Do kế toán quản trị chi phí có tính linh hoạt cao, phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng đơn vị cụ thể nên luận văn này tập trung nghiên cứu các nội dung của kế t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
TRẦN CHÍ ĐỨC
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ T-TECH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
Hà Nội - 2019
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
-
TRẦN CHÍ ĐỨC
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ T-TECH VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN THỊ MAI CHI
Hà Nội - 2019
Trang 3CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BẢN XÁC NHẬN CHỈNH SỬA LUẬN VĂN THẠC SĨ
Họ và tên tác giả luận văn: TRẦN CHÍ ĐỨC
Đề tài luận văn: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập
đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số SV: CA170169
Tác giả, Người hướng dẫn khoa học và Hội đồng chấm luận văn xác nhận tác giả đã sửa chữa, bổ sung luận văn theo biên bản họp Hội đồng ngày 26 tháng 4 năm
2019 với các nội dung sau:
1 Phần hình thức nội dung luận văn:
- Chỉnh sửa lại lời mở đầu: phạm vi nghiên cứu đổi thành năm 2016 và 2017
- Chương 1: bổ sung phương pháp xác định chi phí của các loại chi phí
- Chương 2: bổ sung thêm quy trình công nghệ sản xuất các sản phẩm và các trung tâm chi phí
- Sửa lại lời trình bày đúng quy định
Ngày tháng năm 2019
Giáo viên hướng dẫn
TS Nguyễn Thị Mai Chi
Tác giả luận văn
Trần Chí Đức
CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
TS Nguyễn Đại Thắng
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn Thạc sĩ: “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại
Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam” là công trình nghiên cứu
của riêng tôi
Các số liệu, thông tin được sử dụng trong luận văn này là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào trước đây
Tác giả
Trần Chí Đức
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN……….…….i
MỤC LỤC……….………ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT……….…………v
DANH MỤC CÁC BẢNG……….……… vi
DANH MỤC CÁC HÌNH………… ………viii
PHẦN MỞ ĐẦU………1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT 6
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 6
Bản chất của kế toán quản trị chi phí 6
Nhiệm vụ và vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 7
1.2 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 9
Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất 9
Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí 17
Xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí 24
Phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí 27
Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh 31
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí 36
Các nhân tố bên trong 36
Các nhân tố bên ngoài 36
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 38
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ 39
T-TECH VIỆT NAM 39
2.1 Tổng quan về Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 39
Quá trình hình thành và phát triển 39
Đặc điểm tổ chức bộ máy quản lý 40
Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 42
Trang 6Đặc điểm tổ chức kế toán tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ
T-Tech Việt Nam 45
2.2 Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 48
Phân loại chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 48
Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 50
Xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí 57
Phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí 69
Phân tích thông tin chi phí phục vụ quá trình ra quyết định kinh doanh 74 2.3 Đánh giá thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 74
Về phân loại chi phí 74
Về phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí 75
Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí 75
Xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí 76
Việc phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh 76
Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 77
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 79
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY 80
CỔ PHẦN TẬP ĐOÀN CÔNG NGHỆ T-TECH VIỆT NAM 80
3.1 Định hướng phát triển hệ thống kế toán quản trị chi phí của công ty 80
3.2 Những yêu cầu cơ bản khi hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 80
Trang 73.3 Các giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Cổ phần
Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam 81
Hoàn thiện phân loại chi phí 82
Hoàn thiện việc phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí 88
Hoàn thiện việc xây dựng định mức và lập dự toán chi phí 93
Hoàn thiện việc xác định chi phí cho đối tượng chịu phí 99
Hoàn thiện phân tích thông tin chi phí phục vụ cho việc ra quyết định kinh doanh 102
Điều kiện để thực hiện các giải pháp 104
3.4 Đóng góp của đề tài nghiên cứu 105
Đóng góp về lý luận 105
Đóng góp về thực tiễn 105
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 107
KẾT LUẬN 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO 109
PHỤ LỤC 110
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BHXH, BHYT, BHTN Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp
C-V-P Chi phí - sản lượng - lợi nhuận
KPCĐ Kinh phí công đoàn
KTQT Kế toán quản trị
KTTC Kế toán tài chính
NCTT Nhân công trực tiếp
NVL Nguyên vật liệu
NVLTT Nguyên vật liệu trực tiếp
QLDN Quản lý doanh nghiệp
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động năm 2017 49
Bảng 2.2: Tổng hợp chi phí theo nội dung kinh tế năm 2017 49
Bảng 2.3: Kế hoạch sản xuất thiết bị thí nghiệm xi măng, vữa năm 2017 50
Bảng 2.4: Định mức tiêu hao nguyên vật liệu 52
Bảng 2.5: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp năm 2017 53
Bảng 2.6: Bảng kê định mức thời gian gia công 54
Bảng 2.7: Đơn giá tiền lương của sản phẩm năm 2017 55
Bảng 2.8: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp năm 2017 56
Bảng 2.9: Dự toán chi phí sản xuất chung năm 2017 57
Bảng 2.10: Sổ chi tiết tài khoản 621 59
Bảng 2.11: Sổ chi tiết tài khoản 622 60
Bảng 2.12: Sổ chi tiết tài khoản 627 63
Bảng 2.13: Sổ chi tiết tài khoản 154 64
Bảng 2.14: Bảng tính giá thành sản phẩm 65
Bảng 2.15: Sổ chi tiết tài khoản 154 66
Bảng 2.16: Sổ chi tiết tài khoản 641 67
Bảng 2.17: Sổ chi tiết tài khoản 642 68
Bảng 2.18: Báo cáo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp năm 2017 70
Bảng 2.19: Bảng tổng hợp chứng từ liên quan đến chi phí NCTT 71
Bảng 2.20: Báo cáo chi phí sản xuất chung năm 2017 71
Bảng 2.21: Báo cáo CP bán hàng của cửa hàng Hà Nội năm 2016 và năm 2017 72
Bảng 2.22: Báo cáo CP bán hàng của CN Đà Nẵng năm 2016 và năm 2017 73
Bảng 2.23: Báo cáo CP bán hàng của công ty năm 2016 và năm 2017 73
Bảng 2.24: Báo cáo chi phí QLDN toàn công ty năm 2016 và năm 2017 74
Bảng 3.1: Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí 83
Bảng 3.2: Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí 84
Bảng 3.3: Số giờ nhân công trực tiếp và chi phí hỗn hợp năm 2017 86
Bảng 3.4: Phân loại chi phí sản xuất theo cách ứng xử của chi phí 87
Trang 10Bảng 3.5: Báo cáo tình hình thực hiện chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tháng 6 năm
2017 90
Bảng 3.6: Báo cáo tình hình thực hiện biến phí sản xuất chung tháng 6 năm 2017 91 Bảng 3.7: Báo cáo tình hình thực hiện định phí sản xuất chung năm 2017 92
Bảng 3.8: Dự toán chi phí bán hàng và chi phí QLDN năm 2018 95
Bảng 3.9: Bảng biến phí sản xuất đơn vị 97
Bảng 3.10: Bảng dự toán linh hoạt chi phi sản xuất năm 2018 98
Bảng 3.11: Các nhóm chi phí hoạt động và tiêu thức phân bổ 100
Bảng 3.12: Bảng tính giá thành theo phương pháp trực tiếp 100
Bảng 3.13: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 101
Bảng 3.14: Bảng tính chi phí sản xuất đơn hàng 104
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 1.1: Chi phí biến đổi 12
Hình 1.2: Chi phí cố định 13
Hình 1.3: Chi phí hỗn hợp 14
Hình 2.1: Tổ chức bộ máy quản lý 41
Hình 2.2: Tổ chức sản xuất 43
Hình 2.3: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty 45
Hình 2.4: Trình tự ghi sổ tại Công ty 47
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kế toán quản trị ra đời như một tất yếu khách quan của nền kinh tế thị trường, cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ cho việc ra quyết định Ở nước ta, kế toán quản trị đang ở trong thời kỳ phát triển để đáp ứng với những thay đổi về kỹ thuật, toàn cầu hoá và những mối quan tâm ngày càng tăng đối với việc quản trị rủi ro Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh ngày càng tăng cao, để đạt được mục tiêu tồn tại và phát triển bền vững, mỗi doanh nghiệp phải tự hoạch định cho mình một chính sách, chiến lược kinh doanh đúng đắn Kế toán quản trị, với tư cách là một kênh cung cấp thông tin giúp cho nhà quản lí giám sát và đưa ra quyết định, giữ một vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp
Nếu như ở một số quốc gia như Canada, Mỹ, kế toán quản trị đã trở thành một nghề với những tiêu chuẩn nghề nghiệp xác định (CMA), thì ở Việt Nam các quy định, hướng dẫn về kế toán quản trị còn chưa đầy đủ, đồng bộ để doanh nghiệp có thể dễ dàng vận dụng Do vậy, trong thực tiễn ở các doanh nghiệp Việt Nam, việc áp dụng kế toán quản trị và vai trò của Kế toán quản trị còn chưa phổ biến và chưa được coi trọng
Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam (T-Tech) là một đơn
vị chuyên sản xuất kinh doanh mặt hàng thiết bị thí nghiệm vật liệu, kiểm định chất lượng công trình xây dựng với gần 15 năm hoạt động, đến nay T-Tech đã để lại nhiều dấu ấn trên thị trường và trở thành một trong những hãng sản xuất thiết bị thí nghiệm
và các thiết bị công nghệ hàng đầu tại Việt Nam Có thể nói, T-Tech là một thương hiệu mạnh chiếm lĩnh một phần lớn thị trường trong thời gian dài và đã dần khẳng định thương hiệu của mình trên thị trường trong nước cũng như nước ngoài
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển và tăng nhanh về số lượng các công trình xây dựng, nhu cầu về kiểm định, đo lường chất lượng vật liệu, công trình xây dựng cũng tăng lên nhanh chóng dẫn đến việc công ty ngày càng vấp phải sự cạnh tranh gay gắt
từ các đối thủ trên thị trường: không chỉ có những sản phẩm nhập khẩu từ các nước tiên tiến như IMPACT - Anh, TESTMAK - Thổ Nhĩ Kì, hay NOVATEST -Ý, mà còn có các sản phẩm giá rẻ, chất lượng đảm bảo từ KEDA, LUDA, CHENXING - Trung Quốc hay hàng sản xuất từ các công ty trong nước khác
Trong những năm gần đây, mặc dù có những sự tăng trưởng nhất định, tuy nhiên thị phần của công ty có xu hướng giảm, lợi nhuận thu được từ lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính không đạt được kế hoạch đề ra, công ty cũng đã để trượt một số gói thầu
Trang 13cung cấp thiết bị lớn Mặt khác, các sản phẩm, thiết bị công ty đều cần lưu lượng vốn lớn và nguồn lực yêu cầu cao, do đó một trong các biện pháp giúp công ty tăng trưởng
và phát triển bền vững là kiểm soát tốt chi phí, có chính sách giá cả hợp lý Do vậy vấn đề quản trị chi phí được đặt lên hàng đầu Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin chi tiết theo yêu cầu quản lý như: lập dự toán chi phí, phân tích thông tin chi phí phục vụ yêu cầu kiểm soát chi phí, hỗ trợ cho việc ra quyết định của các nhà quản trị trong doanh nghiệp Trong khi đó việc tổ chức và thực hiện hệ thống Kế toán quản trị chi phí tại công ty còn khá mới, chưa khoa học và mang tính tự phát Các công việc kế toán quản trị chi phí được thực hiện đan xen giữa nhiều bộ phận mà không có
bộ phận chuyên trách, nội dung của kế toán quản trị còn bị ảnh hưởng khá nhiều bởi nội dung của kế toán tài chính Vì vậy mà hệ thống kế toán quản trị chi phí hiện nay tại công ty vẫn chưa mang tính dự báo, cung cấp các thông tin phù hợp, kịp thời và tin cậy cho việc ra các quyết định kinh doanh của nhà quản trị
Xuất phát từ yêu cầu mang tính khách quan cả về lý luận lẫn thực tiễn nói trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu: “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Xuất phát từ vai trò to lớn của kế toán quản trị và đặc biệt là kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp, trong thời gian gần đây đã có khá nhiều các nghiên cứu của các tác giả về kế toán quản trị Đặc biệt là kế toán quản trị chi phí và việc áp dụng kế toán quản trị chi phí cho từng loại doanh nghiệp cụ thể Về cơ bản, các nghiên cứu chủ yếu đề cập đến các vấn đề sau:
- Bùi Thị Kim Thoa (2012) trong nghiên cứu “Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Xi măng Bỉm Sơn” đã đi sâu vào phân tích thực trạng kế toán quản trị tại Công ty Chi phí được phân loại theo hai cách: theo chức năng và theo tính chất nội dung kinh tế của chi phí, phù hợp với đặc điểm sản xuất cũng như việc tính giá thành và hỗ trợ đắc lực cho việc quản lý chi phí theo định mức Tuy nhiên mức độ cung cấp thông tin cho lập kế hoạch, kiểm tra và chủ động điều tiết chi phí phù hợp chưa cao và chưa có hiệu quả
- Trong công trình nghiên cứu “Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Đường Quảng Ngãi”, Trần Thanh Tâm (2013) đã mô tả chi tiết hệ thống định mức chi phí tại công ty Xây dựng hệ thống định mức sát với thực tế công việc, nhưng lại chưa lập dự toán linh hoạt để cung cấp thông tin cho nhà quản trị kịp thời Tác giả cũng đưa ra đề xuất nên lập dự toán linh hoạt nhằm phản ứng kịp thời trong những tình huống khác nhau của quá trình sản xuất kinh doanh do tính chất mùa vụ
Trang 14- Thông qua việc nghiên cứu, tác giả nhận thấy chưa có đề tài nào nghiên cứu tới việc quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
Vì vậy, tác giả quyết định chọn kế toán quản trị chi phí tại Công ty cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam làm đề tài nghiên cứu Do kế toán quản trị chi phí có tính linh hoạt cao, phụ thuộc vào đặc điểm kinh doanh và yêu cầu quản lý của từng đơn vị cụ thể nên luận văn này tập trung nghiên cứu các nội dung của kế toán quản trị chi phí và vai trò của nó trong việc ra các quyết định kinh doanh tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam - một doanh nghiệp chuyên sản xuất máy móc và thiết bị, dụng cụ đo lường kiểm định xây dựng
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Làm rõ những vấn đề lý luận liên quan đến Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất để định hướng cho việc ứng dụng lý thuyết vào việc hoàn thiện
kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
- Phân tích thực trạng và khảo sát mức độ vận dụng kế toán quản trị chi phí được thực hiện tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
- Đưa ra những kiến nghị cần thiết và các điều kiện cần thực hiện nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí, góp phần nâng cao chất lượng thông tin kế toán quản trị chi phí trong hoạt động của Công ty
4 Câu hỏi nghiên cứu
- Kế toán quản trị chi phí bao gồm những nội dung nào?
- Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam đang thực hiện các nội dung của kế toán quản trị chi phí như thế nào?
- Kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam có những ưu, nhược điểm gì? Nguyên nhân?
- Các giải pháp nào để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam? Để thực hiện các giải pháp đó cần có những điều kiện cần thiết gì?
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần
Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: Đề tài giới hạn phạm vi nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất và ngoài sản xuất (bao gồm chi phí bán hàng và QLDN) tại Công ty
Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
- Thời gian: Số liệu khảo sát năm 2016 và 2017
Trang 156 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu, thu thập dữ liệu
Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng trong thu thập và xử lý thông tin
Nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn bao gồm cả dữ liệu sơ cấp và dữ liệu thứ cấp
Dữ liệu sơ cấp: Luận văn sử dụng các dữ liệu thu được từ việc quan sát, phỏng vấn, lấy ý kiến trực tiếp từ các bộ phận, phòng ban liên quan trong công ty
- Phỏng vấn Ban giám đốc, kế toán trưởng và các nhân viên trong phòng kế toán, quan sát quy trình làm việc để nắm rõ chính sách kế toán, tổ chức công tác kế toán của công ty và phân công nhiệm vụ cụ thể của từng nhân viên, các báo cáo phải thực hiện và sử dụng trong tháng, quý, năm
- Quan sát quy trình sản xuất, trao đổi công nhân và quản đốc phân xưởng để hiểu rõ quy trình sản xuất kinh doanh các sản phẩm của công ty
Dữ liệu thứ cấp: bao gồm các dữ liệu thu thập từ các tài liệu có sẵn tại công ty như lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý thông qua website của công
ty, các chứng từ, sổ sách, báo cáo quản trị có sẵn thu thập được từ phòng Tài chính -
Kế toán Các thông tin thu thập từ những văn bản có liên quan từ các Bộ, ban ngành Thông qua các Giáo trình, tài liệu học tập tìm hiểu những vấn đề cơ bản về kế toán quản trị chi phí hay tham khảo các công trình nghiên cứu liên quan để kế thừa và phát huy những giá trị đã đạt được
Phương pháp thu thập dữ liệu bao gồm:
- Phương pháp quan sát: Quan sát quy trình, cách thức tiến hành công việc của các nhân viên phòng kế toán của công ty, xưởng sản xuất và các phòng ban khác để tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ và công việc cụ thể của từng phòng ban, cá nhân trong công ty, hiểu rõ quy trình lập, luân chuyển và lưu trữ chứng từ kế toán cũng như quy trình sản xuất tại các phân xưởng
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn, trao đổi với Ban giám đốc, kế toán trưởng Công ty để tìm hiểu rõ việc ứng dụng các thông tin kế toán quản trị chi phí trong việc
ra các quyết định kinh doanh, định hướng hoàn thiện kế toán quản trị tại công ty Phỏng vấn chức năng nhiệm vụ các nhân viên của các bộ phận phòng ban có liên quan
- Phương pháp chuyên gia: Tác giả tiến hành hỏi ý kiến của giáo viên hướng dẫn, kế toán viên có kinh nghiệm lâu năm trong ngành sản xuất, những người am hiểu
Trang 16về lĩnh vực đang nghiên cứu để kiểm chứng các thông tin thu thập được đã đầy đủ, khách quan chưa? Những giải pháp đề xuất có tính khả thi không?
6.2 Phương pháp xử lý thông tin, phân tích dữ liệu
- Phương pháp thống kê: được sử dụng để nghiên cứu số liệu liên quan từ giáo trình, sách báo, tạp chí, internet và những chứng từ, sổ sách của công ty sau đó tổng hợp lại và hệ thống hóa thành những dữ liệu cần thiết
- Phương pháp phân tích số liệu: Các số liệu, những quan sát, phỏng vấn… đã thu thập được xử lý, tổng hợp, phân tích để xâu chuỗi chúng lại với nhau một cách logic và chính xác
- Phương pháp so sánh: Trên cơ sở tài liệu đã thu thập được và qua quá trình nghiên cứu, so sánh rút ra những điểm giống và khác nhau giữa lý thuyết với thực tế tại Công ty
7 Ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Trên phương diện lý luận: Luận văn đã tổng hợp được cơ sở lý luận về Kế
toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Trên phương diện thực tiễn:
- Từ việc phân tích, đánh giá luận văn đã giúp cho công ty nhận thấy được ưu điểm và nhược điểm của mình trong công tác kế toán quản trị chi phí
- Giúp công ty tìm ra những nguyên nhân và đưa ra những giải pháp khắc phục nhằm hoàn thiện hệ thống quản trị chi phí, từ đó phục vụ tốt hơn cho yêu cầu quản lý
và việc ra quyết định kinh doanh
8 Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
Chương 3: Một số giải pháp đề xuất nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty Cổ phần Tập đoàn Công nghệ T-Tech Việt Nam
Trang 17CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT
1.1 Tổng quan về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Bản chất của kế toán quản trị chi phí
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, sự phát triển của khoa học và công nghệ quản lý, đối tượng sử dụng thông tin kế toán ngày càng mở rộng, nhu cầu thông tin càng tăng và đa dạng hơn với các mục đích cụ thể khác nhau Điều đó đã thúc đẩy kế toán phát triển và cho ra đời các loại kế toán khác nhau Theo phạm vi cung cấp thông tin, đối tượng phục vụ thông tin kế toán doanh nghiệp được chia thành
kế toán tài chính và kế toán quản trị Một bộ phận chuyên cung cấp các thông tin cho đối tượng bên ngoài gọi là kế toán tài chính và một bộ phận chuyên cung cấp thông tin theo yêu cầu của nhà quản lý trong nội bộ gọi là kế toán quản trị
Theo Ronald W Hilton, kế toán quản trị là một bộ phận trong hệ thống thông tin của một tổ chức Các nhà quản lý dựa vào thông tin Kế toán quản trị để hoạch định và kiểm soát hoạt động của tổ chức
Luật kế toán Việt Nam cũng đã định nghĩa về kế toán quản trị như sau: “Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật
kế toán, khoản 3, điều 4)
Các khái niệm tuy có sự khác nhau về hình thức, song đều có những điểm cơ bản giống nhau Từ việc phân tích những đặc điểm giống nhau đó để đi tới kết luận:
“Kế toán quản trị là một môn khoa học thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin định lượng kết hợp với định tính về các hoạt động của một đơn vị cụ thể Các thông tin đó giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định liên quan đến việc lập kế hoạch,
tổ chức thực hiện, kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện các hoạt động của đơn vị nhằm tối ưu hóa các mục tiêu”
Như vậy, kế toán quản trị là một bộ phận quan trọng của hệ thống thông tin quản
lý doanh nghiệp và có quan hệ chặt chẽ với kế toán tài chính, kế toán quản trị được hình thành và thích ứng với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, có nhiệm vụ cung cấp thông tin kế toán cho các nhà quản trị doanh nghiệp Kế toán quản trị về cơ bản dựa trên nội dung cơ bản của kế toán, ngoài ra còn đi sâu nghiên cứu mối quan hệ giữa khối lượng, chi phí, lợi nhuận để phục vụ tốt cho hoạt động điều hành sản xuất kinh doanh của nhà quản trị
Chi phí là một trong những yếu tố trung tâm của công tác quản lý hoạt động SXKD của doanh nghiệp Dưới góc độ kế toán quản trị, chi phí được hiểu là những
Trang 18phí tổn thực tế phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh được tổng hợp theo từng bộ phận, từng trung tâm chi phí cũng như xác định giá trị hàng tồn kho trong từng khâu của quá trình sản xuất và tiêu thụ Xét từ phương diện kế toán, thông tin chủ yếu nhất mà kế toán quản trị xử lý và cung cấp cho các nhà quản trị chính là thông tin về chi phí Trên giác độ quản lý, chi phí phần lớn phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, chịu sự chi phối chủ quan của nhà quản trị, do vậy, kiểm soát và quản
lý tốt chi phí là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản trị
Do vậy, kế toán quản trị chi phí là một nội dung trọng tâm của kế toán quản trị Xét về mặt bản chất thì kế toán quản trị chi phí chính là hoạt động của doanh nghiệp trong việc vận dụng các phương pháp kết hợp với các phương tiện và con người để thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin về chi phí trong doanh nghiệp nhằm phục vụ cho các công tác quản trị
Thông tin về kế toán quản trị chi phí thường cụ thể và mang tính chất định lượng nhiều vì gắn với các hoạt động sản xuất cụ thể của các bộ phận cụ thể
Mặt khác, kế toán quản trị chi phí nhấn mạnh đến tính dự báo của thông tin Kế toán quản trị chi phí không chỉ thu thập và phân tích thông tin quá khứ mà còn thu thập, xử lý và cung cấp thông tin hiện tại, hướng về tương lai phục vụ cho việc lập
dự toán, làm căn cứ trong việc lựa chọn các quyết định kinh doanh, cho phép ra quyết định lựa chọn các phương án kinh doanh hợp lý
Nhiệm vụ và vai trò của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Một trong các mục tiêu quan trọng của kế toán quản trị là “Tìm cách tối ưu hoá mối quan hệ giữa chi phí với lợi ích mà chi phí đó tạo ra” Khi lựa chọn phương án tối ưu, nhà quản trị bao giờ cũng quan tâm đến hiệu quả kinh tế mà phương án đó mang lại, kế toán quản trị phải tìm cách tối ưu hóa mối quan hệ giữa chi phí và lợi ích của phương án lựa chọn Chính vì vậy, thông tin kế toán quản trị và đặc biệt là thông tin kế toán quản trị chi phí có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Đó là cơ sở để đưa ra các quyết định ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nền kinh
tế thị trường Để phục vụ mục tiêu đó, kế toán quán trị chi phí phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu chi phí theo phạm vi, nội dung kế toán quản trị của đơn vị xác định theo từng thời kỳ Phạm vi kế toán quản trị chi phí không bị giới hạn và được quyết định bởi nhu cầu thông tin của doanh nghiệp trong tất cả các khâu của quá trình tổ chức, quản lý sản xuất kinh doanh, lập kế hoạch, kiểm tra, điều hành, ra quyết định
Trang 19- Tìm ra những giải pháp tác động lên các chi phí để tối ưu hóa mối quan hệ chi phí - khối lượng - lợi nhuận Kế toán quản trị chi phí tổ chức, phối hợp thực hiện giữa các trung tâm chi phí để đảm bảo tất cả vì mục tiêu chung là tối thiểu hóa chi phí và tối đa hóa lợi nhuận của doanh nghiệp
- Xây dựng, kiểm tra, giám sát các định mức, tiêu chuẩn, dự toán chi phí Kế toán quản trị chi phí phải biết xây dựng các định mức kinh tế - kỹ thuật, biết lập dự toán chi phí, dự đoán kết quả và kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện các định mức, tiêu chuẩn, dự toán đã lập ra
- Cung cấp thông tin chi phí theo yêu cầu quản trị nội bộ của đơn vị bằng báo cáo kế toán quản trị Kế toán quản trị chi phí cung cấp thông tin phục vụ cho quá trình phân tích, đánh giá đưa ra các quyết định phù hợp cho từng mục tiêu khác nhau Doanh nghiệp được toàn quyền quyết định việc vận dụng các chứng từ kế toán, tổ chức hệ thống sổ kế toán, thiết kế các mẫu báo cáo kế toán quản trị cần thiết phục vụ cho kế toán quản trị chi phí của bản thân doanh nghiệp
- Tổ chức phân tích thông tin chi phí phục vụ cho yêu cầu lập kế hoạch và ra quyết định của Ban lãnh đạo doanh nghiệp Bên cạnh việc thu thập, cung cấp thông tin, kế toán quản trị chi phí phải tổ chức phân tích thông tin, tập hợp được các dữ kiện cần thiết để phục vụ cho việc ra quyết định và yêu cầu lập kế hoạch
Có thể nói nhiệm vụ cơ bản của nhà quản trị trong bất kỳ tổ chức nào cũng gồm: Xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, kiểm soát đánh giá và ra quyết định Để làm tốt các chức năng quản lý, nhà quản trị phải có thông tin cần thiết Kế toán quản trị chi phí là nguồn chủ yếu cung cấp thông tin đó Vai trò của kế toán quản trị chi phí thể hiện trong các khâu của quá trình quản lý được thể hiện cụ thể như sau:
- Trong giai đoạn lập kế hoạch, dự toán chi phí: các kế hoạch, dự toán phải được xây dựng trên những căn cứ khoa học, phải có những thông tin đầy đủ, thích hợp Kế toán quản trị chi phí thu thập những thông tin thực hiện và những thông tin liên quan đến tương lai để phục vụ cho việc lập kế hoạch, dự toán
- Trong giai đoạn tổ chức thực hiện, nhà quản trị cần một lượng thông tin rất lớn, đặc biệt là những thông tin phát sinh hàng ngày Kế toán quản trị chi phí tổ chức thu thập, xử lý, cung cấp thông tin nhanh chóng để nhà quản trị kịp thời điều chỉnh
tổ chức hoạt động, chỉ đạo thực hiện các quyết định
- Trong giai đoạn kiểm tra đánh giá: Kế toán quản trị chi phí đóng vai trò kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh từ trước, trong và sau quá trình hoạt động kinh doanh phát sinh Việc kiểm soát được thực hiện chủ yếu thông qua kế hoạch đã được lập Kế toán sẽ cung cấp cho nhà quản lý những thông tin thực tế, thông tin chênh lệch giữa thực tế với kế hoạch, những thông tin kết hợp giữa thực tế với dự báo giúp
Trang 20nhà quản trị giám sát, điều hành các hoạt động tài chính, SXKD của doanh nghiệp;
từ đó đánh giá những vấn đề tồn tại cần khắc phục và kịp thời điều chỉnh
- Trong khâu ra quyết định: Thông tin kế toán là nhân tố chính trong việc ra quyết định của nhà quản trị Kế toán quản trị chi phí có vai trò cung cấp thông tin, soạn thảo các báo cáo phân tích số liệu, thực hiện việc phân tích số liệu, thông tin thích hợp giữa các phương án đưa ra để lựa chọn, tư vấn nhà quản trị lựa chọn phương
án, ra quyết định tối ưu và phù hợp nhất
Như vậy, kế toán quản trị chi phí giúp các nhà quản trị trong quá trình ra quyết định không chỉ bằng cách cung cấp thông tin thích hợp mà còn bằng cách vận dụng các kỹ thuật phân tích vào những tình huống khác nhau, để từ đó nhà quản trị lựa chọn, ra quyết định thích hợp nhất
1.2 Nội dung của kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Phân loại chi phí trong doanh nghiệp sản xuất
Chi phí được định nghĩa như là giá trị tiền tệ của các khoản hao phí bỏ ra nhằm thu được các loại tài sản, hàng hóa hoặc các dịch vụ Trong kế toán quản trị, chi phí được phân loại và sử dụng theo nhiều cách khác nhau nhằm cung cấp những thông tin phù hợp với nhu cầu trong các thời điểm khác nhau của nhà quản lý
1.1.1.1 Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Chi phí phát sinh trong các doanh nghiệp sản xuất xét theo từng hoạt động có chức năng khác nhau trong quá trình sản xuất kinh doanh mà chúng phục vụ, được chia thành hai loại lớn: chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
* Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng, quý, năm) Hoạt động sản xuất là sự kết hợp giữa sức lao động với nguyên vật liệu và thiết bị sản xuất để tạo ra sản phẩm, do đó chi phí sản xuất bao gồm ba yếu tố sau:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Khoản mục chi phí này bao gồm các loại nguyên vật liệu xuất dùng trực tiếp cho việc chế tạo sản phẩm Trong đó, nguyên vật liệu chính dùng để cấu tạo nên thực thể chính của sản phẩm Ngoài ra còn phát sinh những loại nguyên vật liệu phụ, kết hợp với nguyên vật liệu chính để tạo ra sản phẩm, làm tăng chất lượng của sản phẩm, tạo ra màu sắc, mùi vị hoặc làm rút ngắn chu kỳ sản xuất của sản phẩm
- Chi phí nhân công trực tiếp:
Nhân công trực tiếp là những người trực tiếp sản xuất sản phẩm, lao động của
họ gắn liền với việc sản xuất sản phẩm, sức lao động của họ hao phí trực tiếp cho sản
Trang 21phẩm được sản xuất Chi phí lao động trực tiếp bao gồm tiền lương, tiền công, phụ cấp và các khoản trích trên lương của công nhân trực tiếp sản xuất
- Chi phí sản xuất chung:
Chi phí SXC là các chi phí phát sinh trong các phân xưởng để phục vụ hoặc quản lý quá trình sản xuất Khoản mục chi phí này bao gồm: chi phí vật liệu phục vụ quá trình sản xuất hoặc quản lý sản xuất, tiền lương và các khoản trích theo lương của nhân viên quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao, sửa chữa máy móc thiết bị, nhà xưởng, chi phí dịch vụ mua ngoài phục vụ sản xuất, quản lý phân xưởng,
* Chi phí ngoài sản xuất
Đây là các chi phí phát sinh ngoài quá trình sản xuất sản phẩm liên quan đến quá trình tiêu thụ sản phẩm hoặc phục vụ công tác quản lý chung toàn doanh nghiệp Thuộc loại chi phí này gồm có hai khoản mục chi phí: chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
- Chi phí bán hàng:
Chi phí bán hàng bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh cần thiết để đảm bảo việc thực hiện các đơn đặt hàng, giao sản phẩm cho khách hàng như: chi phí về lương và các khoản trích theo lương của toàn bộ nhân viên trong hoạt động bán hàng, tiêu thụ; chi phí về NVL, CCDC dùng trong việc bán hàng; chi phí khấu hao thiết bị
và TSCĐ dùng trong việc bán hàng như: phương tiện vận chuyển, cửa hàng, nhà kho; chi phí thuê ngoài liên quan đến việc bán hàng như: chi phí hội chợ, quảng cáo, bảo hành,… và các chi phí khác bằng tiền trong việc bán hàng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp:
Chi phí quản lý doanh nghiệp bao gồm toàn bộ các khoản chi phí chi ra để phục
vụ chung cho quản lý sản xuất kinh doanh, quản lý hành chính và các khoản chi phí
có tính chất chung cho toàn doanh nghiệp Thuộc loại này gồm có: chi phí tiền lương
và các khoản trích theo lương tính vào chi phí của người lao động, quản lý ở các bộ phận, phòng ban của doanh nghiệp; chi phí vật liệu, năng lượng, nhiên liệu, CCDC dùng trong công việc hành chính, quản trị văn phòng; chi phí khấu hao thiết bị, TSCĐ khác dùng cho công việc hành chính; chi phí dịch vụ, điện nước, điện thoại, bảo hiểm, phục vụ chung công ty; các khoản thuế, lệ phí chưa tính vào giá trị tài sản và các khoản chi phí liên quan đến sự giảm sút giá trị tài sản dùng trong sản xuất kinh doanh
Trang 22từng hoạt động chức năng cũng như cung cấp thông tin có phương pháp cho việc lập các báo cáo theo các mặt hoạt động, hoặc theo từng phạm vi trách nhiệm
1.1.1.2 Phân loại chi phí theo nội dung kinh tế
Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có chung tính chất, nội dung kinh tế được xếp chung vào một yếu tố, không kể chi phí đó phát sinh ở địa điểm nào, dùng vào mục đích gì trong sản xuất kinh doanh Về thực chất chỉ có ba yếu tố chi phí là sức lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động Tuy vậy, để cung cấp thông tin
về chi phí một cách cụ thể hơn, các yếu tố trên có thể chi tiết theo nội dung kinh tế của chúng Theo qui định hiện hành ở Việt Nam, toàn bộ chi phí được chia ra làm 7 yếu tố:
- Nguyên vật liệu: Bao gồm toàn bộ giá trị nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, phụ tùng thay thế, công cụ dụng cụ…sử dụng vào sản xuất kinh doanh ( có loại trừ giá trị vật liệu không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi) Riêng đối với doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực thương mại và dịch vụ không đặt ra khái niệm vật liệu chính do đặc trưng của các ngành này không phải sản xuất ra các sản phẩm hữu hình cụ thể
- Nhiên liệu, động lực sử dụng vào quá trình sản xuất kinh doanh trong kỳ ( trừ
số không dùng hết nhập lại kho và phế liệu thu hồi)
- Tiền lương và các khoản phụ cấp của cán bộ công nhân viên: Phản ánh tổng
số tiền lương phải trả cho cán bộ công nhân viên toàn doanh nghiệp
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và kinh phí công đoàn tính theo tỷ lệ quy định
- Khấu hao tài sản cố định: Phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định phải trích trong kỳ của tất cả các tài sản cố định sử dụng cho sản xuất kinh doanh trong kỳ hạch toán
- Chi phí dịch vụ mua ngoài dùng vào sản xuất kinh doanh
- Chi phí bằng tiền: Phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản ánh vào các yếu tố trên, dùng vào hoạt động sản xuất kinh doanh
Cách phân loại này cho biết những chi phí đã chi vào quá trình sản xuất của toàn doanh nghiệp, làm cơ sở để tập hợp chi phí sản xuất và lập báo cáo chi phí sản xuất theo yếu tố Đồng thời nó còn có ý nghĩa hết sức quan trọng trong công tác xây dựng xét duyệt mức vốn lưu động của doanh nghiệp trong việc lập và kiểm tra và kiểm tra thực hiện dự toán chi phí sản xuất, đánh giá tình hình quản lý chi phí của doanh nghiệp Phân loại theo cách này còn là cơ sở để cân đối, lập các kế hoạch với nhau như kế hoạch lao động và tiền lương, kế hoạch cung ứng vật tư … là cơ sở tính toán, xác định nhu cầu tiêu hao vật chất của doanh nghiệp
Trang 231.1.1.3 Phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (theo cách ứng
xử của chi phí)
Trên thực tế, mức độ chi phí chi ra thường có quan hệ nhất định với mức độ hoạt động của doanh nghiệp như: số sản phẩm sản xuất ra, số giờ máy sử dụng Sự thay đổi của chi phí theo mức độ hoạt động của doanh nghiệp gọi là sự ứng xử của chi phí Sự hiểu biết về cách ứng xử của chi phí là chìa khoá để nhà quản lý có thể dự đoán chi phí cho các trường hợp hoạt động khác nhau - trên cơ sở đó ra quyết định lựa chọn phương án tối ưu
Xét theo cách ứng xử, chi phí của doanh nghiệp được chia thành 3 loại: Biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp
b: Giá trị biến phí tính theo 1 đơn vị mức độ hoạt động
x: Biến số thể hiện mức độ hoạt động đạt được
Ta có tổng giá trị biến phí (y) sẽ là một hàm số có dạng: y = bx
Trong các doanh nghiệp sản xuất, các khoản mục chi phí nguyên liệu, vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp thể hiện rõ nhất đặc trưng của biến phí Ngoài
ra, biến phí còn bao gồm các chi phí khác thuộc khoản mục chi phí sản xuất chung hoặc thuộc khoản mục chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Trang 24Vì tổng số định phí là không thay đổi cho nên, khi mức độ hoạt động tăng thì định phí tính theo đơn vị các mức độ hoạt động sẽ giảm và ngược lại
Nếu ta gọi a là tổng số định phí, thì đường biểu diễn định phí là một đường thẳng có dạng y = a
* Chi phí hỗn hợp
Chi phí hỗn hợp là những chi phí mà cấu thành nên nó bao gồm cả yếu tố biến phí và định phí (hình 1.3) Ở một mức độ hoạt động cụ thể nào đó, chi phí hỗn hợp mang đặc điểm của định phí, và khi mức độ hoạt động tăng lên, chi phí hỗn hợp sẽ biến đổi như đặc điểm của biến phí Trong các doanh nghiệp sản xuất, chi phí hỗn hợp cũng chiếm một tỉ lệ khá cao trong các loại chi phí, chẳng hạn như chi phí điện thoại, chi phí bảo trì máy móc thiết bị,
Ta gọi:
b: là tỉ lệ biến đổi theo các mức độ hoạt động của bộ phận chi phí biến đổi trong chi phí hỗn hợp
a: bộ phận chi phí cố định trong chi phí hỗn hợp
Phương trình biểu diễn sự biến thiên của chi phí hỗn hợp là một phương trình bậc nhất có dạng: y = a - bx
Trang 25Có thể minh hoạ sự biến đổi của chi phí hỗn hợp trên hình như sau:
- Phương pháp cực đại - cực tiểu
1.1.1.4 Phân loại chi phí theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu chi phí
Theo khả năng quy nạp vào đối tượng chịu chi phí, chi phí của doanh nghiệp được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp
* Chi phí trực tiếp
Chi phí trực tiếp là những chi phí riêng biệt phát sinh liên quan trực tiếp đến từng đối tượng chịu chi phí (từng loại sản phẩm, đơn đặt hàng ) Vì là chi phí chi riêng cho từng đối tượng, do đó về nguyên tắc nó được ghi thẳng vào từng đối tượng chịu phí như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp
* Chi phí gián tiếp
Chi phí gián tiếp là chi phí chung cho nhiều đối tượng, do đó loại chi phí này không thể tính trực tiếp mà cần phải tiến hành phân bổ cho từng đối tượng theo tiêu
Trang 26thức phù hợp Ví dụ: chi phí khấu hao máy móc sản xuất được phân bổ cho từng loại sản phẩm theo số giờ máy thực tế Tuy nhiên, mỗi đối tượng chịu phí thường chỉ phù hợp với một tiêu thức nhất định và khái niệm chi phí trực tiếp, gián tiếp cũng chỉ có tính tương đối vì chúng cũng thay đổi tuỳ theo đối tượng chịu chi phí
Cách phân loại chi phí này có ý nghĩa về mặt kỹ thuật quy nạp chi phí vào đối tượng chịu chi phí sản xuất Đặt ra yêu cầu về việc lựa chọn các tiêu thức phân bổ chi phí để đảm bảo thông tin về độ chính xác về chi phí, lợi nhuận Mặt khác, cách phân loại chi phí này còn giúp cho việc ra quyết định trong các tình huống khác nhau Đối với nhà quản trị, chi phí trực tiếp thường mang tính có thể tránh được Ngược lại, chi phí gián tiếp phát sinh cho ít nhất từ hai hoạt động trở lên nên chúng vẫn tồn tại nếu chỉ có một hoặc một vài hoạt động bị đình chỉ Từ đó giúp nhà quản trị loại bỏ những thông tin không thích hợp để việc quyết định được thực hiện một cách nhanh chóng, chính xác và hiệu quả
1.1.1.5 Phân loại chi phí theo tính liên quan với việc lựa chọn phương án
Theo cách phân loại chi phí theo tính liên quan với việc lựa chọn phương án, chi phí sản xuất được phân thành: chi phí chìm, chi phí chênh lệch, chi phí cơ hội
* Chi phí chìm
Chi phí chìm (hay còn gọi là chi phí ẩn, lặn) là những khoản chi phí đã được chi
ra trong quá khứ, ví dụ chi phí đã đầu tư để mua sắm TSCĐ Đây là khoản chi phí không thay đổi cho dù phần tài sản đại diện cho khoản chi phí đó đã, đang và sẽ được
sử dụng như thế nào Hay nói cách khác, chi phí chìm là loại chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu bất kể đã lựa chọn phương án hoặc hành động nào Chi phí chìm tồn tại ở mọi phương án nên không có tính chênh lệch và không phải xét đến khi so sánh lựa chọn phương án, hành động tối ưu Chính vì vậy, chi phí chìm là loại chi phí không thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định của người quản lý
* Chi phí chênh lệch
Chi phí chênh lệch (còn được gọi là chi phí khác biệt) xuất hiện khi so sánh chi phí gắn liền với các phương án trong quyết định lựa chọn phương án tối ưu Chi phí chênh lệch được hiểu là phần giá trị khác nhau của các loại chi phí của một phương
án so với một phương án khác Có hai dạng chi phí chênh lệch: giá trị của những chi phí chỉ phát sinh ở phương án này mà không có ở phương án khác, hoặc là phần chênh lệch về giá trị của cùng một loại chi phí ở các phương án khác nhau Chi phí chênh lệch là một căn cứ quan trọng để lựa chọn phương án Người quản lý đưa ra các quyết định lựa chọn trên cơ sở phân tích bộ phận chi phí chênh lệch này nên chi phí chênh lệch là dạng thông tin thích hợp cho việc ra quyết định
Trang 27* Chi phí cơ hội
Chi phí cơ hội là một khoản lợi nhuận tiềm tàng bị mất đi hay phải hy sinh để lựa chọn, thực hiện hành động này thay thế cho hành động khác Chi phí cơ hội là một yếu tố đòi hỏi luôn phải được tính đến trong mọi quyết định của quản lý Để đảm bảo ra các quyết định đúng đắn, việc dự đoán hết tất cả các phương án hành động có thể có liên quan đến tình huống cần ra quyết định là quan trọng hàng đầu Có như vậy, phương án hành động được lựa chọn mới thực sự là tốt nhất Trong việc lựa chọn các phương án sản xuất thì chi phí cơ hội được xem là thông tin thích đáng
Theo cách phân loại này, nhà quản trị sẽ hiểu rõ từng loại chi phí nào không thích hợp hay chi phí nào là chi phí thích hợp cho việc xem xét, ra quyết định, để từ
đó lựa chọn phương án kinh doanh tối ưu nhờ nhận định sự khác biệt chi phí và lợi ích trong các phương án khác nhau
1.1.1.6 Một số phương pháp xác định chi phí của các loại chi phí
* Phương pháp đo lường
Đây là phương pháp sử dụng các công cụ đo lường như: dụng cụ đo khối lượng, dụng cụ đo chiều dài, các loại đồng hồ đo khối lượng sử dụng (đồng hồ điện, nước, thời gian…) để xác định một cách định lượng các yếu tố đầu vào sử dụng cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như: khối lượng nguyên vật liệu sử dụng, thời gian lao động hao phí để sản xuất chế tạo sản phẩm, thời gian chạy máy để chế tạo sản phẩm, khối lượng điện/nước/khí ga sử dụng… Phương pháp đo lường chính
là bước đầu tiên trong việc xác định chi phí của các loại chi phí theo chức năng hoạt động, nội dung kinh tế, theo mối quan hệ với mức độ hoạt động (định phí, biến phí) hay theo khả năng quy nạp của đối tượng chịu phí (chi phí trực tiếp, gián tiếp) Kết quả của phương pháp đo lường chính là đầu vào của phương pháp thống kê
* Phương pháp thống kê:
Cùng với phương pháp đo lường, đây là phương pháp không thể thiếu khi xác định chi phí trong doanh nghiệp Phương pháp này ghi chép và tập hợp số liệu dựa trên các chứng từ kế toán trong doanh nghiệp Các chứng từ kế toán bao gồm như: phiếu nhập/xuất kho, bảng lương, bảng tính khấu hao tài sản, phiếu kế toán, hóa đơn,… Phương pháp thống kê giúp xác định giá trị các loại chi phí trong kỳ theo chức năng hoạt động/nội dung kinh tế, mối quan hệ với mức độ hoạt động (biến phí, định phí) hay theo khả năng quy nạp của đối tượng chịu phí (chi phí trực tiếp, gián tiếp)
Trang 28* Phương pháp phân tích dữ liệu:
Đây là phương pháp mà người kế toán sử dụng các số liệu, những quan sát, phỏng vấn… đã thu thập được để xử lý, tổng hợp, phân tích để xâu chuỗi chúng lại với nhau một cách logic và chính xác Phương pháp này thường được sử dụng để phân tích chi phí hỗn hợp ra thành biến phí và định phí hoặc xác định chi phí cơ hội trước một phương án kinh doanh cụ thể
Xây dựng định mức và lập dự toán chi phí
1.2.2.1 Xây dựng định mức chi phí
Định mức chi phí là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa liên quan đến việc sản xuất và kinh doanh một đơn vị sản phẩm, dịch vụ ở điều kiện nhất định Định mức chi phí có hai nội dung chính sau:
- Định mức giá: Được xác định bằng cách cộng tổng các khoản chi lại
- Định mức lượng: là định mức kỹ thuật liên quan tới số lượng thành phần nguyên vật liệu để sản xuất sản phẩm, số lượng và loại lao động sản xuất, làm việc Công dụng của xây dựng định mức chi phí trong doanh nghiệp:
Trước tiên, định mức chi phí góp phần tăng cường trách nhiệm của người lao động trong hiệu quả sử dụng NVL sản xuất Giúp cho các nhà quản lý kiểm soát hoạt động SXKD vì chi phí định mức là tiêu chuẩn, cơ sở để đánh giá
Định mức chi phí còn là cơ sở để doanh nghiệp lập dự toán sản xuất kinh doanh Nếu định mức chi phí không được xây dựng chính xác thì dự toán của doanh nghiệp cũng không có tính khả thi
Góp phần thông tin kịp thời cho các nhà quản lý ra quyết định hàng ngày như định giá bán sản phẩm, phân tích khả năng sinh lời Thông qua việc xây dựng hệ thống định mức chi phí giúp cho công tác Kế toán quản trị chi phí được thuận lợi Việc đánh giá chi phí thực tế phát sinh có cơ sở khoa học chắc chắn
* Nguyên tắc xây dựng định mức chi phí:
Để xây dựng định mức chi phí, trước hết phải xem xét một cách nghiêm túc toàn
bộ kết quả đạt được Trên cơ sở đó kết hợp với những thay đổi về điều kiện kinh tế, đặc điểm giữa cung và cầu, về kỹ thuật để điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp
Dựa vào tài liệu lịch sử, xem xét một cách nghiêm túc toàn bộ kết quả đạt được, căn cứ vào tính chất của sản phẩm, dịch vụ để xem xét tình hình chi phí thực tế cả về hiện vật và giá trị liên quan đến đơn vị sản phẩm, dịch vụ, công việc Trên cơ sở đó kết hợp với những thay đổi về điều kiện kinh tế, về đặc điểm giữa cung và cầu, về kỹ thuật để điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp
Xây dựng định mức chi phí phù hợp với đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
và yêu cầu quản lý của đơn vị, đảm bảo tính khách quan, trung thực
Trang 29Ngoài ra, phải xem xét đến các yếu tố ảnh hưởng của thị trường và các yếu tố khác tác động để việc xây dựng định mức chi phí chính xác, hiệu quả
* Phương pháp xác định chi phí định mức:
- Phương pháp phân tích kinh tế - kỹ thuật: phương pháp này đòi hỏi sự kết hợp của các chuyên gia kỹ thuật để nghiên cứu thời gian thao tác công việc nhằm mục đích xác định lượng nguyên vật liệu và lao động hao phí cần thiết để sản xuất sản phẩm Sau đó sẽ áp dụng thử nghiệm tại doanh nghiệp một thời gian để phân tích, đánh giá và điều chỉnh định mức chi phí cho chính xác
- Phương pháp phân tích số liệu lịch sử: Xây dựng định mức chi phí dựa trên số liệu thống kê về tình hình sản xuất kinh doanh nhiều kỳ của doanh nghiệp Căn cứ vào các yếu tố đầu vào để sản xuất một sản phẩm, cũng như sự biến động giá cả thị trường trong một chu kỳ SXKD để xây dựng định mức chi phí cho phù hợp
- Phương pháp điều chỉnh: Điều chỉnh chi phí định mức cho phù hợp với điều kiện hoạt động trong tương lai của doanh nghiệp
* Xây dựng định mức cho các loại chi phí sản xuất
- Xây dựng định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp:
Định mức nguyên vật liệu trực tiếp là sự tổng hợp của định mức giá và định mức lượng của nguyên vật liệu trực tiếp
Định mức lượng nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh lượng nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm, có cho phép những hao hụt bình thường Định mức tiêu hao nguyên vật liệu bao gồm: Nguyên vật liệu cần thiết để sản xuất một sản phẩm, hao hụt cho phép và lượng vật liệu tính cho sản phẩm hỏng
Định mức giá NVLTT phản ánh giá cuối cùng của một đơn vị nguyên vật liệu trực tiếp sau khi đã trừ đi mọi khoản chiết khấu thương mại, giảm giá hàng bán Như vậy ta có:
Định mức về chi phí NVL = Định mức về lượng Định mức về giá (1.1)
- Xây dựng định mức chi phí nhân công trực tiếp:
Định mức chi phí nhân công trực tiếp là chi phí nhân công trực tiếp để sản xuất một sản phẩm Tương tự định mức chi phí NVLTT, định mức chi phí NCTT sự tổng hợp của định mức lượng thời gian lao động và định mức giá lao động
Định mức về lượng là lượng thời gian cần thiết để sản xuất một sản phẩm Để xác định định mức về lượng, người ta chia quá trình sản xuất thành các công đoạn, xác định thời gian định mức cho mỗi công đoạn rồi tiến hành tổng hợp Hoặc thông qua việc bấm giờ từng công đoạn sản xuất của bộ phận sản xuất thử Định mức về lượng thời gian để sản xuất một sản phẩm có thể được xác định:
- Thời gian cơ bản để sản xuất một sản phẩm
Trang 30- Thời gian nghỉ ngơi và thời gian dành cho nhu cầu cá nhân
- Thời gian lau chùi máy và thời gian ngừng việc
- Thời gian tính cho sản phẩm hỏng
Định mức về giá giờ công lao động không chỉ bao gồm tiền lương, các khoản
phụ cấp mà còn các khoản trích theo lương của người lao động như BHXH, BHYT,
BHTN, KPCĐ Như vậy, định mức về giá giờ công lao động có thể được xác định:
tiền lương cơ bản một giờ công, phụ cấp (nếu có) và các khoản trích theo lương
Như vậy ta có:
Định mức chi
phí NCTT =
Định mức lượng thời gian lao động
Định mức giá thời gian lao động (1.2)
- Xây dựng định mức chi phí sản xuất chung
Chi phí SXC bao gồm cả biến phí và định phí Do đó khi định mức chi phí SXC
cũng có thể định mức theo từng loại chi phí, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc
đánh giá tình hình thực hiện các dự toán chi phí sau này
Định mức biến phí sản xuất chung: Là biến phí sản xuất chung để sản xuất một
sản phẩm
- Nếu biến phí sản xuất chung liên quan trực tiếp đến từng loại sản phẩm thì xây
dựng định mức biến phí sản xuất chung tương tự như định mức chi phí nguyên vật
liệu trực tiếp và định mức chi phí nhân công trực tiếp
- Nếu biến phí sản xuất chung liên quan đến nhiều loại sản phẩm thì định mức
biến phí sản xuất chung được xác định:
Định mức
biến phí SXC
= Định mức chi
phí trực tiếp Tỷ lệ biến phí SXC so
với chi phí trực tiếp (1.3)
Nếu doanh nghiệp xác định được tiêu thức phân bổ chi phí sản xuất chung một
cách chính xác thì, định mức biến phí sản xuất chung được xây dựng như sau:
Định mức định phí sản xuất chung: Là định phí sản xuất chung để sản xuất một
sản phẩm Định phí sản xuất chung thường không thay đổi trong phạm vi phù hợp
biến phí SXC (1.5)
Trang 31
của quy mô hoạt động như: lương quản lý phân xưởng, chi phí khấu hao tài sản cố
định phân xưởng, chi phí thuê nhà xưởng…
Định mức chi phí sản xuất chung được xây dựng như sau:
Định mức
định phí SXC =
Mức độ hoạt động bình quân một sản phẩm Hệ số phân bổ
định phí SXC (1.7)
Sau khi xây dựng định mức biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung,
ta sẽ tiến hành tổng hợp để ra định mức chi phí sản xuất chung như sau:
Định mức
chi phí SXC =
Định mức biến phí SXC +
Định mức định phí SXC (1.8)
- Xây dựng định mức chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Chi phí bán hàng và chi phí QLDN cũng gồm nhiều khoản chi mang tính chất
biến đổi và cố định Vì vậy việc xây dựng định mức cũng tương tự như chi phí SXC
Xây dựng định mức biến phí, định mức định phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
rồi mới tổng hợp lại để được định mức chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
Mức độ hoạt động lựa chọn làm căn cứ phân bổ chi phí bán hàng và chi phí quản lý
doanh nghiệp thường liên quan đến hoạt động tiêu thụ như: số lượng sản phẩm tiêu
thụ, quy mô bán hàng,…
1.2.2.2 Lập dự toán chi phí
Trong kế toán quản trị chi phí thì dự toán chi phí là một việc hết sức quan trọng
Trên cơ sở các dự toán chi phí doanh nghiệp sẽ chủ động hơn trong việc sử dụng các
nguồn lực đầu vào và đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí của mình Dự toán chi phí
thường được lập theo chức năng hoạt động của chi phí, bao gồm: Dự toán chi phí
nguyên vật liệu trực tiếp, dự toán chi phí nhân công trực tiếp, dự toán chi phí sản xuất
chung, dự toán chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp
* Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh tất cả chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp cần thiết để đáp ứng yêu cầu sản xuất đã được thể hiện trên dự toán khối
lượng sản phẩm sản xuất Mục đích của dự toán nguyên vật liệu trực tiếp nhằm xác
Trang 32định lượng nguyên vật liệu đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và dự trữ cho quá trình sản xuất, xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho kỳ tới
Để lập dự toán nguyên vật liệu trực tiếp cần xác định: dự kiến sản lượng sản phẩm sản xuất, định mức tiêu hao NVL để sản xuất một sản phẩm, đơn giá xuất nguyên vật liệu và mức độ dự trữ nguyên vật liệu trực tiếp vào cuối kỳ
Số lượng NVL tiêu hao cho 1 đơn vị sản phẩm
Đơn giá NVL xuất dùng
(1.9)
* Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp là việc dự kiến tổng số lượng thời gian cần thiết để hoàn thành khối lượng sản phẩm sản xuất và đơn giá thời gian lao động trực tiếp Mục tiêu cơ bản của dự toán này là duy trì lực lượng lao động vừa đủ để đáp ứng yêu cầu sản xuất, tránh tình trạng lãng phí sử dụng lao động Dự toán chi phí NCTT còn là cơ sở để doanh nghiệp lập kế hoạch về đào tạo, tuyển dụng trong quá trình hoạt động sản xuất
Chi phí nhân công trực tiếp thường là biến phí trong mối quan hệ với khối lượng sản phẩm sản xuất, nhưng trong một số ít các trường hợp chi phí nhân công trực tiếp không thay đổi theo mức độ hoạt động Đó là trường hợp ở các doanh nghiệp sử dụng công nhân có trình độ tay nghề cao, không thể trả công theo sản phẩm hoặc theo thời gian Để lập dự toán chi phí này, doanh nghiệp phải dựa vào số lượng nhân công, quỹ lương, cách phân phối lương và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Đối với biến phí NCTT, để lập dự toán doanh nghiệp cần xây dựng:
- Dự kiến sản lượng sản phẩm sản xuất
- Định mức lao động để sản xuất sản phẩm
- Tiền công cho từng giờ lao động hoặc từng sản phẩm
Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau, phải lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp cho từng loại sản phẩm, sau đó tập hợp lại để tính toán cho toàn doanh nghiệp
Chi phí
NCTT =
Khối lượng sản phẩm cần sản xuất
Định mức thời gian hoàn thành
01 sản phẩm
Đơn giá giờ công NCTT
(1.10)
Trang 33* Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung bao gồm cả yếu tố chi phí biến đổi và chi phí cố định
Dự toán chi phí sản xuất chung phải tính đến cách ứng xử chi phí để xây dựng mức
dự toán hợp lý trong kỳ
Dự toán này ở các doanh nghiệp thường được xem là một nhiệm vụ cơ bản nhằm giảm thấp chi phí và giá thành sản phẩm Các chi phí này thường độc lập tương đối với mức độ hoạt động, nó liên quan chủ yếu với cấu trúc của phân xưởng, phải sử dụng chi phí hỗn hợp và các kỹ thuật tách biệt phần biến phí và định phí
Dự toán chi phí sản
xuất chung =
Dự toán định phí sản xuất chung -
Dự toán biến phí sản xuất chung (1.11)
- Đối với phần biến phí: có thể căn cứ vào tổng thời gian lao động trực tiếp hoặc số giờ máy chạy hoặc số lượng sản phẩm sản xuất dự kiến và đơn giá chi phí sản xuất chung để xác định, cụ thể:
dự kiến
(1.13)
- Đối với phần định phí sản xuất chung: khi lập dự toán, căn cứ vào số thực tế
kỳ trước và những thay đổi định phí dự kiến trong kỳ tới để dự toán cho kỳ này
Dự toán định phí sản xuất chung cần phân biệt định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc (định phí tùy ý) Đối với định phí bắt buộc, trên cơ sở định phí chung
cả năm chia đều cho 4 quý nếu là dự toán quý, hoặc chia đều cho 12 tháng nếu là dự toán tháng Còn đối với định phí tùy ý thì phải căn cứ vào kế hoạch của nhà quản trị trong kỳ dự toán
Dự toán định phí hàng năm có thể lập dựa vào mức độ tăng giảm liên quan đến việc trang bị, đầu tư mới ở doanh nghiệp
Trang 34Dự toán định phí
SXC =
Định phí SXC thực tế kỳ trước
1 + Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí
SXC theo dự kiến (1.14)
* Dự toán chi phí bán hàng
Dự toán chi phí bán hàng phản ánh các chi phí liên quan đến việc tiêu thụ sản
phẩm dự tính của kỳ sau Cách xây dựng dự toán cũng giống như chi phí sản xuất
chung nhưng căn cứ xây dựa vào kết quả tiêu thụ hoặc quy mô bán hàng của doanh
nghiệp Khi xây dựng dự toán cho các chi phí này cần tính đến nội dung kinh tế của
chi phí cũng như yếu tố biến đổi và yếu tố cố định trong thành phần chi phí
Dự toán chi phí
bán hàng =
Dự toán định phí bán hàng +
Dự toán biến phí bán hàng
(1.15)
- Đối với biến phí: Căn cứ vào khối lượng sản phẩm tiêu thụ và đơn giá biến phí
của 1 đơn vị sản phẩm tiêu thụ
Các biến phí bán hàng của doanh nghiệp có thể là biến phí trực tiếp như hoa
hồng, lương nhân viên bán hàng,… Biến phí gián tiếp là những chi phí liên quan đến
từng bộ phận bán hàng như chi phí bảo trì, xăng dầu, hỗ trợ bán hàng và thường
được dự toán trên cơ sở số lượng bán hàng dự toán hoặc xác định một tỷ lệ % theo
thống kê kinh nghiệm
Dự toán biến phí
bán hàng =
Dự toán biến phí đơn vị bán hàng Sản lương tiêu thụ
theo dự toán (1.16) Hoặc
Dự toán biến phí
bán hàng =
Dự toán biến phí trực tiếp Tỷ lệ biến phí theo
dự kiến (1.17)
- Đối với định phí: Yếu tố định phí thường ít biến đổi trong một phạm vi phù
hợp gắn với các quyết định dài hạn, và có thể dự báo một cách dể dàng dựa vào chức
năng kinh doanh của doanh nghiệp Dự báo các yếu tố này cần phân tích đầy đủ các
dữ liệu quá khứ của doanh nghiệp
Dự toán định phí
bán hàng =
Định phí bán hàng thực tế kỳ trước 1 + Tỷ lệ % tăng (giảm) định phí
bán hàng theo dự kiến
(1.18)
Trang 35* Dự toán chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí quản lý thường phụ thuộc vào cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp Chi phí này liên quan đến toàn bộ doanh nghiệp Tương tự như dự toán bán hàng, việc lập dự toán biến phí quản lý này thường dựa vào biến phí quản lý đơn vị nhân với sản lượng tiêu thụ dự kiến
Dự toán biến phí
QLDN =
Dự toán biến phí đơn vị QLDN Sản lượng tiêu thụ
theo dự toán (1.19)
Hoặc sử dụng phương pháp thống kê kinh nghiệm, trên cơ sở tỷ lệ biến phí QLDN trên biến phí trực tiếp trong và ngoài khâu sản xuất ở các kỳ kế toán trước để xác định tỷ lệ biến phí bình quân giữa các kỳ Công thức để xác định như sau:
Dự toán biến phí
QLDN =
Dự toán biến phí trực tiếp Tỷ lệ biến phí
QLDN (1.20)
Còn định phí quản lý doanh nghiệp thường không thay đổi theo mức độ hoạt động Các thay đổi của loại chi phí này chủ yếu do việc trang bị đầu tư thêm cho bộ phận quản lý của doanh nghiệp Lập dự toán bộ phận này cần căn cứ vào dự báo các nội dung cụ thể của từng yếu tố chi phí để xác định chính xác định phí theo dự toán
Xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí
Xác định chi phí cho các đối tượng chịu phí có ý nghĩa quan trọng đối với các nhà quản trị trong việc đưa ra các quyết định kinh doanh Mục đích xác định chi phí ngoài tăng cường kiểm soát chi phí còn nhằm cung cấp các thông tin về giá thành đơn
vị sản phẩm, dịch vụ cần thiết cho nhà quản trị để điều hành hoạt động SXKD như: định giá bán sản phẩm, hàng tồn kho hay xác định kết quả kinh doanh
Đối tượng chịu phí là các trung tâm chi phí như các phân xưởng, đội sản xuất, các giai đoạn công nghệ, từng phòng ban chức năng… hoặc từng nhóm sản phẩm, sản phẩm, chi tiết sản phẩm, đơn đặt hàng, khách hàng Việc xác định đối tượng chịu chi phí trong doanh nghiệp sản xuất phải dựa vào những cơ sở sau:
- Dựa vào đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
- Dựa vào loại hình sản xuất của doanh nghiệp
- Dựa vào vào yêu cầu và trình độ quản lý tổ chức sản xuất kinh doanh
Khi đối tượng chịu chi phí được xác định một cách khoa học và đúng đắn sẽ là
cơ sở quan trọng để kiểm tra, kiểm soát chi phí, nhằm tổ chức hệ thống thông tin kế toán chính xác từ hệ thống tài khoản, tiểu khoản đến hệ thống sổ sách kế toán
Trang 36Các phương pháp xác định chi phí có thể chia thành hai nhóm mô hình: Theo phương pháp truyền thống và theo phương pháp hiện đại Theo phương pháp truyền thống: Xác định chi phí theo công việc, xác định chi phí theo quá trình sản xuất Theo phương pháp hiện đại: Xác định chi phí theo hoạt động, xác định chi phí mục tiêu, xác định chi phí theo chu kì sản phẩm và xác định chi phí Kaizen
1.2.3.1 Xác định chi phí theo phương pháp truyền thống
* Phương pháp xác định chi phí theo công việc/đơn đặt hàng
Phương pháp xác định chi phí theo công việc thường được áp dụng cho những sản phẩm thực hiện theo đơn đặt hàng và theo yêu cầu của từng khách hàng Sản phẩm dễ nhận diện, có giá trị cao và kích thước lớn Phương pháp này thường áp dụng trong các doanh nghiệp xây dựng, sản phẩm là các công trình, hạng mục công trình, các doanh nghiệp thiết kế, khảo sát, dịch vụ sửa chữa ô tô
Theo phương pháp này, các chi phí sản xuất được hạch toán theo từng công việc
và được theo dõi trên một Phiếu theo dõi chi phí công việc Công việc có thể là một đơn đặt hàng, lô sản xuất, mẻ sản xuất hoặc khách hàng
Trong đó, chi phí nguyên vật liệu được xác định trên cơ sở phiếu xuất kho nguyên vật liệu Chi phí nhân công trực tiếp, được xác định dựa trên bảng chấm công của công nhân hoặc phiếu giao nhận sản phẩm, hợp đồng giao khoán công việc Chi phí sản xuất chung được xác định theo mức phân bổ dự toán
* Phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất
Phương pháp này thường được vận dụng trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm theo quy trình công nghệ sản xuất liên tục hoặc song song qua nhiều bước chế biến Sản phẩm thường đồng nhất, do sản xuất đại trà và thường có giá trị không cao như sản xuất kẹo bánh, vật liệu xây dựng,
Trong phương pháp tập hợp chi phí theo quá trình sản xuất, đối tượng chịu phí
ở đây là từng công đoạn hoặc từng phân xưởng sản xuất của doanh nghiệp
Quá trình sản xuất ở các doanh nghiệp thường được tổ chức theo một trong hai quy trình công nghệ: quy trình sản xuất liên tục và quy trình sản xuất song song Quy trình sản xuất liên tục: Với quá trình sản xuất liên tục, hoạt động sản xuất diễn ra ở các phân xưởng, nguyên vật liệu chính là đầu vào của phân xưởng đầu tiên, sau đó chuyển sang phân xưởng 2 và cứ thế cho tới phân xưởng cuối cùng ra thành phẩm của quá trình sản xuất Quy trình công nghệ sản xuất liên tục thường được vận dụng ở các doanh nghiệp dệt - may, sản xuất xi măng, thép, đồ hộp
Quy trình sản xuất song song: Với quy trình sản xuất song song, quá trình sản xuất diễn ra đồng thời tại các phân xưởng tạo ra các chi tiết của sản phẩm, sau đó mới lắp ráp ở phân xưởng cuối cùng tạo ra thành phẩm Phương pháp xác định chi phí
Trang 37theo quá trình sản xuất song song thường phù hợp với các ngành chế tạo ô tô, xe máy, thiết bị điện, xe đạp
1.2.3.2 Xác định chi phí theo phương pháp hiện đại
* Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm theo mô hình chi phí mục tiêu (Target - Costing)
Mô hình chi phí mục tiêu là tổng thể các phương pháp, công cụ quản trị cho phép đạt được mục tiêu hoạt động ở giai đoạn thiết kế và kế hoạch hoá sản phẩm mới Phương pháp này cũng cho phép nhà quản trị dự đoán được mục tiêu lợi nhuận đã xác định trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, cũng như tạo ra các cơ sở kiểm soát ở giai đoạn sản xuất và bảo đảm các sản phẩm này đạt được mục tiêu lợi nhuận đã được xác định phù hợp với chu kỳ sống của sản phẩm
Như vậy, chi phí mục tiêu gắn liền với lợi nhuận có thể đạt được theo chu kỳ sống của sản phẩm, định nghĩa về phương pháp chi phí mục tiêu nhấn mạnh mục tiêu dần phải đạt được và thời gian phân tích là chu kỳ sống của sản phẩm Từ đó chi phí mục tiêu trở thành công cụ quản trị chi phí mà nhà quản trị hoạch định chính sách hoạt động sử dụng trong các giai đoạn thiết kế và sản xuất để cải tiến quá trình sản xuất, giảm chi phí sản xuất trong tương lai
* Phương pháp xác định chi phí sản xuất sản phẩm dựa trên hoạt động (Activity - Based Costing - ABC)
Các phương pháp truyền thống chỉ mới quan tâm đến việc tính giá thành sản phẩm, mà không chỉ ra mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận chức năng khác nhau, những vấn đề như chi phí gia tăng ở nguồn nào, chi phí nào giữ vai trò trọng yếu đối với sản phẩm Thực tế cho thấy, chi phí phát sinh ở nhiều hoạt động khác trong quá trình sản xuất, nhưng lại tập hợp chung, sau đó phân bổ theo một tiêu thức thì không chính xác cho các đối tượng chịu chi phí
Phương pháp ABC ra đời đã giúp khắc phục các nhược điểm trên Điểm nổi bật của phương pháp ABC là nhấn mạnh các hoạt động như là những đối tượng chịu chi phí chủ yếu Chi phí các hoạt động này sau đó sẽ được phân bổ cho những đối tượng tính giá thành theo số lượng các hoạt động mà đối tượng này sử dụng Thông thường chi phí sản xuất chung chứa đựng nhiều hoạt động (nguồn tạo chi phí)
Khác với mô hình truyền thống, mô hình ABC tập hợp toàn bộ chi phí gián tiếp trong quá trình sản xuất vào từng hoạt động (mỗi hoạt động là tập hợp những chi phí gián tiếp có cùng nguồn gốc, bản chất tương đương) Từ đó phân bổ chi phí theo hoạt động này vào từng sản phẩm, dịch vụ theo các tiêu thức thích hợp Khoản chi phí gián tiếp này được phân bổ vào giá thành sản xuất cùng với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp
Trang 38Hệ thống này không thay thế hệ thống tính giá thành truyền thống, mà nhằm bổ sung khả năng xử lý và cung cấp thông tin trong việc ra quyết định ngắn hạn và dài hạn của doanh nghiệp
* Phương pháp xác định chi phí Kaizen
Khái niệm Kaizen có thể được hiểu như là sự xem xét cải tiến không ngừng chi phí nhằm duy trì chi phí ở mức thấp nhất Kaizen costing quan tâm đến nhận diện những cơ hội để cải tiến chi phí trong giai đoạn chế tạo Để làm được điều này, các nhà quản trị phải liên tục phân tích sự thay đổi chi phí thực tế với các quy trình sản xuất để cắt giảm tối đa về chi phí nguyên vật liệu và nhân công Như vậy, chức năng của phương pháp này cũng giống như một hệ thống kiểm soát ngân sách trong hệ thống kế toán
Phân tích biến động chi phí để kiểm soát chi phí
Kiểm tra, kiểm soát là chức năng quan trọng trong quản trị Để kiểm soát chi phí cần dựa trên chi phí dự toán, chi phí thực tế phát sinh và thông qua việc xem xét ảnh hưởng của nhân tố lượng và nhân tố giá đến kiểm soát chi phí của doanh nghiệp, ảnh hưởng đến kết quả thực hiện dự toán Khi phân tích chi phí trong mỗi tình huống cần có những trình tự nhất định:
- Xác định chỉ tiêu phân tích: Xác định rõ nội dung chi phí cần phân tích và biểu diễn chi phí bằng một biểu thức toán học trong mối liên hệ với nhiều nhân tố cần xem xét đánh giá
- Xác định đối tượng phân tích: Mức chênh lệch tuyệt đối của chỉ tiêu phân tích giữa thực tế so với dự toán trong kỳ hoặc so với cùng kỳ trước
- Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố: Dùng các phương pháp kỹ thuật tính toán (phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch,…) để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của nhân tố đến sự biến động của chỉ tiêu
- Xác định nguyên nhân, xu hướng và giải pháp: Sau khi tính toán được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động CP, nhà quản trị phải đưa ra kết luận sự biến động là thuận lợi hay bất lợi, đưa ra nguyên nhân và cách khắc phục
1.2.4.1 Phân tích chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp là chênh lệch giữa chi phí NVLTT thực tế phát sinh với chi phí NVLTT dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế Biến động của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp có thể được kiểm soát gắn liền với các nhân
tố giá và lượng có liên quan
* Biến động lượng
Biến động lượng: Là phần chênh lệch giữa lượng NVLTT ở kỳ thực tế phát sinh với lượng NVLTT theo dự toán phát sinh trong kỳ để sản xuất ra một lượng sản phẩm
Trang 39nhất định Biến động về lượng phản ánh sự thay đổi lượng tiêu hao vật chất và ảnh hưởng đến tổng chi phí NVLTT Biến động về lượng được xác định:
sử dụng
-
NVL trực tiếp
dự toán sử dụng
×
Đơn giá NVLTT
dự toán
(1.21)
Biến động về lượng nếu là kết quả dương thể hiện lượng vật liệu sử dụng thực
tế nhiều hơn so với dự toán, kết quả âm thể hiện lượng vật liệu được sử dụng tiết kiệm hơn Khi phân tích tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến biến động lượng NVLTT phải gắn liền trách nhiệm với các bộ phận sử dụng nguyên vật liệu Đó có thể là do khâu
tổ chức sản xuất, mức độ hiện đại của công nghệ, trình độ công nhân Chất lượng nguyên vật liệu mua vào không tốt dẫn đến phế liệu hoặc sản phẩm hỏng nhiều làm cho lượng tiêu hao nhiều Ngoài ra cũng cần phải xem xét đến các nguyên nhân khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, mất điện,…
* Biến động giá
Biến động giá: là chênh lệch giữa giá NVLTT kỳ thực tế với giá NVLTT theo
dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm nhất định Biến động giá thể hiện sự biến động
về giá NVLTT ảnh hưởng như thế nào đến tổng chi phí NVLTT trong kỳ Nếu tính trên một đơn vị sản phẩm thì nó phản ánh giá cả của một đơn vị nguyên vật liệu để sản xuất một đơn vị sản phẩm thay đổi như thế nào so với dự toán
Biến động về giá được xác định:
-
Đơn giá NVLTT
dự toán
× Lượng NVLTT thực tế sử dụng (1.22)
Ảnh hưởng biến động về giá có thể là âm hay dương Nếu ảnh hưởng là âm chứng tỏ giá vật liệu thực tế thấp hơn giá dự toán Tình hình này được đánh giá tốt nếu chất lượng vật liệu đảm bảo Ngược lại, ảnh hưởng dương thế hiện giá vật liệu tăng so với dự toán và sẽ làm tăng tổng chi phí sản xuất của doanh nghiệp Xét trên phương diện các trung tâm trách nhiệm thì biến động về giá gắn liền với trách nhiệm của bộ phận cung ứng vật liệu Khi kiểm soát biến động về giá, cần quan tâm đến các nguyên nhân do biến động của giá vật liệu trên thị trường, chi phí thu mua, chất lượng nguyên vật liệu, thuế và cả các phương pháp tính giá nguyên vật liệu
Trang 401.2.4.2 Phân tích chi phí nhân công trực tiếp
Biến động chi phí nhân công trực tiếp là chênh lệch giữa chi phí nhân công trực tiếp thực tế phát sinh với chi phí nhân công dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế Biến động của chi phí NCTT được phân tích thành biến động năng suất lao động (nhân tố lượng) và biến động giá nhân công (nhân tố giá)
* Nhân tố lượng
Nhân tố lượng: Là chênh lệch giữa số giờ lao động trực tiếp thực tế với dự toán cho khối lượng sản xuất thực tế Nhân tố này thể hiện sự thay đổi về số giờ công để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến tổng chi phí NCTT như thế nào Ảnh hưởng của nhân tố lượng thể hiện như sau:
Ảnh hưởng của thời
-
Thời gian lao động theo dự toán
×
Đơn giá NCTT
dự toán
(1.23)
Nhân tố thời gian lao động do nhiều nguyên nhân: có thể là trình độ và năng lực của người lao động thay đổi, thay đổi cơ cấu lao động, do điều kiện trang bị máy móc thiết bị, chất lượng NVL sử dụng hoặc chính sách lương doanh nghiệp
* Nhân tố giá
- Nhân tố giá: là chênh lệch giữa giá giờ công lao động trực tiếp thực tế với dự toán để sản xuất ra lượng sản phẩm Nhân tố này phản ánh sự thay đổi về giá của giờ công lao động để sản xuất sản phẩm ảnh hưởng đến chi phí nhân công trực tiếp
Đơn giá nhân công trực tiếp
dự toán ×
Thời gian lao động thực tế
(1.24)
Biến động do giá thường do các nguyên nhân gắn liền với việc trả công lao động như chế độ lương, thị trường cung cầu lao động,… Nếu ảnh hưởng tăng (giảm) giá là thể hiện sự lãng phí hoặc tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp, thì việc kiểm soát chi phí nhân công còn cho phép ta làm rõ bộ phận chịu trách nhiệm, làm ảnh hưởng đến công tác quản lý chi phí và giá thành Nhân tố giá tăng hay giảm được đánh giá là tốt