b) Các cô, chú công nhân đang tích cực làm việc trong nhà máy... Gạch dưới quan hệ từ được dùng để nối các vế câu trong mỗi câu ghép sau: a) Hôm nay là giỗ cụ tổ năm đời của thần nhưng[r]
Trang 1PHIẾU HỌC TẬP MÔN TIẾNG VIỆT
A Phân môn Tập đọc
Bài 1: Phong cảnh đền Hùng
- Phụ huynh cho học sinh đọc bài tập đọc “Phong cảnh đền Hùng” Sách giáo khoa Tiếng Việt
5 tập hai trang 68, 69 (2 lần)
- Phụ huynh đọc từng câu hỏi trang 69 cho học sinh trả lời
Trang 2Bài 2: Cửa sông
- Phụ huynh cho học sinh đọc bài tập đọc “Cửa sông” Sách giáo khoa Tiếng Việt 5 tập hai trang 48, 49 (2 lần)
- Phụ huynh đọc từng câu hỏi trang 49 cho học sinh trả lời
Trang 3B Phân môn Chính tả
- PH đọc cho các em viết bài “Núi non hùng vĩ” (Tác giả : Nguyễn Tuân) vào vở.
Trang 4C Phân môn Kể chuyện
NGUYỄN KHOA ĐĂNG
Nguyễn Khoa Đăng là một vị quan án có tài xét xử, được dân mến phục.
Một lần, có anh hàng dầu gánh hàng ra chợ bán Lợi dụng lúc anh bận đong dầu, có kẻ thò tay vào bị lấy trộm tiền Khi biết bị mất tiền, anh hàng dầu nhớ hồi nãy có một người
mù quanh quẩn bên gánh hàng, đuổi mấy cũng không đi Anh đoán hắn là kẻ cắp, bèn gửi gánh hàng cho người quen rồi đi tìm người mù Người này ra sức chối, nói rằng mình mù biết tiền để đâu mà lấy Hai bên xô xát, lính bắt họ giải lên quan án Nguyễn Khoa Đăng Thấy người mù khăng khăng chối không ăn cắp tiền, quan hỏi:
- Anh có mang tiền theo không?
Người mù đáp:
- Có, nhưng đấy là tiền của tôi.
- Cứ đưa đây Của ai rồi sẽ rõ.
Trang 5Khi người mù móc tiền ra, quan sai người múc ra một chậu nước, bỏ số tiền vào chậu Một lát thấy trên mặt nước có váng dầu nổi lên Người mù hết đường chối cãi, đành nhận tội.
Vụ án tưởng đã xong, không ngờ quan lại phán:
- Tên ăn cắp này là kẻ giả mù vì nếu mù thật thì làm sao hắn biết người bán dầu để tiền ở đâu mà lấy.
Ông sai lính nọc tên mù ra đánh, kì đến khi hắn mở mắt mới thôi Lúc đầu, người
mù còn chối, chỉ sau 3 roi hắn đành mở cả hai mắt.
Trong thời kì ông Nguyễn Khoa Đăng làm quan án, ở Quảng Trị có truông nhà Hồ
là nơi bọn gian phi dùng làm sào huyệt đón đường cướp của.
Để bắt bọn cướp, quan sai chế một loại hòm gỗ kín có lỗ thông hơi, vừa một người ngồi, có khóa bên trong để người ở trong có thể mở tung ra dễ dàng Ông kén một số võ sĩ, đem theo vũ khí, ngồi vào hòm Rồi sai quân sĩ ăn mặc như dân thường, khiêng những hòm ấy qua truông, ra vẻ như khiêng những hòm của cải nặng Lại cho người đánh tiếng
có một vị quan to ở ngoài Bắc sắp sửa về quê sẽ đi qua truông cùng những hòm của cải quý Bọn cướp đánh hơi, nghĩ đây là cơ hội làm ăn hiếm có, rình lúc đoàn người đi qua cửa truông thì cướp, rồi hí hửng khiêng những hòm nặng ấy về tận sào huyệt.
Về đến nơi, vừa đặt hòm xuống thì những cái hòm bật mở toang, các võ sĩ ngồi trong tay lăm lăm vũ khí bất ngờ xông ra đánh giết bọn cướp Đang lúc hoảng
D BÀI ĐỌC THẦM:
NGƯỜI ĐI TÌM “CHÂN TƯỚNG” SỰ SỐNG
“Tôi còn có thể sống được bao lâu nữa?” – Đó hầu như là câu hỏi đầu tiên của rất nhiều người sau khi biết mình mắc bệnh nan y, không thể qua khỏi Năm 1981, lúc 40 tuổi, Xti – phen Guôn –
đơ, nhà sinh vật học người Mĩ, cũng đã thốt lên với các bác sĩ câu hỏi này khi ông biết mình đã bị ung thư…
Những người mắc bệnh giống ông đều biết rằng khoảng một nửa trong số họ sẽ bị tử thần
“rước đi” chỉ sau 8 tháng nữa Họ than vãn đầy tuyệt vọng: “Thế là hết, tôi chỉ còn có 8 tháng nữa thôi!” Nhưng Guôn – đơ thì khác, suy nghĩ của ông lúc đó là: “Chẳng phải ta vẫn còn tới 50% hi vọng đó sao?
Để có thể “gia nhập” vào nhóm người sống quá 8 tháng, Guôn – đơ đã ham khảo ý kiến của các chuyên gia miễn dịch học về phương thức chữa trị tốt nhất Ông nhận được từ họ câu trả lời:
Trang 6“Trong cuộc chiến với ung thư, yếu tố quan trọng nhất là tinh thần Có được lòng tin, ắt sẽ chiến thắng mọi thứ!”
Vậy là Xti – phen Guôn – đơ quyết tâm dùng ý chí để chiến đấu với căn bệnh quái ác ấy Ông vẫn tiếp tục công việc giảng dạy về địa chất, sinh vật học và khoa học lịch sử ở Đại học Ha – vớt Ngoài ra, Guôn – đơ còn đảm nhiệm cương vị chủ biên tạp chí Khoa học – một tạp chí có uy tín nhất trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và là Chủ tịch Hội xúc tiến khoa học Mĩ Năm 1982, dựa vào những phát hiện khảo cổ, Guôn – đơ đã cùng những người cộng tác với mình cho ra đời lí luận về nguồn gốc tiến hóa với các loài khác hẳn với thuyết tiến hóa truyền thống của Đác – uyn
“Lí thuyết tiến hóa cân bằng giai đoạn” – tên công trình nghiên cứu của ông – có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của khoa học sinh vật đương đại Và sau này, những phát hiện mới, phong phú của ngành khảo cổ đã càng chứng minh tính đúng đắn trong quan điểm tiến hóa có tính nhảy vọt của Xti – phen Guôn – đơ…
Cuối cùng, sau khi hoàn thành tác phẩm nổi tiếng dày 1500 trang có tên “Kết cấu của lí luận tiến hóa”, Xti – phen Guôn – đơ – nhà sinh vật học uyên bác của thế giới, đã qua đời tại Niu Óoc ngày 20-5-2001, hưởng thọ 60 tuổi Như vậy, ông đã không chỉ “lọt” vào danh sách những người
“sống quá 8 tháng” mà còn có thêm 20 năm cống hiến hết mình cho khoa học Cuộc đời của Xti-phen Guôn – đơ là tấm gương sáng về một nghị lực phi thường
(Theo Vũ Bộ Tuyền)
Khoanh tròn chữ cái trước câu trả lời đúng:
1 Giáo sư Xti – phen Guôn – đơ đã dùng “loại thuốc” nào để chiến đấu với căn bệnh ung thư quái ác?
a Dùng một loại thuốc đặc trị cực mạnh
b Dùng ý chí kiên cường
c Tự chế ra một loại thuốc đặc biệt cho riêng mình
2 Ông đã sống thêm được bao lâu nữa kể từ khi phát hiện ra bệnh?
3 Những việc Xti – phen Guôn – đơ đã làm được sau khi bị ung thư là gì?
a Giảng dạy về địa chất, sinh học, lịch sử ở trường Đại học Ha – vớt
b Chủ biên tạp chí Khoa học, Chủ tịch Hội xúc tiến khoa học Mĩ
c Viết công trình khoa học “Lí thuyết tiến hóa cân bằng giai đoạn”
d Viết các báo cáo về cách phòng ngừa và chữa trị bệnh ung thư
e Viết tác phẩm “Kết cấu của lí luận tiến hóa” dày 1500 trang
4 Xti – phen Guôn – đơ là người nổi tiếng vì:
a Ông là người bị bệnh ung thư sống rất lâu nhất
Trang 7b Là tấm gương sáng về nghị lực phi thường, không những vượt qua bệnh tật để sống mà còn
có những đóng góp lớn lao cho xã hội
c Là người viết được công trình khoa học có số trang nhiều nhất
5 Những từ nào có thể thay thế từ chân tướng trong tên bài Người đi tìm “chân tướng” của sự sống?
a ý nghĩa
b lí lẽ
c nguồn gốc
6 Viết một vài câu nói lên suy nghĩ của em về Xti – phen Guôn – đơ.
* LUYỆN TỪ VÀ CÂU
1 Từ nào sau đây trái nghĩa với từ tuyệt vọng?
2 Từ ý chí thuộc từ loại nào?
3 Gạch dưới những quan hệ từ nào trong câu sau?
Cuộc đời của Xti- phen Guôn – đơ là tấm gương sáng về một nghị lực phi thường.
4 Câu nào sau đây là câu ghép? Hãy khoanh tròn vào chữ cái trước câu ấy.
A Vậy là Xti – phen Guôn – đơ quyết tâm dùng ý chí để chiến đấu với căn bệnh quái ác ấy
B Ông vẫn tiếp tục công việc giảng dạy về địa chất, sinh vật học và khoa học lịch sử ở Địa học Ha – vớt
C Như vậy, ông đã không chỉ “lọt” vào danh sách những người “sống quá 8 tháng” mà ông còn có thêm 20 năm cống hiến hết mình cho khoa học
5 Điền r, d hoặc gi vào chỗ trống để hoàn chỉnh đoạn văn sau:
Biển luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như … âng cao lên, chắc nịch Trời …ải mây trắng nhạt, biển mơ màng …ịu hơi sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm …ông …ó, biển đục ngầu, …ận …ữ
6 Chọn từ trong ngoặc điền vào chô trống trong mỗi câu sau cho phù hợp:
(công nhân, công dân, công chức)
a) Trong cơ quan, anh ấy là một ………… mẫu mực
b) Các cô, chú ……… đang tích cực làm việc trong nhà máy
c) Tôi luôn tự hào là một……….Việt Nam
7 Gạch dưới quan hệ từ được dùng để nối các vế câu trong mỗi câu ghép sau:
Trang 8a) Hôm nay là giỗ cụ tổ năm đời của thần nhưng thần không có mặt ở nhà để cúng giỗ.
b) Qua khỏi thềm nhà, người đàn ông vừa té quỵ thì một cây dầm sập xuống
c) Quan lập tức cho bắt chú tiểu vì chỉ kẻ có tội mới giật mình
d) Làng mạc bị tàn phá nhưng mảnh đất quê hương vẫn đủ sức nuôi sống tôi như ngày xưa nếu tôi có ngày trở về
8 Điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ trống trong từng câu sau:
a) Cò thì chăm chỉ học hành ……… Vạc lại lười biến, ham chơi
b) Cô giáo đã nhắc Đạt nhiều lần ………… Đạt vẫn nói chuyện trong giờ học
c) Trời hạn hán mấy năm liền…… muông thú trong rừng bắt đầu thiếu nước
Trang 9HƯỚNG DẪN TRẢ LỜI CÂU HỎI MÔN TẬP ĐỌC - DÀNH CHO PHỤ HUYNH
A Phân môn tập đọc
Bài 1: Phong cảnh đền Hùng
Câu 1: Hãy kể những điều em biết về các vua Hùng.
Trả lời: Các vua Hùng là những người đầu tiên lập nước Văn Lang, đóng đô ở thành Phong
Châu, vùng Phú Thọ, cách ngày nay khoảng 4000 năm
*Giới thiệu thêm cho HS biết: Theo truyền thuyết, Lạc Long Quân phong cho người con trai trưởng làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang Triều đình có tướng văn, tướng võ Con trai của vua gọi là Lang, con gái của vua gọi là Mị Nương Khi cha chết thì ngôi vua truyền cho con trai trưởng, mười mấy đời nối ngôi đều lấy hiệu là Hùng Vương.
Câu 2: Tìm những từ ngữ miêu tả cảnh đẹp của thiên nhiên nơi đền Hùng.
Trả lời:
- Trước đền, khóm hải đường đâm bông rực rỡ
- Những cánh bướm nhiều màu sắc bay dập dờn như đang múa quạt xòe hoa
- Bên trái là đỉnh Ba Vì vòi vọi
- Dãy Tam Đảo như bức tường xanh sừng sững
- Phía xa xa là núi Sóc Sơn…
- Những cánh hoa dại, những gốc thông già… che mát và tỏa hương thơm…
Câu 3: Bài văn đã gợi cho em nhớ đến một số truyền thuyết về sự nghiệp dựng nước và giữ
nước của dân tộc Hãy kể tên các truyền thuyết đó
Trả lời:
- Cảnh núi Ba Vì vòi vọi gợi nhớ đến truyền thuyêt Sơn Tinh, Thủy tinh – một truyền thuyết
nói về sự nghiệp dựng nước
- Núi Sóc Sơn gợi nhớ truyền thuyết Thánh Gióng – một truyền thuyết chống giặc ngoại
xâm
- Cột đá cao năm gang, rộng khoảng ba tấc gợi nhớ truyền thuyết về An Dương Vương – một
truyền thuyết về sự nghiệp dưng nước và giữ nước
Bài 2: Cửa sông:
Câu 1: Trong khổ thơ đầu, tác giả dùng những từ ngữ nào để nói về nơi sông chảy ra biển? Cách giới thiệu ấy có gì hay?
Trang 10Trả lời: Trong khổ đầu tác giả dùng từ ngữ: Là cửa, nhưng không then, khoá/ Cũng không khép lại bao giờ Cách nói rất đặc biệt: cửa sông là một cái cửa nhưng khác mọi cái cửa thường
(không có then, có khoá) Cách dùng từ ngữ đó gọi là chơi chữ
Câu 2: Theo bài thơ, cửa sông là địa điểm đặc biệt như thế nào?
Trả lời: Là nơi dòng sông gửi phù sa lại để bồi đắp bãi bờ, nơi nước ngọt “ùa” ra biển rộng, nơi
nước biển “tìm” về với đất liền, nơi giao hòa giữa nước ngọt với nước mặn tạo thành vùng nước
lợ, nơi cá tôm hội tụ, những con thuyền câu lấp lóa đêm trăng, nơi những con tàu kéo còi giã từ mặt đất, nơi tiễn đưa người ra khơi,
Câu 3: Phép nhân hóa ở khổ thơ cuối giúp tác giả nói lên điều gì về “tấm lòng” của cửa sông đối với cội nguồn?
Trả lời:
(* Những hình ảnh nhân hóa được sử dụng trong bài thơ là: Dù giáp mặt cùng biển rộng/ Cửa sông chẳng dứt cội nguồn/ Lá xanh mỗi lần trôi xuống/ Bỗng nhớ một vùng núi non.
=> Phép nhân hóa giúp tác giả nói “tấm lòng” của cửa sông không quên cội nguồn.
D BÀI ĐỌC THẦM:
1 – b; 2 – c; 3 – a; 4 – b; 5 – a
6
Tham khảo: Em rất khâm phục Xti-phen Guôn-đơ, nhà sinh vật học người Mĩ Khi biết mình
bị bệnh nan y, ông không hề bi quan như nhũng người khác mà vẫn lạc quan tin tưởng: “Có được lòng tin ắt sẽ chiến thắng mọi thứ” Bằng nghị lực phi thường, ông không những sống thêm được hai mươi năm mà còn đóng góp cho khoa học những công trình đồ sộ - ngay chính những người khỏe mạnh bình thường cũng không thể làm nổi Ông đã trở thành tấm gương cho tất cả mọi người
* LUYỆN TỪ VÀ CÂU
1 – b; 2 – c; 3: của, về; 4 – C
5 Biển luôn thay đổi màu tùy theo sắc mây trời Trời xanh thẳm, biển cũng thẳm xanh, như dâng cao lên, chắc nịch Trời rải mây trắng nhạt, biển mơ màng dịu hơi sương Trời âm u mây mưa, biển xám xịt, nặng nề Trời ầm ầm giông gió, biển đục ngầu, giận giữ.
6 Chọn từ trong ngoặc điền vào chô trống trong mỗi câu sau cho phù hợp:
(công nhân, công dân, công chức)
a) Trong cơ quan, anh ấy là một công chức mẫu mực.
b) Các cô, chú công nhân đang tích cực làm việc trong nhà máy.
Trang 11c) Tôi luôn tự hào là một công dân Việt Nam.
7 Gạch dưới quan hệ từ được dùng để nối các vế câu trong mỗi câu ghép sau:
a) Hôm nay là giỗ cụ tổ năm đời của thần nhưng thần không có mặt ở nhà để cúng giỗ
b) Qua khỏi thềm nhà, người đàn ông vừa té quỵ thì một cây dầm sập xuống
c) Quan lập tức cho bắt chú tiểu vì chỉ kẻ có tội mới giật mình
d) Làng mạc bị tàn phá nhưng mảnh đất quê hương vẫn đủ sức nuôi sống tôi như ngày xưa nếu tôi có ngày trở về
8 Điền quan hệ từ thích hợp vào chỗ trống trong từng câu sau:
a) còn
b) nhưng
c) nên