Mục đích nghiên cứu Thông qua nghiên cứu hệ thống hoá lý luận về kế toán quản trị chi phí phục vụ hiệu quả cho quản trị nội bộ doanh nghiệp, đồng thời qua nghiên cứu, đánh giá thực trạ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LÊ THỊ THỦY
HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG
TY TNHH HJC VINA
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT QUẢN TRỊ KINH DOANH
Trang 2Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ có đề tài “ Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA ” là công trình nghiên cứu của riêng tôi
Các số liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn trích dẫn đầy đủ và trung thực Nội dung trình bày trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Lê Thị Thủy
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa……… ……… ……… 1
Lời cam đoan 2
Danh mục các chữ viết tắt .6
Danh mục các bảng 7
Danh mục các sơ đồ 8
PHẦN MỞ ĐẦU 9
Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG DOANH NGHIỆP 12
1.1 Khái quát về kế toán quản trị 12
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị 12
1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị 12
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị 13
1.2 Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 13
1.2.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 13
1.2.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 14
1.2.2.1 Phân loại chi phí trong kế toán quản trị chi phí 14
1.2.2.2 Phương pháp tập hợp chi phí 18
1.2.2.3Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh 19
1.2.2.4 Xác định giá phí đơn vị sản phẩm 21
1.2.2.5 Phân tích, đánh giá tình hình biến động chi phí 28
1.2.2.6 Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho các quyết định kinh doanh 32
1.3 Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 37
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp 37 1.3.2 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí 39
1.3.3 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán quản trị chi phí 40
1.3.4 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán quản trị chi phí 40
Trang 41.3.5 Tổ chức sổ kế toán quản trị chi phí 40
1.3.6 Tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí 41
Kết luận chương 1 42
Chương 2 - THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH HJC VINA 43
2.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty HJC VINA 43
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 43
2.1.2 Tổ chức hoạt động kinh doanh 46
2.1.3 Đặc điểm của sản phẩm 48
2.1.4 Quy trình sản xuất sản phẩm 49
2.2 Công tác tổ chức kế toán tại Công ty HJC VINA 50
2.2.1 Tổ chức bộ máy kế toán 50
2.2.2 Chế độ kế toán 52
2.3 Kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 54
2.3.1 Phân loại chi phí sản xuất kinh doanh 54
2.3.2 Công tác lập dự toán chi phí 57
2.3.3 Phương pháp tập hợp chi phí và xác định giá phí đơn vị sản phẩm 59
2.3.3.1 Phương pháp tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp………….… 60
2.3.3.2 Phương pháp tập hợp chi phí nhân công trực tiếp……….…… 60
2.3.3.3 Phương pháp tập hợp chi phí sản xuất chung ……….…… 61
2.3.3.4 Phương pháp tập hợp chi phí bán hàng và quản lý doanh nghiệp 62
2.3.4 Công tác phân tích biến động chi phí 65
2.3.5 Công tác phân tích hiệu quả hoạt động của từng sản phẩm, bộ phận 65
2.4 Đánh giá thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 65
2.4.1 Ưu điểm của công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 65
2.4.2 Nhược điểm của công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 66
Trang 52.4.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty
HJC VINA 67
Kết luận chương 2 68
Chương 3 - HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TẠI CÔNG TY TNHH HJC VINA 69
3.1 Sự cần thiết phải hoàn thiệncông tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 69
3.2 Yêu cầu, nguyên tắc và điều kiện cơ bản để hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 70
3.2.1 Yêu cầu cơ bản để hoàn thiện kế toán quản trị chi phí 70
3.2.2 Nguyên tắc cơ bản để hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí 71
3.2.3 Điều kiện cơ bản để hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí 71
3.3 Các giải pháp hoàn thiện công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty HJC VINA 72
3.3.1 Giải pháp hoàn thiện về công tác phân loại chi phí 72
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện về công tác tập hợp chi phí và cung cấp thông tin chi phí .75
3.3.3 Giải pháp hoàn thiện về công tác lập dự toán chi phí 85
3.3.4 Giải pháp hoàn thiện về công tác phân tích biến động chi phí và đánh giá hiệu quả hoạt động của từng sản phẩm, từng bộ phận 90
Kết luận chương 3 98
KẾT LUẬN 99
TÀI LIỆU THAM KHẢO 101
Trang 6Danh mục các chữ viết tắt
CPNVLTT Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
CPSXKDDD Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang Công ty HJC VINA Công ty TNHH HJC VINA
Trang 7Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Báo cáo kết quả kinh doanh theo bộ phận 37
Bảng 2.1 Tổng hợp chi phí Công ty HJC VINA theo nội dung kinh tế 55
Bảng 2.2 Tổng hợp chi phí Công ty HJC VINA theo chức năng hoạt động 57 Bảng 2.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ 6 tháng cuối năm 2013 63 Bảng 3.1 Bảng tiêu chuẩn phân loại chi phí tại Công ty HJC VINA 73
Bảng 3.4 Sổ chi tiết chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 82 Bảng 3.5 Sổ chi tiết chi phí sản xuất kinh doanh dở dang 83 Bảng 3.6 Báo cáo giá thành sản xuất theo từng sản phẩm 84 Bảng 3.7 Định mức chi phí cho một đơn vị sản phẩm 86 Bảng 3.8 Phân tích tình hình thực hiện định mức CPNVLTT 91 Bảng 3.9 Báo cáo kết quả kinh doanh theo sản phẩm 95 Bảng 3.10 Báo cáo kết quả kinh doanh theo bộ phận sản xuất 96 Bảng 3.11 Báo cáo kết quả kinh doanh theo từng địa điểm bán hàng 97
Trang 8Danh mục các sơ đồ
Sơ đồ 1.1 Hạch toán chi phí sản xuất chung theo phương pháp chi phí
thông thường
23
Sơ đồ 1.2 Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi
phí theo công việc
24
Sơ đồ 1.3 Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi phí
theo quá trình sản xuất
25
Sơ đồ 1.4 Phương pháp xác định chi phí theo chu kỳ sống của sản phẩm 27
Sơ đồ 2.2 Quy trình sản xuất sản phẩm tại Công ty HJC VINA 49
Sơ đồ 2.3 Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty HJC VINA 51
Sơ đồ 3.1 Phân tích biến động khoản mục CPNVLTT 91
Sơ đồ 3.2 Phân tích biến động khoản mục CPNCTT 92
Sơ đồ 3.3 Phân tích biến động khoản mục biến phí CPSXC 93
Sơ đồ 3.4 Phân tích biến động khoản mục định phí CPSXC 94
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trong cơ chế thị trường hiện nay mở ra cho các doanh nghiệp nhiều cơ hội kinh doanh mới nhưng bên cạnh đó cũng đầy ắp những rủi ro và thách thức Vì vậy các doanh nghiệp luôn phải tìm mọi biện pháp đối phó với sự canh tranh từ các doanh nghiệp trong nước và ngoài nước Kế toán với tư cách là một công cụ quản lý, có vai trò hết sức quan trọng trong công tác quản lý kinh tế tài chính Để kế toán phát huy tốt chức năng cung cấp thông tin và kiểm tra thì phải xây dựng được một hệ thống kế toán hoàn chỉnh, với hệ thống này thì thông tin được cung cấp không chỉ hướng vào sự kiện đã xảy ra, mà nó còn hướng đến những diễn biến trong tương lai nhằm giúp nhà quản trị, hoạch định, tổ chức, điều hành, kiểm soát và đưa ra quyết định đúng đắn, phù hợp với các mục tiêu đã xác lập Để đáp ứng được yêu cầu này
kế toán phân thành kế toán tài chính và kế toán quản trị
Kế toán quản trị đã tồn tại rất lâu, tuy nhiên kế toán quản trị mới được hệ thống hóa và phát triển một cách hệ thống về lý luận và thực tiễn ở những thập kỷ gần đây
Kế toán quản trị là một hệ thống của kế toán, ra đời trong điều kiện kinh tế thị trường Thông qua việc cung cấp thông tin, kế toán quản trị giúp các nhà quản trị trong việc hoạch định, kiểm tra, kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh của đơn vị
và đưa ra các quyết định kinh doanh
Thông tin chi phí do kế toán quản trị cung cấp chủ yếu phục vụ cho yêu cầu quản
lý của doanh nghiệp Có sự hiểu biết về chi phí sẽ giúp nhà quản trị đưa ra các các quyết định tối ưu để phục vụ cho quá trình quản lý doanh nghiệp
Công ty TNHH HJC VINA là doanh nghiệp sản xuất mũ bảo hiểm Hiện nay Công ty đã và đang tổ chức kế toán quản trị tuy nhiên Công ty ưu tiên nhiều hơn vào kế toán quản trị chi phí nhằm mục đích cung cấp thông tin hữu ích về chi phí cho các nhà quản trị Tuy nhiên hiện nay việc tổ chức kế toán quản trị tại Công ty HJC VINA nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng chưa được khoa học, còn nhiều bỡ ngỡ, chưa có hệ thống, nội dung của kế toán quản trị còn bị ảnh hưởng
Trang 10nặng nề bởi nội dung của kế toán tài chính nên chưa khai thác được hết lợi ích mà
kế toán quản trị mang lại Việc hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị chi phí là xu hướng tất yếu trong quản lý doanh nghiệp và là mong muốn của các nhà quản trị Công ty Xuất phát từ yêu cầu mang tính khách quan và thực tiễn tác giả chọn đề
tài: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA làm đề
tài nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu hệ thống hoá lý luận về kế toán quản trị chi phí phục vụ hiệu quả cho quản trị nội bộ doanh nghiệp, đồng thời qua nghiên cứu, đánh giá thực trạng và nguyên nhân những vấn đề tồn tại trong tổ chức kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA, từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA, nhằm thông qua kế toán quản trị chi phí có thể cung cấp thông tin hữu ích giúp các nhà quản lý Công ty trong quá trình quản trị hoạt động sản xuất kinh doanh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn đã xác định:
Đối tượng nghiên cứu là: Kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA Phạm vi nghiên cứu: là thực tế công tác kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong suốt quá trình nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với chủ nghĩa duy vật lịch sử
Luận văn còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như điều tra, phỏng vấn trực tiếp, phân tích, tổng hợp, so sánh, đối chiếu giữa thực tiễn với lý thuyết về KTQT chi phí để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề cụ thể
5 Những đóng góp của luận văn
- Về mặt lý luận: luận văn hệ thống hoá và phân tích những vấn đề lý luận chung về
kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Trang 11- Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu mô hình kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA
- Về tính ứng dụng vào thực tiễn: Luận văn đã đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục các bảng, sơ đồ và tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA
Chương 3: Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại Công ty TNHH HJC VINA
Trang 12Chương 1 - CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ TRONG
DOANH NGHIỆP
1.1 Khái quát về kế toán quản trị
1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị
Theo luật kế toán Việt Nam số 03/2003/QH ngày 17/06/2003: “ Kế toán quản trị
là việc thu thập, xử lý, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính trong nội bộ đơn vị kinh tế
Năm 2006 Bộ tài chính ban hành công văn số 53/2006/TT-BTC ngày 12/06/2006 hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp Ngoài việc nhắc lại định nghĩa về kế toán quản trị của Luật kế toán, thông tư còn chi tiết: “Kế toán quản trị nhằm cung cấp các thông tin về hoạt động nội bộ của doanh nghiệp, như: Chi phí của từng bộ phận (trung tâm chi phí), từng công việc, sản phẩm; Phân tích, đánh giá tình hình thực hiện với kế hoạch về doanh thu, chi phí, lợi nhuận; quản lý tài sản, vật tư, tiền vốn, công nợ; Phân tích mối quan hệ giữa chi phí với khối lượng và lợi nhuận; Lựa chọn thông tin thích hợp cho các quyết định đầu tư ngắn hạn và dài hạn; Lập dự toán ngân sách sản xuất, kinh doanh; nhằm phục vụ việc điều hành, kiểm tra và ra quyết định kinh tế Kế toán quản trị là công việc của từng doanh nghiệp, nhà nước chỉ hướng dẫn các nguyên tắc, cách thức tổ chức và các nội dung, phương
pháp kế toán quản trị chủ yếu tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp thực hiện” 1.1.2 Vai trò của kế toán quản trị
Do nhiệm vụ của kế toán quản trị doanh nghiệp là ra các quyết định nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển liên tục bền vững của doanh nghiệp Để làm tốt được nhiệm vụ này các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải được cung cấp đầy đủ những thông tin hữu ích, các thông tin này do kế toán quản trị cung cấp Bởi vậy, trong hệ thống quản lý doanh nghiệp, kế toán quản trị có những vai trò chủ yếu sau đây:
- Cung cấp những thông tin cần thiết giúp các nhà quản trị doanh nghiệp làm căn cứ để xây dựng kế hoạch, điều hành, kiểm tra giám sát việc thực hiện kế hoạch
Trang 13- Kế toán quản trị cung cấp những thông tin cần thiết giúp các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá mọi hoạt động kinh tế trong trạng thái thực của chúng Trên cơ sở đó, có những căn cứ xác thực để ra các quyết định kinh doanh hợp lý và có hiệu quả Đặc biệt giúp nhà quản trị doanh nghiệp có thể đánh giá kết quả của từng trung tâm trách nhiệm về chi phí trong doanh nghiệp
- Kế toán quản trị cung cấp hệ thống tài liệu dự toán sản xuất kinh doanh và tình hình thực hiện các dự toán ngân sách doanh nghiệp, giúp các nhà quản trị phát hiện ra những khả năng tiềm tàng và tìm mọi biện pháp để huy động vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong các kỳ tiếp theo, nhằm không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán quản trị
Để đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin cho các cấp quản trị khác nhau trong nội bộ doanh nghiệp, kế toán quản trị có những nhiệm vụ cơ quản sau đây:
- Thu thập, xử lý thông tin theo phạm vi, nội dung của kế toán quản trị đã được xác định trong từng thời kỳ, phản ánh được từng thành phần chi phí bằng cách chia doanh nghiệp thành nhiều trung tâm trách nhiệm chi phí Tính toán và tập hợp chi phí sản xuất, tính giá thành cho từng loại sản phẩm, từng loại công trình dịch vụ
- Xây dựng được các dự toán ngân sách sản xuất kinh doanh cho các mục tiêu hoạt động
- Kiểm soát việc thực hiện và giải trình các nguyên nhân làm chênh lệch giữa chi phí theo dự toán và chi phí theo thực tế
- Tổ chức phân tích và cung cấp các thông tin cần thiết bằng hệ thống báo cáo
kế toán quản trị, giúp nhà quản trị doanh nghiệp ra các quyết định kinh doanh hợp lý và lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2 Kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.2.1 Khái niệm kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Trang 14Kế toán quản trị chi phí là một bộ phận của kế toán quản trị chuyên thực hiện việc
xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng của nhà quản trị như hoạch định, tổ chức thực hiện, kiểm tra và ra quyết định
1.2.2 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.2.2.1 Phân loại chi phí trong kế toán quản trị chi phí
Chi phí sản xuất kinh doanh được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Trong
kế toán tài chính, chi phí được coi là những khoản phí tổn thực tế phát sinh gắn liền với các hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Trong kế toán quản trị, chi phí có thể được coi là những khoản phí tổn ước tính để thực hiện một hoạt động sản xuất kinh doanh hoặc cũng có thể được coi là những khoản chi phí mất đi khi lựa chọn phương án này thay cho một phương án khác, hoặc là những khoản chi phí chênh lệch khi so sánh hai phương án với nhau để lựa chọn một phương án tối ưu Song dù đứng trên góc độ nghiên cứu nào đi chăng nữa, chi phí sản xuất cũng có thể hiểu một cách tổng quát là những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa cho sản xuất trong một kỳ kinh doanh nhất định và được biểu hiện bằng tiền
Trong kế toán quản trị, chi phí sản xuất kinh doanh được phân loại nhiều cách khác nhau, tùy theo mục đích sử dụng thông tin của nhà quản trị trong từng doanh nghiệp Thông thường, các loại chi phí phát sinh và cách phân loại chi phí phụ thuộc vào loại hình tổ chức doanh nghiệp Do vậy, thấu hiểu cách phân loại chi phí
và ứng xử của từng loại chi phí là chìa khóa đưa ra những quyết định đúng cho sự thành công của quá trình tổ chức điều hành hoạt động kinh doanh của các nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp Bởi vậy, việc phân loại chi phí trong kế toán quản trị
có thể căn cứ vào nhiều tiêu thức khác nhau như: Theo nội dung kinh tế của chi phí, theo cách ứng xử của chi phí, theo công dụng kinh tế của chi phí hay mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả kinh doanh với chi phí hoặc cũng có thể phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp, phân loại chi phí theo mối quan hệ với khối lượng sản phẩm hoặc theo nhiều tiêu thức phân loại chi phí khác
Trang 15Căn cứ theo mục đích sử dụng thông tin khác nhau, chi phí trong kế toán quản trị có thể phân loại theo ba cách sau đây:
- Phân loại chi phí để đánh giá hàng tồn kho và đo lường lợi nhuận
- Phân loại chi phí để ra các quyết định kinh doanh
- Phân loại chi phí để kiểm tra, đánh giá chi phí
a) Phân loại chi phí để đánh giá hàng tồn kho và đo lường lợi nhuận
Để đánh giá hàng tồn kho và đo lường lợi nhuận kế toán quản trị chia chi phí sản
xuất kinh doanh thành hai loai:
+ Chi phí đã kết thúc
Là loại chi phí liên quan đến việc tạo ra thu nhập trong kỳ hiện tại, không có khả năng tạo ra thu nhập trong tương lai cho doanh nghiệp Những khoản chi phí này được phản ánh trong báo cáo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và là cơ sở để xác định lãi (lỗ) trong kinh doanh của doanh nghiệp Những khoản chi phí này bao gồm: Chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp
b) Phân loại chi phí để ra các quyết định kinh doanh
Trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị của các cấp quản lý trong nội bộ doanh nghiệp phải luôn luôn quan tâm đến việc quản lý chi phí Bởi vì mỗi đồng chi phí bỏ ra đều ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp Do vậy, việc cung cấp những thông tin hữu ích về chi phí phục vụ cho việc ra các quyết định kinh doanh hợp lý là một vấn đề có ý nghĩa rất lớn trong công tác cải tiến quản lý
Trang 16kinh tế của doanh nghiệp Để phục vụ thông tin cho việc ra các quyết định, chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được phân loại theo các tiêu thức sau:
b1) Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động
Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được chia thành: Chi phí sản xuất và chi phí ngoài sản xuất
- Chi phí sản xuất:
Là loại chi phí chế tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ của doanh nghiệp, bao gồm
ba khoản mục chi phí cơ bản:
Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp ( TK 621)
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí nguyên vật liệu được chia thành hai loại: Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hay còn gọi là chi phí tách biệt, loại chi phí này chỉ liên quan đến một loại sản phẩm nào đó Chi phí nguyên vật liệu gián tiếp là loại chi phí có liên quan đến nhiều loại sản phẩm, không thể tách trực tiếp cho từng sản phẩm hoặc cho từng loại sản phẩm Do đó, phải tập hợp vào chi phí sản xuất chung
để phân bổ
Chi phí nhân công trực tiếp ( TK 622)
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí nhân công của doanh nghiệp cũng chia thành hai loại: Chi phí nhân công trực tiếp là loại chi phí có thể tách biệt cho từng loại sản phẩm Chi phí nhân công gián tiếp là loại chi phí không trực tiếp tạo ra sản phẩm hoặc dịch vụ, nhưng nó lại không thể thiếu được trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Chi phí nhân công gián tiếp không thể tách trực tiếp cho một sản phẩm nào đó Vì vậy, nó cũng phải tập hợp vào tài khoản chi phí sản xuất chung để phân bổ
Chi phí sản xuất chung ( TK 627)
Dưới góc độ của kế toán quản trị, chi phí sản xuất chung cũng bao gồm rất nhiều loại chi phí mà không liên quan trực tiếp đến một sản phẩm hay một loại sản phẩm, hay một công việc cụ thể nào Cho nên, nó phải được tập hợp để phân bổ cho từng sản phẩm, từng loại công việc
Trang 17- Chi phí ngoài sản xuất:
Là những chi phí ngoài sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp, bao gồm hai khoản mục chi phí cơ bản là chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
b2) Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí
Cách ứng xử của chi phí có nghĩa là những khoản chi phí này tăng giảm như thế nào đối với các mức độ thay đổi của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Theo cách phân loại này, toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp chia làm ba loại:
- Chi phí biến đổi (biến phí )
- Chi phí cố định (định phí )
- Chi phí hỗn hợp
Cách phân loại như trên cho phép các nhà quản trị doanh nghiệp biết được chi phí sản xuất sẽ biến động như thế nào khi mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh thay đổi Do đó, nó đáp ứng được yêu cầu của việc lập kế hoạch, kiểm soát và chủ động điều tiết chi phí sản xuất của nhà quản trị các cấp trong nội bộ doanh nghiệp
+ Chi phí biến đổi (biến phí):
Là những khoản chi phí có quan hệ tỷ lệ thuận với sự biến động của mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Biến phí sản xuất bao gồm các khoản mục:
- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
- Chi phí nhân công trực tiếp
- Một bộ phận của chi phí sản xuất chung (nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, động lực )
+ Chi phí cố định (định phí):
Định phí là những khoản chi phí không đổi khi mức độ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thay đổi Tuy nhiên định phí chỉ giữ nguyên trong phạm vi phù hợp với mức độ hoạt động Phạm vi phù hợp là phạm vi giữa hoạt động tối thiểu và mức độ hoạt động tối đa mà doanh nghiệp dự định sản xuất Định phí bao
Trang 18gồm các khoản chi phí như: Chi phí khấu hao thiết bị sản xuất, tiền lương của bộ phận quản lý doanh nghiệp
+ Chi phí hỗn hợp:
Là những khoản chi phí bao gồm cả yếu tố biến phí lẫn định phí Ở mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thường được biểu hiện đặc điểm như định phí Ở mức hoạt động quá mức căn bản, nó lại được biểu hiện đặc điểm của biến phí Chẳng hạn như chi phí điện thoại, điện, nước
c) Phân loại chi phí để kiểm tra, đánh giá chi phí
Để kiểm tra, đánh giá được chi phí chi ra trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, chi phí được chia thành các loại sau đây:
+ Chi phí kiểm soát đƣợc:
Là những chi phí phản ánh phạm vi, quyền hạn của các nhà quản trị các cấp trong nội bộ doanh nghiệp với các loại chi phí đó Các nhà quản trị cấp cao có phạm vi quyền hạn rộng đối với chi phí hơn nhà quản trị cấp thấp Nghĩa là họ có nhiều quyền quyết định và kiểm soát chi phí hơn
+ Chi phí không kiểm soát đƣợc:
Là những khoản chi phí mà ở cấp quản lý thấp không có khả năng kiểm soát được Chẳng hạn: Chi phí khấu hao tài sản cố định thì đối với cấp quản lý phân xưởng hay
tổ đội sản xuất, họ không có quyền kiểm soát vì họ là cấp không có khả năng đầu tư trang thiết bị
Trang 19- Phương pháp trực tiếp:
Phương pháp trực tiếp áp dụng trong các trường hợp chi phí phát sinh chỉ liên quan đến một đối tượng chịu chi phí Theo phương pháp này thì chi phí của đối tượng nào được tập hợp trực tiếp cho đối tượng đó
- Phương pháp phân bổ:
Phương pháp phân bổ được áp dụng trong trường hợp chi phí phát sinh liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí Khi thực hiện phương pháp phân bổ chi phí doanh nghiệp phải lựa chọn tiêu chuẩn phân bổ hợp lý để tiến hành phân bổ chi phí cho các đối tượng liên quan
1.2.2.3 Lập dự toán chi phí sản xuất kinh doanh
a) Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Mục đích của dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp nhằm xác định lượng nguyên vật liệu đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và dự trữ cho quá trình sản xuất của doanh nghiệp, xác định chi phí nguyên vật liệu trực tiếp cho kỳ tới
Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp phản ánh toàn bộ các khoản chi phí nguyên vật liệu trực tiếp để sản xuất ra sản phẩm, nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị về kế hoạch thu mua nguyên vật liệu, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp Thông thường mỗi loại vật liệu phải lập dự toán riêng Căn cứ để xây dựng dự toán chính là số lượng sản phẩm cần sản xuất, tỷ lệ dự trữ cho quá trình sản xuất, định mức tiêu hao chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Dự toán chi phí nguyên vật liệu hàng năm của doanh nghiệp, có thể được xác định bằng công thức sau:
x
Định mức lượng nguyên vật liệu trực
tiếp
Trang 20b) Dự toán chi phí nhân công trực tiếp
Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được xây dựng căn cứ trên dự toán về kế hoạch sản xuất Mục đích của dự toán chi phí nhân công trực tiếp nhằm xác định lượng thời gian lao động và chi phí nhân công cho kỳ tới đáp ứng cho nhu cầu sản xuất
x
Định mức lượng thời gian lao động
x
Định mức giá thời gian lao động
c) Dự toán chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung là khoản chi phí hỗn hợp, khi xây dựng dự toán chi phí sản xuất chung thường được xây dựng theo hai yếu tố biến phí sản xuất chung và định phí sản xuất chung
Đối với các yếu tố thuộc biến phí sản xuất chung nếu được xây dựng định mức theo mỗi đơn vị thì quá trình dự toán tương tự như dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và dự toán chi phí nhân công trực tiếp
dự kiến
+
Lượng nguyên vật liệu trực tiếp tồn cuối kỳ dự kiến
-
Lượng nguyên vật liệu trực tiếp tồn đầu kỳ
dự kiến
Trang 21Đối với các yếu tố thuộc định phí sản xuất chung thường không thay đổi trong phạm vi phù hợp của quy mô hoạt động Nên thường căn cứ vào số liệu thống kê hàng năm để ước tính định phí sản suất một năm và chia đều cho bốn quý
d) Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp
Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là các khoản chi phí ước tính sẽ phát sinh trong kỳ dự toán trong lĩnh vực ngoài sản xuất Dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là tổng hợp các dự toán chi phí ở khâu tiêu thụ sản phẩm hàng hóa và quản lý doanh nghiệp Có thể lập dự toán chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp căn cứ vào tính chất tác động của chi phí theo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.2.4 Xác định giá phí đơn vị sản phẩm
Giá phí sản phẩm sản xuất vừa là cơ sở cho các quyết định quản lý, vừa là sản phẩm của các quyết định quản lý Để xác định giá phí cho sản phẩm sản xuất, kế toán cần đo lường chi phí cho từng đơn vị sản phẩm hàng hoá Có nhiều phương pháp để đo lường chi phí cũng như phân chia chi phí cho từng đơn vị sản phẩm sản xuất Việc lựa chọn phương pháp nào tuỳ thuộc vào đặc điểm quá trình sản xuất kinh doanh, năng lực của doanh nghiệp cũng như mục tiêu của hệ thống kế toán quản trị chi phí Một số phương pháp để đo lường chi phí cũng như phân chia chi phí cho từng đơn vị sản phẩm như sau:
a) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo kế toán quản trị chi phí truyền thống + Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí thực tế, phương pháp chi phí thông thường và phương pháp chi phí tiêu chuẩn
- Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí thực tế
Theo phương pháp này chi phí của sản phẩm sản xuất được tính toán trên cơ sở các CPNVLTT, CPNCTT và CPSXC thực tế phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm Chi phí sản xuất được tập hợp trên tài tài khoản 621 (CPNVLTT), tài khoản
622 (CPNCTT), tài khoản 627 (CPSXC), sau khi điều chỉnh giảm giá trị vật liệu sử dụng không hết hoặc chưa sử dụng, khoản giảm CPSXC thì phải tổng hợp theo từng đối tượng chi phí (theo dõi trên tài khoản CPSXKDDD) Do thông tin về giá
Trang 22phí sản xuất rất quan trọng đối với việc ra quyết định quản lý và đòi hỏi phải có tính kịp thời nên phương pháp này không đáp ứng được yêu cầu này, do vậy các doanh nghiệp thường ước tính chi phí sản xuất chung cho các sản phẩm sản xuất bằng việc
áp dụng phương pháp chi phí thông thường
- Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí thông thường
Theo phương pháp này chi phí của sản phẩm sản xuất được tính toán trên cơ sở
các CPNVLTT, CPNCTT và CPSXC ước tính phát sinh trong quá trình sản xuất
sản phẩm Tỷ lệ CPSXC ước tính được thiết lập trên cơ sở các hoạt động sản xuất
hoặc chi phí của hoạt động sản xuất, như: số giờ máy sản xuất, số giờ lao động trực tiếp Vào đầu năm tài chính, doanh nghiệp tiến hành ước tính tổng CPSXC sẽ phát sinh trong năm và ước tính mức độ phát sinh của tiêu thức sẽ sử dụng để tính toán tỷ
lệ CPSXC xác định trước Tỷ lệ CPSXC được xác định theo công thức:
Tỷ lệ chi phí sản xuất chung
xác định trước =
Tổng chi phí sản xuất chung ước tính Tổng tiêu thức phân bổ ước tính Trong kỳ, khi tiến hành sản xuất sản phẩm, kế toán sẽ tiến hành xác định mức độ thực tế của tiêu thức phân bổ và tính CPSXC phân bổ cho các sản phẩm sản xuất trong kỳ theo công thức:
Chi phí sản xuất
chung phân bổ =
Mức độ thực tế của tiêu thức phân bổ x
Tỷ lệ chi phí sản xuất chung xác định trước Khi áp dụng phương pháp này trong thực tế thường xảy ra sự chênh lệch giữa CPSXC thực tế phát sinh và CPSXC đã ước tính cho các sản phẩm Cuối năm tài chính, phần chênh lệch giữa CPSXC thực tế và CPSXC đã ước tính cho các sản phẩm được xử lý vào tài khoản Giá vốn hàng bán (nếu chênh lệch nhỏ) hoặc phân
bổ vào các tài khoản sau: Giá vốn hàng bán, thành phẩm và chi phí sản xuất kinh doanh dở dang theo tỷ lệ số dư của các tài khoản đó trước khi có các bút toán khóa
sổ cuối kỳ (nếu chênh lệch lớn) Quá trình này được khái quát trong sơ đồ sau:
Trang 23Sơ đồ 1.1: Hạch toán chi phí sản xuất chung theo phương pháp chi phí thông
Xử lý chênh lệch chi phí sản xuất chung phân bổ lớn hơn thực tế
Xử lý chênh lệch chi phí sản xuất chung phân bổ nhỏ hơn thực tế
- Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí tiêu chuẩn
Theo phương pháp này xác định giá phí sản phẩm theo các chi phí định mức cho cả ba khoản mục chi phí sản xuất Phần chênh lệch giữa chi phí sản xuất định mức và chi phí thực tế được xử lý vào giá vốn hàng bán
+) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí toàn bộ,
phương pháp chi phí trực tiếp
- Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí toàn bộ
Trong phương pháp chi phí toàn bộ tất cả các chi phí tham gia vào quá trình sản
xuất sản phẩm đều được tính vào giá thành sản phẩm sản xuất, không có sự phân biệt giữa chi phí sản xuất cố định và chi phí sản xuất biến đổi Điều này phù hợp với nguyên tắc của kế toán tài chính là tất cả các chi phí tham gia vào việc tạo ra tài sản (hàng tồn kho) thì phải được tính vào giá trị tài sản (Hàng tồn kho) đó
- Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí trực tiếp
Theo phương pháp chi phí trực tiếp (còn gọi là phương pháp chi phí biến đổi), giá thành sản phẩm sản xuất chỉ bao gồm các chi phí sản xuất biến đổi, còn các
Trang 24chi phí sản xuất cố định được coi là chi phí thời kỳ và được tính vào chi phí
kinh doanh ngay khi phát sinh
+) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp xác định chi phí
theo công việc
Phương pháp này được áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất đơn chiếc, các sản phẩm rất khác nhau về đặc tính, về quy trình sản xuất và chi phí sản xuất Theo phương pháp này, các chi phí sản xuất được hạch toán trực tiếp cho từng công việc Tài khoản CPSXKDDD được mở chi tiết theo từng đơn đặt hàng và chi phí cho mỗi đơn đặt hàng được theo dõi trên một Phiếu chi phí công việc Giá thành đơn vị sản phẩm được xác định bằng cách chia tổng chi phí của đơn đặt hàng cho số lượng sản phẩm của đơn đặt hàng đó Quá trình hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi phí theo công việc được khái quát trên sơ đồ 1.2 như sau:
Sơ đồ 1.2: Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi phí theo
TK CPSXC
(1) Chi phí NVLTT, CPNCTT, CPSXC cho từng đơn đặt hàng
(2) Giá thành của từng đơn đặt hàng hoàn thành
(1a)
(1b)
(2a)
(2b)
Trang 25+) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp xác định chi phí
theo quá trình sản xuất
Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp sản xuất hàng loạt, các sản phẩm giống nhau cả về đặc tính, quy trình sản xuất và chi phí sản xuất Theo phương pháp này các chi phí sản xuất được hạch toán luỹ kế cho tất cả các sản phẩm sản xuất trong một kỳ Giá thành sản xuất đơn vị sản phẩm được xác định bằng cách lấy tổng chi phí sản xuất trong kỳ chia cho số lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ đó Đặc trưng của phương pháp này là tài khoản CPSXKDDD được mở chi tiết cho từng giai đoạn (phân xưởng) sản xuất Thời diểm tính giá thành sản phẩm hoàn thành là cuối mỗi kỳ kế toán nên DN cần đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ Có hai phương pháp đánh giá sản phẩm làm dở cuối kỳ là phương pháp nhập trước - xuất trước và phương pháp bình quân.Quy trình hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi phí theo quá trình sản xuất được khái quát trên sơ đồ 1.3
Sơ đồ 1.3: Hạch toán chi phí sản xuất theo phương pháp xác định chi phí theo
quá trình sản xuất
TK
CPNVLTT
TK CPSXKDDD Phân xưởng 1
TK CPSXKDDD Phân xưởng 2
TK TP, GVHB
TK CP NCTT
TK CPSXC
(1) Chi phí NVLTT, CPNCTT, CPSXC phát sinh tại từng giai đoạn (Phân xưởng) sản xuất
(2) Giá thành bán TP giai đoạn trước chuyển sang giai đoạn kế tiếp
(3) Giá thành sản phẩm hoàn thành trong kỳ
(1a)
(1b)
Trang 26b) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo kế toán quản trị chi phí hiện đại
+) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp chi phí hoạt động
Phương pháp chi phí theo hoạt động tiến hành phân bổ CPSXC cho một sản phẩm
sản xuất trên cơ sở các chi phí hoạt động cần thiết để sản xuất sản phẩm đó Theo phương pháp này trước hết CPSXC được xác định cho các hoạt động, sau đó mới xác định cho các sản phẩm Tiêu thức để phân bổ cho các sản phẩm là nguồn phát
sinh chi phí liên quan tới các hoạt động thực hiện trong quá trình sản xuất sản phẩm
Để áp dụng phương pháp này trước tiên cần tiến hành xác định và phân nhóm các hoạt động Cơ sở để xác định các hoạt động ở chung một nhóm là có các mục tiêu giống nhau, được thực hiện ở cùng một mức độ hoạt động và có thể sử dụng chung một tiêu thức phân bổ chi phí cho các đối tượng chịu chi phí Bước tiếp theo là cần tập hợp chi phí của từng nhóm và tính toán tỷ lệ phân bổ chi phí của từng nhóm Tỷ
lệ phân bổ chi phí của từng nhóm được xác định trên cơ sở mức độ hoạt động của nhóm theo công thức:
Tỷ lệ phân bổ chi phí của
Tổng chi phí của nhóm Tổng mức độ hoạt động của nhóm Chi phí của mỗi nhóm được tính cho từng sản phẩm trên cơ sở mức độ tiêu dùng các hoạt động của nhóm đó của sản phẩm theo công thức:
Chi phí của nhóm phân
bổ cho sản phẩm =
Mức độ sử dụng hoạt động của nhóm x
Tỷ lệ phân bổ chi phí của nhóm
+) Xác định giá phí đơn vị sản phẩm theo phương pháp xác định chi phí theo chu
kỳ sống của sản phẩm
Chu kỳ sống của sản phẩm là khoảng thời gian mà một sản phẩm tồn tại, từ lúc nghiên cứu, thử nghiệm cho tới khi hết giá trị sử dụng Độ dài chu kỳ sống của sản phẩm phụ thuộc vào bản thân sản phẩm và môi trường sử dụng sản phẩm Chu kỳ sống của sản phẩm có 4 giai đoạn: triển khai, tăng trưởng, bão hoà và suy thoái Kế toán quản trị chi phí áp dụng các phương pháp xác định chi phí khác nhau trong
Trang 27từng giai đoạn này nhằm tăng cường hiệu quả quản trị chi phí trong toàn bộ chu kỳ sống của sản phẩm Phương pháp xác định chi phí theo chu kỳ sống của sản phẩm được khái quát qua sơ đồ 1.4
Sơ đồ 1.4: Phương pháp xác định chi phí theo chu kỳ sống của sản phẩm
Thiết kế mới có đáp ứng yêu cầu của chi phí mục tiêu không?
Bắt đầu sản xuất sản phẩm
Thay đổi nhỏ về sản phẩm và quá trình sản xuất
Loại bỏ sản phẩm
Giai đoạn
Nghiên cứu
Giai đoạn triển khai
Giai đoạn tăng
trưởng
Giai đoạn bão hòa
Giai đoạn suy thoái
Phương pháp chi phí Kaizen
Phương pháp chi phí tiêu chuẩn
Trang 28Ở giai đoạn nghiên cứu, thử nghiệm sản phẩm, phương pháp xác định chi phí hợp
lý nhất đối với doanh nghiệp là phương pháp chi phí mục tiêu Phương pháp chi phí mục tiêu hướng về khách hàng với xuất phát điểm ban đầu là giá cả, chất lượng và yêu cầu về tính năng của sản phẩm là do khách hàng quyết định
Ở các giai đoạn sau này mục tiêu của doanh nghiệp là phải thực hiện một quá trình sản xuất theo một cách thức có hiệu quả nhất Trong giai đoạn triển khai, giai đoạn tăng trưởng, doanh nghiệp liên tục phải cải thiện chi phí thực tế sản xuất sản phẩm của mình và do đó phương pháp kế toán chi phí hợp lý là phương pháp chi phí Kaizen - tập trung mọi nỗ lực của doanh nghiệp vào việc giảm thiểu chi phí, đáp ứng các yêu cầu về lợi nhuận của từng kỳ kinh doanh do các nhà quản trị đặt ra Trong giai đoạn bão hoà và suy thoái, sau những nỗ lực cắt giảm chi phí ở các giai đoạn trước, với quá trình sản xuất đã được cải tiến liên tục, chi phí sản phẩm có thể
đã đạt đến mức thấp nhất Trong các giai đoạn này phương pháp kế toán chi phí thích hợp là phương pháp chi phí tiêu chuẩn - chi phí tiêu chuẩn được xác định dựa trên cơ sở kinh nghiệm với quá trình sản xuất ở các giai đoạn trước, thiết kế của quá trình sản xuất và nhân sự hiện tại của doanh nghiệp Với các chi phí tiêu chuẩn đã được xác định một cách hợp lý, công tác kế toán chi phí thực tế cũng như việc lập
dự toán chi phí sản xuất sản phẩm sẽ được thực hiện một cách đơn giản hơn Bên cạnh đó, việc so sánh giữa chi phí thực tế và chi phí tiêu chuẩn là một phương pháp hiệu quả để kiểm soát quá trình hoạt động thực tế trong doanh nghiệp
Sau khi lập dự toán chi phí, kiểm soát quá trình phát sinh chi phí thực tế, kế toán quản trị chi phí sẽ tiến hành phân loại chi phí để ra quyết định kinh doanh Việc phân loại chi phí để ra quyết định kinh doanh được thực hiện một cách linh hoạt tuỳ thuộc theo từng tình huống cụ thể nảy sinh trong thực tiễn hoạt động kinh doanh
1.2.2.5 Phân tích, đánh giá tình hình biến động chi phí
Chi phí là vấn đề mà các nhà quản trị đặc biệt quan tâm Để có thể đạt được mức lợi nhuận cao, doanh nghiệp cần phải cố gắng tăng doanh thu và tìm các biện pháp
hạ thấp chi phí Kế toán quản trị chi phí là công cụ đắc lực giúp các nhà quản trị phân tích được tình hình biến động chi phí của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện
Trang 29những hoạt động không đúng như dự toán, xác định nguyên nhân nhằm kiến nghị các biện pháp điều chỉnh thích hợp
a) Phân tích chung chi phí
Chi phí hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều loại khác nhau, có những chi phí trực tiếp sản xuất, có những chi phí ngoài sản xuất, tuy nhiên trong phân tích, các chi phí được sử dụng là các chi phí đã được hạch toán cho sản phẩm đã tiêu thụ Phân tích chung tình hình thực hiện chi phí của doanh nghiệp là đánh giá tổng quát tình hình biến động chi phí kỳ này so với kỳ khác, xác định mức độ tiết kiệm hay bội chi phí Để đánh giá chính xác người ta loại trừ yếu tố giá nếu trong số liệu tính toán giá cả của các kỳ khác nhau Phân tích chung chi phí theo công thức sau:
Hệ số khái quát tình
hình thực hiện chi
phí
= Chi phí thực hiện Chi phí kế hoạch
Hệ số >1: Chi phí tăng so với kế hoạch
Hệ số < 1: Chi phí giảm so với kế hoạch
Tỷ suất chi phí = Tổng chi phí
Doanh thu
Tỷ suất chi phí là chi tiêu tương đối nói lên trình độ tổ chức quản lý hoạt động kinh doanh, chất lượng quản lý chi phí Nhìn chung những doanh nghiệp nào có tỷ suất chi phi thấp có thể sơ bộ kết luận doanh nghiệp đó kinh doanh có hiệu quả Tỷ suất chi phí thấp đưa đến tỷ suất lợi nhuận cao
b) Phân tích biến động chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Là thực hiện so sánh giữa chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực hiện với chi phí nguyên vật liệu tiêu chuẩn, và xác định các nguyên nhân biến động trên hai mặt giá
và lượng đã tác động như thế nào đến biến động chung Các nguyên nhân biến động được xác định theo các công thức sau:
x 100%
Trang 30Giá định mức
Kết quả biến động giữa thực tế với tiêu chuẩn được đánh giá như sau:
- Kết quả dương, thực tế > tiêu chuẩn, nói chung đánh giá không tốt vì lúc này chi phí nguyên vật liệu trực tiếp thực tế cao hơn tiêu chuẩn
- Kết quả âm, thực tế < tiêu chuẩn, nói chung đánh giá tốt nếu chất lượng của sản phẩm được bảo đảm
- Kết quả = 0 , thực tế = tiêu chuẩn, bảo đảm thực hiện đúng định mức
Biến động giá nguyên liệu phản ánh chênh lệch giữa giá thực tế đã trả với giá đáng
lẽ phải trả
Biến động lượng nguyên liệu phản ánh chênh lệch giữa chi phí tiêu chuẩn của lượng nguyên liệu thực tế sử dụng, với chi phí tiêu chuẩn của lượng nguyên liệu đáng lẽ phải sử dụng
c) Phân tích biến động chi phí nhân công trực tiếp
Biến động chi phí nhân công trực tiếp là chênh lệch giữa thực hiện so với chi phí nhân công trực tiếp tiêu chuẩn đối với kết quả trong kỳ, được phân tích thành hai nguyên nhân biến động, là biến động giá lao động và biến động năng suất lao động Tương tự như trường hợp phân tích biến động chi phí nguyên liệu trực tiếp, các nguyên nhân biến động chi phí nhân công trực tiếp cũng được xác định theo các công thức sau:
Biến động
về lượng =
Giá định mức x
Lượng thực tế -
Lượng định mức
Trang 31Biến động
về giá =
Lượng thực tế x
Giá thực tế -
Giá định mức
Lượng định mức
Kết quả biến động giữa thực tế với tiêu chuẩn được đánh giá như sau:
- Kết quả dương, thực tế > tiêu chuẩn, nói chung đánh giá không tốt vì lúc này chi phí nhân công trực tiếp thực tế cao hơn tiêu chuẩn
- Kết quả âm, thực tế < tiêu chuẩn, nói chung đánh giá tốt nếu chất lượng của sản phẩm được bảo đảm
- Kết quả = 0, thực tế = tiêu chuẩn, bảo đảm thực hiện đúng định mức
Biến động giá lao động phản ánh chênh lệch giữa giá thực tế đã trả đối với kết quả thực tế trong kỳ
Biến động năng suất lao động phản ánh chênh lệch giữa chi phí tiêu chuẩn của số giờ lao động thực tế tiêu hao, với chi phí tiêu chuẩn của số giờ lao động đáng lẽ tiêu hao
d) Phân tích biến động chi phí sản xuất chung
Chi phí sản xuất chung có các đặc điểm sau:
- Gồm nhiều khoản mục riêng biệt
- Các khoản mục riêng biệt thường có giá trị nhỏ, cho nên sẽ không thực tế nếu cũng áp dụng cách phân tích biến động chi phí như cách làm với chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và nhân công trực tiếp
- Các khoản mục chi phí sản xuất chung thường do nhiều bộ phận khác nhau trong doanh nghiệp chịu trách nhiệm
Trang 32- Khi tính chung các khoản mục chi phí riêng biệt thành chi phí sản xuất chung, thì chi phí sản xuất chung tổng hợp có bản chất là chi phí hỗn hợp, do những khoản mục chi phí riêng biệt có khoản là biến phí, có khoản là định phí và có khoản là chi phí hỗn hợp
Do những đặc điểm này nên khi phân tích biến động chi phí sản xuất chung, phải phân tích theo hai yếu tố biến phí và định phí của chi phí sản xuất chung Để thuận tiện cho quá trình phân tích, kế toán quản trị sử dụng kế hoạch linh hoạt để lập kế hoạch và kiểm soát chi phí sản xuất chung Biến phí và định phí sản xuất chung được tính ra từ kế hoạch sản xuất kinh doanh, rồi được phân tích thành các khoản mục chi phí chi tiết
1.2.2.6 Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho các quyết định kinh doanh a) Phân tích thông tin chi phí phục vụ cho các quyết định ngắn hạn
Một trong các vai trò quan trọng của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin
về chi phí để ra quyết định kinh doanh ngắn hạn Quyết định kinh doanh ngắn hạn
là các quyết định cần tiến hành ngay và có một tầm nhìn hạn chế, như chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng với mức giá thấp hơn giá thông thường, quyết định ngắn hạn cũng có thể là một phần trong chiến lược tổng thể như quyết định mua ngoài hay tự sản xuất, quyết định duy trì hay loại bỏ một bộ phận kinh doanh, quyết định bán ngay hay tiếp tục sản xuất
+ Quyết định chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng
Trong thực tế các doanh nghiệp hay phải đối mặt với các quyết định chấp nhận hay từ chối một đơn đặt hàng đặc biệt có mức giá thấp hơn so với giá thông thường Trong trường hợp này nhà quản trị cần sử dụng những thông tin thích hợp trong việc ra quyết định, như khi đơn đặt hàng vẫn nằm trong năng lực sản xuất bình thường của doanh nghiệp thì cần thông tin chi phí thích hợp cho loại quyết định này là chi phí biến đổi để thực hiện đơn đặt hàng đó, còn chi phí cố định bình quân chia cho các sản phẩm là thông tin không thích hợp trong trường hợp này vì chi phí cố định không thay đổi cho dù doanh nghiệp có chấp nhận đơn đặt hàng hay không Nhưng ngược lại, nếu đơn đặt hàng vượt quá năng lực
Trang 33sản xuất hiện thời của doanh nghiệp thì thông tin chi phí thích hợp trong trường hợp này lại là chi phí cơ hội của việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp cho đơn đặt hàng
+ Quyết định kinh doanh trong điều kiện nguồn lực hạn chế
Thực tế cho thấy các doanh nghiệp đều có nguồn lực hạn chế Khi nguồn lực trong doanh nghiệp bị hạn chế, các nhà quản lý thường phải cân nhắc lựa chọn các đơn đặt hàng mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp, đó là các đơn đặt hàng mang lại lợi nhuận gộp nhiều hơn trong cùng một nguồn lực giới hạn đó Khi quyết định kinh doanh mà doanh nghiệp có nhiều nguồn lực đồng thời bị hạn chế sẽ khó khăn hơn trong trường hợp chỉ có một nguồn lực bị hạn chế Trong trường hợp này cần sử dụng công cụ toán học để giải quyết vấn đề tối đa hoá lợi nhuận cho doanh nghiệp Mỗi nguồn lực giới hạn được thiết lập một hàm mục tiêu và mỗi hàm mục tiêu được biểu diễn là một đường thẳng trên cùng một đồ thị Căn cứ vào các vùng giao nhau của các đường thẳng để xác định vùng tối ưu, phương án tốt nhất sẽ được chọn là phương án
có lợi nhuận gộp cao nhất nằm trong vùng tối ưu đó
+ Quyết định mua ngoài hay tự sản xuất các bộ phận cấu thành sản phẩm
Mục tiêu của các doanh nghiệp là luôn luôn muốn cắt giảm chi phí và tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường, vì vậy họ thường cân nhắc nên tự sản xuất một số bộ phận của sản phẩm hay ký hợp đồng với bên ngoài để họ cung cấp các bộ phận đó cho doanh nghiệp Để có quyết định đúng đắn nhà quản lý cần có thông tin về chi phí thích hợp Với quyết định này nhà quản lý cần quan tâm tới chi phí có thể tránh được hoặc không thể tránh được Chi phí có thể tránh được là các chi phí doanh nghiệp không phải gánh chịu khi ngừng sản xuất một bộ phận, một sản phẩm hay một đơn vị kinh doanh Nếu quyết định ngừng sản xuất một bộ phận thì doanh nghiêp sẽ tiết kiệm được chi phí biến đổi liên quan tới bộ phận sản xuất
đó Tuy nhiên đối với chi phí cố định cần phân tích kỹ lưỡng, vì có thể không phải tất cả chi phí cố định liên quan tới bộ phận đều có thể tránh được Khi tổng chi phí tiết kiệm được khi ngừng sản xuất lớn hơn so với giá mua ngoài thì doanh nghiệp sẽ quyết định mua ngoài
Trang 34+ Quyết định loại bỏ một loại sản phẩm, loại bỏ bộ phận kinh doanh
Khi doanh nghiệp có một loại sản phẩm hay bộ phận kinh doanh nào đó có kết quả kinh doanh không tốt thì các nhà quản lý sẽ cân nhắc nên tiếp tục sản xuất loại sản phẩm đó, nên duy trì bộ phận kinh doanh đó hay không Trong trường hợp này
kế toán quản trị chi phí cũng cần cung cấp thông tin thích hợp với việc ra quyết định, đó là nếu bộ phận kinh doanh đó không duy trì nữa thì doanh nghiệp sẽ tránh được khoản chi phí nào, việc loại bỏ nó có ảnh hưởng gì đến kết quả hoạt động kinh doanh của toàn doanh nghiệp không
+ Quyết định bán ngay hay tiếp tục chế biến sản phẩm
Trong các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm trải qua nhiều bước công nghệ (chế biến) thường phát sinh loại quyết định nên chế biến sản phẩm đến bước cuối cùng hay bán ngay tại các bước chế biến ban đầu Với quyết định này cũng cần phải nhận biết đâu là thông tin thích hợp và thông tin không thích hợp, thông tin thích hợp ở đây chỉ là phần doanh thu và chi phí chênh lệch giữa hai phương án, đó chính là doanh thu và chi phí tăng thêm nếu tiếp tục chế biến sản phẩm ở các bước sau
b) Phân tích thông tin chi phí đế xác định giá bán sản phẩm
Về xác định giá bán có thể phân chia doanh nghiệp thành hai loại như doanh nghiệp được xác định giá (thiết lập giá) nhưng có doanh nghiệp chấp nhận giá Doanh nghiệp thiết lập giá là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh các sản phẩm có tính đơn chiếc, theo đơn đặt hàng của người mua Đối với doanh nghiệp này thông tin về chi phí có vai trò rất lớn trong quyết định giá bán sản phẩm của họ Doanh nghiệp chấp nhận giá là doanh nghiệp không có hoặc có rất ít ảnh hưởng tới giá bán của các sản phẩm mà mình đang sản xuất kinh doanh, giá bán của họ
bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu trên thị trường Đối với các doanh nghiệp này, thông tin về chi phí cũng vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc quyết định xem liệu sản phẩm của họ có chấp nhận được giá thị trường không và với cơ cấu sản phẩm nào sẽ mang lại lợi nhuận cao nhất cho doanh nghiệp
Khi xác định giá bán sản phẩm các nhà quản lý không thể bỏ qua yếu tố thị trường cũng như không thể bỏ qua yếu tố chi phí Nhưng yếu tố chi phí có vai trò rất lớn
Trang 35trong việc xác định giá bán sản phẩm, nó chính là khởi điểm đầu của quá trình định giá Thông thường các doanh nghiệp xác định giá bằng công thức sau:
Giá bán = Chi phí + Tỷ lệ % cộng thêm x Chi phí Chi phí trong công thức trên có thể là chi phí đầy đủ (cả chi phí biến đổi và cố định) hoặc chi phí biến đổi của sản phẩm
Tỷ lệ % cộng thêm phụ thuộc vào bản chất chi phí trong công thức trên và lợi nhuận mong muốn của doanh nghiệp
Nếu xác định giá bán trên cơ sở chi phí đầy đủ thì tỷ lệ % cộng thêm được xác định theo công thức:
vị sản phẩm Nếu xác định giá bán trên cơ sở chi phí biến đổi thì tỷ lệ % được xác định theo công thức:
sản phẩm
Dù xác định giá bán theo hình thức nào, giá bán sản phẩm phải bù đắp được tất cả các chi phí và tạo ra mức lợi nhuận thông thường cho doanh nghiệp, vì vậy gần như các doanh nghiệp đều xác định giá bán sản phẩm trên cơ sở chi phí đầy đủ Tuy nhiên mỗi phương pháp sẽ có ưu và nhược khác nhau Nếu xác định theo chi phí đầy đủ thì phần chi phí đầy đủ có cả phần chi phí cố định phân bổ cho sản phẩm nên các số liệu này sẽ không cho biết rõ ràng tổng chi phí của doanh nghiệp sẽ thay đổi như thế nào khi mức sản xuất và tiêu thụ thay đổi và cũng không thể biết lợi nhuận
sẽ thay đổi thế nào khi giá bán và sản lượng tiêu thụ thay đổi Để thống nhất với việc phân loại chi phí, các doanh nghiệp có thể tiến hành xác định giá bán sản phẩm
Trang 36trên cơ sở chi phí biến đổi Phương pháp này có ích trong một số tình huống đặc biệt trong ngắn hạn, như chấp nhận hay từ chối đơn đặt hàng với mức giá đặc biệt Ngoài việc định giá bán sản phẩm ra thị trường ngoài doanh nghiệp, thông tin chi phí còn được sử dụng để định giá chuyển nhượng giữa các trung tâm trách nhiệm trong nội bộ doanh nghiệp Có hai phương pháp xác định giá chuyển nhượng trên
cơ sở chi phí, đó là giá chuyển nhượng tính theo chi phí tăng thêm và giá chuyển nhượng tính theo chi phí đầy đủ Định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí đầy đủ
sẽ làm tăng lợi ích của một bộ phận này nhưng có thể làm giảm lợi ích của một bộ phận khác, tức là sẽ không đạt được mức độ hoạt động tối ưu trên phạm vi toàn doanh nghiệp Ngược lại, định giá chuyển nhượng trên cơ sở chi phí tăng thêm sẽ giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được mức độ hoạt động tối ưu trên phạm vi tổng thể doanh nghiệp
c) Phân tích thông tin chi phí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các bộ phận
Bộ phận được hiểu là bất cứ một phần hay một hoạt động nào đó trong doanh nghiệp mà các nhà quản lý muốn tìm hiểu về tình hình doanh thu và chi phí của nó Các bộ phận trong doanh nghiệp có thể là các sản phẩm, các thị trường tiêu thụ hoặc các phân xưởng sản xuất Sở dĩ cần phân chia doanh nghiệp thành các bộ phận như vậy vì, nhà quản lý không chỉ cần đến thông tin về tình hình chi phí, doanh thu trên phạm vi tổng quát toàn doanh nghiệp, mà để điều hành và giải quyết các vấn đề yếu kém trong nội bộ doanh nghiệp thì họ cần đến những thông tin chi tiết về tình hình chi phí, doanh thu của từng hoạt động trong doanh nghiệp
Để cung cấp được thông tin chi tiết về tình hình chi phí và doanh thu của các bộ phận cho nhà quản lý, kế toán quản trị chi phí cần lập các báo cáo bộ phận Báo cáo
bộ phận là báo cáo kết quả kinh doanh theo mối quan hệ của chi phí với mức độ hoạt động của doanh nghiệp được lập chi tiết theo từng bộ phận của doanh nghiệp
Trang 37Bảng 1.1: Báo cáo kết quả kinh doanh theo bộ phận
cố định chung là các chi phí cố định không thể xác định trực tiếp cho một bộ phận cụ thể nào mà nó phát sinh nhằm phục vụ chung cho tất cả các hoạt động của doanh nghiệp Lợi nhuận bộ phận là phần còn lại của doanh thu bộ phận sau khi trừ đi tất cả các chi phí trực tiếp của bộ phận đó
Hiện nay có nhiều doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình phân quyền, việc kiểm soát hoạt động thông qua các trung tâm trách nhiệm, chính vì vậy báo cáo bộ phận
sẽ giúp cho các nhà quản lý bộ phận đánh giá kết quả hoạt động và quản lý thông qua chỉ tiêu lợi nhuận
1.3 Tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
1.3.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
Kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng là một công cụ quan trọng đáp ứng yêu cầu quản trị doanh nghiệp Tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí một cách khoa học, hợp lý là điều kiện cần thiết để thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ và vai trò cũng như đảm bảo được chất lượng hiệu quả của công tác quản trị trong doanh nghiệp Như chúng ta đã biết, không phải tất cả các doanh
Trang 38nghiệp đều tiến hành tổ chức kế toán quản trị chi phí như nhau mà tùy mỗi đơn vị, mỗi doanh nghiệp mà công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí khác nhau Tuy nhiên, chúng ta có thể khái quát những nhân tố ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp như sau:
a) Các nhân tố bên trong
- Trình độ quản lý của doanh nghiệp: Thông tin mà kế toán quản trị cung cấp phục
vụ cho các nhà quản trị trong quá trình quản lý doanh nghiệp Các nhà quản trị doanh nghiệp cần phải biết đưa ra những yêu cầu về thông tin cần được bộ phận kế toán quản trị cung cấp, và quan trọng hơn là phải có kiến thức phân tích và sử dụng thông tin của kế toán quản trị Vì vậy, trình độ quản lý tài chính là nhân tố chủ quan
có ảnh hưởng tới việc tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp
- Khả năng và trình độ của đội ngũ cán bộ kế toán hiện có của doanh nghiệp: Đây là một nhân tố rất quan trọng trong việc tổ chức công tác kế toán quản trị chi phí ở đơn
vị Nhân viên kế toán là người trực tiếp thực hiện các công việc kế toán quản trị vì vậy nếu trình độ và sự hiểu biết của nhân viên kế toán về kế toán quản trị cao thì việc tổ chức kế toán quản trị càng thuận lợi
- Tình hình trang bị các phương tiện kỹ thuật tính toán trong doanh nghiệp
b) Các nhân tố bên ngoài
- Chế độ, thể lệ về quản lý kinh tế tài chính của Nhà nước nói chung
- Quy mô và phạm vi hoạt động của doanh nghiệp
Kế toán quản trị chi phí theo dõi chi tiết, cụ thể và thường xuyên các loại chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nên loại hình doanh nghiệp (doanh nghiệp sản xuất hay doanh nghiệp thương mại) có ảnh hưởng rất lớn đến việc tổ chức kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp Đối với các doanh nghiệp sản xuất, trọng tâm của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin cụ thể về các yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất, chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm còn đối với doanh nghiệp thương mại thì trọng tâm của kế toán quản trị chi phí là cung cấp thông tin cụ thể về chi phí mua hàng, dự trữ và bán hàng
Trang 39Doanh nghiệp có quy mô lớn, phạm vi hoạt động rộng thì đòi hỏi việc tổ chức kế toán quản trị chi phí phức tạp hơn, công phu hơn đảm bảo việc theo dõi chi phí, kết quả của doanh nghiệp để cung cấp thông tin chính xác hơn, đầy đủ hơn cho nhà quản trị và ngược lại
- Môi trường kinh doanh: Trong điều kiện hội nhập kinh tế như hiện nay, môi trường kinh doanh thay đổi sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp,
từ đó ảnh hưởng tới tổ chức kế toán quản trị chi phí
1.3.2 Tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí
Việc tổ chức bộ máy kế toán quản trị của doanh nghiệp nói chung và kế toán quản trị chi phí của doanh nghiệp nói riêng phải phù hợp với đặc điểm hoạt động, quy mô đầu tư và địa bàn tổ chức sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, với mức độ phân cấp quản lý kinh tế - tài chính của doanh nghiệp Bộ máy kế toán phải gọn nhẹ, khoa học, hợp lý, hiệu quả cao trong việc cung cấp thông tin cho Ban quản trị doanh nghiệp Các doanh nghiệp căn cứ vào các điều kiện cụ thể của mình (quy mô, trình
độ cán bộ, đặc điểm sản xuất, kinh doanh, quản lý ) để tổ chức bộ máy kế toán quản trị theo một trong các hình thức sau:
- Hình thức kết hợp: Tổ chức kết hợp giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị
theo từng phần hành kế toán Kế toán viên theo dõi phần hành kế toán nào thì sẽ thực hiện cả kế toán tài chính và kế toán quản trị phần hành đó Ngoài ra, doanh nghiệp phải bố trí người thực hiện các nội dung kế toán quản trị chi phí phần công việc chung khác Như công việc thu thập, phân tích các thông tin phục vụ việc lập
dự toán và phân tích thông tin phục vụ cho việc ra quyết định trong quản trị doanh nghiệp Các nội dung công việc này có thể bố trí cho kế toán tổng hợp hoặc do kế toán trưởng đảm nhiệm
- Hình thức tách biệt: Tổ chức thành một bộ phận kế toán quản trị riêng biệt
(trong đó có công việc kế toán quản trị chi phí) với bộ phận kế toán tài chính
Hình thức này chỉ thích hợp với các doanh nghiệp có quy mô lớn như tổng công ty, tập đoàn kinh tế
Trang 40- Hình thức hỗn hợp: Là hình thức kết hợp hai hình thức trên như: Tổ chức bộ
phận kế toán quản trị chi phí giá thành riêng, còn các nội dung khác thì theo hình thức kết hợp
1.3.3 Tổ chức hệ thống chứng từ kế toán quản trị chi phí
Căn cứ vào điều kiện của từng doanh nghiệp và thiết lập các nguyên tắc, phương pháp lập, luân chuyển, quản lý và sử dụng chứng từ kế toán để phục vụ cho việc cung cấp thông tin cho kế toán quản trị chi phí
Các mẫu chứng từ dùng cho quản trị chi phí không bắt buộc phải theo mẫu của nhà nước quy định mà tùy thuộc vào nhu cầu thông tin mà doanh nghiệp xây dựng mẫu biểu cho phù hợp
1.3.4 Tổ chức hệ thống tài khoản kế toán quản trị chi phí
Doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống tài khoản kế toán do Bộ tài chính ban hành hoặc được Bộ tài chính chấp thuận áp dụng cho doanh nghiệp để chi tiết hóa các cấp ( cấp 2, 3, 4) phù hợp với yêu cầu thông tin của kế toán quản trị nói chung và kế toán quản trị chi phí nói riêng Ví dụ tài khoản 622 thì có thể được tạo thêm các TK
6221, 6222, 6223 để chi tiết theo dõi chi phí nhân công của từng bộ phận sản xuất Tuy nhiên phải đảm bảo các tài khoản có mối quan hệ với nhau cần đảm bảo tính thống nhất về ký hiệu, cấp độ Việc chi tiết hóa tài khoản không được làm sai lệch nội dung, kết cấu và phương pháp ghi chép của tài khoản
1.3.5 Tổ chức sổ kế toán quản trị chi phí
Doanh nghiệp căn cứ vào hệ thống sổ kế toán do Bộ tài chính ban hành hoặc được
Bộ tài chính chấp thuận áp dụng cho doanh nghiệp để bổ sung các chỉ tiêu, yêu cầu
cụ thể phục vụ cho kế toán quản trị trong doanh nghiệp (bao gồm kế toán quản trị chi phí) Việc bổ sung hoặc thiết kế các nội dung của sổ kế toán không được làm sai lệch nội dung các chỉ tiêu đã quy định trên sổ kế toán và cần phù hợp với yêu cầu quản lý của doanh nghiệp Doanh nghiệp có thể thiết kế sổ kế toán mới phù hợp với yêu cầu quản lý chi phí theo bộ phận, công việc và các yêu cầu khác của kế toán quản trị chi phí Hệ thống báo cáo kế toán quản trị chi phí chủ yếu của một doanh nghiệp thường bao gồm: