1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội

50 1,7K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Trường học Đại Học Hòa Bình
Thể loại bài luận
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 429,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thái độ của sinh viên đối với vấn đề TNXH

Trang 1

Bài Luận

Đề Tài:

Thái độ của sinh viên đối với vấn đề TNXH

Trang 2

Phòng chống tệ nạn xã hội nói chung ở nước ta hiện nay đã và đang trở thànhvấn đề nhức nhối, nó là nguyên nhân của sự bần cùng hóa gia đình, làm băng hoạisức khỏe, nhân cách của con người, là bạn đồng hành của thảm họa HIV/AIDS, đồngthời tác động xấu đến an ninh, trật tự xã hội của đất nước Tệ nạn xã hội ảnh hưởngtrực tiếp đến cuộc sống gia đình, sức khỏe, nhân cách của con người, là mối hiểm họacủa tương lai, để lại hậu quả nghiêm trọng cho thế hệ mai sau.

Tệ nạn xã hội như là một căn bệnh nguy hiểm có sức cuốn hút, cám dỗ và lây lanmạnh mẽ đến tầng lớp thanh thiếu niên nói chung, học sinh, sinh viên nói riêng lànhững chủ nhân tương lai của đất nước, họ là những đối tượng dễ xa vào tệ nạn xã hội.Nếu không được định hướng, giáo dục đầy đủ thì sẽ dẫn đến những hậu quả khó lường.Chúng ta đều biết thái độ có vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao hiệu quảmọi hoạt động của con người Chủ thể có thái độ về đối tượng nào thì không những

bị thúc đẩy bởi nhu cầu, động cơ, mục đích bên trong mà còn được biểu hiện ra bênngoài bằng hành động cụ thể với đối tượng đã nhận thức và chi phối sự tác độngcủa nhân tố bên ngoài

Có thể nói thái độ là một yếu tố có vai trò quyết dịnh đến sự thành công hay

Trang 3

Chính vì vậy, đối với tất cả mọi người nói chung và học sinh, sinh viên nóiriêng thì muốn đạt được hiệu quả cao trong mọi lĩnh vực hoạt động thì phải có thái

độ tốt đối với vấn đề đó

Thái độ có vai trò quyết định quan trọng đến việc nâng cao chất lượng hiệuquả của mọi công việc Do đó trong mọi hoạt động nói chung và đặc biệt trongmặt trận đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội, mà lực lượng thanh niên, học sinh,sinh viên là một bộ phận rất quan trọng góp phần tích cực trong phong trào này thìviệc nâng cao nhận thức, thái độ của học sinh, sinh viên trong vấn đề tệ nạn xã hội

là điều hết sức cần thiết Bởi vì nếu mỗi cá nhân có thái độ tích cực sẽ nâng caohiệu quả của hoạt động phòng chống tệ nạn xã hội ngược lại nếu không có thái độtích cực sẽ làm giảm hiệu quả của hoạt động này

1.2.Cơ sở thực tiễn

TNXH là một vấn đề nhức nhối đã và đang diễn ra ở khắp mọi nơi trên đấtnước ta Nó đã len lỏi vào từng ngóc ngách, đường phố, từ nông thôn cho đếnthành thị Từ các cơ quan, phân xưởng, nhà máy, xí nghiệp cho đến các trườnghọc Đặc biệt ở trường ĐHHĐ những năm gần đây đã xuất hiện các hiện tượngTNXH như ma túy, mại dâm, lô đề, bài bạc, bạo hành… Mặc dù các hiện tượng tệnạn xã hội trên không phải là nhiều nhưng, chưa phải là phổ biến nhưng đã vàđang ảnh hưởng rất lớn đến đời sống vật chất tinh thần của một bộ phận sinh viên.Nếu chúng ta không có thái độ đúng đắn, nghiêm túc trong việc đấu tranh đẩylùi tệ nạn xã hội ra khỏi xã hội, trường học thì chắc rằng những năm tới chúng ta

sẽ phải đối mặt với những hậu quả khó lường do tệ nạn xã hội gây ra

Nhưng thực tế cho một bộ phận thanh thiếu niên trong đó có học sinh, sinhviên chưa thật sự ý thức được tầm quan trọng và vai trò của việc đấu tranh và đẩylùi tệ nạn xã hội Nhiều người còn lơ là và cho rằng đó không phải là việc củamình, không liên quan đến mình, ai làm thì người ấy chịu Vậy thực tế thái độ củahọc sinh, sinh viên hiện nay đối với vấn đề tệ nạn xã hội là như thế nào ?

Để thực hiện có hiệu quả công cuộc đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hộithiết nghĩ phải nâng cao ý thức, thái độ của người dân đặc biệt là nâng cao ý

Trang 4

Chính vì những lí do kể trên mà chúng tôi đã lựa chọn vấn đề “Thái độcủa sinh viên ngành Tâm lý học (QTNS) trường Đại Học Hồng Đức đối vớivấn đề tệ nạn xã hội” để làm đề tài nghiên cứu.

2 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu thái độ của sinh viên nghành tâm lý học (QTNS) trường ĐạiHọc Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội Từ đó đưa ra những kiến nghị nhằmnâng cao thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội, giúp cho sinh viêntích cực, chủ động hơn trong công tác phòng chống tệ nạn xã hội

3 Nhiệm vụ nghiên cứu.

3.1 Xây dựng được hệ thống cơ sở lý luận có liên quan đến đề tài: Thái

độ, sinh viên, thái độ của sinh viên tâm lý, tệ nạn xã hội, thái độ của sinh viên tâm lý đối với vấn đề tệ nạn xã hội.

3.2 Khảo sát về thực trạng thái độ của sinh viên tâm lý (QTNS) trường Đại Học Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội, và nguyên nhân ảnh hưởng đến thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội.

3.3 Đề xuất một số kiến nghị nhằm góp phần nâng cao thái độcủa sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội.

4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu.

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Nghiên cứu thái độ của sinh viên tâm lý học (QTNS) trường Đại HọcHồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội

Trang 5

5 Giới hạn của đề tài.

Đề tài đi sâu vào nghiên cứu thái độ học tập của sinh viên tâm lý học –quản trị nhân sự, trường Đại Học Hồng Đức đối với vấn đề tệ nạn xã hội gồm

300 sinh viên k11, k12, k13, k14

6 Phương pháp nghiên cứu.

6.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

Đọc và tìm tài liệu, sách giáo trình nhằm thu thập những thông tin, khai tháccác tài liệu có liên quan tới đề tài nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

Đây là phương pháp cơ bản bao gồm: Phương pháp quan sát, phươngpháp điều tra, phương pháp đàm thoại, và phương pháp phân tích sản phẩmhoạt động nhằm làm nổi bật thực trạng thái độ của sinh viên tâm lý trường đạihọc Hồng Đức đối vối vấn đề tệ nạn xã hội

6.2.1 Phương pháp quan sát.

Quan sát những biểu hiện hành vi của sinh viên về thái độ đối với vấn đề ttệ nạn

xã hội thông qua các giờ ra chơi, ngoại khóa, ngoài giờ lên lớp trong và ngoàitrường

6.2.2 Phương pháp điều tra

Là phương pháp cơ bản, với việc xây dựng và sử dụng những mẫu câu hỏiđiều tra mức độ nhận thức của sinh viên, thái độ, hành vi của sinh viên đối vớivấn đề tệ nạn xã hội

6.2.3 Phương pháp phỏng vấn (đàm thoại).

Trò chuyện một cách chân thành cởi mở với các bạn sinh viên để khaithác thái độ của họ đối với vấn đề tệ nạn xã hội hiện nay, những khó khăn,cám dỗ mà sinh viên dễ mắc phải khi sống xa nhà

6.2.4 Phương pháp xử lý toán học.

Để đưa ra được những nhận xét khoa học về đối tượng nghiên cứu chúngtôi sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các thông tin thu thập

Trang 6

Công thức tính %:

m × 100

% =

N

Trong đó: m: Số lượng khách thể trả lời

N: Số lượng khách thể nghiên cứu

Để biết được có bao nhiêu % trong tổng số khách thể lựa chọn mức điểmtrong thang đánh giá

∑× 1→ i: Tổng điểm đạt được của khách thể nghiên cứu

N: Số lượng khách thể nghiên cứu

Từ đó đánh giá được mức độ cao, trung bình của các mặt trong cấu trúc củathái độ đối với sinh viên tâm lý học – QTNS, trường Đại học Hồng Đức

7 Dự kiến cái mới của đề tài.

Khái quát được những vấn đề lý luận của đề tài

Đánh giá dược thực trạng thái độ của sinh viên ngành Tâm lý học –QTNS trường Đại học Hồng Đức đối với vấn đề TNXH và đề xuất một sốkiến nghị nhằm nâng cao thái độ của sinh viên tâm lý học – QTNS trườngĐại học Hồng Đức nói riêng và trong sinh viên nói chung về vấn đề TNXH

Trang 7

lý học phương Tây, nhà tâm lý học người Nga Shikhirev P.M đã chia quátrình này thành ba thời kỳ.

- Thời kỳ thứ nhất: (Từ khi khái niệm về thái độ được sử dụng đầu tiên

vào năm 1918 cho đến trước chiến tranh thế giới thứ hai)

Đây là thời kỳ phát triển mạnh mẽ, với nhiều công trình nghiên cứu tậptrung chủ yếu vào định nghĩa, cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệgiữa thái độ với hành vi Tiêu biểu là các công trình nghiên cứu của ThomasW.I và F Znaniecki (Mỹ) Nội dung chủ yếu của các nghiên cứu tập trung vàonghiên cứu định nghĩa cấu trúc, chức năng của thái độ và mối quan hệ giữa thái

độ và hành vi Đặc biệt trong hời gian này đã có hai tác giả phát hiện ra sựkhông nhất quán giữa thái độ và hành vi của con người (nghịch lý tatite)

- Thời kỳ thứ hai (Từ chiến tranh thế giới lần thứ hai cho đến cuối những

năm 1950)

Vì lý do chiến tranh diễn ra trên toàn thế giới, cùng với sự bế tắc trongquá trình lý giải các nghịch lý nảy sinh khi nghiên cứu thái độ, nên ở thời kỳ

Trang 8

lượng so với các thời kỳ trước đó Nội dung chủ yếu của thời kỳ này là sựhoài nghi vai trò của thái độ trong việc chi phối hành vi của con người kếtluận của Pieu về sự không nhất quán giữa thái độ và hành vi làm các nhà tâm

lý học phương tây hoài nghi Điều đó phần nào làm giảm đi sự quan tâmnghiên cứu của họ về vấn đề thái độ

- Thời kỳ thứ ba: (Đầu năm 1960 cho đến nay).

Các nước phương tây phục hồi và phát triển trở lại sau chiến tranh, cùngvới sự phát triển đi lên của đất nước các công trình nghiên cứu thái độ cũngđược tiếp tục với nhiều ý tưởng, quan điểm mới Ngoài việc kế thừa nhữngnghiên cứu trước đó các nhà tâm lý học thời kì này còn tập trung xem xétnhiều khía cạnh khác của thái độ nữa, nhất là các vấn đề về vai trò, chứcnăng, cấu trúc, như các nghiên cứu của M.Rokeach (1968), T.M.Ostrom(1969), U.J.Mc.Guire (1969)

Đặc biệt trong thời kì này xuất hiện các công trình nghiên cứu về mốiquan hệ giữa thái độ và hành vi của con người Đó là thuyết “Tự nhận thức”của Daryl Bem Và LeonFertinger Học thuyết của Leon Festinger và DarylBem đã có ảnh hưởng khá lớn tới các nghiên cứu sau này Không những thếcác nhà nghiên cứu cũng đưa ra phương pháp nghiên cứu hình thành, thay đổithái độ như phương pháp “đường ống giả vờ” cho phép đo các thái độ của conngười do Edward Jones và Harold Sigall (1971) đề ra cùng “kỹ thuật lấn từngbước một” của Janathan Freedman và Scott Fraer (1966)

Như vậy có thể thấy rằng trong suốt thời kì đầu tiên của thế kỉ 20 đến nay,

ở phương tây có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ và cùng với cácnghiên cứu đó là các phương pháp để tiếp cận và làm sáng tỏ về hiện tượngtâm lý đặc biệt này Bên cạnh những đạt được nó cũng tồn tại những hạn chếnhất định Theo Shikiew P.M hạn chế đó là sự bế tắc trong phương pháp luậntrong việc lý giải các số liệu thực nghiệm, không lý giải được các mâu thuẫngiữa thái độ và hành vi, tách rời hai thái độ với hoàn cảnh xã hội và với hoạtđộng

Trang 9

Như vậy qua nghiên cứu của tác giả Shikhirev P.M, chúng ta có thể nhậnthấy: Lịch sử nghiên cứu thái độ nói riêng và khoa học tâm lý nói chung, cũng trảiqua những thăng trầm cùng với lịch sử phát triển của con người Nghiên cứu củaShikhirev P.M có thể được xem là nghiên cứu vạch đường cho chúng ta khi muốn

đi sâu vào nghiên cứu thái độ ở một thời kì cụ thể nào đó

Cũng ở Liên Xô trước đây, ngoài Shikhirev P.M còn có hai tác giả đượccoi là có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của tâm lý học hơn cả Đó là D.NUzantze với công trình nghiên cứu về “Thuyết tâm thế”, và V.A Iadov vớinghiên cứu về “Thuyết định vị”

Dựa vào thực nghiệm D.N Uzantze, đã đưa ra học thuyết tâm thế Theoông tâm thế chính là trạng thái trọn vẹn của chủ thể, sẵn sàng tri giác các sựkiện và thực hiện hoạt động theo một hướng xác định Là cơ sở của tính tíchcực chọn lọc và có định hướng của chủ thể Tâm thế xuất hiện khi có sự tiếpxúc giữa các nhu cầu và các tình huống thỏa mãn nhân cách, giúp cá nhânthích ứng với điều kiện môi trường

Trong thuyết tâm thế ông đã nghiên cứu thái độ ở khía cạnh hành vi của conngười Thái độ được thể hiện ở hành vi, sử dụng tâm thế để điều khiển hành vi.Tuy nhiên ông mới chỉ đề cập đến quá trình thực hiện hóa các nhu cầu sinh lí, màkhông tính đến nhu cầu của con người, như vậy ông mới chỉ nghiên cứu thái độ ởmặt nổi bật của nó, tức là mặt hành vi và nghiên cứu của ông chưa đi sâu vàonghiên cứu bản chất của thái độ và kết quả sau những lần hành vi đó để lại

Tuy còn nhiều những hạn chế nhưng nghiên cứu của D.N Uzantze đãđóng vai trò quan trọng, đó là phương pháp luận khoa học cho nhiều lĩnh vựcnghiên cứu cụ thể của tâm lý học hiện đại

Dựa trên thuyết tâm thế của D.N Uzantze, V.A Iadov đã phát triển thànhkhái niệm tâm thế nhằm điều chỉnh hành vi, hoạt động xã hội của cá nhân.V.A Iadov cho rằng con người là một hệ thống các định vị khác nhau rất phứctạp, và hành vi của con người được điều khiển bởi các tổ chức định vị này.Theo ông tâm thế chỉ là các định vị ở bậc thấp Nó được hình thành khi có sựtiếp xúc giữa nhu cầu sinh lý và đối tượng cần được thỏa mãn nhu cầu đó ở

Trang 10

bậc cao hơn các định vị càng trở nên phức tạp hơn được hình thành trên cơ sởcác hoạt động giao tiếp của con người trong các nhóm nhỏ Định vị được hìnhthành từ thấp đến cao, điều chỉnh hành vi cá nhân trong các điều kiện xã hội.V.A Iadov đã nghiên cứu thái độ ở một góc nhìn hoàn toàn mới Nó đã thiếtlập được mối quan hệ giữa cách tiếp cận hành vi cá nhân từ các góc độ khácnhau như trong nghiên cứu ở Tâm lý học đại cương, Tâm lý học xã hội…

Tuy nhiên thiếu sót của V.A Iadov là đã không làm rõ được khái niệm

“định vị là gì?” Đồng thời cũng chưa chỉ ra được cơ chế diều chỉnh hành vibằng các định vị trong các tình huống xã hội

Ngoài các tác giả và các công trình nghiên cứu chủ yếu như trên nghiêncứu vấn đề thái độ ở Liên Xô còn phải kể đến thuyết thái độ nhân cách củanhà tâm lý học V.N Miasev Ông cho rằng “nhân cách là một hệ thống tháiđộ” Theo V.N Miasev thì phản xạ chính là cơ sở sinh lý học của thái độ có ýthức của con người với hiện thực V.N Miasev đã chia thái độ ra làm hai loại:Thái độ tích cực và thái độ tiêu cực Cùng với các quá trình, các thuộc tínhtâm lý thái độ là một trong những hình thức thể hiện tâm lý người Tuy nhiênông lại cho rằng các quá trình tâm lý như nhu cầu, thị hiếu, hứng thú, tìnhcảm, ý chí… đều là thái độ Có thể thấy việc xếp ngang hàng quan hệ với xãhội chưa thỏa đáng Cũng coi thuộc tính tâm lý của nhân cách là thái độ cũngchưa có cơ sở Tuy vậy V.N Miasev vẫn được xem là một trong những ngườiđặt nền móng cho tâm lý học theo quan điểm Macxit V.N Miasev cũng đãdùng thuyết thái độ nhân cách để sử dụng trong y học

Gần đây khi nghiên cứu nhân cách như là một phạm trù cơ bản của tâm lý học,V.F.lômp nhà tâm lý học xô viết đã đề cập đến thái độ chủ quan của nhân cách, sự chếđịnh của quan hệ xã hội đối với thái độ chủ quan thông qua hoạt động và giao tiếp.Nói tóm lại khi nghiên cứu thái độ các nhà Tâm lý học Liên Xô đã vậndụng cách tiếp cận hoạt động và nhân cách đối với thái độ và nhu cầu Trongđiều kiện hoạt động của cá nhân Coi thái độ như là một hệ thống từ đó lý giảihợp lý và khoa học và sự hình thành thái độ, vị trí, chức năng của thái độtrong quá trình điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân

Trang 11

Ở Đức những công trình nghiên cứu về thái độ tiêu biểu là các công trìnhnghiên cứu của các nhà Tâm lý học xã hội như: Vnâyzơ, V đorxtơ… ngoài nhữngvấn đề truyền thống, các nhà Tâm lý học Đức còn đề cập tới kiểu định hình thái độ,

cơ chế của thái độ, coi thái độ như là một thành tố của năng suất lao động tập thể.Như vậy, có thể thấy rằng trong suốt thời kỳ từ đầu thế kỉ XX cho đếnnay, ở phương Tây, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thái độ và cùngvới nó cũng xuất hiện nhiều phương pháp nghiên cứu mới về hiện tượng tâm

nó đối với hoạt động thực tiễn “tình cảm là nguồn động lực mạnh mẽ giúpcon người đạt được kết quả của nhận thức” (Nguyễn Quang Uẩn)

Khi nghiên cứu các thành tựu của Tâm lý học thế giới và thực tiễn Tâm lý họcnước nhà, các nhà Tâm lý học Việt Nam đã xác định một số quan niệm cơ bản về

vị trí, vai trò của thái độ trong quá trình thực hiện hoạt động giảng dạy và hoạt độnghọc tập Mục tiêu của giáo dục là hình thành ở người học có đầy đủ tri thức, rènluyện kỹ năng, kỹ xảo và là một trong những biểu hiện của động cơ học tập

Thái độ hoạt động là một bộ phận cấu thành, đồng thời là một thuộc tínhtrọn vẹn của ý thức tham gia hoạt động của chủ thể, là yếu tố quy định tính tựgiác, tích cực hoạt động của chủ thể và thể hiện bằng những cảm xúc, hànhđộng tương ứng Trong mối tương quan: Nhận thức, thái độ, hành động thìlĩnh hội tri thức, đóng vai trò cơ sở, có ý nghĩa định hướng, điều chỉnh soisáng cho thái độ, hành vi

Sự hình thành động cơ hoạt động của học sinh, sinh viên chịu sự chi phốicủa nhiều nhân tố trong đó có quan niệm, thái độ của gia đình đối với việc

Trang 12

học tập của con cái, thái độ, sự đánh giá của xã hội đối với việc học tập nóiriêng và các hoạt động khác nói chung.

Từ những quan niệm cũng như thực tiễn về việc nghiên cứu thái độ ởnước ta có thể kể ra một số công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề chúngtôi nghiên cứu như:

Tác giả - TS Nguyễn Kim Dung “tìm hiểu nhận thức và thái độ của sinhviên về định hướng tương lai” nội dung đề tài xoay quanh vấn đề nhận thức,thái độ của sinh viên về định hướng tương lai

Tác giả - sinh viên Lê Minh Tiến lớp 05 X1- Đại Học Văn Hiến - Hà Nội

“thái độ của học sinh, sinh viên đối với ngành giáo dục hiện nay” đề tài xoayquanh vấn đề thực trạng thái độ của học sinh, sinh viên đối với ngành giáo dụctrước những vấn đề bê bối và bất cập của ngành giáo dục trong thời gian gần đây Tác giả - sinh viên Vũ Thị Thu Hiền lớp 06 CTL trường Đại học Sư Phạm

- Đại học Đà Nẵng với đề tài “thái độ của sinh viên trường đại học sư phạmĐại học Đà Nẵng đối với vấn đề sống thử”

Tác giả Tạ Nhật Ánh với bài viết đôi điều suy nghĩ về thái độ của sinhviên đối với việc rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (năm 2006)

Tác giả - sinh viên Lưu Thị Lan Anh lớp 06 XH khoa khoa học xã hộinhân văn trường Đại học Tôn Đức Thắng với đề tài “thái độ của sinh viêntrường đại học Tôn Đức Thắng đối với việc thực hiện nếp sống văn minh”.Tóm lại ở trên thế giới và Việt Nam các công trình nghiên cứu về thái độ

có nhiều nhưng nghiên cứu về thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xãhội vẫn còn chưa được triển khai sâu rộng, nghiên cứu đang còn ở mức độriêng lẻ, tách bạch các tệ nạn xã hội Các nhà nghiên cứu bước đầu mới chỉkhái quát các vấn đề như thái độ, định nghĩa thái đô, thái độ học tập của sinhviên… các biện pháp giúp nâng cao thái độ cho sinh viên Ít đề cập đến vấn

đề thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội nói chung (đề cập riênglẻ) và thái độ của sinh viên tâm lý giáo dục trường đại học Hồng Đức nóiriêng chưa đề cập đến Do đó vấn đề chúng tôi chọn để nghiên cứu là mới mẻ

1.2 Một số khái niệm công cụ.

Trang 13

1.2.1 Các vấn đề lý luận về thái độ

1.2.1.1 Định nghĩa về thái độ.

Có nhiều định nghĩa khác nhau khi bàn về thái độ

Theo Allport “Thái độ là trạng thái của hệ thần kinh, là sự sẵn sàng phảnứng, là một trạng thái có tổ chức, được hình thành trên cơ sở kinh nghiệm quákhứ và nó điều khiển cũng như ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân.”

Năm 1971 nhà Tâm lý học người Mỹ H.C Triandis đã đưa ra một địnhnghĩa khác về thái độ Ông cho rằng “Thái độ là tư tưởng được tạo nên từ cácxúc cảm, tình cảm Nó gây tác động đến hành vi nhất định, ở một giai cấpnhất định, trong những tình huống xã hội nhất định Thái độ của con ngườibao gồm những điều mà họ cảm thấy và suy nghĩ về đối tượng, cũng như cách

sử dụng của họ đối với đối tượng đó.”

Trên cơ sở phân tích định nghĩa của Triandis và Allport, Marten đã đưa ramột định nghĩa “Thái độ là xu hướng thường xuyên đối với các tình huống xãhội, nó biểu thị sự thống nhất của ý nghĩ (nhận thức), xúc cảm và hành vi.Thái độ của con người có mối quan hệ chặt chẽ với hành vi vì thái độ đượcxác định bởi tính thống nhất bên trong hành vi đó.”

Còn gần đây, James, W Kalat đưa ra định nghĩa: “Thái độ là sự thích haykhông thích một sự vật hoặc một người nào đó của cá nhân, từ đó có ảnhhưởng tới hành vi của anh ta khi ứng xử với sự vật hay con người đó” Nhàtâm lý học John Traven cũng định nghĩa: “Thái độ là cách cảm xúc, tư duy vàhành động tương đối lâu dài đối với sự việc hay con người đó”

Trong từ điển tiếng Việt, Thái độ được định nghĩa là: “Cách nhìn nhận,hành động của cá nhân về một hướng nào đó trước một vấn đề, một tìnhhuống cần giải quyết Đó là tổng thể những biểu hiện ra bên ngoài của ý nghĩ,tình cảm của cá nhân đối với con người hay một sự việc nào đó

Nói tóm lại, đã có nhiều các định nghĩa khác nhau về thái độ Nhưng có thể nêu ra định nghĩa về thái độ thông dụng hiện nay, đó là:Thái độ là một bộ phận hợp thành, một thuộc tính trọn vẹn của ý thức, quy định tính sẵn sàng hành động của con người đối với đối tượng theo một hướng nhất định, được

Trang 14

bộc lộ ra bên ngoài thông qua hành vi, cử chỉ, nét mặt và lời nói của người

đó trong những tình huống, điều kiện cụ thể.

1.2.1.2 Cấu trúc của thái độ.

Trong từ điển xã hội học do Nguyễn Khắc Viện chủ biên có nhấn mạnh:

“tâm thế xã hội đã được củng cố, có cấu trúc phức tạp bao gồm các thành phần:nhận thức, xúc cảm, hành vi” Theo định nghĩa của A.Kossakowky vàJ.Compcher vào năm 1975 thì cấu trúc thái độ bao gồm có: niềm tin, lý tưởng,hứng thú, thái độ xã hội

Tuy nhiên các nhà tâm lý học vẫn đồng ý với cấu trúc 3 thành phần củathái độ do Smith đưa ra Theo ông thái độ bao gồm: tình cảm, nhận thức, vàhành động của cá nhân với đối tượng

Nói tóm lại cơ chế hình thành thái độ bao gồm 3 yếu tố: nhận thức, xúccảm, và hành vi:

Trước hết nhận thức là quan điểm, niềm tin hay những ý kiến cụ thể vềmột đối tượng nào đó của thái độ

Xúc cảm (tình cảm)là những rung động biểu thị thái độ riêng của conngười đối với hiện thực khách quan, có liên quan đến việc thỏa mãn haykhông thỏa mãn những nhu cầu vật chất, tinh thần của bản thân

Hành vi là những biểu hiện ra bên ngoài hay xu hướng hành động của cánhân với đối tượng của thái độ

Trong mối tương quan giữa nhận thức – thái độ, xúc cảm, và hành vi thìlĩnh hội tri thức là khâu trung tâm của mọi hoạt động Điều này cũng giốngvới quan niệm của các nhà tâm lý học Việt Nam như Nguyễn Xuân Thức,Nguyễn Quang Uẩn, khi nghiên cứu cấu trúc của thái độ đều cho rằng Thái độ

có cấu trúc 3 mặt là Nhận thức, hứng thú, và hành vi của cá nhân

Thái độ có chức năng thích nghi, biểu hiện giá tri, tiết kiệm trí lực, hiểubiết, tự vệ, thỏa mãn nhu cầu và nhu cầu điều chỉnh hành vi

1.2.1.3 Đặc trưng của thái độ.

Thái độ là một thuộc tính nhân cách nó bao gồm các đặc trưng sau:

Trang 15

- Có sự thống nhất: Thái độ của con người là một chỉnh thể thống nhất

bao gồm các mặt: nhận thức, hứng thú, hành vi Các mặt này có liên quan vớinhau, kết hợp chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất chứkhông phải là một phép cộng trừ đơn giản của các mặt riêng lẻ Vì vậy, khixem xét, đánh giá thái độ của con người với một đối tượng nào đó chúng tacần xem xét chúng trong mối liên hệ với các mặt của thái độ

- Có tính không ổn định: Dưới tác động của xã hội và giáo dục thì thái độ

của con người cũng có thể thay đổi, nó có thể thay đổi theo hai chiều hướngtích cực hoặc tiêu cực tùy theo khả năng nhận thức của cá nhân và tác độngcủa xã hội Tuy nhiên, thái độ thay đổi từ từ chứ không thay đổi ngay tứckhắc khi có tác động

- Có tính chân thực: Thái độ của con người biểu hiện rõ ra bên ngoài

thông qua các hành vi, hành động, thái độ của con người như thế nào thì hành

vi, hành động của con người như thế đó, con người không thể che dấu đượcthái độ của mình, như vậy thông qua hành vi, hành động chúng ta có thể biếtđược thái độ của con người

1.2.1.4 Quan hệ của thái độ với các thuộc tính của nhân cách:

Thái độ và ý thức cá nhân.

Trong tâm lý học, ý thức là: “Hình thức phản ánh tâm lý bậc cao, đặctrưng của loài người, là năng lực nhận thức được cái phổ biến và cái bản chấttrong hiện thực khách quan, do đó đồng thời là năng lực định hướng, điềukhiển một cách tự giác thái độ, hành vi, quan hệ giữa con người với hoàncảnh tự nhiên và xã hội” cấu trúc ý thức bao gồm 3 thành phần cơ bản:Nhận thức, thái độ và sự năng động của ý thức Thái độ là hình thức, là mộtthành phần của ý thức, biểu hiện tính tích cực, mối liên hệ trở lại của ý thứcvới hiện thực Chức năng của ý thức là định hướng điều chỉnh hoạt động.Như vậy, quan hệ giữa thái độ và ý thức là quan hệ hữu cơ giữa cái bộphận và tổng thể Thái độ phản ánh các hiện tượng của thế giới khách quanmột cách có chọn lọc, đồng thời là hình thức tác động trở lại của con người

Trang 16

đối với hiện thực Dựa vào mối quan hệ cùng loại giữa ý thức và thái độ cóthể thông qua ý thức để nghiên cứu thái độ và ngược lại.

Thái độ với nhu cầu.

Nhu cầu là sự đòi hỏi tất yếu của con người mà con người cần phải thỏamãn để tồn tại và phát triển trong điều kiện xã hội nhất định của con người, làđộng lực đầu tiên thúc đẩy hoạt động,là nguồn gốc của tính tích cực hoạt độngcủa con người Nhu cầu có thể hiểu theo hai nghĩa Nghĩa thứ nhất: Đó là điềukiện bên trong, một yếu tố bắt buộc phải có của hoạt động Theo nghĩa thứ haithì nhu cầu là cái hướng dẫn, là điều kiện hoạt động chủ quan của chủ thểtrong thế giới đối tượng khách quan

Nhu cầu là tiền nền tảng của hành động, là nguồn gốc của tính tích cực cánhân, kích thích cá nhân hành động để thỏa mãn nhu cầu thông qua quá trìnhthỏa mãn nhu cầu mà con người củng cố được các thành phần của thái độ như:Nhận thức,cảm xúc cũng như hành vi đối với đối tượng để thỏa mãn nhu cầu.Như vậy thái độ và nhu cầu có mối quan hệ khăng khít với nhau Thôngqua các biểu hiện của nhu cầu chúng ta có thể dự báo được về thái độ củanhân cách cá nhân và ngược lại

Thái độ và hứng thú.

Hứng thú là thái độ đặc biệt của cá nhân với đối tượng nào đó Có ý nghĩatrong đời sống, vừa có khả năng mang lại khoái cảm Giữa thái độ và hứngthú có mối quan hệ chặt chẽ thống nhất với nhau Hứng thú là một dạng thái

độ đặc biệt và thông qua hứng thú thái độ của con người được biểu hiện.Như vậy hứng thú có vai trò quan trọng, nó làm tăng hiệu quả của hoạtđộng nhận thức và hoạt động trí tuệ, làm tăng sức làm việc và làm nảy sinhkhát vọng hoạt dộng và hành động sáng tạo để chiếm lĩnh đối tượng đó Hứngthú càng ổn định thì thái độ càng được củng cố, con người càng ham muốntác động thường xuyên để chiếm lĩnh đối tượng

Thái độ với động cơ tham gia hoạt động phòng chống tệ nạn của sinh viên

Từ điển tâm lý học đã xác định động cơ có những nghĩa sau:

Trang 17

Là các kích thích hoạt động có liên quan đến việc thỏa mãn nhu cầu củachủ thể và định hướng tính tích cực đó.

Là đối tượng (vật chất hay tinh thần), kích thích và qui định sự lựa chọnhướng hoạt động và vì nó mà hoạt động được thực hiện

Là nguyên nhân (được ý thức) là cơ sở của sự lựa chọn các hành động vàhành vi cá nhân

Tâm lý học Macxit cho rằng: cơ chế cơ bản hình thành động cơ là thôngqua việc thực hiện nhu cầu trong quá trình tìm kiếm và biến đối tượng củanhu cầu thành động cơ (Lêônchiev A.N, Bô-Giô-vích N.I) Lêônchiev còn nói

rõ rằng: “động cơ là đối tượng của nhu cầu) Chức năng của động cơ là thúcđẩy định hướng hoạt động, chức năng tạo ý

Nhờ có động cơ mà con người tiếp cận đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầuđịnh hướng tư duy, tình cảm và hành động của mình Chính vì thế cùng vớinhu cầu, động cơ là tiền đề điều kiện hình thành thái độ đối với hiện thực Vìđộng cơ là sản phẩm của nhu cầu, là nhu cầu đã được nhận thức Do đó có thểhình dung các mối quan hệ dưới các thành phần theo sơ đồ sau: Nhu cầu –động cơ – thái độ - đối tượng

Thái độ được thể hiện rõ nét nhất trong quá trình đấu tranh động cơ

Nhà Tâm lý học Ba Lan Obukhovxki, một trong những người nghiên cứuđộng cơ hoạt động cá nhân, cho rằng khái niệm “tâm thế xã hội” (thái độ) cóthể trả lời 2 câu hỏi xuất hiện trong quá trình lựa chọn đấu tranh động cơlà:Tại sao trong điều kiện nhất định con người lại hành động theo cách xácđịnh Cái gì đã chỉ đạo họ lựa chọn chính động cơ đó ?

Như vậy, thái độ biểu hiện trực tiếp của động cơ, không phải ngẫu nhiên

mà có tác giả đồng nhất động cơ với thái độ Để phân biệt thái độ và động cơcác nhà tâm lý học cho rằng thái độ có liên quan nhiều hơn đối với đối tượng,

sự vật, hiện tượng có trong môi trường, còn động cơ liên quan đến hoạt động.Chúng ta thường nói động cơ hoạt động, trong khi đó lại nói thái độ với kếtquả hoạt động chứ không nói ngược lại

Trang 18

Ngoài các yếu tố kể trên thái độ có mối quan hệ với nhiều các thuộc tínhtâm lý khác nữa, tùy theo mục đích nghiên cứu mà chúng ta xét các mối quan

hệ đó thông qua biểu hiện của thái độ trong hoạt động thực tiễn của mỗi cánhân, mỗi đối tượng cụ thể

1.2.2 Sinh viên

Đối với mỗi người Việt Nam chúng ta, hai tiếng Sinh viên luôn gợi lênmột cái gì trong sáng, tốt đẹp Đó là thế hệ còn quá sớm để được coi là từngtrải, dày dạn, nhưng cũng quá muộn để bị coi là non nớt, thơ ấu Thế hệ sinhviên đứng giữa hai cái đó: Họ nhìn đời một cách nghiêm trang mà không mất

vẻ trẻ trung, hồn nhiên, họ là thế hệ của học hỏi, rèn luyện, ước mơ Họ làtuổi đẹp của một con người, thế hệ đẹp của một thời đại

Theo Kamila (CH Séc, hiện là SV)

Một SV đã, đang và sẽ luôn luôn là người học hỏi về cuộc sống, hành vi ứng

xử, nhu cầu, hy vọng, thành công và thất bại của con người từ bắt đầu của lịch sửđến thời điểm hiện tại, như một câu nói: "Hãy nghĩ về nguồn gốc của bạn, bạnkhông được tạo ra để sống chỉ như một động vật, mà là để theo đuổi nhữngphẩm chất và kiến thức" Đó cũng là vận mệnh của con người: học và học mãi,

cố không lặp lại sai lầm và để trở thành những người xây dựng một thế giới mới,trong đó mọi người đều sống trong hoà bình và hạnh phúc

Theo Camelia (SV khoa Tâm lý học, Rumani)

SV là tất cả những người cần học cái gì đó và không bao giờ ngại bỏ

công sức để theo đuổi tri thức

Theo Manuel Benito (Tây Ban Nha)

Con người là SV suốt cả cuộc đờii mình: học để học hỏi/biết

(study to learn), và học hỏi chính là sống Về SVVN, theo tôi, đó là thế hệđang cố gắng hết mình để xây lại xứ sở của họ đã nhiều nǎm bị chiến tranhgây thương tích đầy thân thể Tôi không biết nhiều về VN, nhưng tôi vẫn nhớnhững bức ảnh toàn những nỗi đau và nước mắt của quá khứ ở đất nước này

Trang 19

Nói tóm lại có nhiều quan điểm khác nhau về sinh viên nhưng có thể chung quy lại sinh viên chính là một người chính thức tham gia vào học tập, đặc biệt là ghi danh vào một trường đại học, cao đẳng và theo học chương trình đó.

Chuẩn mực xã hội có thể được biểu hiện dưới dạng ngôn ngữ (pháp luật,nội quy, hương ước) hay bất thành văn

Khoa học xã hội chia chuẩn mực xã hội thành:

- Chuẩn mực bắt buộc: phổ biến cho toàn xã hội và gắn với nó là sự trừngphạt công khai

- Chuẩn mực mong đợi: phổ biến cho toàn xã hội nhưng mang tính đặcthù cho các nhóm xã hội

- Một khái niệm nữa chúng ta cần hiểu về sai lệch xã hội:

Sai lệch xã hội là hành vi của cá nhân hoặc hành vi của nhóm người nào đókhông phù hợp với những gì được coi là bình thường của cộng đồng xã hội, cónghĩa là hành vi đó phần nào hoặc đi chệch những gì mà số đông những ngườikhác chờ đợi hoặc mong muốn của họ trong những hoàn cảnh nhất định

Sai lệch xã hội có thể được hiểu như là sự vi phạm các chuẩn mực hoặccác quy tắc đã được chấp nhận của một nhóm xã hội hay của một xã hội nhấtđịnh Hành vi sai lệch xã hội phá vỡ bức tranh thực tại, trái với sự mong đợicủa cộng đồng, đối lập với những hành vi của những người bình thường

Có thể chia sai lệch xã hội làm 2 loại:

Trang 20

Sai lệch tích cực là những hành vi thiếu bình thường so với chuẩn mực đạođức xã hội thực tế nhưng nó diễn ra theo hướng thực hiện những khuôn mẫu,tác phong, lý tưởng mà đa số con người trong xã hội đang muốn hướng tới.Sai lệch tiêu cực là những hành vi không được tán thành trong thực tế xãhội, nó thường là những khuôn mẫu tác phong dưới chuẩn mực văn hóa,nghĩa là thấp hơn mẫu trung bình của thực tế xã hội, những hành vi như thếnày thường bị xã hội lên án.

Dưới góc độ pháp lý, ta có thể hiểu tệ nạn xã hội như sau:

Tệ nạn xã hội là hiện tượng tiêu cực có tính lịch sử cụ thể biểu hiện bằngnhững hành vi vi phạm pháp luật và sai lệch các chuẩn mực, có tính lây lan,phổ biến gây nguy hiểm cho xã hội và được quy định trong pháp luật hình sự,pháp luật hành chính và các chuẩn mực đạo đức xã hội

Với quan niệm này, tệ nạn xã hội có 4 đặc trưng:

- Tệ nạn xã hội là những hành vi vi phạm pháp luật có tính phổ biến

- Tệ nạn xã hội là những hành vi sai lệch có tính phổ biến đối với cácchuẩn mực đạo đức xã hội (đạo đức lối sống, tập quán tiến bộ)

- Tệ nạn là những hiện tượng nguy hiểm cho xã hội, lây lan nhanh, gâytâm trạng xã hội nặng nề

- Tệ nạn xã hội phụ thuộc vào chế độ chính trị, điều kiện kinh tế xã hội vàtùy thuộc vào quan điểm tiếp cận Đặc trung này chỉ ra rằng pháp luật cầnbám sát thực tiễn để có nội dung điều chỉnh phù hợp

Tóm lại những nội dung trên ta có thể hiểu: Tệ nạn xã hội là một hiện tượng

xã hội bao gồm những hành vi làm sai lệch chuẩn mực đạo đức của con người khiến người ta lao vào con đường phạm pháp gây vi phạm đạo đức và pháp luật, để lại hậu quả xấu cho con người và đời sống xã hội Những tệ nạn xã hội xảy ra khi có mâu thuẫn, cạnh tranh giữa người với người trong cùng một cộng động vì cuộc sống sinh nhai của mình Vì vậy tệ nạn xã hội cũng đang là một vấn đề làm nhức nhối các nhà chức trách và cần sớm được loại bỏ

1.2.3.2 Các tệ nạn xã hội

* Tệ nạn ma túy

Trang 21

Theo Liên Hiệp Quốc, “ma túy là các chất hóa học có nguồn gốc tự nhiên

và nhân tạc khi xâm nhập cơ thể con người sẽ có tác dụng làm thay đổi tâmtrạng, ý thức và trí tuệ, làm cho con người bị lệ thuộc vào chúng gây nênnhững tổn thương cho từng cá nhân và cộng đồng, do vậy, việc vận chuyển,mua bán, sử dụng chúng phải được quy định chặt chẽ trong các văn bản phápluật và chịu sự kiểm soát của các cơ quan bảo vệ pháp luật”

Tệ nạn ma túy.

- Theo nghĩa rộng: nghiện ma túy là tình trạng một bộ phận trong xã hội

là những người có thói quen dùng các chất ma túy, thường tìm mọi thủ đoạn,hành vi để có được các chất ma túy và sử dụng chúng bất chấp sự nghiêmcấm của pháp luật và dư luận xã hội

- Theo nghĩa hẹp: Nghiện ma túy là sự lệ thuộc của con người cụ thể đốivới các chất ma túy Sự lệ thuộc đó đã tác động lên hệ thần kinh trung ươngtạo nên những phản xạ có điều kiện không thể quên hoặc từ bỏ được

Người nghiện ma túy là người thường xuyên lệ thuộc vào thuốc gây nghiện(được gọi chung là ma túy như: heroin, cocain, moocfine, thuốc phiện, cầnsa…) có sự thèm muốn mãnh liệt khó cưỡng lại được, khi không sử dụng matúy sẽ xuất hiện hội chứng cai (Theo Thông tư số 22/LB-TT ngày 21/7/1994Liên Bộ Lao động Thương binh và Xã hội – Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện,quyết định 167/TTg ngày 08/4/1994 của Thủ tướng Chính phủ)

Từ các khái niệm trên, ta thấy ma túy có những đặc tính:

+ Gây cho người sử dụng nó có sự ham muốn không kìm chế được là phải

sử dụng nó bằng bất cứ giá nào

Trang 22

+ Gây cho người sử dụng nó có khuynh hướng phải tăng liều dùng, tức làcàng ngày liều dùng càng phải cao hơn mới thấy có tác dụng.

+ Gây cho người sử dụng nó có sự nô lệ về mặt tinh thần và vật chất Nếu đãnghiện mà ngưng sử dụng sẽ bị hội chứng cai thuốc làm cho cơ thể vật vã, bịnhững phản ứng sinh lý bất lợi, thậm chí có thể đe dọa tính mạng người nghiện

* Tệ nạn mại dâm

Theo quan điểm của một số nhà tâm lý học cho rằng: “mại dâm là hành vinhằm thực hiện các dịch vụ quan hệ tình dục có tính chất mua bán trên cơ sởmột giá trị vật chất nhất định ngoài phạm vi hôn nhân”

Các nhà xã hội học khi nghiên cứu về mại dâm cho rằng: “mại dâm là mộtdịch vụ kinh doanh nhằm cung cấp sự thỏa mãn tình dục cho cá nhân trongnhững trường hợp nhất định, nó cung cấp tình dục mang tính cách đồi trụy vàtạo ra không khí vô đạo đức đáng ngờ và nguy hiểm, tác dụng như thuốc kíchthích đối với một số người nhất định, nó cung cấp và đáp ứng như cầu tìnhdục cho những người không cần sự gắn bó về tình cảm”

Vì vậy, một hành vi được coi là mại dâm khi có các dấu hiệu đặc trưng cơ bản là

có sự quan hệ trao đổi tình dục ngoài hôn nhân và quan hệ đó có bên mua và bên bán.Mua dâm và bán dâm là những hành vi được thực hiện ít nhất cũng là từkhi con người biết đến lịch sử của mình và ở một chừng mực nào đó, có thểgọi đó là “một nghề lâu đời nhất thế giới” Mua dâm là dùng vật chất để đổilấy sự thỏa mãn tình dục cho bản thân mình

Bán dâm là mang thân thể của mình làm thỏa mãn tình dục cho người khác

để kiếm tiền Hay nói cách khác đây là hành vi cho thuê thân thể của mình làmthỏa mãn tình dục cho người khác để được trả một giá trị vật chất nhất định

Mại dâm là nỗi đau nhức nhối của lương tâm nhân loại, cũng có thể xem

đó là sự sỉ nhục đối với lương tri

* Cờ, bạc:

Cờ và bạc vốn là hai trò chơi khác nhau Cờ khởi đầu là một trò chơi mangtính trí tuệ và được tổ chức tranh tài cùng với những môn thể thao như cờ vua, cờtướng, cờ cá ngựa Nhưng dần dà nó gắn với những trận ăn thua đi liền với tiền

Trang 23

bạc nên dân gian gọi là cờ bạc Cờ bạc chỉ những trò chơi ăn tiền Cùng với sựphát triển của xã hội, trò cờ bạc ngày nay cũng biến hoá muôn hình vạn dạng.

* Lô đề:

Khác với đánh bạc vốn đã bị cấm và ngăn chặn, nạn lô đề có xuất xứ kháchẳn vì nó dựa theo kết quả của xổ số - một hình thức hợp pháp được nhà nướcchấp nhận Khắp các nơi, từ thành phố đến nông thôn và đủ mọi tầng lớp nhândân đang lao vào tệ nạn này

Lô đề hiện nay chẳng khác gì một sòng bài vô cùng lớn, bao trùm toàn bộđất nước chúng ta Người tham gia có thể là bất cứ ai, ngoài những người dânbình thường ra thì cũng có không ít người là công an, bộ đội, rồi trí thức, cánbộ, tham gia chơi xổ số, lô đề Và tệ nạn này đã và đang dẫn đến những hệlụy nghiêm trọng cho xã hội

* Sống thử:

Hiện nay, “sống thử” đang là vấn đề gây nhiều tranh luận trong xã hội ViệtNam Đã có rất nhiều người viết về đề tài này nhưng để có cái nhìn đúng về kháiniệm “sống thử”, trước hết chúng ta cần hiểu đúng Sống thử có nghĩa là gì?

“Sống thử” là sống như vợ chồng trước khi kết hôn chính thức Ngườinam và người nữ cùng thỏa thuận sẽ sống chung với nhau như một cặp vợchồng đã cưới nhau thật sự

”Sống thử” diễn ra ở nhiều đối tượng khác nhau, nhưng đa phần là nhữngngười sống xa nhà như: Công nhân, nhân viên, sinh viên Trong xã hội hiện nay,phần đa giới trẻ đều muốn “sống thử” Nhưng sau một quá trình “sống thử”, córất ít cặp bước đến “sống thật” Bởi khi yêu mọi thứ đều rất đẹp, nhưng khi sốngvới nhau thì va chạm rất nhiều, dẫn đến xung đột, rồi vỡ mộng và chia tay Chưađăng ký kết hôn, chưa có sự ràng buộc về luật pháp, trách nhiệm thì người ta

có thể dễ dàng bỏ nhau Đây là vấn đề đang nhận được sự quan tâm của đôngđảo dư luận Có một số người ủng hộ quan điểm “sống thử” Một số người chorằng “sống thử là điều không nên” Vậy chúng ta phải đứng ở đâu, nhìn từ góc

độ nào để dưa ra lời khuyên đúng đắn và hữu hiệu cho giới trẻ?

* Cá độ bóng đá:

Trang 24

Định nghĩa:

Cá độ bóng đá là việc dùng hiện vật (tiền, hoặc các vật dụng, giấy tờ cógiá quy đổi được ra tiền) để đặt cược vào sự thắng thua của các đội bóngtrong mỗi trận đấu Tệ nạn này đã và đang gây ra nhiều hệ lụy, hậu quảnghiêm trọng cho gia đình, cá nhân, xã hội

*Bạo hành

Bạo hành là tất cả những hành vi, thái độ, cử chỉ, lời nói… làm ngườikhác bị tổn thương về thể xác cũng như tinh thần, trong cuộc sống riêng tưcũng như nơi công cộng”

* Mê tín dị đoan

Mê tín dị đoan, theo định nghĩa, là niềm tin rằng một hiện tượng xảy ra vì

là hậu quả của một hiện tượng khác, trong khi thật ra không có mối liên hệnguyên nhân hậu quả gì giữa những hiện tượng này Trong thực tế, người tathường làm (hoặc tránh làm) một hành động gì đó để một sự việc gì khác xảy

ra (hoặc không xảy ra) trong khi thật sự là hành động này không tạo thành haysinh ra bởi sự việc này

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến tệ nạn xã hội.

Tệ nạn xã hội ảnh hưởng rất xấu đến sức khỏe, tinh thần, đạo đức của conngười, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, rối loạn trật tự an ninh, xã hội, suy thoáigiống nòi, làm mất tư cách công dân Điều đặc biệt nguy hiểm nhất là TNXHthường diễn ra ở lứa tuổi thanh thiếu niên, học sinh, sinh viên, những ngườiđược coi là chủ nhân tương lai của đất nước Có nhiều nguyên nhân khiến các

em dễ xa vào TNXH, và chúng tôi có thể kể đến các nguyên nhân cơ bản sau:

1.3.1 yếu tố cá nhân

Do bản thân trẻ chưa thật sự trưởng thành Suy nghĩ, ý chí còn non nớt cónhận thức chưa thật sự đầy đủ về các TNXH, các em dễ bị lôi kéo, ảnh hưởngcủa lối sống vội, sống gấp, sống hưởng thụ một cách cực đoan

Mặt khác lập trường của các em chưa thật sự vững vàng nên dễ bị lôi kéo,

rủ rê, có lý tưởng sống đúng đắn

Trang 25

Bản thân cá nhân lười lao động, thích hưởng thụ, vì lười lao động nên sinh

ra trộm cắp, cướp giật , tham gia vận chuyển ma túy trái phép để kiếm lời

Do cá nhân tò mò, thích thú muốn khám phá của lạ (ví dụ thử hút ma túy

để biết cảm giác, đánh cờ bạc để thử vận may)

Cá nhân thiếu hiểu biết về các TNXH, thiếu kiến thức phòng chốngTNXH nên không ý thức được việc làm của mình nên dễ dàng sa vào TNXH

Do lối sống buông thả, thói ăn chơi đua đòi, lối sống sa đọa, có tính hiếu

kỳ, hiếu thắng cũng khiến cá nhân dễ xa vào TNXH

Cá nhân thích chơi trội, tìm khoái lạc, bị áp lực học tập, gia đình,, tâm lý căngthẳng, buồn chán cũng dễ dẫn đến xa vào TNXH như ma túy, mại dâm…

1.3.2 yếu tố gia đình

Do cấu trúc gia đình không hoàn hảo, cha mẹ ly hôn, mồ côi, chỉ có

mẹ hoặc cha… các em thiếu sự quan tâm đầy đủ, đúng mức của gia đình, lạisống xa nhà, ở trong môi trường xã hội phức tạp dễ bị tiêm nhiễm những ảnhhưởng xấu, những tác động tiêu cực từ phía môi trường

Gia đình có nhiều mâu thuẫn, bất hòa, làm cho tâm lý trẻ chán chường,căng thẳng dễ đi tìm đến sự giải tỏa, dễ sống buông thả, sống bất cần đời, từ

đó dễ sa vào TNXH, đặc biệt như ma túy…

Một khía cạnh khác nữa có thể kể đến là do gia đình quá đông con, bố mẹkhông quan tâm đầy đủ đến các con, tạo cho trẻ tâm lý mặc cảm cho rằng bố mẹkhông yêu thương, không cần mình Từ đó không coi trọng giá trị của chính bảnthân mình Đồng thời phương pháp giáo dục của bố mẹ đối với con cái cũng rấtquan trọng, nó ảnh hưởng lớn đến tư tưởng, thói quen, nếp sống của trẻ ngay từ bé Như tục ngữ vẫn có câu: Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng chính vì vậynếu trẻ sống trong môi trường gia đình có bố mẹ có phương pháp giáo dụckhông tốt cũng rất dễ xa vào TNXH

Gia đình mất đi những giá trị truyền thống như lòng thủy chung, hiếuthảo, tình làng nghĩa xóm làm cho trẻ mất đi những chuẩn mực để noi theo.Thêm một lý do nữa từ phía gia đình là do điều kiện kinh tế gia đình yếukém, hoặc có hoàn cảnh éo le Khiến trẻ bi quan, chán nản nhiều khi rơi vào

Ngày đăng: 05/11/2013, 21:45

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Các trang mạng : http://www.Tamlyhoc.net http://edu.go.vnhttp://www.baomoi.com http://www.anninhthudo.vn Link
1. A.N. Lêônchiép. Hoạt động – giao tiếp – nhân cách. NXB giáo dục, Hà Nội, 1989 Khác
2. M.Reuchlin. Tâm lý học đại cương- tập I, II. NXB thế giới. Hà Nội 1995 Khác
3. Bộ giáo dục và đào tạo(2006), HIV/AIDS và giáo dục, UNAIDS – Hà Nội Khác
4. Bộ giáo dục và đào tạo (2004), nội dung cơ bản về phòng chống ma túy Khác
5. Bộ giáo dục và đào tạo (1998), sổ tay công tác giáo dục phòng chống nhiễm HIV/AIDS, ban chỉ đạo phòng chống AIDS, ma túy- NXB giáo dục, Hà Nội Khác
6. Bộ giáo dục và đào tạo (2005), tài liệu giáo dục giới tính, phòng chống tệ nạn mại dâm cho HSSV các trường ĐH, CĐ và THCN, Hà Nội Khác
7. Các văn bản hướng dẫn về phòng, chống và kiểm soát ma túy Khác
8. Phạm Minh Hạc, Lê Khanh, Trần Trọng Thủy. Tâm lý học – tập I.NXB giáo dục, Hà Nội, 1995 Khác
9. Trần Trọng Thủy (chủ biên). Bài tập thực hành Tâm lý học. NXB giáo dục, Hà Nội, 1990 Khác
10. Nguyễn Quang Uẩn, Trần Hữu Luyến, Trần Quốc Thành. Tâm lý học đại cương. NXB Giáo dục, Hà Nội 1995 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Nhận thức của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của TNXH đến cá nhân, gia đình, xã hội. - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Bảng 1 Nhận thức của sinh viên về mức độ ảnh hưởng của TNXH đến cá nhân, gia đình, xã hội (Trang 30)
Bảng 2: Nhận thức của sinh viên về vai trò của công tác phòng chống TNXH. - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Bảng 2 Nhận thức của sinh viên về vai trò của công tác phòng chống TNXH (Trang 31)
Bảng 4: Mức độ tích cực tham gia các hoạt động phòng chống TNXH của sinh viên - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Bảng 4 Mức độ tích cực tham gia các hoạt động phòng chống TNXH của sinh viên (Trang 34)
Bảng 5: Tính tích cực của sinh viên trong việc phát hiện hành vi TNXH - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Bảng 5 Tính tích cực của sinh viên trong việc phát hiện hành vi TNXH (Trang 36)
Bảng 6: Cỏc yếu tố ảnh hởng đến TNXH - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Bảng 6 Cỏc yếu tố ảnh hởng đến TNXH (Trang 38)
BẢNG CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO Kí hiệu, chữ viết tắt Được hiểu là - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
hi ệu, chữ viết tắt Được hiểu là (Trang 48)
Bảng các ký hiệu, chữ viết tắt dùng trong báo cáo Mục lục - Thái độ của sinh viên đối với vấn đề tệ nạn xã hội
Bảng c ác ký hiệu, chữ viết tắt dùng trong báo cáo Mục lục (Trang 49)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w