1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

LỊCH sử NGOẠI KHOA THẾ GIỚI (NGOẠI cơ sở)

47 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 769,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Ngày nay, các nhà phẫu thuật điều trị bệnh khác với các đồng nghiệp trong thời kỳ tiền sử, và một số mặt trong công việc của họ là khó mà diễn tả hết được... THEO CELSUS, NHÀ PHẪU THUẬ

Trang 1

LỊCH SỬ NGOẠI KHOA THẾ GIỚI

Trang 2

TRUYỀN THỐNG LÂU ĐỜI

Lịch sử ngoại khoa có truyền thống lâu đời và đáng

trân trọng

Trong mỗi lĩnh vực đều có những người có công lớn như những vị anh hùng: Paré, Vesalius, Hunter, Lister, Halsted

Tuy nhiên cũng có nhiều tên tuổi bị lãng quên, nhất là trong 100 năm qua.

Trang 3

XƯA VÀ NAY

Lịch sử của bệnh tật cũng lâu đời như lịch sử của loài người và vì ngoại khoa phải đáp ứng với bệnh tật cho nên lịch sử của nó cũng xưa như vậy.

 Những hình thái cơ bản của bệnh tật như u bướu,

nhiễm trùng, chấn thương và dị tật bẫm sinh vẫn

không thay đổi

Ngày nay, các nhà phẫu thuật điều trị bệnh khác với các đồng nghiệp trong thời kỳ tiền sử, và một số mặt trong công việc của họ là khó mà diễn tả hết được.

Trang 5

Celsus đã nói về viêm như sau: đặc điểm của viêm có 4,

đó là đỏ, sưng, nóng và đau ( cuốn III)

Tuy nhiên, điều lý thú nhất là khi ông nói về phẫu

thuật, ông ta đã đi sâu vào những chi tiết quan trọng về một vài loại thuốc cho phẫu thuật

Trang 6

THEO CELSUS, NHÀ PHẪU THUẬT

PHẢI

«Ngày nay, nhà phẫu thuật phải trẻ hay trẻ hơn tuổi

thật với bàn tay mạnh và chắc, không bao giờ run và sẵn sàng xử dụng tay trái cũng như tay phải với con mắt sáng và sắc bén và với một tinh thần quả cảm, đầy nhân tính, do vậy, ông ta nguyện chữa lành bệnh,

không rung cảm khi người bệnh rên la, không mổ quá nhanh nhưng không cắt bỏ nhiều hơn cái cần cắt bỏ và ông ta tránh không làm bất cứ điều gì dư thừa để cho người bệnh bị đau nhiều hơn”.

 

Trang 7

NGOẠI KHOA, CẤP THẤP

Vào thế kỷ thứ 13 và 14, ngoại khoa bị các nhà nội

khoa chê bai và xa lánh do nội khoa là những bác sĩ tốt nghiệp đại học, mở ra khắp châu Âu.

Theo luật lệ thời đó, chỉ có nội khoa mới là khoa y cơ bản Các nhà ngoại khoa thì ít học nên ở giai cấp thấp hơn so với các nhà nội khoa trong xã hội Các nhà

ngoại khoa chỉ được học nghề thủ công

Tuy nhiên, Clifford Albutt đã viết “ Nhờ vậy, ngoại

khoa mới thoát ra khỏi ngành y học nghệ thuật tự do

và tự nó đã bung ra”.

 

Trang 8

LUẬT PHÁP HẠN CHẾ

Ngành ngoại khoa cổ bị luật pháp hạn chế Luật

Babylon ở thời kỳ Hammurabi chặt tay các nhà phẫu thuật mổ thất bại

Các nhà ngoại khoa phải làm việc trong những điều kiện hết sức khắc nghiệt Người ta hạn chế số lượng và loại bệnh được giải quyết bằng phẫu thuật

Ở Ba Tư cổ, các nhà ngoại khoa không được phép

hành nghề cho đến khi họ đã mổ thành công 3 trường hợp Nếu thất bại, nhà ngoại khoa bị tuyên bố trọn đời không đủ năng lực để hành nghề.

 

Trang 9

NGOẠI KHOA ẤN ĐỘ

Ấn Độ cổ có một di sản y học phong phú và phần lớn được biết qua các tác giả phương Tây

Susruta mô tả hơn 100 dụng cụ phẫu thuật như kim, trocars, nẹp xương, kim khâu, chỉ

Những nhà ngoại khoa Ấn độ là những người rất

khéo tay trong phẫu thuật tạo hình, đặc biệt là tạo hình mũi và tai.

 

Trang 10

HỌC THUYẾT CỦA GALEN

Y học ở thời Trung cổ phụ thuộc mù quáng vào học

thuyết của Galen ở thế kỷ thứ 2 sau công nguyên, gắn liền với khái niệm dịch thể bệnh của ông ta

Đây là điều mà Galen viết từ ý tưởng của Hippocrates,

5 thế kỷ trước đó Điều trọng yếu nhất của bệnh lý là từ thể dịch như dịch mật vàng, mật đen, máu và bạch

huyết ứ đọng hay bài tiết quá mức vào những vị trí sai trong cơ thể Khi tụ dịch quá mức, thể hiện rõ ràng như một túi mủ thì có thể rạch và tháo ra

Những phẫu thuật theo học thuyết này hiếm khi được thực hiện và thực hiện đúng theo ý nghĩa của bệnh

học.

Trang 11

HH PHẪU THUẬT - THỢ CẠO

Đến năm 1542, hiệp hội các nhà phẫu thuật - thợ cạo được thành lập và có những quyền lợi và trách nhiệm riêng

Các nhà ngoại khoa thì không làm công việc của thợ cạo và thợ cạo thu hẹp công việc của họ trong ngành nha

Hiệp hội kéo dài trong 200 năm Đến năm 1745 các nhà

ngoại khoa tự tách ra và thành lập hội riêng, hoạt động độc lập vì ganh tị về đặc quyền và để bảo vệ những lợi ích riêng

tư của họ

Năm 1800 vua George III cho phép thành lập đại học ngoại khoa hoàng gia London, và sau này là đại học ngoại khoa hoàng gia Anh được Nữ hoàng Victoria cấp phép năm

1843.

 

Trang 12

PETER LWE

Peter Lwe, nhà ngoại khoa người Anh (1950-1613) đã nói trong “A Discourse of the Whole Art of Chirurgerie

“(1597), cuốn sách về ngoại khoa đầu tiên viết bằng

tiếng Anh Ông hỏi “ What is chirurgie” Đó là một

khoa học hay nghệ thuật thực hiện trên cơ thể con

người, dùng tay để hành động trong mục đích làm lành vết thương ngay có thể phải xử dụng cả những phương thuốc theo kinh nghiệm”

Sách của ông gồm 5 đề mục mà Paré cũng đã ứng

dụng, đó là cắt bỏ, nâng đỡ và thêm vào, đặt lại vào chỗ

cũ khi bị thoát ra ngoài, tách ra, nối lại những cái gì bị tách rời

Trang 13

THOMAS VICARY

Thomas Vicary, nhà ngoại khoa giữa thế kỷ 16 là tác giả nói về một nhà ngoại khoa giỏi phải như thế nào?  

“Những đức tính mà người ấy trở thành một nhà ngoại khoa giỏi là: 4 điều rất đặc biệt mà họ cần có là phải học tốt, phải có kinh nghiệm, phải khéo tay và phải

thực hành thành thạo

Trang 14

Y HỌC THỜI PHỤC HƯNG: PARE

Paré sinh năm 1510 tại Maine, học y khoa như là một người tập sự thợ cạo-phẫu thuật và rồi đến Paris, ông được nhận làm ở bệnh viện Hôtel-Dieu Paris là một bệnh viện thí nổi tiếng, như là một nhà ngoại khoa.

Tại đây ông học giải phẫu học, kỹ thuật mổ xẻ và trở nên rất khéo léo trong thao tác, rất uyên bác về kiến thức y khoa đương thời

Ông đã phục vụ cho 4 vị vua liên tiếp của Pháp, là một nhà ngoại khoa quân đội và ông viết sách bằng tiếng Latin nói về ông và các đồng nghiệp phẫu thuật-thợ cạo của ông không được đào tạo hàn lâm Những bài viết của ông cũng xuất sắc như kết quả phẫu thuật mà ông đã làm

Trang 15

LÒNG ĐỎ TRỨNG, DẦU HOA

HỒNG, NHỰA THÔNG CỦA PARE

Dùng một dung dịch gồm lòng đỏ trứng, dầu hoa hồng, nhựa thông để băng các vết thương do đạn là một

khám phá quan trọng của Paré Những người được điều trị bằng phương pháp của ông đã mang lại kết

quả rất tốt Kết quả đáng ghi nhớ nầy đã làm cho Paré càng nổi tiếng thêm Sau này, Giovanni da Vigo áp

dụng phương pháp của Paré và các nhà ngoại khoa

khác để điều trị vết thương do đại bác.

Chúng ta thấy cách xử trí ngoại khoa của Paré rất

giống như chúng ta, vì vậy mà tên ông vẫn còn vang mãi cho đến ngày nay Paré đã nhấn mạnh tầm quan trọng của giải phẫu học mà ở thời kỳ của ông, các nhà ngoại khoa chưa ai thấy rõ điều đó

Trang 16

GIẢI PHẪU HỌC

 

Việc mổ xẻ, phẫu tích giải phẫu học một lần nữa bắt đầu tiến hành thường xuyên ở cuối thế kỷ 13.

Cuốn sách cầm tay đầu tiên về phẫu tích là do

Mondino de Luzzi viết năm 1316 để hướng dẫn sinh viên

Những phẫu tích đầu tiên thường giới hạn ở cơ thể thú vật và thỉnh thoảng họ mổ xác để xác minh nguyên

nhân tử vong, nhất là trong những trường hợp nghi ngờ Những phẫu tích này thường là trách nhiệm của các nhà phẫu thuật

Đến giữa thế kỷ 15, phẫu tích cơ thể đã trở nên bình thường đến mức người ta đã xây dựng cho nó một cơ

sở đặc biệt ở Padua.

Trang 17

hướng dẫn sinh viên Ông nhấn mạnh tầm quan trọng của giải phẫu học đối với phẫu thuật

Phần mỡ đầu trong cuốn Fabrica ông viết: “Tại Papua, ở một viện đại học danh tiếng nhất thế giới, tôi đã có một bài diễn thuyết về ngoại khoa Vì giải phẫu có liên quan đến ngoại khoa nên tự tôi phải nghiên cứu về cấu trúc con

người

Trang 18

PHẪU THUẬT VÀ GIẢI PHẪU

Truyền thống dạy cả phẫu thuật và giải phẫu được tiếp tục bởi những giáo sư ngoại khoa ở các trường đại học y khoa cho đến đầu thế kỷ 20.

William Cheselden, người Anh thế kỷ 18 đã viết cuốn giáo khoa giải phẫu học tiêu chuẩn được xử dụng trong gần 100 năm

Henry Gray, đã viết cuốn “Giải phẫu học, mô tả và phẫu

thuật” vào năm 1859, cùng năm với cuốn sách nổi tiếng của Darwin nói về “Nguồn gốc của các loài vật”.

Morgagni đã viết cuốn «on the seat and cause of disease by anatomy», GS háng đầu ở Papua

Trang 19

BỆNH HỌC VÀ PHẪU THUẬT

THỰC NGHIỆM: HUNTER

John Hunter sinh ở Scotland năm 1728, là một sinh viên trong một gia đình lớn Ông là một sinh viên

nghèo và ít thích học ngoại trừ môn lịch sử tự nhiên

Vào năm 20 tuổi, ông học nghề ở người anh trai là

William, 10 năm sau ông đã giảng dạy giải phẫu học cho các bác sĩ phẫu thuật ở London Các trường giải phẫu trở nên hợp pháp ở Anh vào năm 1745 với sự

phân rã của hiệp hội thợ cạo-phẫu thuật

3 lĩnh vực do Hunnter kết hợp: phẫu thuật, sinh lý học

và bệnh học

 

Trang 20

PHẪU THUẬT BẢO TỒN HUNTER

Hunter còn nghiên cứu cột các nhánh động mạch trong các trường hợp có túi phình Bằng nghiên

cứu thực nghiệm trên đùi nai, ông xác định rằng

tuần hoàn bàng hệ đủ đáp ứng sau khi cột các túi

phình động mạch Đây là một tiến bộ lớn trong PP phẫu thuật và phẫu thuật bảo tồn trở nên chủ đạo trong thế kỷ 19

Hunter đã được Fielding Garrison, một nhà sử học

y khoa nói: ‘Với sự phát minh của Hunter, phẫu

thuật không còn xem như là một kỹ thuật đơn thuần

để trị bệnh mà nó đã bắt đầu đóng vị trí như một

ngành khoa học y học, bám trụ vững chắc trên cơ sở sinh lý học và bệnh lý học”.

 

Trang 21

ASTLEY COOPER

Là một nhà ngoại khoa nổi tiếng nhất ở London vào đầu thế kỷ 19 Ông là học trò của Hunter và là một bác

sĩ phẫu thuật tài ba

Bí quyết thành công của ông, không nghi ngờ gì nữa là hết lòng nghiên cứu giải phẫu học

Ông đã thực hành và dạy ở phòng phẫu tích riêng của ông Ông nói: “Đêm đến, khi tôi đặt đầu lên gối mà

không phẫu tích được một cái gì đó trong ngày, xem như tôi đã mất trọn ngày hôm ấy”

 

Trang 22

Năm 1864, Warren nhận xét rằng, chữa lành vết

thương lần đầu ít khi đạt được khi hành nghề ở thành phố Liền sẹo thì đầu hiếm khi xảy ra trong 20 năm

hành nghề của ông

Warren tin rằng, một phần nguyên nhân là do thị

trưởng thành phố, người chịu trách nhiệm về tình

trạng mất vệ sinh thường thấy

Vì thế, một vài nhà ngoại khoa bắt đầu có cái nhìn xa hơn, ngoài tổn thương tại chổ là do môi trường, nhưng

họ không có quyền cải thiện tình trạng trên

Trang 23

CHỐNG ĐAU

Có nhiều trở ngại trong việc phát triển phẫu thuật

Đau, nhiễm trùng, chảy máu, sốc là 4 khó khăn nhất phải vượt qua

Mỗi một vấn đề đều được tranh cãi, thảo luận và ranh giới của phẫu thuật ngày càng được mở rộng

Do lĩnh vực phẫu thuật ngày càng mở rộng nên kiến thức của mỗi nhà ngoại khoa riêng lẻ ngày càng trở nên hạn chế.

 

Trang 24

VÔ CẢM TOÀN THÂN

Crawford W Long dùng Ether

Yames Young Simpson ở Edinburgh giới thiệu

Trang 25

KIỂM SOÁT NHIỄM TRÙNG

Lịch sử về ý tưởng được gọi là “laudable pus” rất khó xác định

Vài tác giả xưa xem sự hình thành mủ như một dấu hiệu bình thường của tiến trình lành vết thương Song họ cũng thấy rằng sự xuất hiện của một ổ mủ trong vết thương

không phải là điều đáng mừng

Ý tưởng này kéo dài 100 năm cho đến khi các nhà phẫu

thuật giải quyết vấn đề nhiễm trùng có hiệu quả

Clifford Allbutt nêu các kinh nghiệm của mình ở y văn, một năm trước khi vô khuẩn được giới thiệu rõ ràng: “mủ được lấy ra khỏi vết thương thì vết thương sẽ lành tốt như khi

không có mủ”

 

Trang 26

JOS EPH LISTER

Sinh ở Essex năm 1827, học ở viện đại học London Ông tốt nghiêp năm 1847 và lấy bằng y khoa năm 18.

Năm 1861 ông đến giữ chức chủ tịch phẫu thuật bệnh viện hoàng gia ở Glasgow

Qua 8 năm ông đã phát triển những nguyên tắc và kỹ thuật chống nhiễm khuẫn

Năm 1869 ông được gọi về Edinburgh để nhận chiếc ghế của Syme

Năm 1877 ông đến bệnh viện King’s College ở London

Năm 1897, ông là bác sĩ đầu tiên được xếp vào hàng quí tộc cao quí.

 

Trang 27

LUIS PASTEUR, JOHN ERIC ERICHSEN

Phát minh ra học thuyết vi trùng, Lister hiểu hoàn toàn ý nghĩa công việc của Pasteur,

John Eric Erichsen, người Anh, nhà phẫu thuật có uy tín nhất vào cuối thế kỷ 19 có những kết luận :”Không nghi ngờ gì nữa, đã đạt đến giới hạn phát triển cuối cùng của chuyên khoa này, của nghề nghiệp chúng tôi

Như bất kỳ một nghệ thuật nào khác, phẫu thuật là những thao tác mềm mỏng, mô phỏng, nó chỉ có thể đạt đến một điểm tuyệt vời nào đó Một nghệ thuật có thể được cải biên cải tiến, có thể khác nhau, nhưng không thể hoàn toàn đạt đến một mức độ hoàn hảo tuyệt đối

Không thể luôn có những trường mổ rõ ràng cho những nhát dao Hẳn phải có 1 phần cơ thể con người vẫn là bất khả xâm phạm với những

dụng cụ hay chí ít là đôi bàn tay nhà phẫu thuật

Nếu không là hoàn toàn thì chúng tôi cũng gần như đạt đến những giới hạn cuối cùng này”.

 

Trang 28

PHẪU THUẬT BỤNG

Có nhiều vấn đề kỹ thuật phức tạp mà các bác sĩ phẫu thuật thế kỷ 19 phải đương đầu như nối lại 2 đầu một tạng rổng, đặc biệt là mạch máu và ruột

Ngoài phẫu thuật thành công viêm ruột thừa cấp,

Billroth còn mổ các trường hợp ung thư thực quản, hẹp môn vị do ung thư dạ dày, cải tiến kỹ thuật mổ

thoát vị bẹn của Bassini, Halsted, và phẫu thuật bụng

để chữa trị nhiều bệnh khác như bướu buồng trứng đã gây chấn động lớn trong y giới vào cuối thế kỷ 19.

Guillaume Dupuytren, 1 trong những nhà phẫu thuật đuợc đào tạo căn bản nhất, và giỏi nhất ở Pháp đã đặt vấn đề phẫu thuật như Hunter đã làm là sinh lý thực nghiệm và bệnh học. 

Trang 29

FITZ, MC BURNEY

Fitz vào năm 1886 đã viết bài viêm ruột thừa rất nổi

tiếng, và khẳng định đây là một bệnh ngoại khoa

Năm 1889, Mc Burney, giáo sư phẫu thuật trường đại học y, bệnh viện Roosevelt, New York, đã mô tả điểm đau nhất trong viêm RT

Trong nhiều thập kỷ sau năm 1860, các bệnh viện ở

Đức đã có nhiều phát minh về khoa học y học Các nhà phẫu thuật Đức đã khảo sát ổ bụng và tạo nên sự chú ý của giới y khoa về tầm quan trọng của chẩn đoán giải phẫu.

Trang 30

SINH LÝ VÀ PHẪU THUẬT

 Ở thế kỷ 19, nhiều nhà sinh lý học đã trở thành những nhà phẫu

thuật thực nghiệm hàng đầu như Fraincois Magendie, Claude Bernard ở Pháp, Rudolph Heidenhain ở Đức Bernard và Charles Huette viết cuốn sổ tay phẫu thuật

Ngược lại, cũng có những phẫu thuật gia hàng đầu trở nên uyên bác về sinh lý học và có nhiều đóng góp trong lĩnh vực này

Benjamin Collins Brodie, một phẫu thuật gia quân đội qua 2 đời vua ở Anh đã có những nghiên cứu quan trọng về tác dụng của rượu và curare lên tim và hệ hô hấp.

William Beaumont, trong 3 năm chăm sóc vết thương của một

bệnh nhân tên là St Martin, bị đạn súng hỏa mai bắn vào ngực trái năm 1822, đã trở nên nổi tiếng nhờ những nghiên cứu về

chức năng dạ dày

Trang 31

ĐÀO TẠO BÁC SĨ PHẪU THUẬT

Trong 100 năm qua, có nhiều bài viết về đào tạo bác sĩ phẫu thuật

Học nghề đơn giản hay thậm chí chỉ là kiểu cha truyền con nối giữ vai trò thống trị cho đến thế kỷ 19

Các nhà phẫu thuật ngày nay đòi hỏi phải có những nền tảng về bệnh học, cách nghiên cứu, cách mổ,

chăm sóc hậu phẫu, và công việc đào tạo cũng có một quá trình lịch sử như lịch sử ngoại khoa.

 

Trang 32

Năm 1889, bệnh viện Johns Hopkins thành lập,

Halsted tham gia phẫu thuật và trở thành trưởng khoa ngoại trú.

Trang 33

Năm 1904, Halsted đã nói trong cuốn Yale “chúng ta cần một hệ thống,

và chúng ta sẽ chắc chắn có nó Hệ thống đào tạo không chỉ cung cấp nên những bác sĩ phẫu thuật, mà phải là những nhà phẫu thuật tài giỏi nhất

Những người với sức trẻ sẽ thúc đẩy đất nuớc chúng ta nghiên cứu

phẫu thuật Họ sẽ hiến dâng sinh lực, cuộc sống của mình để xây dựng nên một nền khoa học phẫu thuật tiêu chuẩn”

Ông nhấn mạnh sự cải cách phải đến từ cả 2 phía bệnh viện và trường đại học Và trường y khoa phải đóng vai trò kiểm soát, chỉ đạo bệnh viện của nó.

17 bác sỉ thường trú và hơn 50 trợ lý thường trú của ông đã mang

“phương pháp Đức” đến nhiều trung tâm giảng dạy ở Mỹ

Ngày nay, các thế hệ thứ 2, 3 từ trường Johns Hopkins này vẫn còn

thấy ở các trung tâm mô phạm ở Mỹ.

 

 

Ngày đăng: 23/02/2021, 18:19

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w