- Bánh rau: mặt phía nội mạc bình thường, mặt về phía tử cung do khối máu tụ chèn ép bị lõm xuống... Tử cung: Các mạch máu ở vùng rau bám bị xung huyết và vỡ ra, tạo thành những mảng nh
Trang 1RAU BONG NON
BỘ MÔN SẢN
Trang 2Định nghĩa
Rau bong non là bánh rau bám đúng vị trí nhưng
bị bong ra trước khi sổ thai , hậu quả là thai sẽ suy rất nhanh và chết
Trang 3Những yếu tố nguy cơ
Trang 4Những yếu tố nguy cơ
Mẹ nghiện rượu, thuốc lá.
Sang chấn vào vùng tử cung : bị đánh, chấn thương
do lao động, giao thông,
Co kéo bánh rau khi chuyển dạ : dây rau ngắn, ấn đáy tử cung quá mạnh khi chuyển dạ,
Trang 5GIẢI PHẪU BỆNH
Trang 6- Khối máu tụ sau rau: có thể nhỏ hoặc to từ 500 - 1500g, khối huyết tụ này làm bong dần bánh rau, nếu khối huyết tụ nhỏ rau bong ít, thai có thể sống Nếu khối huyết tụ lớn làm rau bong hoàn toàn thì thai chết
- Bánh rau: mặt phía nội mạc bình thường, mặt về phía
tử cung do khối máu tụ chèn ép bị lõm xuống
Trang 7Tử cung: Các mạch máu ở vùng rau bám bị xung huyết và vỡ ra, tạo thành những mảng nhồi huyết ở tử cung, nhẹ thì chỉ có mảng nhồi huyết ở vùng rau bám, nặng thì nhồi huyết lan toả khắp tử cung, có khi tổn thương lan đến dây chằng rộng, các phần phụ và nhiều cơ quan khác, các ổ nhồi huyết sẽ làm tách các sợi cơ tử cung, dịch và máu sẽ thấm vào ổ bụng, cơ tử cung sẽ mất khả năng đàn hồi và khả năng co bóp, nên sau khi đẻ dễ bị đờ tử cung
- Các phần phụ và phủ tạng khác: trong các trường hợp nặng và rất nặng các tổn thương sẽ lan toả đến vòi trứng, buồng trứng, thận, gan, tuỵ tạng các tổn thương nhồi huyết cũng giống như ở
tử cung
Trang 8
Tổn thương vi thể thường là tổn thương các mạch máu, các mao mạch bị căng, vỡ, phù nề và xung huyết
Trang 9Nhanh chóng tạo nên tình trạng thiếu dưỡng khí do:
- Nơi rau bong làm cắt đứt một phần sự trao đổi dưỡng khí giữa mẹ và con
- Tử cung co cứng và tình trạng hạ huyết áp ở mẹ làm giảm lưu lượng máu từ tử cung qua rau
Trang 10- Choáng do mất máu
- Tình trạng rối loạn đông máu: giảm hoặc mất hoàn toàn fibrinogen, hội chứng đông máu rải rác trong lòng mạch và hiện tượng tiêu fibrinogen thứ phát
Trang 11Các thể lâm sàng
Thể ẩn (0): thường không có dấu hiệu lâm sàng, chỉ tình cờ phát hiện qua siêu âm hoặc sau đẻ kiểm tra bánh rau thấy có khối máu tụ sau rau.
Thể nhẹ (I)
Thể vừa (II)
Thể nặng (III): phong huyết tử cung – rau; Hội chứng Couvelaire.
Trang 12 Thai thường bình thường hoặc có thể suy nhẹ.
Có thể ra ít máu âm đạo.
Sau đẻ, rau thường bong ngay sau sổ thai, kiểm tra có cục máu tụ sau rau.
Trang 14Thể trung bình
Thực thể
Cơn co tử cung cường tính rõ
tử cung cứng.
Thai suy nặng : tim thai chậm, rời rạc, không đều.
loãng đỏ hoặc đen, không đông theo tay Nếu đã vỡ ối,
sẽ thấy nước ối lẫn máu loãng
Trang 16Thể nặng (Phong huyết tử cung – rau; Hội
chứng Couvelaire)
phù to, protein niệu rất cao, nhưng huyết áp có thể bình thường hoặc cao vừa, thậm chí có thể hạ (do có sốc nặng kèm theo).
mạch nhanh, vật vã hoặc lơ mơ.
tục
Trang 17Thể nặng
Thực thể
Chiều cao tử cung tăng rất nhanh.
Tử cung co cứng liên tục , không rõ cơn co, sờ tử cung cứng như gỗ, không nắn được phần thai nhi.
Tim thai thường không nghe thấy (thai chết).
Khám trong: thấy cổ tử cung thường cứng , có máu loãng đỏ hoặc đen, không đông theo tay Nếu
đã vỡ ối, sẽ thấy nước ối lẫn máu loãng
Trang 19Tiến triển và biến chứng
Băng huyết do đờ tử cung và rối loạn yếu tố đông máu.
Suy thận, suy gan cấp và mạn tính.
Mất tử cung.
Tử vong mẹ rất cao, đặc biệt ở thể nặng do sốc, rối loạn tuần hoàn và nhiễm độc nặng.
Thai suy và chết
Trang 21- Tuyến chuyên khoa:
+ Giảm đau, an thần, giảm co (Papaverin hoặc Dolosal…)
+ Sản khoa: bấm ối sớm, thúc đẩy cuộc đẻ kết thúc nhanh; nếu khó khăn thì chỉ định mổ lấy thai ngay
+ Ngoại khoa: Trong mổ cần đánh giá sát tổn thư¬ơng tại tử cung để có quyết định đúng đắn là bảo tồn tử cung hay phải cắt bán phần tử cung vì trong thể nhẹ triệu chứng lâm sàng đôi khi không rõ rệt
Trang 23Tuyến chuyên khoa:
+ Chống choáng:
* Bù khối l ượng tuần hoàn (truyền máu và dịch thay thế máu) bù điện giải, Cortison (sử dụng Hydrocortison đường truyền tĩnh mạch )
* Kháng Histamin tổng hợp và các thuốc phong bế thần kinh giao cảm
* Trợ tim
Trang 24+ Chống rối loạn đông máu
* E.A.C (4 -8g tiêm tĩnh mạch); Transamin (250mg - 1000mg truyền TM)
* Fibrinogen (2 - 4g tiêm TM)+ Sản khoa: Chỉ lấy thai ra khi CTC đã mở rộng, sau bấm ối ngôi thai tiến triển nhanh, thường đẻ dễ dàng
Các tr ường hợp: CTC mở ít, nguy cơ diễn biến nặng lên phải chỉ định mổ ngay để cứu mẹ và con
+ Ngoại khoa: Sau khi mổ lấy thai cần đánh giá tổn thư ơng thực thể tại tử cung để quyết định bảo tồn tử cung hay phải cắt bán phần để cầm máu
Trang 25Thể nặng
- Tuyến cơ sở: Thực hiện song song 2 việc
+ Cấp cứu ngay khi bệnh nhân vào: Thở oxy liên tục và thiết lập ngay đường truyền tĩnh mạch (bằng loại dịch truyền tại cơ sở đang có sẵn) và sử dụng các thuốc hồi sức, thuốc giảm đau, giảm co qua đư ờng truyền tĩnh mạch
+ Mời ngay kíp mổ tuyến chuyên khoa về hồi sức
và mổ cấp cứu tại chỗ, tránh vận chuyển bệnh nhân gây nặng hơn tình trạng sốc
Trang 26Tuyến chuyên khoa:
+ Thở oxy liên tục+ Chống choáng tích cực bằng truyền máu tươi, dung dịch thay thế máu, bù điện giải, corticoid, kháng Histamin tổng hợp, trợ tim, giảm đau (liều trị như ở thể trung bình)
+ Chống rối loạn đông máu: E.A.C, Transamin, Fibrinogen liên tục (tất cả tiêm theo đường tĩnh mạch như điều trị
+ Chỉ đinh mổ lấy thai nhanh (mặc dù con đã chết)
và cắt ngay TC bán phần vì thường là tử cung đã tổn th ương nặng (phải cắt tử cung tới hết vùng có nhồi huyết bầm tím)
Chú ý: Xử trí thể nặng phải nhanh chóng, phải tiến hành
song song hồi sức chống sốc tích cực với mổ cắt tử cung
Trang 27- Tiếp tục theo dõi chức năng gan thận để điều trị kịp thời khi có biến chứng.
- Theo dõi tình trạng nhiễm khuẩn sau đẻ sau mổ để kịp thời điều chỉnh liều kháng sinh và phối hợp kháng sinh hợp lý
Trang 28Phòng chống
sớm các trường hợp thai nghén có nguy cơ cao, có thái độ xử trí đúng và kịp thời.
dạ tại các tuyến có phẫu thuật và hồi sức tốt.
dưỡng, khi có thai.
uống viên sắt, khám thai định kỳ.