1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

chuyên đề hình tượng người phụ nữ

54 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 54
Dung lượng 30,06 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

hình tượng ngời phụ nữ ngữ văn 9 ôn thi vào 10.......................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................

Trang 2

I Bối cảnh lịch sử xã hội:

- giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉ XIX, chế độ phong kiến khủng

hoảng trầm trọng, bộ máy chính quyền chuyên chế đang trong giai đoạn sâu mọt và mục ruỗng Nhân dân bị bóc lột và áp bức nặng nề, nhiều cuộc

khởi nghĩa nổi dậy khắp nơi,

- Chính trong tình trạng khủng hoảng trầm trọng của chế độ phong kiến, văn học phát triển và đạt đến độ rực rỡ nhất Văn học gắn liền với những vấn đề

thiết yếu trong cuộc sống, tố cáo chiến tranh phong kiến và sự thối nát của

giai cấp thống trị, phơi bày những nỗi khổ, lầm than của nhân dân lao động bị áp bức, đồng thời lên tiếng đòi quyền sống, quyền hạnh phúc cho

họ, đặc biệt là người phụ nữ.

- Người phụ nữ là đối tượng, đề tài được đề cập nhiều nhất trong văn học

giai đoạn này, bởi vì họ là đối tượng bị coi thường và bị áp bức nặng nề nhất

trong xã hội phong kiến, bị bủa vây bởi những tập tục, những định kiến khắt khe của lễ giáo phong kiến, không chỉ khổ về thể xác lẫn tinh thần mà còn bị chà đạp, bị hắt hủi, lăng nhục,…

A HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

A HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI

Trang 3

II Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong văn học trung đại

- Trong dòng chảy quan niệm Việt Nam, người phụ nữ đẹp trong văn học trung đại cũng hiện diện trong một vẻ đẹp toàn diện cả bên trong lẫn bên ngoài Đó là một sự kết hợp hài hoà giữa cái sắc- tài- tâm,giữa

nhan sắc và đức hạnh với “ tam tòng tứ đức”.

- Người phụ nữ được hiện lên bởi cái đẹp về ngoại hình, tấm lòng bao dung, nhân hậu Tuy nhiên, trong quan niệm của dân tộc thời kì này thì phụ nữ đẹp thường gắn liền với số phận bất hạnh, có một điểm chung ở

họ đó là cuộc đời đầy sóng gió, bẽ bàng “ Hồng nhan bạc mệnh”

Hình tượng người phụ nữ trong văn học trung đại vừa mang tính khái quát cho vẻ đẹp, số phận, khát vọng của người phụ nữ; vừa là hình tượng kết tinh lập trường, tư tưởng nhân đạo của các nhà văn Thông qua hình tượng đó, nhà văn bày tỏ sự cảm thông, thương xót, chia sẻ với những nỗi thống khổ, bất hạnh mà họ phải gánh chịu Đồng thời trân trọng, ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp; thấu hiểu, cảm thông cho những ước mơ, khát vọng ở họ.

Trang 4

III Kiến thức văn học :

1.Hình tượng người phụ nữ qua tác phẩm : « Người con gái Nam Xương» - Nguyễn Dữ.

a Vẻ đẹp của Vũ Nương:

Vũ Nương chính là đại diện cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ

nữ Việt Nam dưới chế độ phong kiến Không như Nguyễn Du miêu

tả thật tinh tế nét đẹp “nghiêng nước nghiêng thành” của Thúy Kiều,

Nguyễn Dữ chỉ điểm qua nhẹ nét đẹp của Vũ Nương: “tư dung tốt

đẹp”.

Nhưng chỉ bằng một chi tiết nhỏ ấy, tác giả đã phần nào khắc họa

được hình ảnh một cô gái có nhan sắc xinh đẹp Nhưng chữ “dung”

ấy, vẻ đẹp hình thức ấy, chẳng thể nào tỏa sáng ngàn đời như vẻ đẹp tâm hồn nàng Nhân vật Vũ Thị Thiết ( Vũ Nương) trong truyện “

người con gái Nam Xương” là một hình tượng điển hình cho mẫu

con người bổn phận trong xã hội.

Trang 6

Vũ Nương là người con hiếu thảo với mẹ chồng, luôn giữ trọn đạo làm dâu

- Biết mẹ chồng vì thương nhớ con mà sinh ốm nàng “ hết sức thuốc thang, lễ bái và lấy lời ngọt ngào, khôn khéo khuyên lơn” Điều đó đã cho thấy một tấm chân tình, thật lòng của VN dành cho mẹ chồng

- Đến khi bà mất, nàng đã hết lời thương xót,

ma chay , tế lễ cẩn trọng như với cha mẹ đẻ của mình Cái tình ấy có thể thấu cảm cả trời đất cho nên trước lúc qua đời, người mẹ già đã trăn trối những lời yêu thương, động viên, trân trọng con dâu: “ Sau này, trời xét lòng lành, ban cho phúc đức giống dòng tươi tốt, con cháy đông đàn, xanh kia quyết chẳng phụ con, cũng như con chẳng phụ mẹ”

 Tác giả đã một lần nữa nhắc lại: “Nàng

hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ,

lo liệu như với cha mẹ đẻ mình”, như tô đậm tình yêu thương của nàng đối với mẹ chồng

(*)BỔN PHẬN LÀM CON

Trang 7

(*) BỔN PHẬN LÀM VỢ

Trong cuộc sống vợ chồng, biết Trương Sinh vốn có tính đa

nghi nên nàng luôn “ giữ gìn khuôn phép, không từng để lúc

nào vợ chồng phải đến thất hoà” Nàng luôn giữ cho tình cảm gia đình đầm ấm, yên vui

Hạnh phúc êm đềm tưởng bền lâu, không ngờ đất nước xảy ra binh biến, Trương Sinh phải đầu quân ra trận ở biên ải xa xôi Ngày tiễn chồng ra trận, nàng đã dặn rằng: “Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo được ấn phong hầu, mặc áo gấm trở

về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo được hai chữ bình yên,

thế là đủ rồi” Từng lời, từng chữ nàng thốt ra thấm đẫm tình

nghĩa vợ chồng thủy chung, son sắt» Phận làm vợ, ai chẳng

mong phu quân mình được phong chức tước, áo gấm về làng Còn nàng thì không Nàng chỉ ước ao giản dị rằng chàng Trương trở về được bình yên để có thể sum họp, đoàn tụ gia đình, hạnh phúc ấm êm như ngày nào Qua lời nói dịu dàng, nàng cũng bộc lộ nỗi khắc khoải nhớ chồng của mình “ Nhìn trăng soi thành cũ, lại sửa soạn áo rét gửi người ải xa, trông liễu

rủ bãi hoang, lại thổn thức tâm tình ”

Trái tim của nàng thật giàu lòng yêu thương, biết chịu đựng

những thử thách, biết đợi chờ để yên lòng người đi xa, thật

đáng trân trọng biết bao Nàng vừa thương chồng, vừa nhớ chồng, vừa thương xót cho chính mình phải đêm ngày đối mặt với những nỗi cô đơn vò võ.

Trang 8

Khi hạnh phúc gia đình có nguy cơ

tan vỡ, Vũ Nương ra sức cứu vãn,

hàn gắn Khi người chồng trút cơn

ghen, Vũ Nương đã ra sức thanh minh, phân trần: “ Thiếp vốn là con

kẻ khó được nương tựa nhà giàu cách biết ba năm vẫn giữ gìn một tiết Tô son điểm phấn từng đã nguôi lòng, ngõ liễu tường hoa chưa

hề bén gót ” Những lời nói nhún nhường tha thiết đó cho thấy thái độ

trân trọng chồng, trân trọng gia đình nhà chồng, niềm tha thiết giữ gìn gia đình nhất mực của nàng

Rồi những năm tháng sống ở chốn làng mây cung nước sung sướng

nhưng nàng vẫn không nguôi nỗi

thương nhớ chồng con và đầy lòng

vị tha.

Trang 9

Vũ Nương là một người mẹ hết

mực yêu thương con Những

ngày xa chồng, nàng đã âm thầm nuôi con, và nàng xót xa biết bao khi nhìn cảnh con thơ thiếu vắng sự chăm sóc, yêu thương của người cha.Thế là nàng đã chỉ bóng mình trên tường mà bảo với con rằng ấy chính là cha Đản Hành động ấy chẳng phải

Trang 10

Nhân vật vũ Nương

Nguyễn Dữ đã tập trung những nét đẹp điển hình của người phụ nữ Việt Nam vào hình tượng Vũ Nương, khi thì cách xử thế, khi thông qua lời nói, khi hành động, khi thái độ, hình ảnh Vũ Nương hiện lên là một người trong trắng thuỷ chung, giàu lòng vị tha, hiếu thảo nhưng cũng là một người phụ nữ khí khái, tự trọng Ðó là một tâm hồn đẹp, đẹp một cách có văn hoá

Trang 11

III Kiến thức văn học :

1 Hình tượng người phụ nữ qua tác phẩm : « Người con gái Nam Xương» - Nguyễn Dữ.

b Số phận của Vũ Nương

Nguyễn Du đã từng viết :

«Đau đớn thay phận đàn bà, Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung».

(Nguyễn Du – Truyện Kiều)

Hai chữ “bạc mệnh” cứ bám riết, đeo đẳng số phận người phụ nữ Hình tượng Vũ Nương là điển hình nghệ thuật cho

“phận đàn bà” tư dung tốt đẹp, chung thủy sắt son mà bất hạnh tột cùng.

Trang 12

(*)Nỗi cô đơn, trống vắng:

-Ngay khi mở đầu, nàng đã mang số phận cô đơn, buồn tủi khi

chồng đi lính Vừa mới lấy nhau chưa được bao lâu thì Trương Sinh

đi lính Người phụ nữ ấy phải xa chồng một quãng thời gian dài ba năm

Trong khoảng thời gian ấy, Vũ Nương đã chu toàn hết mọi việc trong gia đình Nhưng trong nàng vẫn mang sự cô đơn, thiếu bóng hình chồng Chi tiết cái bóng trong truyện không chỉ để nói về sự quan tâm của Vũ Nương với bé Đản để mong con có một người cha

Mà chi tiết này nói đến nỗi nhớ chồng da diết của nàng

Trang 13

(*) Số phận bất hạnh khi nàng bị chồng nghi oan có người khác

- Vũ Nương bị chồng nghi oan, nỗi oan có

nguyên nhân trực tiếp từ lời nói ngây thơ của

đứa con, bắt nguồn từ chuyện nàng đùa con đêm đêm trỏ bóng mình trên vách bảo là cha Đản Đứa bé đã không nhận Trương Sinh là cha mà nói về người cha - chiếc bóng kia khiến Trương Sinh nghi ngờ vợ không chung thủy

- Vũ Nương bị chồng đối xử bất công, tàn

nhẫn Trương Sinh không đếm xỉa gì đến

công lao của Vũ Nương với gia đình, bỏ ngoài tai mọi lời phân trần, minh oan của Vũ Nương cũng như lời biện bạch, bênh vực của

họ hàng, làng xóm cho nàng, một mực ruồng rẫy, mắng nhiếc, đánh đuổi nàng đi

- Thất vọng tột cùng, Vũ Nương đành tìm

đến cái chết trên sông đế giãi tỏ lòng mình

Trang 14

- Nàng đã chọn cái chết đã chứng minh sự trong sạch của bản thân Nỗi oan của

Vũ Nương sẽ còn đeo đẳng mãi nếu như không có một đêm tình cờ “Cha Đản lại

đến kia kìa» Người cha thứ hai vô tình ấy chính là nguyên nhân sâu xa gây ra

cái chết oan uổng của Vũ Nương Thế là chỉ một trò đùa trong thương nhớ dẫn tới cái chết oan khiên của người vợ dung hạnh Nàng chết sự lẻ loi cô đơn và nỗi

ân hận sẽ là hình phạt dày vò Trương Sinh suốt quãng đời còn lại

Cái chết của Vũ Nương cũng là đại diện cho số phận chung của người phụ

nữ phong kiến Một con người đẹp nết đẹp người, thuỷ chung son sắt thì bị nghi oan là thất tiết Một con người hết lòng xây dựng cho hạnh phúc gia đình đến cuối cùng phải bất hạnh lìa xa cuộc đời

- Từ chốn thủy cung, Vũ Nương “ngồi trên một chiếc kiệu hoa đứng giữa dòng, theo sau có đến năm mươi chiếc xe cờ tán, võng lọng, rực rỡ sắc màu, lúc ẩn, lúc hiện” Nhưng xót xa thay, nàng “chẳng thể trở về nhân gian được nữa” Nỗi oan tình của nàng đã được minh oan, giải tỏa nhưng âm dương đôi đường cách trở, nàng chẳng bao giờ được làm vợ, làm mẹ chốn cõi trần Bé Đản mãi mãi là một đứa bé mồ côi mẹ Nếu nàng được trở về với cõi trần thì liệu xã hội phong kiến bất công không có nơi dành cho cái đẹp này có dành cho nàng một cuộc sống

ấm êm, bình yên, hay một lần nữa, nàng phải đau đớn, buồn khổ Dù quay về chốn tiên cảnh xinh đẹp, nhưng cuối cùng, mơ ước cả đời của nàng, hạnh phúc

“nghi gia nghi thất”, chỉ mãi là ước mơ hảo huyền

Trang 15

2 Hình tượng người phụ nữ qua Truyện Kiều - Nguyễn Du

(*) Khái quát về truyện Kiều:

Truyện Kiều hay còn có tên gọi khác là “ Đoạn trường Tân

Thanh” được đại thi hào Nguyễn Du sáng tác dựa trên cốt

truyện “ Kim Vân Kiều truyện” ( Thanh Tâm tài nhân Đây là câu chuyện được kể băng 3254 câu thơ chia làm 3 phần chính: Gặp gỡ và đính ước, Gia biến và lưu lạc, Đoàn tụ.

 Truyện Kiều trở thành một tập đại thành về bức tranh xã

hội, con người trong thời đại phong kiến Một trong những giá trị cốt lõi của truyện chính là tiếng nói yêu thương sâu sắc đối với những con người nhỏ bé, đặc biệt là người phụ nữ

trong xã hội phong kiến Đó là tiếng kêu thương đứt ruột cho

những số phận tài hoa, bạc mệnh trong xã hội xưa, đồng thời cũng là tiếng nói thể hiện niềm khát khao về công lí và tình yêu chân chính của con người.

Trang 16

(*) Hình ảnh người phụ nữ:

- Phận hồng nhan trong văn học, văn hoá phương Đông đã trở thành một đề tài quen thuộc Phận má hông gặp truân chuyên đã trở thành một hiện thực phổ biến trong xã hội phong kiến và đi vào trong văn học như một đề tài quen thuộc

- - Nàng Vũ Thị Thiết ( Truyện người con gái Nam Xương) công dung vẹn toàn nhưng cuối cùng cũng tự vẫn trong nỗi oan khó giải Nàng Hồ Xuân Hương tài sắc vẹn toàn nhưng cuộc đời lại trắc trở, chìm nổi, làm lẽ 2 lần nhưng vẫn chưa tìm được bến đỗ bình yên

“ Thủa trời đất nổi cơn gió bụiKhách má hồng nhiều nỗi truân chuyên

Xanh kia thăm thẳm tầng trên

Vì ai gây dựng cho nên nỗi này”

( Đặng Trần Côn)Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã không ít lần than thở cho số kiếp của người phụ nữ

“ Rằng hồng nhan tự thủa xưaCái điều bạc mệnh có chừa ai đâu”

Hay :

“ Phận sao bạc chẳng vừa thôiKhăng khăng buộc mãi lấy người hồng nhan”

Trang 17

(*) Nhân vật Thuý Kiều:

Hình ảnh nhân vật Thuý Kiều là một biểu tượng cho người phụ nữ “ Hồng nhan bạc mệnh”.

a.Vẻ đẹp :

“Làn thu thuỷ nét xuân sơnHoa ghen thua thắm, liểu hờn kếm xanhMột hai nghiên nước nghiên thành Sắc đành đòi một tài đành hoạ hai”

Nguyễn Du đã miêu tả vẻ đẹp Thuý kiều không dài , chỉ vài câu thôi , vậy mà ta như thấy hiện ra trước mắt một thiếu nữ “ tuyệt thế gia nhân” Mắt nàng thăm thẳm như làn nước mùa thu , lông mày uốn cong xinh đẹp như dáng núi mùa xuân ; dung nhan đằm thắm đến hoa củng phải ghen , dáng người tươi xinh mơn mởn đến mức liễu cũng phải hờn

câu thơ: “Hoa ghen thua thắm, liểu hờn kếm xanh” Nguyễn Du như đã dự báo số phận bấp bênh chìm nổi của Kiều qua các hình ảnh hoa và liễu thua vẻ đẹp của nàng nhưng không cam chịu thua mà còn “ ghen” còn “ hờn

 Thủ pháp ước lệ,nhân hoá là biện pháp tu từ phổ biến trong văn học cổ được tác

giả sử dụng xuất sắc , kết hợp với việc dùng điển cố “nghiêng nước nghiêng thành” , tác giả đã làm cho ta không chỉ đọc, chỉ nghe, chỉ cảm nhận , mà như thấy

tận mắt nàng Kiều Nàng quả là có một vẻ đẹp “ sắc sảo mặn mà” Ta có thể nói

là “có một không hai” làm mê đắm lòng người

Trang 18

Nàng có cả tài thơ , tài hoạ , tài đàn , tài nào cũng xuất sắc , cũng

thành “nghề” cả Trong đó phải kể đến là tài đàn Trong Truyện Kiều,

Nguyễn Du đã miêu tả nàng 3 lần đánh đàn và mỗi lần Kiều lại khẳng định tài năng của mình khác nhau Cung đàn của nàng sở dĩ lay động lòng người hẳn không chỉ bởi một chữ “tài” mà còn bởi ở đó có cả chữ “tình”.

Nhân vật Thuý Kiều là sự hội tụ của tất cả vẻ đẹp toàn bích: sắc đẹp nghiêng nước nghiêng thành, tài năng đỉnh cao, chân tâm sâu sắc Kiều là hiện thân trọn vẹn của những giá trị thẩm mĩ đạo đức,

là hình tượng người phụ nữ đẹp nhât mà văn học Việt Nam thời phong kiến đã đạt được.

Trang 19

c Số phận :

Người “tài sắc vẹn toàn” như Thuý Kiều cuối cùng lại trải qua một cuộc đời đầy trắc trở, truân chuyên

- Nàng Kiều lại là nạn nhân của xã hội đồng tiền đen bạc:

« Một ngày lạ thói sai nhaLàm cho khốc liệt chẳng qua vì tiền»

- Kiều phải bán mình cho Mã Giám Sinh - một tên buôn thịt bán người, để trở thành món hàng cho hắn cân đong đo đếm, cò kè mặc cả.Cũng vì món lợi đồng tiền mà Mã Giám Sinh và Tú Bà đã đẩy Kiều vào chốn lầu xanh nhơ nhớp

- Nàng được Thúc Sinh cứu vớt nhưng lại bị vợ cả là hoạn thư đầy ghen tuông

khiến nàng phải nương nhờ cửa phật Sư Giác Duyên gửi nàng cho Bạc Bà

vô tình đẩy nàng vào lầu xanh Kiều gặp Từ Hải, nhưng cuối cùng chàng lại

bị Hồ Tôn Hiến hãm hại nên cuối cùng Kiều bị ép gả cho tên thổ quan Đau đớn, tủi nhục Kiều trẫm mình xuống sông Tiền Đường tự vẫn nhưng được sư

Giác Duyên cứu và lần thứ 2 nương nhờ cửa phật

15 năm lưu lạc với bao “ gió dập sóng dồi” đã khiến Kiều từ một cô gái khuê các “ êm đềm trướng rủ màn che” trở thành người phụ nữ phong trần

“ thanh lâu hai lượt, thanh y hai lần”, từ một thiếu nữ dào dạt sức sống, khao khát yêu thương, hạnh phúc trở thành người phụ nữ buông bỏ hết phong trần, lánh mình nơi cửa phật.

Trang 20

(*) Nhân vật Thuý Vân :

a Vẻ đẹp

- Là hình tượng của một người phụ nữ mang một vẻ đẹp đáng nể trọng không chỉ về hình thể và cả vẻ đẹp tâm hồn Thuý vân mang

một vẻ đẹp truyền thống: đoan trang, phúc hậu, thuỳ mị.

-Không chỉ đẹp ở nhan sắc, Vân còn có một tâm hồn cao cả.

b Số phận :

- Giống như tất cả mọi người con gái, Vân có tình cảm tiêng tư cá nhân Nhưng khi vì gia đình, vì để giữ vẹn âm toàn nghĩa của chị với chàng Kim, nàng chấp nhận sống bên cạnh Kim Trọng như một cái bóng bên người “chồng hờ” mà nàng chưa bao giờ than phiền gì.

- Điều đó thể hiện một lòng cảm thông sâu sắc của Thuý Vân đối

với chị, nàng chấp nhận hi sinh tuổi xuân và hạnh phúc của

mình.

Trang 21

 Nhân vật Vũ Nương,Thuý Kiều hay cả Thuý Vân đại diện cho tầng

lớp phụ nữ ngày xưa Họ không

được hưởng bất cứ một thứ quyền lợi, không được hưởng tự do, không thể thoát khỏi nanh vuốt của xã hội Trong xã hội phong

kiến, quyền sống của con người, nhất là quyền sống của người phụ

nữ như là « chỉ mảnh treo chuông» Cuộc sống của họ cũng có thể được

ví như «chim lồng cá chậu» luôn khao khát được làm chủ cuộc sống của bản thân

Trang 23

A HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG KHÁNG CHIẾN

A HÌNH TƯỢNG NGƯỜI PHỤ NỮ

TRONG KHÁNG CHIẾN

I Hình tượng người phụ nữ trong giai đoạn 1930-1945

-Người phụ nữ Việt Nam trong văn học hiện đại Việt Nam 1930 - 1945

trở về với nét đẹp giản dị đời thường và với những công việc thường

nhật người phụ nữ Việt Nam hiện lên với vẻ đẹp giản dị, gắn bó với

chốn làng quê.

-Trong không khí của cuộc cách mạng sục sôi và dưới ánh sáng của lý tưởng mới, hơn bao giờ hết hình ảnh người phụ nữ hiện lên với vẻ đẹp

mới - vẻ đẹp của những con người đã được giải phóng, được tháo ra

khỏi vòng cương tỏa của lễ giáo phong kiến, để hòa mình vào công cuộc chung của đất nước Văn học Việt Nam đã dựng lên nhiều tượng đài về

hình ảnh người bà, người mẹ Việt Nam anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang

Trang 24

II Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

a Nhà thơ Bằng Việt và bài thơ Bếp lửa

(*) Tác giả:

Bằng Việt tên thật là Nguyễn Việt Bằng, sinh năm 1941, quê ở Thạch Thất - Hà Tây, nay thuộc Hà Nội.Ông thuộc thế hệ những nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến chống Mĩ.

- Thơ Bằng Việt trong trẻo, mượt mà, tràn đầy cảm xúc, đề tài thơ thường đi vào khai thác những kỉ niệm, những kí ức thời thơ ấu và gợi những ước mơ tuổi trẻ.

(*)Bài thơ Bếp lửa

- Hoàn cảnh sáng tác: năm 1963 khi đang học đại học ở

nước Nga, sau được in trong tập thơ Hương cây - Bếp lửa.

- Nội dung: Qua hình ảnh bếp lửa, ngọn lửa và bàn tay nhóm lửa, tác giả thể hiện lòng thương nhớ, kính yêu và biết ơn của đứa cháu đi xa đồng thời nói lên tình yêu thiết tha đối với gia đình quê hương đất nước Gợi lại những kỉ niệm đầy xúc động về người bà và tình bà cháu, đồng thời thể hiện lòng kính yêu, trân trọng và biết ơn của cháu đối với bà và cũng là đối với gia đình, quê hương đất nước.

- Nghệ thuật : sáng tạo hình tượng thơ "Bếp lửa" mang nhiều ý nghĩa biểu tượng Giọng điệu và thể thơ phù hợp với cảm xúc hồi tưởng và suy ngẫm.

Trang 25

II Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

b.Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”

(*)Tác giả:

-Nguyễn Khoa Điềm còn có tên khác là Nguyễn Hải Dương Ông là một nhà thơ lớn trong kháng chiến chống Mỹ

-Thơ của Nguyễn Khoa Điềm lấy chất liệu từ văn học Việt Nam và cảm hứng từ quê hương, con người, và tình thần chiến đấu của người chiến sĩ Việt Nam yêu nước Trong kháng chiến chống Mỹ, thơ của Nguyễn Khoa Điềm thể hiện rõ được con người Việt Nam và bản chất anh hùng bất khuất của chiến sĩ Việt Nam

-Tác phẩm được xem là thành công nhất của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm, đó chính là bài thơ "Đất nước" Bài thơ ra đời trên chiến trường Bình Trị Thiên vào mùa đông năm 1971 Với việc kết hợp tinh tế giữa ca dao và dân ca vào trong thơ, Nguyễn Khoa Điềm đã thể hiện được cảm nhận mới lại của tác giả đối với đất nước

Trang 26

II.Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

b.Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm và “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”

(*)Tác giả:

(*) Tác phẩm: Bài thơ “ Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ”

- Hoàn cảnh sáng tác: Bài thơ được sáng tác ngày 25 tháng 3 năm 1971, khi Nguyễn Khoa Điềm đang công tác ở chiến khu Thừa Thiên Đây là thời kỳ cuộc kháng chiến chống Mỹ diễn ra ác liệt trên cả hai miền Nam Bắc Thời kỳ này cuộc sống của cán bộ, nhân dân ta trên chiến khu vô cùng gian nan, thiếu thốn

- Nghệ thuật: Bài thơ kết hợp biểu cảm với tự sự, có bố cục đặc sắc với những

khúc hát ru, giọng điệu thơ thiết tha ngọt ngào

Trang 27

II Giới thiệu về tác giả, tác phẩm:

c Nhà văn Lê Minh Khuê và truyện ngắn “ Những ngôi

sao xa xôi”

(*) Tác giả:

- Lê Minh Khuê (1949) tại Tĩnh Gia, Thanh Hóa.Từng là thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn, thuộc thế hệ các nhà văn trưởng thành trong phong trào kháng chiến chống Mỹ (Viết văn từ những năm 70).

- Phong cách: là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, ngòi bút miêu tả tinh tế, đặc biệt là nhân vật nữ.

- Đề tài: trước năm 1975: viết về cuộc sống và chiến đấu của thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn, sau 1975 viết về cuộc sống và con người thời kì đổi mới.

(*).Tác phẩm:

-Truyện “ Những ngôi xao xa xôi” là một trong những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê (1971), thời kì cuộc kháng chiến chống Mĩ đang ở chặng cuối diễn ra vô cùng ác liệt, nhất là trên tuyến đường Trường Sơn.

- Truyện đã làm nổi bật tâm hồn trong sáng, thơ mộng, tinh thần dũng cảm, cuộc sông và chiến đấu đầy gian khổ, hy sinh nhưng rất hồn nhiên, lạc quan của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường

Ngày đăng: 28/02/2021, 19:45

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w