Tờng, Phạm Thận Duật thừa lệnh vuaKiến Phúc ký với Jules Patenôtre điều ớc mới dựa trên nội dung cơ bản của

Điều ớc Harmand, gồm có 19 điều khoản, trong đó chúng trả lại Bình Thuậncho vua Nguyễn và nhập vùng Thanh - Nghệ Tĩnh vào Trung Kỳ

Về thực chất, Điều ớc Patenôtre là bản khai tử không chỉ quyền đốingoại mà còn với tất cả mọi quyền hành của triều đình Huế trên vơng quốcViệt Nam Đây là văn bản cuối cùng ghi nhận và hoàn thiện quá trình đầu

Trang 34

hàng vô điều kiện của triều đình Huế đối với thực dân Pháp Với việc phânchia nớc ta thành 3 kỳ với 3 chế độ chính trị khác nhau, thực dân Pháp đã đạt

đợc âm mu chia để trị, từ đó nô dịch nhân dân An Nam bằng những chínhsách thực dân ăn cớp

Ngày 15.6.1885: Tổng thống Pháp thông qua điều ớc

Ngày 20.2.1886 Điều ớc đợc trao đổi tại Huế

Ngày 2.3.1886 Tổng thống Pháp ký sắc lệnh cho thi hành Điều ớc

I Phong trào Cần V ơng:

Phong trào Cần Vơng xuất hiện trong điều kiện lịch sử nào?

+ Nội bộ triều đình Huế diễn ra cuộc đấu tranh gay gắt giữa phái chủchiến và chủ hòa:

- Phái chủ hòa: Tuy chiếm lực lợng đông đảo và đa số trong

Hoàng tộc nhng lại không nắm đợc binh quyền Lực lợng này đợcPháp ủng hộ và làm chỗ dựa

- Phái chủ chiến: Đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn

Tờng Sau 1883, triều đình Huế ra lệnh triệt binh, giải tán quân

đội nhng phái chủ chiến không chấp hành Tuy chiếm thiểu sốnhng phái chủ chiến lại nắm trong tay binh quyền và quan trọngnhất là họ nhận đợc sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân và một bộphận quan lại sĩ phu có tinh thần chống Pháp Trong hoàn cảnhlịch sử mới, phái chủ chiến ra sức tranh thủ thời gian và khả năngcho phép để gạt dần phái chủ hòa và phân hóa lực lợng khángchiến, chuẩn bị cho những mu đồ sắp tới

+ Thực dân Pháp tăng cờng thêm viện binh, một mặt để gây áp lực buộcnhà Thanh phải khẩn trơng thi hành Hiệp ớc Thiên Tân, rút hết quân độikhỏi Bắc Kỳ, mặt khác chủ yếu hơn là để đủ sức chống chọi với lực l-ợng kháng chiến của nhân dân, nhằm hoàn thành càng sớm càng tốt quátrình bình định xứ An Nam

+ Nhà Thanh nhanh chóng ra lệnh rút quân, đặc biệt là yêu cầu Lu VĩnhPhúc và một số tớng tá có tinh thần chống Pháp phải giải tán và lui vềbên kia biên giới Điều đó đồng nghĩa với việc nhà Thanh đã chính thứckết thúc sự can thiệp của mình vào cuộc chiến tranh Pháp - Việt, thừanhận Việt Nam là thuộc địa của thực dân Pháp, theo đó vùng Tây NamTrung Quốc coi nh đã bỏ ngỏ và sớm muộn cũng sẽ rơi vào tay t bảnthực dân

- Kế hoạch của phái chủ chiến:

Trang 35

+ Thành lập ra các đạo quân đặc biệt và giao cho những ngời tincẩn chỉ huy (đội quân Phấn Nghĩa, đội quân Đoàn Kiệt ), cho mua sắmthêm vũ khí, tổ chức luyện tập chuẩn bị chiến đấu.

+ Gạt dần những phần tử có t tởng chủ hòa ra khỏi bộ máy triều

đình để vừa dễ điều hành vừa đỡ gây xáo trộn trong tâm lý của quan lại.Sau khi Tự Đức chết, giúp việc cho triều đình là Hội đồng phụ chínhgốm có 3 ngời là Tôn Thất Thuyết, Trần Tiễn Thành, Nguyễn Văn Tờng

đều đứng về phe chủ chiến

+ Dựa vào bộ phận quan lại có tinh thần chủ chiến và phong tràochống Pháp tại các địa phơng để xây dựng các căn cứ kháng chiến, đềphòng trờng hợp cần thiết phải rút khỏi kinh thành nh Tân Sở, DơngYên Ngoài ra, họ còn chủ trơng tập hợp những ngời có học thức, làTiến sĩ, phó bảng để chuẩn bị cơ sở cho việc hình thành một triều đìnhmới cho cuộc kháng chiến lâu dài ngoài kinh thành

+ Bằng mọi cách phải tìm cho đợc một ngời có tinh thần chốngPháp lên làm vua ở Huế Đó là Hàm Nghi

Dới thời quân chủ có 3 căn cứ để chọn vua là trọng đích, trọng trởng, trọng nam; khi vua băng hà cần có 1 ttrong 2 điều kiện dể tôn v-

ơng: nếu vua có để lại di chiếu thì làm theo, nếu không có di chiếu thì việc lập vua kế vị sẽ do Hoàng hậu quyết định Tự Đức không có con nên phải nuôi con nuôi, khi qua đời có để lại di chiếu, lúc còn sống

định nhờng ngôi cho Ưng Đăng nhng sau đó đổi ý nhờng ngôi cho Ưng Chân (Dục Đức) - con nuôi thứ 1 và là con đẻ của Thiệu Trị Điều đó

đã làm cho phe chủ chiến không đồng ý và tổ chức phế truất sau 3 ngày lên ngôi và đa Hồng Dật (tức Vua Hiệp Hòa) lên thay nhng về sau Hiệp Hòa âm mu phản bội phe chủ chiến và thông đồng với Pháp nên cũng

bị phế truất sau 4 tháng ở ngôi Sau Hiệp Hòa là Ưng Đăng (Vua Kiến Phúc) cũng bị lật đổ.

Ưng Lịch (Vua Hàm Nghi) là ngời đã sớm thể hiện tinh thần chống Pháp nên đợc phe chủ chiến ủng hộ Mặc dù lên ngôi khi còn nhỏ nhng đợc sự giúp đỡ và cố vấn của phe chủ chiến nên Hàm Nghi

đã có những hành động và ứng xử khiến quân Pháp phải rắp tâm lật đổ.

Rõ ràng Tôn Thất Thuyết và phe chủ chiến đã có sự chuẩn bị tơng đối

kỹ lỡng và chu đáo để bớc vào cuộc kháng chiến mà họ biết là sẽ rất lâu dài vàkhó khăn với thực dân Pháp Lấy chỗ dựa vững vàng là thành trì nhân dân, lấysức mạnh từ quyết tâm chống Pháp tới cùng để khôi phục giang sơn xã tắc,Tôn Thất Thuyết cùng với Hàm Nghi và phe chủ chiến đã mở đầu cho thời kỳ

đấu tranh giải phóng dân tộc bằng phong trào Cần Vơng

- Sự biến kinh thành đêm 4 7 1885:

Cuối tháng 6 1885, lực lợng quân Pháp đợc huy động về Huế, âm mubắt cóc Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tờng vì đây là 2 nhân vật đang nắmgiữ binh quyền của triều đình Ngày 3 7, Đờ Cuốcxy mời 2 ông đến dinh thựcủa y để thơng nghị nhng bị khớc từ Không đạt đợc mục đích, Đờ Cuốcxy lại

đòi vào yết kiến Hàm Nghi nhng đem theo cả quân hộ vệ Tôn Thất Thuyếtkhông tiếp và thờng xuyên đề phòng cẩn thận Nhận thấy tình hình ngày càngcăng thẳng, Tôn Thất Thuyết gấp rút chuẩn bị khởi sự: Ông cho chuyển nhữngtài sản quý của triều đình ra căn cứ Quảng Trị, lập chiến lũy và bổ sung quânvào nội thành chờ lệnh tấn công Đây là lần đầu tiên từ khi thực dân Pháp xâmlợc đến bây giờ một vị quan của triều đình chủ động tấn công kẻ thù sau khi

đã đợc chuẩn bị khá chu đáo

Đêm 4 7 đợi khi Đờ Cuốcxy tàn tiệc đãi quan quân, khoảng 1 giờ sángTôn Thất Thuyết hạ lệnh tấn công vào Tòa Khâm và đồn Mang Cá Cuộc giaochiến diễn ra rất ác liệt, đến rạng sáng 5 7 quân Pháp tổ chức phản công kinhthành Trớc tình hình đó, Tôn Thất Thuyết quyết định rút lui và đa vua HàmNghi ra khỏi kinh thành Cùng đi với đoàn xa giá còn có Tam cung (Từ Dũ,Trang ý, Học Phi là mẹ và vợ vua Tự Đức) Nguyễn Văn Tờng trốn ở lại Huế

đầu thú với Đờ Cuốcxy, sau đó cùng thông đồng với Trơng Quang Đản ở

Trang 36

Quảng Trị đa Tam cung quay lại Huế, lấy cớ là để chăm sóc mồ miếu tổ tôngnhng thực chất là để hòa với giặc Khi đã có Tam cung trong tay, Đờ Cuốcxy

đã ép buộc Từ Dũ tuyên cáo lập vua mới là Đồng Khánh (anh của Hàm Nghi)tại Huế năm 1885, biến ông vua này thành con rối để dễ sai khiến

 Đánh giá nh thế nào về Nguyễn Văn Tờng?

Nguyễn Văn Tờng (1818 - 1886) là một nhân vật lịch sử phứctạp.Việc đánh giá ông cho đến nay còn nhiều ý kiến trái ngớcnhau Mặc dù đã tổ chức một số cuộc HTKH nhng ý kiến vềNguyễn Văn Tờng vẫn cha thể đi đến thống nhất Hiện nay đangtồn tại 3 loại ý kiến khác nhau:

- Nguyễn Văn Tờng là kẻ phản bội dân tộc, đầu hàng vàlàm tay sai cho thực dân Pháp

- Nguyễn Văn Tờng là một trung thần, suốt cuộc đời vìvua vì nớc

- Nguyễn Văn Tờng vừa có những phẩm chất và đónggóp có ý nghĩa cho đất nớc lại vừa có những sai lầmkhông dễ tha thứ

1850 - 1885: Nguyễn Văn Tờng giữ nhiều chức vụ quan trọngtrong triều đình Sau khi Tự Đức chết, Nguyễn Văn Tờng đã cùngvới Tôn Thất Thuyết và Trần Tiễn Thành trong Hội đồng phụchính giúp việc đắc lực cho triều đình, dần dần chuyển từ chủ tr-

ơng nghị hòa sang chủ chiến sau khi đất nớc đã rơi vào tay giặc

Đêm 4 7 1885: Trong khi Tôn Thất Thuyết phò tá Hàm Nghixuất bôn khỏi kinh thành, hạ chiếu Cần Vơng cứu nớc thìNguyễn Văn Tờng ở lại Huế, đầu hàng Đờ Cuốcxy, viết thkhuyên xa giá Hàm Nghi trở về Huế hàng giặc, cùng với Tamcung đa Đồng Khánh lên ngôi làm tay sai cho Pháp, đối lập vớiHàm Nghi đang ở căn cứ kháng chiến Nguyễn Văn Tờng còn chỉ

điểm cho Pháp biết đờng đi của Hàm Nghi khi Ngời vừa ra khỏikinh thành Từ đây, Nguyễn Văn Tờng trở thành ngời hoàn toàn

đối lập với chính mình trớc đó

Vậy thì đánh giá ông là ngời nh thế nào? Có thể, những hành

động của Nguyễn Văn Tờng sau ngày 4 7 1885 phải chăng làsản phẩm của điều kiện lịch sử, là đại diện của một lớp ngờikhông thể vợt qua đợc chính mình để đến với nhân dân cùngchống Pháp?

- Tôn Thất Thuyết phò tá Hàm Nghi đến Tân Sở - QTrị với ý định lậpthành căn cứ kháng chiến lâu dài nhng do Tân Sở quá hẻo lánh và đơn độc nênTôn Thất Thuyết phải chuyển xa giá quay ra hớng Nghệ Tĩnh Tuy nhiên, tạiTân Sở, Tôn Thất Thuyết đã thay mặt Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng lần thứnhất: lên án tội ác của thực dân Pháp đối với đất nớc và nhân dân; nêu những

lý do chính đáng khiến vua phải lên xa giá xuất bôn ra khỏi kinh thành: "

Trẫm đức mỏng, gặp biến cố này không thể hết sức giữ đợc, để thành bị hãm,

xa giá phải rời xa"; kêu gọi văn thân sĩ phu khắp nơi tổ chức kháng chiến

cùng với nhân dân để giúp vua khôi phục lại chủ quyền Đồng thời, Tôn ThấtThuyết còn phục chức cho những vị quan có t tởng chủ chiến bị phế bỏ do quátrình thi hành các điều ớc để chuẩn bị nhân sự cho việc thiết lập một bộ máytriều đình kháng chiến mới đối lập với Đồng Khánh ở Huế

Ngày 10 9 1885, Tôn Thất Thuyết đa vua Hàm Nghi đến căn cứ giápranh giữa 2 tỉnh Hà Tĩnh và Quảng Bình, tại đây, thay mặt Hàm Nghi, TônThất Thuyết hạ chiếu Cần Vơng lần thứ hai: tiếp tục lên án thực dân Pháp;phản đối Bà Từ Dũ đã theo yêu cầu của Pháp nhân danh Tự Đức đa Ưng Kỳlên ngôi, lấy hiệu là Đồng Khánh; tiếp tục kêu gọi văn thân sĩ phu hởng ứnggiúp vua cứu nớc Khi Chiếu Cần Vơng vừa mới đợc ban ra, ngay lập tức đã cómột lớp văn thân sĩ phu hởng ứng nhiệt thành, cùng với nhân dân họ đã lập ramột hệ thống các căn cứ chống Pháp kéo dài từ Bắc vào Nam, tất cả đều hớng

Trang 37

về Hàm Nghi và Tôn Thất Thuyết ở Nghệ Tĩnh với tấm lòng tận trung hếtmực.

- Phong trào Cần Vơng chống Pháp đã diễn ra sôi nổi và ngày càng mởrộng quy mô, phạm vi ảnh hởng trên toàn quốc Tiêu biểu là ở Nam trung Kỳ,Quảng Nam, Quảng Trị, Quảng Bình, Thanh Nghệ Tĩnh, Tây Bắc

Một số cuộc khởi nghĩa tiêu biểu:

+ Khởi nghĩa Ba Đình (1886 - 1887):

Lãnh đạo cuộc khởi nghĩa là Phạm Bành nhng ngời chỉ huy thực sự là

Đinh Công Tráng - một cựu chánh tổng từng tham gia nghĩa quân Hoàng TáViêm trong trận Bắc Kỳ lần thứ hai

Căn cứ Ba Đình thuộc huyện Nga Sơn, Thanh Hóa, án ngữ trên cáctuyến đờng huyết mạch Gọi là Ba Đình vì căn cứ đợc xây dựng tại 3 làng Th-ợng Thọ, Mậu Thịnh và Mỹ Khê, ở mỗi làng đều có đình riêng Căn cứ Ba

Đình đợc xây dựng là công lao chung của nhân dân Thanh Hóa, lợi dụng 3

đình sẵn có, nghĩa quân đã xây dựng thành 3 đồn hỗ trợ cho nhau trong tácchiến Đây là một căn cứ đợc bố trí rất chắc chắn, nhất là yếu tố bí mật đợc

đảm bảo tuyệt đối Trong hơn 1 năm hoạt động, nghĩa quân đã tổ chức đợcnhững cuộc tấn công tiêu diệt sinh lực địch và gây cho chúng khá nhiều tổnthất nặng nề Tuy nhiên do sự chênh lệch quá lớn về vũ khí, lại dần dần bị địchcô lập nên Ba Đình lần lợt rơi vào tay Pháp, thủ lĩnh nghĩa quân bị chúng bắt

và giết hại Cuộc khởi nghĩa thất bại vào năm 1887

+ Khởi nghĩa Hơng Khê (1885 - 1896):

Đây là cuộc khởi nghĩa lớn nhất, tiêu biểu nhất và kéo dài nhất củaphong trào Cần Vơng Địa bàn hoạt động của nghĩa quân lan rộng trên cả 4tỉnh Thanh, Nghệ, Tĩnh, Bình, chủ yếu dựa vào địa hình hiểm trở của NghệTĩnh Đứng đầu nghĩa quân là Phan Đình Phùng - một vị quan từng ở trongphái chủ chiến của triều đình Sau hơn 10 năm chiến đấu, nghĩa quân đã làmcho địch gặp nhiều phen khốn đốn, buộc chúng phải thừa nhận: “cuộc phiếnloạn do Phan Đình Phùng cầm đầu đã lan tràn rất mau và có thanh thế rất lớn

So sánh với cuộc phiến loạn của Phan Đình Phùng thì những cuộc phiến loạnnổi lên trớc đó thật cha thấm vào đâu Nhng vì chính sách cai trị và khôngmuốn d luận bên Pháp xôn xao sợ hãi nên ở đây ngời ta cố giấu giếm đợcchừng nào hay chừng ấy” Điều đặc biệt của cuộc khởi nghĩa này là nghĩaquân đã nhận đợc sự ủng hộ nhiệt tình của nhân dân về cả vật chất lẫn tinhthần Khởi nghĩa Hơng Khê thất bại đã kết thúc hoàn toàn phong trào Cần V-

ơng trên phạm vi cả nớc

- Sau khi đa Hàm Nghi ra căn cứ mới ở Quảng Bình - Hà Tĩnh, TônThất Thuyết bắt tay vào việc tổ chức kháng chiến và đi khắp nơi tranh thủ sựủng hộ của lực lợng bên ngoài, đặc biệt là tớng Lu Vĩnh Phúc của nhà Thanh

Đến cuối hè 1888, nhiều căn cứ kháng chiến đã đợc xây dựng, nghĩa quân đã

tổ chức đợc nhiều trận đánh vang dội, chiếm lại đợc một số vùng đất đai,khiến quân Pháp phải hao binh tổn tớng, nhất là vùng có căn cứ của Hàm Nghichiếm đóng ở giáp ranh Quảng Bình - Hà Tĩnh Giữa lúc ấy, trong nội bộ bảo

vệ vua Hàm Nghi có kẻ phản nghịch là Trơng Quang Ngọc và Nguyễn ĐìnhTình Bị Pháp mua chuộc, Ngọc và Tình đã chỉ điểm cho Pháp biết nơi vua

đang ẩn náu và trực tiếp bắt sống Hàm Nghi giao cho giặc vào đêm 1 11

Trang 38

1888, các quan cận thần và tớng tá bị giết, một số sau đó tự vẫn hoặc ra hànggiặc Đó là một tổn thất lớn, gây không ít khó khăn cho nghĩa quân Phongtrào Cần Vơng ở Quảng Bình nói riêng và ở trên phạm vi toàn quốc nói chungchuyển sang giai đoạn mới.

 Hàm Nghi (1871 - 1944): Đây là một vị vua trẻ, có tinh thần

và quyết tâm chống Pháp, đợc phe chủ chiến trong triều đìnhủng hộ, và cũng là vị vua duy nhất của nhà Nguyễn còn giữ đ-

ợc khí tiết và có trách nhiệm trớc vận nớc lâm nguy

17 tuổi, Hàm Nghi bị giặc bắt sống do cận thần phản bội,khi bị bắt, ông đã khảng khái nói với Trơng Quang Ngọc:

"mày cứ giết tao đi còn hơn là bắt tao giao cho bọn Pháp ".

Ngày 16 11 chính phủ Pháp quyết định đày Hàm Nghi sangAngiêri Ngày 23 11 quân Pháp áp giải ông về Huế và có ý

định dể ông thăm bà Từ Dũ nhng ông đã từ chối "tôi bây giờkhông còn nớc non, mẹ con, anh em chi nữa hết"

Ngày 13 1 1889, Pháp đa Hàm Nghi đến Angiêri, bị quảnthúc cách xa thủ đô Angiê chừng 5 km

Năm 1899 Hàm Nghi đợc sang Pháp và gặp nhiều chínhkhách, tớng tá của Pháp

Năm 1904 Hàm Nghi thành hôn với con gái của Chánh tòa ợng thẩm Angiê và sinh đợc 3 ngời con (công chúa Nh Mai -

th-1905, công chúa Nh Lý -1908, hoàng tử Minh Đức - 1910).Trong thời gian ở Angiê, đợc chứng kiến những ảnh hởng củacuộc CTTG1, đợc đi sang Marôc, Hàm Nghi đã nhận thứccuộc đấu tranh giải phóng dân tộc theo kiểu Cần Vơng trớc

đây không thể đem lại chiến thắng cho dân tộc Việt Nam đợc.Mặc dù không bị đối xử tệ, bản thân đã học tiếng Pháp,tiếp xúc và am hiểu về văn hóa Pháp nhng Hàm Nghi biết rõthực dân Pháp không bao giờ có ý định khôi phục lại ngôi báucho một kẻ từng trên cơng vị là hoàng đế đã hạ chiếu phát

động nhân dân kháng chiến chống lại chính chúng Dẫu luôncanh cánh bên lòng mong mỏi đợc hồi hơng nhng Hàm Nghivẫn chấp nhận cuộc sống của một tù nhân chính trị Biết mìnhkhó đợc Pháp tin cậy và bản thân ông cũng không thể làm đợcgì cho danh dự của đất nớc, trong suốt thời gian bị lu đày,Hàm Nghi vừa thờ tự tổ tiên họ Nguyễn Phúc vừa dạy dỗ con

cái với lời khuyên: "các con cha thể làm những ngời Việt

Nam tốt thì hãy ra sức học hành, trau dồi đạo đức để trở thành những ngời Pháp tốt ".

Ngày 14 1 1944, Hàm Nghi qua đời tại Angiê, thi hài đợccải táng tại khu vực biệt thự Gia Long, kết thúc cuộc đời củamột vị vua tâm huyết với đất nớc nhng không có cơ hội đểchuộc lại lỗi lầm của các vị vua tiền bối đã gây ra cho dân tộc.Năm 1962, Angiêri độc lập, hài cốt của Hàm Nghi đợc chuyểnsang Pháp

- Mặc dù sau khi vua Hàm Nghi bị bắt, phong trào Cần Vơng dới sựlãnh đạo của các thủ lĩnh khởi nghĩa vẫn tiếp tục phát triển và giành đợc một

số thắng lợi quan trọng nhng sự kiện ông bị bắt đã trở thành mốc phân chiaphong trào Cần Vơng ra làm 2 giai đoạn: 1885 - 1888 và 1888 - 1896

Những đặc điểm chủ yếu của mỗi giai đoạn?

+ 1885 - 1888: Đây là giai đoạn Cần Vơng có Vua

 Tính chất Cần Vơng, giúp vua cứu nớc thể hiện đậm nét: HàmNghi trực tiếp chỉ huy nhân dân kháng chiến ở Quảng Bình -

Hà Tĩnh; ở những địa phơng khác đều có đại diện ngời củavua tổ chức và lãnh đạo kháng chiến nh: Trần Xuân Soạn ởThanh - Nghệ, Khâm sai Nguyễn Quang Bích ở Tây Bắc,Hoàng Đình Kinh ở Đông Bắc, Trần Văn Dự và Nguyễn Thân

Trang 39

ở Nam Trung Kỳ cho thấy trong giai đoạn này, sự phối hợpchỉ huy và chiến đấu giữa các địa phơng tơng đối thống nhất

và chặt chẽ

 Phong trào kháng chiến diễn ra trên một địa bàn rộng lớn vàtoàn diện: từ trung du, miền núi xuống đồng bằng ven biển, từcực Bắc đến tận miền Nam Trung Kỳ Đây là lần đầu tiên mộtphong trào phò vua, đấu tranh chống Pháp đợc tổ chức chặtchẽ và có sự phối hợp chiến đấu trên một phạm vi rộng nh thế.Trong giai đoạn này, tất cả các cuộc khởi nghĩa và các thủ lĩnhlãnh đạo đều huớng về trung tâm của cuộc kháng chiến là HàTĩnh - Quảng Bình, nơi đó có Hàm Nghi với ý chí chống Pháp

đến cùng để khôi phục lại chủ quyền đất nớc Chính mục tiêu

“Cần Vơng” - giúp vua cứu nớc đã trở thành động lực vànguồn cổ vũ lớn lao cho toàn dân đứng lên chống Pháp, HàmNghi đã trở thành ngọn cờ dẫn dắt cuộc kháng chiến giảiphóng dân tộc của nhân dân Do vậy, trớc khi Hàm Nghi bịbắt, trong các cuộc đấu tranh của văn thân sĩ phu, chủ nghĩatrung quân đi liền với ái quốc

 Đây cũng là giai đoạn diễn ra quá trình vận động ngoại viện,kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân, sĩ phu và quan lại nhà Thanh,trực tiếp là tớng Lu Vĩnh Phúc do Tôn Thất Thuyết tiến hành

Sự giúp đỡ ấy rất hiệu quả và thiết thực về vũ khí, tiền của,quân lính và tinh thần

 Cũng trong giai đoạn này, về phía thực dân Pháp mới chỉ sửdụng số ít những quan lại đã mua chuộc đợc của triều đìnhvào việc đàn áp phong trào của nhân dân, sự cấu kết giữa thựcdân và phong kiến cha chặt chẽ nên phần nào ít gây tổn hại

đến cuộc đấu tranh của các nghĩa quân

+ 1888 - 1896: Đây là giai đoạn Cần Vơng không có vua

 Tính chất Cần Vơng ở giai đoạn này rất mờ nhạt do Hàm Nghi

bị bắt, nhng không vì thế mà phong trào đấu tranh nguội dần

để tắt hẳn, ngợc lại cuộc kháng chiến của nhân dân vẫn đợctiếp tục dới sự lãnh đạo của các văn thân sĩ phu Mặc dùkhông còn chiến đấu cho mục tiêu phò vua, giúp nớc nhng dớidanh nghĩa Cần Vơng, phong trào vũ trang chống Pháp vẫn đ-

ợc duy trì và khôi phục

 Phạm vi hoạt động của phong trào thu hẹp và chuyển cáctrung tâm kháng chiến lên vùng trung du miền núi, đặc biệtkhông còn các cuộc khởi nghĩa của nhân dân các tỉnh NamTrung Kỳ trở vào do đã bị thực dân Pháp đàn áp dữ dội

 Sau khi Hàm Nghi bị bắt, sự phối hợp chiến đấu giữa các địaphơng trở nên rời rạc, chỉ còn quy về một số lãnh tụ tiêu biểu

ở Thanh - Nghệ Đặc biệt, ở giai đoạn này do cuộc chiến tranhTrung - Nhật bùng nổ, nhà Thanh buộc phải hòa hoãn và bắttay với Pháp để đối phó với Nhật nên hạn chế tiếp viện về vũkhí, quay sang ngăn cản các sĩ phu Việt Nam chống Pháp Vìvậy, công tác ngoại viện lúc này gặp khó khăn dẫn tới thất bại

về căn bản

 Trong giai đoạn thứ hai, nhất là sau khi thành lập Liên bang

Đông Dơng và cơ bản thiết lập xong bộ máy cai trị, trong đó

có sự cấu kết ngày càng chặt chẽ giữa thực dân và quan lạiNam triều tay sai nên nghĩa quân gặp khó khăn lớn: hầu hết ởcác địa phơng, từ bọn tổng đốc đến tuần phủ, tri huyện, lý tr-ởng đều ráo riết truy lùng, đàn áp những ngời theo khởinghĩa Sự tổn thất ngày một lớn đã khiến cho phong trào CầnVơng ở giai đoạn này dần dần đi vào thoái trào và thất bại.Tóm lại:

Trang 40

+ Cần Vơng chỉ là danh nghĩa, còn thực chất đây là sự tiếp tục củaphong trào vũ trang chống Pháp của nhân dân ta đã bùng nổ từ giữa thế kỷXIX Thực tế, chẳng cần phải đợi đến khi Hàm Nghi hạ chiếu Cần Vơng thìphong trào đấu tranh chống Pháp trong nhân dân mới hình thành mà ngay từ

1858 phong trào ấy đã bùng nổ và ngày càng phát triển mạnh mẽ dới sự lãnh

đạo của các văn thân sĩ phu phong kiến yêu nớc Phong trào Cần Vơng chính

là phong trào yêu nớc chống Pháp cuối thế kỷ XIX

+ Sự thất bại của phong trào Cần Vơng là sự thất bại của phong trào giảiphóng dân tộc dới ngọn cờ phong kiến ở Việt Nam những năm cuối thế kỷXIX Từ đây đã tạo ra sự phân hóa sâu sắc trong tầng lớp văn thân sĩ phu:

 Một bộ phận không chấp nhận thực tại mất nớc, lui về ở ẩn đểchạy trốn cuộc đời

 Một bộ phận dần dần biết cách chấp nhận hiện thực mất nớc,

từ đó bằng tri thức và nhận thức đã từng bớc vơn lên tiếp nhậnnhững luồng t tởng và ảnh hởng tiến bộ từ bên ngoài đang dộivào nớc ta ngày một mạnh mẽ Bộ phận này sẽ tiếp tục trởthành lực lợng lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc ViệtNam đi theo khuynh hớng cứu nớc mới trong những năm đầuthế kỷ XX Đó là thế hệ của Phan Bội Châu và Phan ChuTrinh

+ Mặc dù thất bại nhng phong trào Cần Vơng đã cho thấy sự vơn lên vềmặt t tởng của tầng lớp văn thân sĩ phu phong kiến trong một bối cảnhhết sức khó khăn và đầy biến động ở Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX Họ

đã vợt qua đợc sự trói buộc của chủ nghĩa trung quân mù quáng và phế

bỏ vua khi vua không còn là minh chủ để lập nên ngọn cờ Hàm Nghi và

đến với nhân dân kháng chiến Khí tiết ấy khẳng định lòng ái quốc vĩ

đại của một bộ phận văn thân sĩ phu đơng thời kiên quyết bất hợp tác vàkhông đầu hàng kẻ xâm lợc, mong muốn dấy nghiệp để giành lại độc

lập nhng không thành "Ngay trong thất bại, các cụ đã để lại bao kinh

nghiệm quý giá với những tấm gơng anh dũng Máu đổ thnàh sông, thây chất đầy núi nhng lòng dân cha hề vơi cạn nên vận hội cứu nớc hãy

* Tiêu biểu:

+ 1887 - 1895: Khởi nghĩa Hà Văn Mao, Cầm Bá Thớc

+1889 - 1890: Khởi nghĩa Đốc Ngữ, sông Đà

+ 1895: Khởi nghĩa Vơng Quốc Chính

+ 1896 - cuối XIX: Khởi nghĩa Kỳ Đồng, Mạc Đĩnh Phúc

+ 1898: Khởi nghĩa Võ Trứ, Trần Cao Vân

+ 1884 - 1913: Khởi nghĩa nông dân Yên Thế…

* Phong trào nông dân Yên Thế 1884 - 1913):

Đây là phong trào đấu tranh lớn nhất, bền bỉ nhất và tiêu biểu nhất chosức chiến đấu dẻo dai và tinh thần bất khuất của ngời nông dân Việt Nam cuốithế kỷ XIX

Yên Thế thuộc phía Tây tỉnh Bắc Giang, rộng chừng 40 - 50 km2, vốn lànơi hoạt động của các nghĩa quân chống triều đình nhà Nguyễn nh khởi nghĩaCai Vàng năm 1862, khởi nghĩa Quản Tợng năm 1865 Từ năm 1884, nơi đâytrở thành một căn cứ chiến tranh du kích chống Pháp mạnh nhất của nhân dâncác tỉnh phía Bắc Khi thực dân Pháp mở rộng phạm vi chiếm đóng ra Bắc Kỳthì Yên Thế trở thành đối tợng bình định đầu tiên của chúng

Lãnh đạo phong trào Yên Thế lúc đầu là Đề Nắm (Lơng Văn Nắm) từ

1884 đến 1892 sau đó là Đề Thám (Hoàng Hoa Thám) đến năm 1913 Nét nổi

Ngày đăng: 05/03/2021, 00:30

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w