1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại công ty cổ phần sông đà 11

108 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong khái niệm này thông tin về hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: Thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp, quá trình lập dự toán cung cấp thông tin cho vi

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

HÀ NỘI – NĂM 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI

-

NGUYỄN THỊ THANH TÂM

HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11

Chuyên ngành: Quản trị Kinh doanh

LUẬN VĂN THẠC SĨ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Trần Việt Hà

HÀ NỘI – NĂM 2013

Trang 3

MỤC LỤC

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ Lí LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC DOANH NGHIỆP XÂY LẮP 4

1.1 Tổng quan về vai trò và vị trí của kế toán quản trị 4

1.1.1 Khỏi niệm về kế toỏn quản trị 4

1.1.2 Mối quan hệ giữa kế toỏn tài chớnh và kế toỏn quản trị 6

1.1.3 Vai trũ, vị trớ của kế toỏn quản trị trong hệ thống thụng tin quản lý 8

1.2 Kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất trong cỏc doanh nghiệp xõy lắp 9

1.2.1 Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp ảnh hưởng tới kế toán quản trị chi phí sản xuất 9

1.2.2 Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp 12

1.2.3 Nội dung kế toán quản trị chi phí trong doanh nghiệp xây lắp 15

1.3 Kinh nghiệm kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất của một số quốc gia trờn thế giới 40

1.3.1 Kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất của cộng hũa Phỏp 40

1.3.2 Kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất của Mỹ 43

1.3.3 Bài học kinh nghiệm rỳt ra cho cỏc doanh nghiệp Việt Nam núi chung và cỏc doanh nghiệp xõy lắp núi riờng 45

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 47

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP TẠI CễNG TY CỔ PHẦN SễNG ĐÀ 11 48

2.1 Tổng quan về cụng ty cổ phần sụng đà số 11 48

2.1.1 Quỏ trỡnh hỡnh thành và phỏt triển của cụng ty Sụng Đà 11 48

2.1.2 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh 49

2.1.3 Tổ chức bộ mỏy quản lý 51

2.1.4 Tổ chức cụng tỏc kế toỏn tại cụng ty cổ phần Sụng Đà 11 51

2.2 Thực trạng kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất xõy lắp tại cụng ty cổ phần Sụng Đà 11 54

2.2.1 Vấn đề phõn loại chi phớ sản xuất xõy lắp tại cụng ty 54

Trang 4

2.2.2 Tổ chức lập dự toán chi phí sản xuất xây lắp tại Công ty 56

2.2.3 Quy trình tập hợp chi phí sản xuất xây lắp phục vụ kế toán quản trị tại công ty 57

2.2.4 Tình hình sử dụng thông tin kế toán quản trị chi phí phục vụ quyết định quản trị tại công ty 68

2.3 Đánh giá thực trạng kế toán Quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại công ty cổ phần sông Đà 11 70

2.3.2 Những tồn tại 93

2.3.2 Những tồn tại 71

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 75

CHƯƠNG 3 : HOÀN THIỆN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT XÂY LẮP TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN SÔNG ĐÀ 11 76

3.1 Sự cần thiết và những yêu cầu hoàn thiện kế toán quản trị chi phí xây lắp tại Công ty cổ phần sông đà 11 76

3.2 Nội dung Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần Sông Đà 11 80

3.2.1 Hoàn thiện việc phân loại chi phí 80

3.2.2 Hoàn thiện về nội dung phân tích mối quan hệ giữa chi phí, khối lượng và lợi nhuận 83

3.2.3 Hoàn thiện về hệ thống báo cáo Kế toán quản trị chi phí 87

3.2.4 Hoàn thiện về mô hình tổ chức Kế toán quản trị chi phí 93

3.2.5 Hoàn thiện về hệ thống chứng từ và tài khoản kế toán quản trị chi phí 94

3.3.6 Hoàn thiện hệ thống định mức,dự toán chi phí sản xuất theo yêu cầu tổ chức kế toán quản trị 97

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3: 100

KẾT LUẬN 101

TÀI LIỆU THAM KHẢO 102

Trang 5

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BẢNG BIỂU

Sơ đồ 1.1 : Vai trũ của kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất trong doanh nghiệp

xõy lắp 15

Sơ đồ 1.2: Hạch toỏn chi phớ sản xuất theo cỏc trung tõm phõn tớch 42

Sơ đồ 2.2 : Tổ chức bộ mỏy kế toỏn quản trị chi phớ tại cụng ty cổ phần Sụng Đà 11 53

Sơ đồ 3.1: Quỏ trỡnh thu thập, xử lý và phõn tớch thụng tin kế toỏn quản trị 84

Sơ đồ 3.2 Mô hình tổ chức bộ máy kế toán quản trị chi phí 93

Bảng 1.1 : Bảng phõn cấp tài khoản chi tiết tại cỏc doanh nghiệp xõy lắp 32

Bảng 1.2: Bỏo cỏo quản trị sử dụng cho cỏc bộ phận quản lý 35

Bảng 2.1 : Một số chỉ tiờu kinh tế năm 2009- 2010 của Cụng ty cổ phần Sụng Đà 49

Bảng 3.1 Phương hướng cơ bản phõn loại chi phớ theo cỏch ứng xử của chi phớ 6 thỏng đầu năm 2010 85

Biểu 3.2 Chi phớ về năng lượng của Cụng ty cổ phần Sụng Đà 11 85

Bảng 3.3 Tỏch chi phớ hỗn hợp theo phương phỏp bỡnh phương nhỏ nhất 87

Bảng 3.4 Bỏo cỏo chi phớ 89

Bảng 3.5 Bỏo cỏo chi phớ 89

Bảng 3.6 Bỏo cỏo chi phớ sản xuất 90

Bảng 3.7 Bỏo cỏo chi phớ sản xuất 91

Bảng 3.8 Phiếu chi phớ cụng việc 92

Bảng 3.9 Phiếu xuất kho 96

Biểu 3.10: Phiếu theo dừi lao động đối với cụng nhõn trực tiếp sản xuất 97

Biểu 3.11 Định mức chi phớ chung và thu nhập chịu thuế tớnh trước 99

Trang 6

Tài sản cố định Nguyên vật liệu Chi phí bán hàng

Trang 7

1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Ngành xây lắp là một ngành sản xuất công nghiệp có vị trị đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, nó tạo ra những TSCĐ, cơ sở hạ tầng, phục vụ cho các ngành sản xuất khác cũng như toàn xã hội, mà còn giải quyết vấn đề lao động một cách có hiệu quả Trong xu hướng hội nhập và mở cửa hiện nay, các doanh nghiệp xây lắp có rất nhiều những cơ hội để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, nhưng cũng gặp không ít những khó khăn Bên cạnh việc không ngừng hoàn thiện công tác

tổ chức sản xuất, đầu tư thêm trang thiết bị công nghệ thì việc tăng cường công tác quản lý là yêu cầu thật sự bức xúc và cần thiết hiện nay trong ngành xây lắp

Quản lý chặt chẽ, sử dụng tiết kiệm chí phí sản xuất, góp phần hạ giá thành sản phẩm là những biện pháp cơ bản giúp doanh nghiệp nâng cao lợi nhuận Là điều kiện cần và đủ để doanh nghiệp tồn tại và phát triển Kế toán là một bộ phận cấu thành quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế tài chính, có vai trò tích cực trong việc quản lý điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế Với tư cách là công cụ quản lý kinh tế, tài chính-kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế, tài chính đảm nhiệm hệ thống tổ chức thông tin có ích cho các quyết định kinh tế đặc biệt là thông tin về chi phí và giá thành sản phẩm

Tuy nhiên, xuất phát từ thực tế hạch toán tại các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, các doanh nghiệp xây lắp nói riêng cho thấy kế toán, đặc biệt là kế toán chi phí sản xuất mới chỉ quan tâm nhiều đến phần kế toán tài chính mà dường như ít quan tâm đến kế toán quản trị, trong khi đó ở các nước như Mỹ, Anh, Pháp thì kế toán quản trị đã được hình thành và phát triển trong vài chục năm nay Với những lý

do đó mà tác giả đã chọn đề tài cho luận văn tốt nghiệp là: Hoàn thiện kế toán

quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại Công ty cổ phần Sông Đà 11

2 Mục đích nghiên cứu

- Hệ thống hóa làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp

Trang 8

- Phân tích từ thực trạng tổ chức kế toán kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Sông Đà 11

- Trên cơ sở những vấn đề lý luận đó nghiên cứu về thực trạng để đưa ra những giải pháp hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí sản xuất tại Công ty cổ phần Sông Đà 11

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là cơ sở lý luận chung về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp, đồng thời nghiên cứu thực trạng công tác kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại công ty cổ phần Sông Đà 11 từ đó đề

ra phương hướng xây dựng và hoàn thiện mô hình kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp nhằm phục vụ mục đích quản trị doanh nghiệp

Phạm vi nghiên cứu: Phạm vi nghiên cứu là công tác kế toán quản trị chi phí xây lắp tại các xí nghiệp, chi nhánh tại công ty cổ phần Sông Đà 11 Số liệu khảo sát trong luận văn được trích dẫn của năm 2011 tại công ty cổ phần Sông Đà 11

4 Phương pháp nghiên cứu

Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu trong luận văn gồm:

- Kết hợp phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử

- Các phương pháp hạch toán kế toán, thống kê để tổng hợp số liệu, phân tích, cân đối và so sánh

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Hệ thống hoá và phân tích nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp sản xuất nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng

- Nghiên cứu thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại công ty cổ phần Sông Đà 11; Từ đó đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại công ty cổ phần Sông Đà 11

Trang 9

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận luận văn được kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán quản trị chi phí sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp

Chương 2: Thực trạng kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp tại công ty cổ phần Sông Đà 11

Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện kế toán quản trị chi phí sản xuất tại công ty cổ phần Sông Đà 11

Trang 10

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ CHI PHÍ SẢN XUẤT TRONG CÁC

DOANH NGHIỆP XÂY LẮP

1.1 Tæng quan vÒ vai trß vµ vÞ trÝ cña kÕ to¸n qu¶n trÞ

1.1.1 Khái niệm về kế toán quản trị

Thông tin kế toán là một bộ phận cấu thành cơ bản trong hệ thống các công cụ

quản lý kinh tế vi mô, nó có vai trò tích cực trong việc điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế của các đơn vị Có ý nghĩa cho mọi đối tượng tùy theo các lợi ích khác nhau

Trong nền kinh tế thị trường hiện nay, vai trò kế toán càng giữ một vị thế quan trọng ở bất kỳ loại hình đơn vị nào Đối với các doanh nghiệp kinh doanh, kế toán

là một nguồn thông tin quan trọng để đưa ra các quyết định kinh doanh nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn Đối với các đơn vị hành chính sự nghiệp, kế toán là công

cụ theo dõi tình hình sử dụng và cấp phát nguồn kinh phí của ngân sách nhằm góp phần tiết kiệm và nâng cao hiệu quả sử dụng kinh phí

Như vậy, kế toán là một công cụ quan trọng để quản lý nền kinh tế nói chung và các đơn vị trong nền kinh tế nói riêng Xét ở các đơn vị trong nền kinh tế, thông tin

kế toán được chia thành hai bộ phận cơ bản: Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng bên ngoài sử dụng để đưa ra các quyết định hữu ích cho từng đối tượng, ví dụ các nhà đầu tư, các cơ quan thuế… đó là kế toán tài chính Thông tin kế toán chỉ cung cấp cho các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp sử dụng để đưa ra quyết định điều hành các hoạt động kinh doanh ta còn gọi là kế toán quản trị

Trong các doanh nghiệp kinh doanh, mục tiêu cuối cùng đó là lợi nhuận thu được và phát triển bền vững khi đã đầu tư vào các hoạt động Nhưng để lợi nhuận cao và bền vững nhất các nhà quản trị kinh doanh cần phải có các quyết định kinh doanh một cách sáng suốt và khoa học; thông tin kế toán quản trị kịp thời, đầy đủ là một trong những yếu tố không thể thiếu đem lại thành công đó

Trang 11

Như vậy kế toán quản trị có nhiệm vụ theo dõi tình hình biến động của các tài sản, nguồn vốn, doanh thu, chi phí, kết quả của doanh nghiệp bằng các thước đo khác nhau, gắn liền với các quan hệ tài chính để cung cấp thông tin cho các nhà quản trị theo yêu cầu cụ thể

Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị Theo định nghĩa của hiệp hội kế toán viên Hoa Kỳ năm 1982 thì kế toán quản trị là:“ Qui trình định dạng, đo lường tổng hợp, phân tích, lập báo biểu, giải trình và thông đạt các số liệu tài chính và phi tài chính cho ban giám đốc để lập kế hoạch, đánh giá theo dõi việc thực hiện trong phạm vi nội bộ doanh nghiệp và để đảm bảo việc sử dụng có hiệu quả các tài sản và quản lý chặt chẽ các tài sản này ’’ [5]

Theo cuốn từ điển thuật ngữ kế toán Mỹ thì : “ kế toán quản trị là lĩnh vực kế toán liên quan đến thu thập và xử lý các thông tin kinh tế nhẵm hỗ trợ các nhà quản

lý trong việc đưa ra các quyết định tài chính đặc biệt trong việc hoạch định kế hoạch

và quản lý hình thành’’ [7]

Còn theo trang chuyên đề kế toán quản trị thì “ kế toán quản trị là lĩnh vực chuyên môn của ngành kế toán nhằm nắm bắt các vấn đề về thực trạng, đặc biệt thực trạng tài chính của doanh nghiệp; qua đó phục vụ công tác quản trị nội bộ và ra quyết định quản trị Thông tin của kế toán quản trị đặc biệt quan trọng trong quá trình vận hành của doanh nghiệp, đồng thời phục vụ kiểm soát, đánh giá doanh nghiệp đó

Về tên gọi, nội dung, và phạm vi kế toán quản trị ở mỗi nước và mỗi thời kỳ không giống nhau Có nhiều quan điểm khác nhau về kế toán quản trị, nhưng theo chúng tôi đứng trên góc độ tiếp cận và sử dụng thông tin của kế toán phục

vụ quản trị doanh nghiệp, ra các quyết định trong quản lý, có thể định nghĩa kế toán quản trị như sau: Kế toán quản trị là hệ thống ghi chép, đo lường, tổng hợp,

xử lý và cung cấp thông tin về hoạt động của doanh nghiệp một cách cụ thể phục

vụ cho các nhà quản lý trong việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch và quản lý hoạt động kinh tế chính trong nội bộ doanh nghiệp

Trang 12

Trong khái niệm này thông tin về hoạt động của doanh nghiệp bao gồm: Thông tin về chi phí sản phẩm hoặc dịch vụ cung cấp của doanh nghiệp, quá trình lập dự toán cung cấp thông tin cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra tình hình thực hiện

kế hoạch hướng đến các mục tiêu trên thị trường của doanh nghiệp; thiết kế để lập báo cáo và phân tích báo cáo, cung cấp thông tin đặc thù để giúp nhà quản trị ra quyết định kinh doanh Phạm vi kế toán quản trị cung cấp thông tin được quyết định bởi yêu cầu quản lý của các cấp quản trị trong nội bộ doanh nghiệp cho từng công việc, từng thời kỳ khác nhau

1.1.2 Mối quan hệ giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

Kế toán tài chính và kế toán quản trị có mối quan hệ mật thiết với nhau Mối liên hệ đó thể hiện trên các điểm dưới đây:

- Cùng phục vụ cho nhu cầu quản lý doanh nghiệp trên các góc độ khác nhau Chúng đều là bộ phận của một hệ cung cấp thông tin kế toán Kế toán quản trị

sử dụng số liệu rộng rãi các số liệu ghi chép hàng ngày của kế toán tài chính nhằm

cụ thể hóa các số liệu một cách chi tiết phục vụ cho quản trị doanh nghiệp

- Kế toán tài chính và kế toán quản trị đều gắn với trách nhiệm quản lý trên góc độ khác nhau Kế toán tài chính liên quan đến trách nhiệm quản lý chung của toàn doanh nghiệp còn kế toán quản trị liên quan đến trách nhiệm quản lý từng bộ phận của doanh nghiệp, từng hoạt động hay từng loại chi phí

-Kế toán tài chính là một bộ phận quan trọng của kế toán quản trị phải tuân thủ những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán được thừa nhận nhằm tạo sự thống nhất trong chỉ đạo, kiểm tra và hướng dẫn nghiệp vụ

- Giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị cũng có những điểm khác nhau Tuy nhiên, sự khác nhau giữa hai hệ thống kế toán này được xét trên góc độ quản lý

và phục vụ quản lý chỉ là tính độc lập tương đối, sự độc lập trong một thể thống nhất Sự khác nhau này thể hiện trên một số điểm sau:

- Về đối tượng cung cấp và sử dụng thông tin kế toán: Kế toán tài chính cung cấp thông tin kế toán tổng quát cho các đối tượng bên ngoài doanh nghiệp là chủ yếu như các nhà đầu tư, nhà cho vay, chủ hàng, khách hàng và các cơ quan thuế,

Trang 13

ngân hàng, cơ quan tài chính, kiểm toán còn kế toán quản trị cung cấp thông tin cho các đối tượng bên trong doanh nghiệp là chủ yếu như chủ doanh nghiệp, các nhà quản lý nội bộ, phòng ban chức năng của doanh nghiệp nhằm quản lý điều hành kinh doanh nội bộ

- Kế toán tài chính sử dụng hệ thống tài khoản thống nhất do nhà nước quy định, tuân thủ các chuẩn mực, nguyên tắc và phương pháp kế toán đã quy định, còn

kế toán quản trị sử dụng hệ thống tài khoản do doanh nghiệp tự xây dựng trên cơ sở vận dụng linh hoạt, tranh thủ sự hướng dẫn của Nhà nước trong các phương pháp ghi sổ, thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin

-Kế toán tài chính sử dụng thước đo tiền tệ là chủ yếu còn kế toán quản trị cần phải kết hợp sử dụng thước đo tiền tệ, thước đo hiện vật và thước đo lao động để cung cấp thông tin cho quá trình điều hành sản xuất kinh doanh và quản trị doanh nghiệp

- Kế toán tài chính phản ánh, ghi chép những nghiệp vụ, sự kiện kinh tế xảy

ra trong qua khứ thông qua hệ thống các phương pháp kế toán khoa học để cung cấp thông tin một cách tổng quát nhất Kế toán quản trị không dừng lại ở việc phản ánh, ghi chép các nghiệp vụ sự kiện kinh tế xảy ra trong quá khứ mà còn sử dụng phương pháp phân tích chi tiết, diễn giải các dữ liệu, dữ kiện giúp nhà quản lý đưa

ra được các quyết định trong tương lai tối ưu nhất

- Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp được lập chủ yếu do kế toán tài chính cung cấp số liệu và phải tuân thủ nội dung, phương pháp mẫu biểu và các chỉ tiêu phản ánh trên báo cáo; đồng thời phải thực hiện báo cáo theo định kỳ và nộp cho các cơ quan được ấn định trước trong chế độ quy định Các báo cáo của kế toán quản trị thường chỉ phản ánh những mặt cụ thể theo yêu cầu quản lý của từng doanh nghiệp đối với một số chỉ tiêu nào đó mà chủ doanh nghiệp yêu cầu

Từ những phân tích trên đây cho thấy kế toán tài chính và kế toán quản trị tuy

là hai lĩnh vực khác nhau Song chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau tạo thành hệ thống các công cụ quản lý kinh tế

Trang 14

1.1.3 Vai trò, vị trí của kế toán quản trị trong hệ thống thông tin quản lý

Thông tin kế toán quản trị có vai trò chủ đạo và chi phối toàn bộ hoạt động kinh doanh của các tổ chức hoạt động Đó là cơ sở quan trọng để đưa ra các quyết định trong ngắn hạn và dài hạn nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển bền vững của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

Ra quyết định là chức năng đồng thời cũng là nhiệm vụ cơ bản của các nhà quản trị doanh nghiệp Nhiệm vụ của bất kỳ nhà quản trị trong bất kỳ tổ chức nào gồm những chức năng: Xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện; kiểm soát, đánh giá

và ra quyết định Mối liên hệ giữa các chức năng của các nhà quản trị thể hiện một chuỗi các quyết định liên tiếp:

- Kế hoạch là một bức tranh tổng thể của doanh nghiệp trong tương lai, hoặc tổng thể các chỉ tiêu được xây dựng và đưa ra các biện pháp để đạt được các mục tiêu kỳ vọng Để xây dựng kế hoạch các nhà quản trị thường dự đoán kết quả của các chỉ tiêu kinh tế sẽ xảy ra dựa trên cơ sở khoa học sẵn có Trong quá trình xây dựng, nhà quản trị thường phải liên kết các chỉ tiêu kinh tế với nhau để thấy rõ tác động về nguyên nhân và kết quả sẽ xảy ra trong tương lai

- Nhiệm vụ tổ chức các hoạt động đây là vai trò cơ bản của các nhà quản trị Vai trò này nhằm truyền đạt các chỉ tiêu kế hoạch đã xây dựng cho các bộ phận trong doanh nghiệp Đồng thời tổ chức hoạt động tại các bộ phận theo như kế hoạch phê duyệt Vai trò này yêu cầu các nhà quản lý phải liên kết các bộ phận với nhau,

sử dụng nguồn lao động hợp lý nhằm khai thác tối đa các yếu tố của quá trình sản xuất để đạt được các mục tiêu đã dự định Chức năng này yêu cầu các nhà quản trị phải sử dụng tổng hợp thông tin của nhiều bộ phận trong doanh nghiệp, các thông tin bên trong và bên ngoài, thông tin định lượng và định tính để từ đó phán đoán và thực hiện tốt các quá trình kinh doanh theo kế hoạch, dự toán đã xây dựng

- Kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện Căn cứ vào các chỉ tiêu của kết quả thực hiện đối chiếu với các kế hoạch đã xây dựng để kiểm tra và đánh giá tình hình thực hiện kết quả của doanh nghiệp Thông tin qua đó để phân tích và thu nhận các thông tin phục vụ cho quá trình kinh doanh tiếp theo

Trang 15

- Ra quyết định đõy là vai trũ cơ bản nhất của thụng tin kế toỏn quản trị Dựa vào nguồn thụng tin thu thập, thụng qua phõn tớch chọn lọc thụng tin để đưa ra quyết định đối với từng hoạt động cụ thể của quỏ trỡnh kinh doanh nhằm nõng cao hiệu quả sử dụng vốn, tiết kiệm chi phớ Ra quyết định là một cụng việc thường xuyờn của cỏc nhà quản trị ảnh hưởng đến kết quả cuối cựng của doanh nghiệp Việc ra quyết định thường dựa trờn cơ sở tổng hợp nhiều nguồn thụng tin khỏc nhau, nhưng trong đú thụng tin kế toỏn quản trị thường giữ vai trũ cú tớnh chất quyết định và độ tin cậy cao Cỏc nhà quản trị thường đứng trước nhiều phương ỏn kinh doanh khỏc nhau Mỗi phương ỏn kinh doanh thường bao gồm nhiều thụng tin

đa dạng như số lượng, chủng loại, chi phớ, lợi nhuận, vốn thị trường, vv Do vậy đũi hỏi kế toỏn quản trị phải tổng hợp phõn tớch và chọn lọc hệ thống thụng tin này

1.2 Kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất trong cỏc doanh nghiệp xõy lắp

1.2.1 Đặc điểm của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây lắp

ảnh hưởng tới kế toán quản trị chi phí sản xuất

Sản xuất kinh doanh xõy lắp là một ngành cú tớnh chất cụng nghiệp, nú tạo ra cơ

sở vật chất và kỹ thuật ban đầu cho xó hội Tuy nhiờn đõy là một ngành cụng nghiệp sản xuất mang tớnh đặc biệt Sản phẩm xõy lắp cũng được tiến hành sản xuất một cỏch liờn tục từ khõu thăm dũ, điều tra, khảo sỏt đến thiết kế thi cụng và quyết toỏn cụng trỡnh khi hoàn thành Sản xuất xõy lắp cũng cú tớnh dõy chuyền, giữa cỏc khõu của hoạt động sản xuất cú mối quan hệ chặt chẽ với nhau, nếu một khõu ngừng trệ

sẽ ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của cỏc khõu khỏc

Hoạt động sản xuất kinh doanh của cỏc doanh nghiệp xõy lắp cú những đặc điểm mang tớnh đặc thự chi phối cỏch thức quản lý doanh nghiệp và như vậy cũng chi phối tới nội dung, phương phỏp và cỏch thức tổ chức cụng tỏc kế toỏn núi chung

và tổ chức kế toỏn quản trị chi phớ sản xuất sản phẩm núi riờng

Những đặc điểm cơ bản cú thể kể đến là:

Thứ nhất: sản phẩm xõy lắp mang tớnh đơn chiếc rừ rệt, mỗi sản phẩm là một

cụng trỡnh hay hạng mục cụng trỡnh được xõy lắp theo kỹ thuật, mỹ thuật, kết cấu, hỡnh thức, bản vẽ thi cụng, phương phỏp thi cụng, địa điểm xõy dựng khỏc nhau,

Trang 16

theo từng hợp đồng giao nhận thầu xây lắp của bên giao thầu, đặc biệt sản phẩm được sản xuất ngay nơi tiêu thụ Do vậy, việc tổ chức quản lý và tổ chức kế toán quản trị nhất thiết phải có các dự toán thiết kế thi công; Điều này giúp cho các doanh nghiệp xây lắp có thể tổ chức kế toán quản trị tương đối chính xác về giá trị công trình, từ đó lên kế hoạch về tài chính cũng như giám sát các chi phí phát sinh với từng công trình

Mặt khác do mỗi sản phẩm xây lắp mang tính chất đơn chiếc, riêng lẻ và được sản xuất theo các hợp đồng giao nhận thầu xây lắp nên các chi phí bỏ vào sản xuất thi công cũng hoàn toàn khác nhau giữa các công trình, ngay cả khi công trình thi công theo các thiết kế mẫu nhưng được xây dựng ở những địa điểm khác nhau với các điều kiện thi công khác nhau thì chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm của công trình cũng khác nhau Vì vậy kế toán phải tập hợp chi phí, tính giá thành và kết quả thi công cho từng công trình xây lắp riêng biệt trên cơ sở dự toán đã được lập và khối lượng, chi phí phát sinh Song thực tế do sản xuất xây lắp được thực hiện theo các hợp đồng giao nhận thầu xây dựng nên ít phát sinh chi phí so với dự toán và giá trị hợp đồng đã ký kết với bên giao nhận thầu

Thứ hai: Tình hình và điều kiện sản xuất xây lắp thiếu tính ổn định, luôn biến

đổi theo địa hình xây dựng và giai đoạn xây dựng do đó nhân công cũng thay đổi về mặt lượng và chất trong từng giai đoạn cụ thể; do đó để tiết kiệm chi phí chuyển quân cũng như chi phí lán trại ở cho công nhân thì việc thuê lao động địa phương cũng là yếu tố quan trọng mà công ty phải tính đến Cụ thể là trong xây dựng, con người và công cụ lao động luôn phải di chuyển từ công trình này đến công trình khác, còn sản phẩm xây lắp (công trình xây dựng) thì hoàn thành và đứng im tại chỗ, một đặc điểm hiếm thấy ở các ngành sản xuất khác Các biện phương thi công xây dựng về mặt kỹ, mỹ thuật luôn phải thay đổi theo từng địa điểm và giai đoạn xây dựng Đặc điểm này làm khó khăn cho việc tổ chức sản xuất, khó cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, làm nảy sinh nhiều chi phí cho khâu di chuyển lực lượng sản xuất và cho công trình tạm phục vụ sản xuất như: chi phí điều động nhân công, điều động máy thi công, chi phí xây dựng lán trại, nhà tạm cho công

Trang 17

nhân ở trong quá trình thi công, chi phí chuẩn bị mặt bằng và dọn mặt bằng sau khi thi công xong… đòi hỏi kế toán phải xác định và phản ánh chính xác chi phí này và

tổ chức chi phí hợp lý

Thứ ba: sản phẩm xây lắp có kích thước và giá trị lớn thường vượt qua vốn lưu

động của doanh nghiệp xây lắp, hơn nữa thời gian thi công tương đối dài, trong thời gian sản xuất thi công xây dựng doanh nghiệp chưa tạo ra sản phẩm cho xã hội nhưng lại sử dụng nhiều vật tư, nhân lực, chi phí… điều này làm ảnh hưởng tới quá trình luân chuyển vốn Chính vì vậy, các doanh nghiệp xây lắp phải lựa chọn biện pháp thi công hợp lý để rút ngắn thời gian thi công, chi phí thi công mà vẫn đảm bảo yêu cầu chất lượng công trình Mặt khác do thời gian thi công tương đối dài nên

kỳ tính giá thành không xác định hàng tháng như trong sản xuất công nghiệp mà đựơc xác định tuỳ vào đặc điểm kỹ thuật của từng loại công trình được thể hiện qua phương pháp lập dự toán và phương thức thanh toán giữa hai bên giao thầu và nhận thầu Vì vậy căn cứ vào khối lượng thi công được nghiệm thu trong từng giai đoạn chủ đầu tư thanh toán tiền (doanh thu theo từng giai đoạn) mà kế toán tính giá thành cho giai đoạn đó Hơn nữa, sản phẩm xây lắp có kính thước và trọng lượng lớn nên đòi hỏi số lượng lao động, số lượng nguyên vật liệu, công cụ dụng cụ phục vụ sản xuất lớn, khác nhau, vì vậy giá thành sản phẩm rất phức tạp và thường xuyên thay đổi theo từng giai đoạn Việc xác định đúng đắn đối tượng tính giá thành và kỳ tính giá thành sẽ đáp ứng yêu cầu quản lý kịp thời và chặt chẽ chi phí sản xuất, đánh giá đúng đắn tình hình quản lý thi công trong từng thời kỳ nhất định

Thứ tư: hoạt động xây lắp thường tiến hành ngoài trời, chịu tác động trực tiếp

bởi môi trường thiên nhiên và thường bị gián đoạn do những thay đổi bất thường của thời tiết, điều kiện làm việc nặng nhọc Năng lực sản xuất của doanh nghiệp xây lắp không ổn định, trải đều trong năm gây khó khăn cho việc tìm kiếm nhân công và đòi hỏi dự trữ vật tư nhiều hơn Do đặc điểm này đòi hỏi các doanh nghiệp xây lắp trong quá trình thi công cần tổ chức quản lý lao động, vật tư chặt chẽ đảm bảo thi công nhanh, đúng tiến độ khi điều kiện thời tiết thuận lợi Trong điều kiện thời tiết không thuận lợi, có thể có nhiều rủi ro bất ngờ làm phát sinh thiệt hại trong sản xuất

Trang 18

xây lắp như: có các khối lượng công trình phải phá đi làm lại, thiệt hại do ngừng sản xuất Những khoản thiệt hại này đòi hỏi doanh nghiệp phải theo dõi chặt chẽ và phải

có phương án quản lý phù hợp với những nguyên nhân gây ra nhằm tiết kiệm chi phí

Thứ năm: sản phẩm xây lắp có giá trị sử dụng dài qua nhiều năm thậm chí hàng

trăm năm Mỗi sản phẩm hoàn thành đều phải đảm bảo các tiêu chuẩn về kỹ thuật,

mỹ thuật, tính bền vững cùng với các tiêu chuẩn khắt khe khác bởi vì mọi sai lầm trong quá tình thì công thường khó sửa chữa, phải phá di làm lại Các sai lầm trong xây lắp vừa gây lãng phí vừa để lại hậu quả có khi rất nghiêm trọng, lâu dài và khó khắc phục Do đặc điểm này mà trong quá trình thi công cần phải thường xuyên kiểm tra giám sát chất lượng công trình, tiết kiệm chi phí phải đi đôi với chất lượng

sản phẩm tạo ra

Thứ sáu: Để nhận được công trình, các doanh nghiệp xây lắp thường phải trải

qua khâu đấu thầu Do đó công tác xác định giá dự toán của công trình cần được coi trọng để từ đó xác định mức giá bỏ thầu hợp lý đảm bảo hiệu quả hoạt động kinh doanh xây lắp của doanh nghiệp và khả năng trúng thầu

Thứ bảy: sản phẩm xây lắp chịu ảnh hưởng của lợi nhuận chênh lệch do điều

kiện của địa điểm xây dựng đem lại

1.2.2 Vai trß cña kÕ to¸n qu¶n trÞ chi phÝ s¶n xuÊt trong c¸c doanh nghiÖp x©y l¾p

Kế toán quản trị là công cụ quản trị, một công cụ rất quan trọng trong quá trình hoạch định và kiểm soát chi phí, thu nhập, tính toán hiệu quả quá trình sản xuất kinh doanh nhằm đưa ra các quyết định quản trị đúng đắn Thật vậy quá trình sản xuất của một doanh nghiệp ở bất kỳ hình thái xã hội nào, thành phần kinh tế nào cũng muốn đạt được hiệu quả cao, cũng cần biết được những thông tin về tình hình hoạt động kinh tế tài chính một cách đầy đủ, kịp thời, chính xác và trung thực Những thông tin về tình hình chi phí sản xuất mà các doanh nghiệp xây lắp đã chi ra cho từng công trình, hạng mục công trình, những thông tin về thu nhập và kết quả hoạt động cho từng công trình, hạng mục công trình chỉ có thể nhận biết được một cách cụ thể thông qua việc thu nhận, xử lý và cung thông tin của kế toán quản trị

Trang 19

Trên cơ sở thông tin đã thu nhận được, kế toán quản trị có nhiệm vụ phân tích diễn giải, lập dự toán chi tiết phục vụ cho nhà quản trị lựa chọn, quyết định phương án tối ưu nhất trong quản lý Việc quyết định đưa ra các chi phí nào vào các công trình hạng mục công trình thì giá thành là bao nhiêu? Và lợi nhuận như thế nào? Tại sao chi phí thực tế cho các công trình, hạng mục công trình so với dự toán lại vượt và phải có biện pháp gì để giảm chi phí, tăng lợi nhuận… những vấn đề này chỉ có thể được quyết định khi các nhà quản trị có đầy đủ tài liệu do kế toán quản trị cung cấp Hoạt động quản trị doanh nghiệp là quá trình liên tục từ khâu lập kế hoạch đến khâu

tổ chức kiểm tra thực hiện kế hoạch, vì thế không thể thiếu những thông tin do kế

toán quản trị cung cấp

Mục đích và yêu cầu của kế toán quản trị là phải tính toán được chi phí và giá thành cho từng công trình, hạng mục công trình phân tích chi tiết được kết quả của từng công trình, hạng mục công trình đó, tập hợp các dữ liệu cần thiết để lập kế hoạch sản xuất cho tương lai Ngoài ra, kế toán quản trị còn phải tính toán nhu cầu ngoài thị trường nhằm có kế hoạch ổn định quá trình sản xuất và đưa ra các biện pháp nhằm làm giảm chi phí theo hướng có lợi nhất

Để đạt được mục tiêu điều hành và quản lý hoạt động kinh doanh, công tác quản trị doanh nghiệp đòi hỏi rất nhiều thông tin Một loại thông tin cần cho việc xây dựng kế hoạch và kiểm tra hoạt động đó là thông tin giúp cho công tác quản trị biết được những gì xảy ra và việc thực hiện các mục tiêu dự kiến như thế nào Loại thông tin thứ hai chủ yếu cần thiết cho các nhà quản trị cho cho việc lập kế hoạch dài hạn, những thông tin này dùng để xây dựng lên các chiến lược tổng quát và đưa

ra các quyết định đặc biệt có quyết định then chốt đối với doanh nghiệp, các thông tin nói trên do kế toán quản trị cung cấp

Kế toán quản trị cung cấp thông tin để ra các quyết định về kế hoạch, kế hoạch này được hội đồng xét duyệt dự toán của doanh nghiệp xem xét với sự tham gia của kế toán trưởng Chúng được lập hàng năm và những mục tiêu quản lý được biểu hiện dưới dạng các chỉ tiêu về số lượng và giá trị

Trong thực tế để biết được các kế hoạch đã được xây dựng đã được thực hiện như thế nào, kế toán cần phải có những thông tin thực hiện kế hoạch Những thông

Trang 20

tin đó sẽ được kế toán quản trị cung cấp bằng cách thiết kế thông tin trên các báo cáo quản trị có dạng so sánh Các nhà quản trị sử dụng các báo cáo này để kiểm tra, đánh giá trong các lĩnh vực trách nhiệm mà họ cần quan tâm để xem xét điều chỉnh,

tổ chức thực hiện theo các mục tiêu đề ra Do đó kế toán quản trị phải làm sao cho các nhà quản lý nhận được những thông tin mà họ cần cung cấp theo chức năng và lĩnh vực quản trị

Từ đó có thể nói kế toán quản trị hay cụ thể là kế toán quản trị chi phí sản xuất là một công cụ, một phương pháp xử lý các dữ liệu về hoạt động sản xuất và tính giá thành của các doanh nghiệp xây lắp nhằm đạt được mục tiêu dưới đây:

¾ Xác lập phương pháp phân chia thành phần chi phí của công trình, hạng mục công trình theo từng khoản mục chi phí, chi tiết, thu nhận, xử lý và cung cấp các thông tin về chi phí theo từng khoản mục chi phí của từng công trình, hạng mục công trình

¾ Kiểm soát tình hình thực hiện các dự toán chi phí và giải trình các nguyên nhân tạo ra chênh lệch giữa thực tế và dự toán

¾ Cung cấp các yếu tố cơ bản để làm cơ sở cho việc đưa ra các quyết định quản trị chi phí hợp lý

Trang 21

Có thể khái quát hóa vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất xây lắp theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.1 : Vai trò của kế toán quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp

1.2.3 Néi dung kÕ to¸n qu¶n trÞ chi phÝ trong doanh nghiÖp x©y l¾p

1.2.3.1 Ph©n lo¹i chi phÝ s¶n xuÊt x©y l¾p phôc vô kÕ to¸n qu¶n trÞ

Như bao doanh nghiệp sản xuất khác, doanh nghiệp xây lắp cũng tiến hành sản xuất sản phẩm nhưng sản phẩm của doanh nghiệp xây lắp là các hạng mục công trình, trong quá trình sản xuất thi công, các doanh nghiệp xây lắp cũng phải bỏ ra

những khoản chi phí nhất định

Kế toán tài chính cho rằng chi phí cho những công trình, hạng mục công

Hoạt động sản xuất,thi công xây lắp công trình,hạng mục

Quyết định

Trang 22

trình là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra để tiến hành sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định Như vậy theo quan điểm này thì chi phí của doanh nghiệp phải được ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và thu nhập, chỉ được xác định trên bình diện chung của toàn doanh nghiệp và gắn với kỳ hạch toán

Khác với kế toán tài chính, kế toán quản trị có quan điểm riêng về chi phí sản xuất của doanh nghiệp đó là: chi phí sản xuất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các khoản chi tiêu cho quá trình sản xuất kinh doanh đòi hỏi phải được bù đắp bằng thu nhập của doanh nghiệp Như vậy, theo quan điểm của kế toán quản trị, chi phí không ghi nhận theo nguyên tắc phù hợp giữa chi phí và doanh thu mà được ghi nhận ở thời điểm chi tiêu cho sản xuất xây lắp các công trình, hạnh mục công trình Những khoản chi tiêu phát sinh trong doanh nghiệp nhưng không liên quan đến quá trình sản xuất xây lắp có nguồn vốn riêng bù đắp thì không tính vào chi phí của doanh nghiệp

Chi phí sản xuất doanh nghiệp xây lắp bao gồm nhiều loại có nội dung, công dụng và tính chất khác nhau, do đó việc nhận diện và phân loại chi phí cho các mục đích khác nhau theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp là cơ sở của các quyết định đúng đắn trong quá trình điều hành hoạt động kinh doanh của nhà quản trị

Để thuận lợi cho công tác quản lý chi phí sản xuất và tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất, trong các doanh nghiệp xây lắp thường phân chi phí theo các tiêu thức sau:

• Theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

Theo cách phân loại này, căn cứ vào nội dung, tính chất kinh tế của chi phí

để chia chi phí sản xuất xây lắp và chi phí sản xuất ngoài xây lắp thành các yếu tố chi phí Các chi phí sản xuất có cùng nội dung kinh tế được xếp vào một yếu tố chi phí, không phân biệt mục đích, công dụng của chi phí đó như thế nào Theo chế độ quản lý hiện hành, toàn bộ chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được chia thành các yếu tố chi phí sau:

-Chi phí nguyên vật liệu: Là toàn bộ chi phí về các loại nguyên vật liệu

Trang 23

chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, vật liệu thiết bị xây dựng cơ bản

mà doanh nghiệp đã sử dụng trong quá trình sản xuất sản phẩm xây lắp

-Chi phí nhân công: Là toàn bộ số tiền lương (tiền công) và các khoản trích BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN tính trên tiền lương của công nhân sản xuất, công nhân sử dụng máy thi công và nhân viên quản lý ở các bộ phận, tổ, đội thi công

- Chi phí khấu hao TSCĐ: là số tiền trích khấu hao TSCĐ dùng cho hoạt động sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm khấu hao máy thi công và các TSCĐ khác sử dụng cho hoạt động sản xuất ở các tổ, đội, bộ phận thi công

- Chi phí dịch vụ mua ngoài: là toàn bộ số tiền doanh nghiệp phải trả về các loại dịch vụ mua ngoài sử dụng vào quá trình sản xuất xây lắp của doanh nghiệp

- Chi phí khác bằng tiền: là toàn bộ các khoản chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất xây lắp ở doanh nghiệp ngoài các yếu tố trên và được thanh toán bằng tiền

Phân loại chi phí sản xuất theo nội dung, tính chất kinh tế của chi phí cho biết trong một kỳ doanh nghiệp đã chi ra bao nhiêu, cho biết kết cấu, tỉ trọng của từng loại chi phí mà doanh nghiệp đã chi ra, là căn cứ số liệu cung cấp để lập thuyết minh báo cáo tài chính, cung cấp thông tin cho quản trị doanh nghiệp, phục vụ cho việc phân tích tình hình thực hiện dự toán chi phí

• Theo mục đích và công dụng

Theo cách phân loại này, các khoản chi phí có mục đích công dụng giống nhau được xếp chung vào cùng một khoản chi phí không cần xét đến chi phí đó có nội dung như thế nào Trong các doanh nghiệp xây lắp chi phí sản xuất xây lắp được phân chia thành các khoản mục sau:

- Chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: là chi phí về các loại vật liệu chính, vật liệu phụ, vật kết cấu, vật liệu luân chuyển (ván khuôn, giàn giáo) cần thiết sử dụng trực tiếp vào việc sản xuất chế tạo sản phẩm

- Chi phí nhân công trực tiếp: là chi phí về tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp có tình chất thường xuyên (phụ cấp lưu động, phụ cấp trách nhiệm) của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp

Trang 24

- Chi phí sử dụng máy thi công: là toàn bộ chi phí sử dụng xe, máy thi công phục vụ trực tiếp cho hoạt động sản xuất xây lắp công trình bao gồm:chi phí khấu hao máy thi công, chi phí sửa chữa lớn, sửa chữa thường xuyên máy thi công, chi phí nhiên liệu và động lực dùng cho máy thi công và các chi phí khác như chi phí di chuyển, tháo lắp máy thi công…

- Chi phí sản xuất chung: là các khoản chi phí trực tiếp khác ngoài các khoản chi phí trên phát sinh ở tổ đội, công trường xây dựng bao gồm: lương nhân viên quản lý đội, các khoản BHXH, BHYT, KPCĐ, BHTN của công nhân trực tiếp sản xuất xây lắp, nhân viên quản lý đội, công nhân điều khiển máy thi công, khấu hao tài sản cố định dùng chung cho hoạt động của tổ, đội và các chi phí khác liên quan tới hoạt động của tổ đội

Phân loại chi phí sản xuất theo tiêu thức này chỉ rõ chi phí doanh nghiệp bỏ

ra cho từng lĩnh vực hoạt động, từng địa điểm phát sinh chi phí, làm cơ sở cho việc tính giá thành sản phẩm xây lắp theo khoản mục, phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành…

• Theo khả năng quy nạp chi phí vào các đối tượng kế toán chi phí

Theo cách phân loại

này, chi phí được chia thành chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp

-Chi phí trực tiếp: là những chi phí quan hệ trực tiếp đến từng đối tượng chịu phí (từng công trình, hạng mục công trình ) và được hạch toán trực tiếp vào đối tượng chiụ chi phí đó như chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công và một bộ phận chi phí sản xuất chung phát sinh gắn liền với các công trình, hạng mục công trình

-Chi phí gián tiếp: là chi phí có liên quan đến nhiều đối tượng chịu chi phí,

để xác định chi phí cho từng đối tượng cần phải dùng phương pháp phân bổ gián tiếp theo tiêu thức phân bổ thích hợp Trong doanh nghiệp xây lắp có một bộ phận chi phí máy thi công, chi phí sản xuất chung có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình, kế toán doanh nghiệp sẽ dùng các tiêu thức phân bổ phù hợp như chi phí nhân công trực tiếp, chi phí trực tiếp…để phân bổ các chi phí trên cho các

Trang 25

công trình,hạng mục công trình cụ thể

Cách phân loại này có ý nghĩa đối với việc xác định phương pháp tập hợp và phân bổ các nguồn lực đã tiêu dùng (chi phí) cho các đối tượng chịu chi phí, song chỉ thuần túy là kỹ thuật hạch toán Đối với chi phí liên quan đến nhiều đối tượng cần tiến hành phân bổ có thể cho phép đạt được mục tiêu xác định giá thành của một loại sản phẩm nhất định nhưng khó có thể đạt được mục tiêu kiểm soát chi phí Cần phân biệt cặp chi phí cơ bản – chi phí chung với cặp chi phí trực tiếp – chi phí gián tiếp Các chi phí cơ bản thường là chi phí trực tiếp, nhưng chi phí cơ bản cũng có thể là chi phí gián tiếp khi có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau Chi phí chung thường là chi phí gián tiếp nhưng cũng có thể là chi phí trực tiếp nếu như chỉ liên quan đến một đối tượng

• Theo mối quan hệ với mức độ hoạt động

Cách phân loại chi phí này được gọi là phân loại chi phí theo cách ứng sử của chi phí Theo cách phân loại này tổng chi phí được phân thành biến phí, định phí và chi phí hỗn hợp

-Biến phí(chi phí biến đổi): là những chi phí mà tổng số thay đổi tỷ lệ với sự

thay đổi của mức độ hoạt động Do vậy, xét về mặt lý thuyết, sự biến động của chi phí trong mối quan hệ với mức độ hoạt động có thể xảy ra các trường hợp:

+ Tổng biến phí thay đổi tỷ lệ thuận trực tiếp với mức độ hoạt động thực hiện, còn biến phí tính cho một đơn vị mức độ hoạt động thì không thay đổi Biến phí trong trường hợp này gọi là biến phí tỷ lệ

+ Tổng biến phí tăng nhanh hơn tốc độ tăng mức độ hoạt động, vì vậy biến phí trung bình của một đơn vị mức độ hoạt động cũng tăng lên Trường hợp này xảy

ra khi cường độ lao động vượt quá mức bình thường, hiệu lực của các yếu tố sản xuất giảm đi hoặc khi có sự tăng thêm khối lượng sản phẩm, đòi hỏi phải tăng cường nhiều hơn các chi phí sản xuất

+ Tổng biến phí tăng chậm hơn mức độ hoạt động, vì vậy biến phí trung bình của một đơn vị mức độ hoạt động giảm xuống Trường hợp này xảy ra khi tăng khối lượng hoạt động đã tạo điều kiện để sử dụng tốt hơn các yếu tố của quá

Trang 26

trình sản xuất

Trong xây lắp, biến phí bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí nhân công trực tiếp, chi phí máy thi công Một đặc điểm của ngành xây lắp là trong định mức do nhà nước qui định, chi phí sản xuất chung được tính theo một tỷ lệ nhất định so với chi phí trực tiếp Vì vậy một bộ phận của chi phí sản xuất chung cũng được coi là biến phí bao gồm: chi phí vật liệu phụ,…

-Định phí (chi phí cố định hay chi phí bất biến): là những chi phí mà tổng số

không thay đổi khi mức độ hoạt động trong giới hạn công suất tối đa thay đổi, còn chi phí tính cho một đơn vị mức độ hoạt động thì thay đổi

Trong quản trị doanh nghiệp cần phân biệt các loại định phí sau:

+ Định phí tuyệt đối: là các chi phí mà tổng số không thay đổi khi có sự thay đổi mức độ hoạt động, do đó nếu mức độ hoạt động thay đổi theo chiều hướng tăng lên thì định phí trung bình đơn vị mức độ hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại.Ví dụ như: chi phí thuê đất và nhà xưởng làm lán trại thi công, chi phí khấu hao máy móc thiết

bị tại công trường theo phương pháp đường thẳng, tiền lương cố định (trả theo thời gian) của nhân viên quản lý đội xây dựng…

+ Định phí tương đối (định phí cấp bậc):là định phí không thể thay đổi khi mức

độ hoạt động thay đổi trong phạm vi phù hợp, nhưng sẽ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi thay đổi vượt quá giới hạn nhất định Trường hợp này xảy ra khi các yếu tố sản xuất tiềm tàng đã khai thác hết, muốn tăng mức độ hoạt động cần phải bổ xung đầu tư các khả năng sản xuất tiềm tàng mới Với trường hợp này, khối lượng sản xuất sản phẩm không phải là nhân tố trực tiếp ảnh hưởng đến độ lớn của định phí sản xuất mà quy mô sản xuất cần thiết phải thay đổi khả năng trữ lượng và năng lực sản xuất

+ Định phí bắt buộc: là định phí không thể thay đổi một cách nhanh chóng vì chúng thường liên quan đến tài sản cố định và cấu trúc tổ chức cơ bản của một doanh nghiệp Định phí bắt buộc có bản chất sử dụng lâu dài nên khi quyết định đầu

tư vào tài sản cố định, các nhà quản trị doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ lưỡng vì một khi đã quyết định thì doanh nghiệp phải gắn chặt với quyết định đó trong một thời

Trang 27

gian khá lâu dài Mặt khác định phí bắt buộc lại có đặc điểm là không thể tùy tiện cắt bỏ trong một thời gian ngắn vì nó sẽ ảnh hưởng đến quá trình sinh lợi và mục đích lâu dài của doanh nghiệp Vì vậy, cho dù mức độ hoạt động có bị suy giảm hoặc bị đình trệ trong một thời kỳ nào đó thì nhà quản trị vẫn phải giữ nguyên định phí bắt buộc không được thay đổi nếu vẫn muốn theo đuổi và kỳ vọng đạt được mục đích lâu dài của doanh nghiệp mình

(4) Định phí tùy ý (định phí không bắt buộc):là các định phí có thể được thay đổi một cách nhanh chóng bằng các quyết định của các nhà quản trị Kế hoạch của các định phí tùy ý là ngắn hạn, thường là một năm và các định phí tùy ý này

có thể cắt giảm được trong những trường hợp đặc biệt cần thiết Ví dụ như chi phí quảng cáo về công trình mà doanh nghiệp đang xây dựng, chi phí đào tạo bồi dưỡng công nhân, nhân viên kỹ thuật công trình, chi phí nghiên cứu phát triển vật liệu xây dựng mới…

Chi phí hỗn hợp: là loại chi phí mà bản thân nó gồm cả hai yếu tố biến phí và

định phí Trong mức độ hoạt động căn bản, chi phí hỗn hợp thể hiện các đặc điểm của định phí, song khi vượt qua ngưỡng đó thì nó lại thể hiện đặc tính của biến phí,ví dụ như chi phí điện thoại, chi phí tiền lương khoán cho ban điều hành…Vì vậy chi phí hỗn hợp mang đặc tính của cả hai loại định phí và biến phí nên khi lập

dự toán chi phí thì cần tách chi phí hỗn hợp thành hai bộ phận riêng biệt định phí và biến phí bằng cách sử dụng các phương pháp phân tích chi phí như phương pháp cực đại cực tiểu, phương pháp bình phương bé nhất

Việc phân loại chi phí theo mối quan hệ với mức độ hoạt động của chi phí có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó giúp cho các nhà quản trị có thể hoạch định kế hoạch, kiểm tra tình hình thực hiện kế hoạch và ra các quyết định cần thiết Cách phân loại này giúp cho các nhà quản trị có thể nhìn nhận và khai thác hết khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp mình Bên cạnh đó việc phân loại chi phí của doanh nghiệp ra thành định phí và biến phí còn giúp các nhà quản trị xác định đúng đắn phương hướng để nâng cao hiệu quả của chi phí

♦ Đối với biến phí: phương hướng chính là tiết kiệm tổng biến phí và biến phí

Trang 28

đơn vị

♦ Đối với định phí: cần phấn đấu nâng cao hiệu lực của định phí trong quá trình sản xuất kinh doanh

• Theo thẩm quyền ra quyết định:

Theo cách phân loại này thì chi phí được chia thành chi phí kiểm soát được

và chi phí không kiểm soát được.Tùy thuộc vào các trung tâm trách nhiệm hay các cấp quản lý

- Đối với các cấp quản lý: chi phí kiểm soát được ở một cấp nào đó là chi phí mà cấp đó có thẩm quyền ra quyết định.Ví dụ như giám đốc doanh nghiệp kiểm soát được khoản chi phí mua thiết bị bằng cách duyệt hay không phê duyệt, nhưng với đội trưởng đội xây dựng thì khoản chi phí này là không kiểm soát được bởi không thuộc thẩm quyền ra quyết định của họ

- Đối với các trung tâm trách nhiệm: các trung tâm trách nhiệm thường là trung tâm chi phí, trung tâm tiêu thụ, trung tâm bán hàng, trung tâm lợi nhuận và cao nhất

là trung tâm đầu tư Một chi phí nào đó có thể được kiểm soát bởi một trung tâm này nhưng lại nằm ngoài tầm kiểm soát của trung tâm khác

Việc xem xét chi phí kiểm soát được và chi phí không kiểm soát được chỉ có ý nghĩa thực tế khi nó đặt trong phạm vi một cấp quản lý nào đó và được các nhà quản trị sử dụng để lập báo cáo kết quả (lãi, lỗ) của từng bộ phận trong doanh nghiệp Báo cáo lỗ lãi của từng bộ phận chỉ nên liệt kê các khoản chi phí mà bộ phận đó kiểm soát được

● Theo yêu cầu của việc lựa chọn các phương án sản xuất kinh doanh:

Theo cách phân loại này chi phí được phân ra thành:

+ Chi phí cơ hội : Đó là lợi ích bị mất đi vì lực chọn phương án và hành động này thay cho phương án và hành động khác Ngoài ra các chi phí sản xuất đã được tập hợp, phản ánh trên hệ thống sổ sách kế toán, trước khi chọn các phương án, nhà quản trị còn phải xem xét chi phí cơ hội do những yếu tố kinh doanh đó có thể sử dụng theo cách khác nhưng vẫn mang lợi nhuận cho họ

+ Chi phí chênh lệch: Là những chi phí chỉ có ở phương án này nhưng không có

Trang 29

hoặc chỉ có một phần ở phương án khác, chi phí chênh lệnh là một căn cứ quan trọng để lựa chọn phương án đầu tư hoặc phương án sản xuất kinh doanh

+ Chi phí chìm: Là loại chi phí mà doanh nghiệp phải gánh chịu bất kể đã lựa chọn phương án nào hay hành động nào, Do đó chi phí chìm có ở mọi phương án nên không có tính chênh lệch và không phải xét đến khi so sánh lựa chọn phương

án, hành động tối ưu

Có thể hiểu chi phí chìm là khoản đầu tư thời gian và tiền bạc không thể lấy lại được do những quyết định sai lầm trong quá khứ Loại chi phí này không được đưa vào trong những dự tính dự án Mặc dù chi phí chìm thể hiện quá khứ nhưng các nhà quản lý đôi khi vẫn để chi phí chìm ảnh hưởng đến các quyết định tương lai Và những người ra quyết định thường phạm phải sai lầm này vì đôi khi họ không nhận

ra được sự thật rằng chi phí chìm không thể bù đắp được, nhưng chủ yếu bản thân

họ không muốn phải gánh chịu một khoản tổn thất lớn khi xúc tiến phương án thay thế Tại sao vậy? Vì việc xúc tiến phương án thay thế sẽ làm ảnh hưởng đến quyết định ban đầu Nhược điểm của chi phí chìm cũng giải thích tại sao nhiều nhà quản trị chậm chạp khi đối mặt với những quyết định tuyển dụng tệ hại Họ tuyển dụng

và đầu tư đào tạo cho một người nhưng rõ ràng anh ta không làm được việc dù có đào tạo và huấn luyện như thế nào đi nữa Thay vì giải quyết triệt để cho quyết định tuyển dụng tệ hại này, các nhà quản lý thường đưa ra quyết định tệ hại khác: đầu tư thêm thời gian cho cho việc huấn luyện và đào tạo với hi vọng sẽ có sự thay đổi hoàn toàn

1.2.3.2 LËp dù to¸n chi phÝ s¶n xuÊt x©y l¾p

Trong điều kiện tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, các doanh nghiệp nói chung và các doanh nghiệp xây lắp nói riêng muốn tồn tại và phát triển ổn định cần phải có chiến lược kinh doanh hợp lý Vì vậy cần phải có những dự kiến chi tiết, cụ thể cho từng thời kỳ cũng như cả quá trình sản xuất kinh doanh Điều đó có nghĩa là cần phải lập dự toán sản xuất kinh doanh Lập

dự toán sản xuất kinh doanh là việc dự kiến (kế hoạch những chỉ tiêu) của quá trình sản xuất kinh doanh một cách chi tiết, phù hợp với yêu cầu quản lý cụ thể của doanh

Trang 30

nghiệp Dự toán là một kế hoạch chính thức tính theo đơn vị tiền tệ, là tổng hợp các mục tiêu của doanh nghiệp Dự toán được sử dụng như là một công cụ để giám sát Việc lập dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm tại các doanh nghiệp xây lắp phải dựa trên nhiều nguồn thông tin có tính căn cứ được sử dụng một cách đồng bộ như: thông tin về kinh tế tài chính sự đồng bộ trong điều hành các hoạt động của doanh nghiệp, tổ chức và chất lượng thông tin kế toán của niên độ tài chính đã qua cùng với khả năng phân tích, dự đoán của người quản lý…cụ thể căn

cứ vào các yếu tố sau:

Bối cảnh kinh tế tổng quát của thị trường mà doanh nghiệp xây lắp đang hoạt động được các cơ quan chuyên môn về dự báo kinh tế công bố

+ Chính sách giá cả (đơn giá xây dựng, giá chuẩn…)

+ Mức độ cạnh tranh trên thị trường xây lắp

+ Định mức kinh tế kỹ thuật do Nhà nước quy định, các định mức nội

bộ do các doanh nghiệp xây dựng dựa trên các định mức mà Nhà nước ban hành phù hợp với tình hình thực tế thi công cho từng công trình

+ Mối quan hệ giữa chi phí – lợi nhuận (định mức lợi nhuận)

……

Dự toán chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp xây lắp bao gồm:

Lập tổng dự toán công trình: Là tổng mức chi phí cần thiết cho việc

đầu tư xây dựng công trình thuộc dự án được tính toán cụ thể ở giai đoạn thiết kế kỹ thuật hoặc thiết kế kỹ thuật thi công

Tổng dự toán

công trình

= Chi phí xây lắp

+ Chi phí thiết bị

+ Chi phí khác

+ Chi phí

dự phòng

-Chi phí xây lắp công trình xây dựng là toàn bộ chi phí về xây dựng và lắp

đặt công trình đó, bao gồm chi phí xây lắp các hạng mục xây dựng mới và các hạng

mục xây lắp khác

-Chi phí thiết bị bao gồm chi phí mua sắm thiết bị công nghệ và trang thiết

bị khác phục vụ sản xuất, làm việc, sinh hoạt của công trình, chi phí vận chuyển,

bảo quản, bảo dưỡng tại hiện trường, thuế và phí bảo hiểm thiết bị công trình

Trang 31

-Chi phí khác bao gồm chi phí ở giai đoạn chuẩn bị đầu tư (điều tra, khảo

sát, tư vấn đầu tư, tuyên truyền quảng cáo công trình), chi phí ở giai đoạn thực hiện

đầu tư, chi phí ở giai đoạn kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng

-Chi phí dự phòng là chi phí để dự trù vốn cho các khối lượng phát sinh do

thay đổi thiết kế theo yêu cầu của chủ đầu tư được cấp có thẩm quyền phê duyệt, khối lượng phát sinh không lường trước được, dự phòng do yếu tố trượt giá trong quá trình thực hiện dự án

Lập dự toán xây lắp cho từng hạng mục công trình:

Dự toán xây lắp hạng mục công trình được xác định trên cơ sở khối lượng các loại công tác xây lắp tính toán từ bản vẽ kỹ thuật, đơn giá xây dựng cơ bản (định mức xây lắp chi tiết) do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố ban hành hoặc đơn giá công trình (định mức công trình) đối với những công trình được lập đơn giá riêng Định mức các chi phí theo tỷ lệ % do Bộ Xây dựng ban hành và các chế độ chính sách của Nhà nước có liên quan, bao gồm:

-Lập dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp: Dự toán chi phí nguyên vật liệu trực tiếp được dựa trên cơ sở dự toán khối lượng xây lắp, định mức chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chênh lệch về vật liệu (nếu có)

-Lập dự toán chi phí nhân công trực tiếp: Dự toán chi phí nhân công trực tiếp được lập căn cứ vào khối lượng công tác xây lắp, định mức thời gian và định mức theo đơn giá giờ công trực tiếp:

x

Định mức chi phí nguyên vật liệu của công tác xây lắp thứ j ) +

Chệnh lệch vật liệu nếu

j

x

Công cần cho khối lượng xây lắp thứ j x

Định mức theo đơn giá giờ công trực tiếp

)

Trang 32

-Lập dự toán chi phí máy thi công: Dự toán chi phí máy thi công được lập dựa trên cơ sở dự toán khối lượng công tác xây lắp, định mức chi phí máy thi công

và hệ số điều chỉnh chi phí máy thi công

-Lập dự toán chi phí sản xuất chung: đây là một khoản mục chi phí gián tiếp đối với từng công trình, hạng mục công trình nên thông thường dự toán chi phí sản xuất chung tính cho các công trình, hạng mục công trình được căn cứ vào định mức chi phí chung theo quy định hiện hành của Nhà nước (đối với trường hợp dự án chỉ

có một hạng mục xây lắp) Còn đối với dự án có nhiều hạng mục xây lắp thì sau khi xác định chi phí chung cho toàn bộ dự án sẽ phân bổ chi phí chung của toàn bộ dự

án cho từng hạng mục theo tỷ trọng chi phí trực tiếp của hạng mục công trình

Dự toán chi phí

sản xuất chung

= Định mức chi phí sản xuất chung (tính theo

tỷ lệ %)

x chi phí trực tiếp

1.2.3.3 Tập hợp và phân bổ chi phí xây lắp

Trong các doanh nghiệp nói chung và trong các doanh nghiệp xây lắp nói riêng, kế toán quản trị là một phần của công tác kế toán nói chung, quá trình kế toán quản trị là quá trình thu thập, xử lý và cung cấp các thông tin một cách cụ thể, chi tiết về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp theo yêu cầu quản lý của các nhà quản trị Để thực hiện được quá trình quản trị này với mô hình kết hợp kế toán tài chính và kế toán quản trị trong cùng một bộ máy, bộ phận kế toán phải thực hiện

bốn nội dung cơ bản sau: hạch toán ban đầu; vận dụng hệ thống tài khoản kế toán

để hệ thống hóa và phân tích thông tin thực hiện ; hệ thống sổ kế toán quản trị sử dụng và lập – phân tích xử lý thông tin trên bằng hệ thống báo cáo kế toán quản trị

j

x

Định mức ca/

máy sử dụng xây dựng công tác xây lắp thứ j

x

Đơn giá

ca máy thi công )

Trang 33

Hạch toán ban đầu:

Hạch toán ban đầu là công việc khởi đầu của quy trình hạch toán đối với các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp xây lắp nói riêng Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng sử dụng nguồn thông tin quá khứ duy nhất ở khâu đầu vào là thông qua hệ thống hạch toán ban đầu Các mẫu chứng từ ban đầu sử dụng phải thích hợp vời từng loại nghiệp vụ kinh tế, tài chính phát sinh ở doanh nghiệp để có thể ghi nhận đầy đủ thông tin về các nghiệp vụ kinh tế Bên cạnh việc sử dụng hệ thống chứng từ bắt buộc để phục vụ kế toán tài chính, xử lý và cung cấp các thông tin cho việc lập báo cáo tài chính, để phục vụ cho mục đích kế toán quản trị, với loại hình là doanh nghiệp xây lắp có tính chất sản phẩm, tính chất sản xuất kinh doanh mang nét đặc thù riêng mà các doanh nghiệp xây lắp có thể thiết kế thêm các chứng

từ chi tiết phù hợp, phản ánh đầy đủ các yếu tố, nội dung để phục vụ cho việc thu nhận, xử lý và hệ thống hóa thông tin thực hiện cho việc lập báo cáo quản trị theo yêu cầu quản lý của doanh nghiệp

Đối với kế toán chi phí sản xuất do đặc thù mỗi doanh nghiệp xây lắp có thể thực hiện nhiều công trình, hạng mục công trình cùng một lúc, trong đó mỗi công trình, hạng mục công trình có thể được thực hiện bởi nhiều đơn vị thi công khác nhau mà yêu cầu quản trị đặt ra là cần phải có các thông tin chi tiết về từng khoản mục chi phí của từng công trình, hạng mục công trình hay của từng bộ phận, đơn vị thi công Mặt khác trong các doanh nghiệp xây lắp thường áp dụng cơ chế khoán thi công giữa doanh nghiệp với các xí nghiệp trực thuộc, các tổ đội thi công, vì vậy tại các doanh nghiệp xây lắp có thể tổ chức chứng từ ban đầu theo các cách khác nhau,

cụ thể:

Nếu đơn vị nhận khoán không được phân cấp quản lý kinh tế tài chính và hạch toán (không tổ chức kế toán riêng) thì:

-Tại đơn vị nhận khoán: đơn vị nhận khoán thu thập, kiểm tra phân loại ban

đầu các chứng từ về các chi phí sản xuất kinh doanh cho từng công trình, hạng mục công trình (trường hợp đơn vị nhận khoán thi công nhiều công trình cùng một lúc)

và chuyển về phòng kế toán để xử lý, ghi sổ và báo cáo

Trang 34

- Tại đơn vị giao khoán: có trách nhiệm kiểm tra, xử lý các chứng từ về

chi phí sản xuất kinh doanh cho từng đơn vị nhận khoán cho từng công trình cụ thể như:

phí theo từng yếu tố chi phí, ngoài ra còn tổ chức tập hợp theo địa điểm phát sinh chi phí (công trình, hạng mục công trình), theo đối tượng có liên quan (bộ phận, tổ đội, đơn vị thi công) Cuối kỳ hạch toán hoặc khi công trình hoàn thành, tiến hành kiểm kê số vật liệu còn lại tại công trình để giảm trừ chi phí vật liệu đã tính cho từng hạng mục công trình Trường hợp vật liệu xuất dùng có liên quan đến nhiều đối tượng tập hợp chi phí, không thể tổ chức kế toán riêng được thì phải áp dụng phương pháp phân bổ gián tiếp để phân bổ cho các đối tượng liên quan Tiêu thức phân bổ thường được sử dụng là phân bổ theo định mức tiêu hao, theo hệ số, trọng lượng, số lượng sản phẩm Công thức phân bổ như sau:

Tổng chi phí vật liệu cần phân bổ

= x

Tổng tiêu thức lựa chọn để phân bổ của

các đối tượng + Đối với chi phí nhân công trực tiếp thì tổ chức chứng từ tập hợp chi phí

theo từng đối tượng chịu phí có liên quan (công trình, hạng mục công trình thi

công), trường hợp chi phí nhân công trực tiếp có liên quan đến nhiều đối tượng

mà không hạch toán trực tiếp như lương phụ, phụ cấp…thì có thể tổ chức tập hợp chung, sau đó lựa chọn các tiêu thức thích hợp như chi phí tiền công định mức, giờ công định mức, giờ công thực tế…để phân bổ cho các đối tượng chịu chi phí có liên quan

+ Đối với chi phí máy thi công: Có thể tổ chức chứng từ tập hợp chi phí theo

từng công trình, hạng mục công trình hoặc cũng có thể tập hợp chung rồi căn cứ vào chi phí định mức bảng giá định mức ca máy để phân bổ gián tiếp cho các công trình, hạng mục công trình

+ Đối với chi phí sản xuất chung, trong kế toán quản trị loại chi phí sản xuất

Trang 35

này thường được tổ chức tập hợp chứng từ theo từng địa điểm phát sinh chi phí Trong doanh nghiệp xây lắp đối với trường hợp dự án chỉ có một hạng mục xây lắp thì cần tổ chức chứng từ tập hợp chi phí theo từng công trình, hang mục công trình Còn đối với dự án có nhiều hạng mục xây lắp thì tổ chức chứng từ tập hợp chi phí chung cho toàn bộ dự án sau đó sẽ phân bổ chi phí chung cho từng hạng mục xây lắp theo tỉ trọng chi phí trực tiếp của từng hạng mục công trình

Nếu đơn vị nhận khoán đã phân cấp quản lý kinh tế, tài chính và hạch toán độc lập thì:

-Tại đơn vị nhận khoán: Tiến hành thu thập toàn bộ các chứng từ phục vụ công

tác hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh, kiểm tra, phân loại, xử lý các chứng từ tương tự như trường hợp đơn vị giao khoán trong trường hợp đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc

-Tại đơn vị giao khoán: Tiến hành thu thập, kiểm tra, xử lý các chứng từ có

liên quan đến công nợ phải thu, phải trả nội bộ, tình hình thanh toán đối với từng đơn vị nhận khoán theo từng công trình, hạng mục công trình cụ thể

Vận dụng các tài khoản kế toán

Trong các doanh nghiệp xây lắp sử dụng các tài khoản kế toán để phản ánh chi tiết chi phí nhằm hệ thống hóa và cung cấp thông tin chi tiết về chi phí, dựa vào

hệ thống tài khoản sử dụng trong kế toán tài chính để mở các tài khoản chi tiết tài khoản cấp 2, 3, 4…cần thiết Tùy thuộc vào yêu cầu và trình độ quản lý cần thông tin chi tiết đến mức độ nào mà doanh nghiệp mở tài khoản chi tiết cho phù hợp Tuy nhiên, yêu cầu về thông tin kế toán quản trị chi tiết, cụ thể đến mức độ nào phải được đưa ra từ khi lập kế hoạch đến khi hạch toán để có căn cứ kiểm soát, đánh giá, phân tích khi sử dụng thông tin Việc thiết kế tài khoản trong kế toán quản trị phải đảm bảo đơn giản, tiện lợi cho công tác kế toán Đặc biệt trong từng trường hợp doanh nghiệp xử lý thông tin bằng các phương tiện kỹ thuật thông tin hiện đại, cần phải tiến hành mã hóa các tài khoản kế toán tổng hợp và chi tiết theo quy luật nhất định để tiện lợi cho hạch toán và quản lý, hệ thống hóa được thông tin theo yêu cầu của quản trị doanh nghiệp

Trang 36

Do đặc thù của doanh nghiệp xây lắp là mỗi doanh nghiệp xây lắp có thể thực hiện nhiều công trình, hạng mục công trình cùng một lúc, trong đó mỗi công trình, hạng mục công trình có thể được giao khoán thực hiện thi công bởi nhiều đơn vị thi công khác nhau Để tổ chức kế toán chi tiết chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp phục vụ cho yêu cầu quản trị, doanh nghiệp xây lắp sử dụng các tài khoản

Tại đơn vị giao khoán:

+ Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc: đơn vị giao khoán có trách

nhiệm tổ chức hạch toán tổng hợp, hạch toán chi tiết toàn bộ chi phí sản xuất xây lắp Vì vậy tại đơn vị giao khoán được sử dụng các tài khoản: TK 621, TK 622, TK627, TK 623, TK 154,

Trong đó để đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết cho từng công trình, hạng mục công trình theo từng đội, đơn vị thi công thì:

-Tài khoản 621 được mở chi tiết theo từng yếu tố chi phí và theo từng công trình, hạng mục công trình xây lắp

-Tài khoản 622, 623, 627 được mở chi tiết theo từng tổ đội, đơn vị thi công

và theo từng công trình, hạng mục công trình xây lắp

-Tài khoản 154, được mở chi tiết theo đơn vị, tổ đội thi công, theo từng công trình và hạng mục công trình xây lắp

Ngoài ra kế toán đơn vị giao khoán còn phải mở TK 141.3 – tạm ứng chi phí xây lắp giao khoán nội bộ chi tiết cho từng đơn vị thi công theo từng công trình, hạng mục công trình cụ thể phản ánh các tài khoản tạm ứng cho đơn vị nhận khoán

để thực hiện giá trị khối lượng khoán xây lắp nội bộ và quyết toán giá trị tạm ứng được duyệt

+ Nếu đơn vị hạch toán nhận khoán độc lập: Tại đơn vị giao khoán không mở các tài khoản chi phí TK 621, 622, 623, 627 cho các công trình, hạng mục công trình đã giao khoán mà đơn vị giao khoán chỉ mở TK 154 chi tiết cho các công trình, hạng mục công trình khi nhận được giá trị khối lượng xây lắp của công rình đơn vị nhận khoán bàn giao Ngoài ra, đơn vị còn phải mở TK 136.2 phản ánh

Trang 37

khoản phải thu về giá trị xây lắp giao khoán nội bộ

Tại đơn vị nhận khoán:

+ Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán phụ thuộc thì tại đơn vị nhận khoán

không mở các tài khoản hạch toán chi phí mà chỉ theo dõi chi tiết về tình hình nhập – xuất – tồn vật tư, về tình hình thanh toán lương và các khoản chi phí khác phát sinh

+ Nếu đơn vị nhận khoán hạch toán độc lập: Thì tại các đơn vị nhận khoán

để theo dõi tình hình chi phí thực tế phát sinh tại các công trình đáp ứng yêu cầu cung cấp thông tin, kế toán đơn vị nhận khoán mở các tài khoản chi phí TK 621,

622, 623, 627, 154 tương tự như tại đơn vị giao khoán (trường hợp bộ phận nhận khoán hạch toán phụ thuộc) Ngoài ra kế toán đơn vị nhận khoán còn phải mở thêm

TK 336.2 để phản ánh cung cấp thông tin về khoản phải trả và giá trị khối lượng xây lắp nhận khoán nội bộ

Việc tổ chức tài khoản kế toán để phản ánh chi tiết chi phí theo yêu cầu quản trị như trên vừa đảm bảo cung cấp thông tin chi tiết theo yêu cầu quản trị doanh nghiệp, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu giữa thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế toán biểu hiện cụ thể trong từng doanh nghiệp xây lắp

Cụ thể cách thức vận dụng và mở chi tiết cho các tải khoản kế toán để phù hợp với quản trị chi phí sản xuất trong doanh nghiệp xây lắp được thể hiện như sau:

Trang 38

Bảng 1.1 : Bảng phân cấp tài khoản chi tiết tại các doanh nghiệp xây lắp

Nội dung chỉ tiêu các

Theo từng hạng mục công trình

Theo từng công việc cụ thể Chi phí sử dụng máy

thi công Theo từng công trình

Theo từng hạng mục công trình Từng chi phí cụ thể

Chi phí sản xuất chung Theo điều khoản chi

phí

Từng khoản chi phí cụ thể trong từng điều khoản

Từng chi phí cụ thể

Chi phí sản xuất kinh

doanh dở dang Theo từng công trình

Theo từng hạng mục công trình

Theo từng khoản mục chi phí

Chi phí quản lý doanh

nghiệp

Theo từng khoản chi phí chủ yếu

Theo từng mục cụ thể trong từng điều khoản chi phí

Trên thực tế, các tổ đội thường được giao thi công toàn bộ một công trình do vậy tài khoản mở theo công trình cũng cho phép theo dõi chi phí theo đội Tuy nhiên cũng có một số công trình lớn đòi hỏi một số đội cùng tham gia thi công Khi

đó để không phải chi tiết thêm tài khoản theo từng đội, gói thầu công trình lớn được chia thành công trình nhỏ hơn và khi đó mới giao cho các đội để thuận tiện cho việc hạch toán và theo dõi

Xây dựng, vận dụng hệ thống sổ kế toán chi phí sản xuất xây lắp trong kế

toán quản trị

Hệ thống sổ kế toán tại doanh nghiệp xây lắp được sử dụng để thu nhận, hệ thống hóa toàn bộ thông tin về hoạt động kinh tế tài chính của doanh nghiệp nhằm lập được các báo cáo kế toán để cung cấp thông tin phục vụ cho quản lý kinh tế tài chính Hệ thống sổ kế toán trong doanh nghiệp xây lắp bao gồm hai loại sổ:

Trang 39

Sổ kế toán tổng hợp để ghi chép phản ánh các chỉ tiêu kinh tế tài chính ở dạng tổng quát (sổ kế toán tổng hợp được mở cho các tài khoản cấp 1)

Sổ kế toán chi tiết ghi chép chi tiết, tỉ mỉ, cụ thể số liệu được ghi ở sổ kế toán tổng hợp nhằm hệ thống hóa thông tin kế toán cụ thể cho từng công trình, hạng mục công trình, theo từng bộ phận, đơn vị, tổ, đội thi công phục vụ cho quản trị doanh nghiệp

Như vậy hệ thống sổ kế toán theo mô hình kết hợp phục vụ cho kế toán quản trị chính là hệ thống sổ kế toán chi tiết của kế toán tài chính Tùy theo yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết phục vụ cho việc xử lý thông tin theo yêu cầu quản trị mà kế toán quản trị có thể thiết kế các sổ chi tiết chi phí phù hợp dựa trên các tiêu chí:

+ Yêu cầu quản lý chi phí cụ thể của doanh nghiệp xây lắp + Đối tượng chi tiết mà doanh nghiệp đã xác định

Nhằm đảm bảo yêu cầu:

+ Theo dõi được chi tiết từng khoản mục chi phí, yếu tố chi phí kết hợp với việc nhận dạng chi phí biến đổi và chi phí cố định cho từng công trình, hạng mục công trình

+ Phân tích chi phí cho từng công trình, hạng mục công trình xác định phù hợp với yêu cầu cung cấp thông tin chi tiết về chi phí để phục vụ yêu cầu quản

lý chi phí, đáp ứng yêu cầu xác định đúng đắn giá thành của từng công trình, hạng mục công trình theo yêu cầu của nhà quản trị doanh nghiệp

Nguyên tắc chung ghi sổ chi tiết chi phí là:

+ Những chi phí liên quan trực tiếp đến từng công trình, hạng mục công trình khi phát sinh sẽ được phản ánh trực tiếp vào sổ kế toán chi tiết tương ứng cho công trình, hạng mục công trình đó

+ Đối với những chi phí có liên quan đến nhiều công trình, hạng mục công trình mà không thể tập hợp trực tiếp được thì khi phát sinh được tập hợp chung Định kỳ phân bổ chi phí này cho các công trình, hạng mục công trình liên quan

Hệ thống báo cáo kế toán sử dụng trong kế toán quản trị chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm xây lắp

Trang 40

Một trong những công cụ đắc lực để cung cấp thông tin có tính chất định hướng để nhà quản trị có được các quyết định hiệu quả chính là các báo cáo kế toán quản trị Báo cáo kế toán quản trị là sản phẩm cuối cùng của kế toán quản trị nên việc tổ chức hệ thống báo cáo kế toán quản trị quyết định đến chất lượng, hiệu quả của thông tin do kế toán quản trị cung cấp Tùy theo sự phân cấp quản lý và yêu cầu quản lý từng chỉ tiêu để có thế xác định nội dung và thiết kế mẫu biểu kế toán, lựa chọn phương pháp lập báo cáo phù hợp Báo cáo quản trị về chi phí trong doanh nghiệp xây lắp phải được thiết kế thành dạng thông tin nhiều chiều và phù hợp với yêu cầu sử dụng thông tin của các cấp quản lý, khi xây dựng báo cáo phải đảm bảo những yêu cầu cơ bản sau:

- Các thông tin trên báo cáo phải được phân chia thành các chỉ tiêu phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi tình huống ra quyết định

- Các chỉ tiêu báo cáo phải có quan hệ chặt chẽ, lô gic

- Các chỉ tiêu số liệu thực tế, dự toán, định mức phải so sánh được với nhau

để giúp nhà quản trị doanh nghiệp sử dụng thông tin thực hiện chức năng kiểm soát các hoạt động

- Hình thức kết cấu các báo cáo cần đa dạng, linh hoạt tùy thuộc vào tiêu chuẩn đánh giá thông tin trong mỗi báo cáo phục vụ cho từng tình huống cụ thể

Cụ thể trong các doanh nghiệp xây lắp có thể xây dựng các báo cáo như:

+ Báo cáo đánh giá trách nhiệm của quản lý: Nhằm kiểm tra đánh giá các trung tâm trách nhiệm Trong doanh nghiệp xây lắp thường có 3 trung tâm trách nhiệm: trung tâm chi phí, trung tâm kinh doanh và trung tâm đầu tư Với trung tâm chi phí trách nhiệm báo cáo của trung tâm này là báo cáo biến động giữa chi phí thực hiện so với dự toán và thường có 3 cấp: tổ thi công, đội thi công, doanh nghiệp với các cấp quản lý tương ứng là tổ trưởng, đội trưởng, giám đốc phụ trách sản xuất +Báo cáo cung cấp thông tin cho quá trình kiểm tra đánh giá: Đây chính là các báo cáo chi phí được các doanh nghiệp xây lắp lập nhằm kiểm tra tình hình thực hiện dự toán chi phí, đánh giá kết quả thực hiện của từng đơn vị nội bộ trong doanh nghiệp Các báo cáo này phải được lập riêng cho từng đơn vị nội bộ để kiểm soát

Ngày đăng: 27/02/2021, 14:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ môn kế toán quản trị – Viện kinh tế và quản lý – trường Đại học Bách Khoa Hà nội (dùng cho đào tạo Cao học) Khác
2. Bộ môn kế toán – Khoa kế toán – Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Bài giảng kế toán tài chính (dùng cho đào tạo Cao học) Khác
3. Bộ Tài chính (1999), Hệ thống chuẩn mực kiểm toán Việt Nam Khác
5. TS Nguyễn Văn Bảo (2004), Hướng dẫn kế toán doanh nghiệp xây lắp theo chuẩn mực kế toán Việt Nam – NXB Thống kê Hà Nội Khác
6. PGS.TS Ngô Thế Chi (2004), Hỏi , đáp và hướng dẫn thực hành kế toán theo chuẩn mực kế toán Việt Nam – NXB Thống kê Hà Nội Khác
7. Nguyễn Văn Công (2004), Lý thuyết và thực hành kế toán tài chính – NXB tài chính Khác
8. Công ty kiểm toán Việt Nam (2000), chuẩn mực kế toán Việt Nam Khác
9. Phạm Văm Dược (1998), Hưỡng dẫn tổ chức Kế toán quản trị trong các doanh nghiệp – NXB Thống kê Khác
10. Phạm Văn Dược (1998), Kế toán quản trị và phân tích kinh doanh – NXB Thống kê Khác
11. PGS.TS Nguyễn Thị Đông (2001) Bài giảng tổ chức hạch toán kế toán (dùng cho hệ cao học) Khác
12. Nguyễn Văn nhiên (2000), Hướng dẫn thực hành hạch toán kế toán và lập báo cáo tài chính doanh nghiệp xây lắp – NXB Thống kê Khác
13. TS Võ Văn Nhị (2004), 16 chuẩn mực kế toán và kế toán tài chính cho doanh nghiệp – NXB Lao động xã hội Khác
14. Patricia M. HILLERBRADT (2000), Lý thuyết thống kê và công nghiệp xây dựng – NXB Xây dựng Khác
15. Nguyễn Quang Quynh (2001), kiểm toán tài chính – NXB Tài chính 16. Đặng Văn Thanh, Đoàn Xuân Tiên (1998), Kế toán quản trị doanh nghiệpNXB Tài chính Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w