Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội có tác động đến sự phát triển DLST của tỉnh Saravan - Phạm vi nghi
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ KHOA KINH TẾ CHÍNH TRỊ
ThS Lê Văn Sơn
Sinh viên thực hiện:
PHENGSAVANH NOLA
HUẾ, 2018
Trang 3và các bạn lưu học sinh Lào tại Huế đã động viên tinh thần cho tôi trong những ngày xa quên Cuối cùng con xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc về tình cảm mà bố mẹ và gia đình đã dành cho con trong suốt thời gian học tập
Sinh viên thực hiện Phengsavanh Nola
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Tình hình nghiên cứu 2
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của đề tài 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI 5
1.1 Quan niệm, vai trò và phân loại du lịch sinh thái 5
1.1.1 Quan niệm, đặc trưng và mục tiêu của lịch sinh thái 5
1.1.2 Vai trò của du lịch sinh thái 13
1.1.3 Phân loại du lịch sinh thái 14
1.2 Nội dung phát triển du lịch sinh thái 15
1.2.1.Thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế 15
1.2.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa bản địa 16
1.2.3 Bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên 16
1.3 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái 16
1.4 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển du lịch sinh thái bền vững 18
1.4.1 Tiêu chuẩn về kinh tế 18
1.4.2 Tiêu chuẩn về xã hội – con người 18
1.4.3 Tiêu chuẩn về môi trường 18
1.4.4 Nguồn nhân lực 19
1.4.5 Chất lượng dịch vụ 19
1.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở một số địa phương 20
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại nước Cộng Hoà Dân chủ Nhân dân Lào 20
Trang 51.5.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái của một số địa phương ở nước Cộng Hoà Xã hội
chủ nghĩa Việt Nam 21
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI TỈNH SARAVAN CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 25
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của tỉnh Saravan 25
2.1.1 Tổng quan về địa lý kinh tế tỉnh Saravan 25
2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh Saravan 26
2.2 Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái tỉnh Saravan 27
2.2.1 Tài nguyên du lịch sinh thái tự nhiên của tỉnh Saravan 27
2.2.2 Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn tỉnh Saravan 28
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Saravan nước CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN Lào trong thời gian qua 29
2.3.1 Loại hình du lịch sinh thái tại tỉnh Saravan 29
2.3.2 Hoạt động kinh doanh du lịch tại tỉnh Saravan 32
2.4 Khảo sát khách du lịch và du lịch sinh thái về các nội dung liên quan đến hoạt động du lịch sinh thái ở tỉnh Saravan 33
2.4.1 Lượng khách du lịch đến tỉnh Saravan 33
2.4.2 Đối tượng khách du lịch và du lịch sinh thái đến tỉnh Saravan 37
2.4.3 Thời gian lưu trú và tính thời vụ trong du lịch sinh thái ở tỉnh Saravan 39
2.5 Tình hình đầu tư phát triển du lịch sinh thái của tỉnh Saravan từ năm 2016 – 2017 39
2.6 Một số thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến hoạt động phát triển du lịch sinh thái tại tỉnh Saravan 40
2.6.1 Thuận lợi 40
2.6.2 Một số khó khăn và tồn tại 41
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG HƯỚNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI Ở TỈNH SARAVAN NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO TRONG THỜI GIAN TỚI 43
3.1 Phương hướng phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Saravan đến năm 2025 43
Trang 63.1.2 Mục tiêu 44
3.1.3 Các điểm du lịch sinh thái trọng tâm cần phát triển 48
3.3 Một số giải pháp cơ bản phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Saravan đến năm 2025 49
3.3.1 Nhóm giải pháp phát triển các điểm, tuyến, khu du lịch sinh thái 49
3.3.2 Nhóm giải pháp về vốn đầu tư 50
3.3.3 Nhóm giải pháp về lao động và đào tạo nguồn nhân lực 52
3.3.4 Nhóm giải pháp về Marketing du lịch sinh thái và xúc tiến hỗn hơp, mở rộng thị trường cho du lịch sinh thái ở Saravan 53
3.3.5 Nhóm giải pháp liên kết du lịch vùng 57
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 59
1 Kết luận 59
2 Kiến nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 62
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ASEAN= Hiệp Hội các quốc gia Đông Nam Á
2 CHXHCN Việt Nam = Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
3 CHDCND Lào= Cộng Hoà Dân chủ Nhân dân Lào
4 DLST= Du lịch sinh thái
5 DL-DLST= Du lịch -Du lịch sinh thái
6 ESCAP= Uỷ ban kinh tế xã hội châu Á
7 GDP= Tổng sản phẩm nội địa
8 HST= Hệ sinh thái
9 IUCN= Tổ chức bảo tồn thiên nhiên quốc tế
10 KBTTN= Khu bảo tồn thiên nhiên
11 KDTSQ=Khu dự trữ sinh quyển
12 NXB= Nhà xuất bản
13 TNDL= Tài nguyên du lịch
14 TNDLST= Tài nguyên du lịch sinh thái
15 UNESCO= Tổ chức giáo dục,khoa học và văn hoá của liên hiệp quốc
16 USD= Đô la Mỹ
17 VHBD = Văn Hoá bản địa
18 VQG= Vườn quốc gia
19 WWF= Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên
20 XHCN= Xã hội chủ nghĩa
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh năm 2017 27 Bảng 2.2: Tổng hợp hoạt động du lịch sinh thái của tỉnh Saravan từ năm 2015-2017 31 Bảng 2.3: Doanh thu từ hoạt động kinh doanh du lịch của tỉnh Saravan 32
từ năm 2015 -2017 32 Bảng 2.4: So sánh một số chỉ tiêu về khách du lịch, doanh thu từ du lịch năm 2017 của tỉnh Saravan so với cả nước Lào 33 Bảng 2.5: Thông tin du khách tiếp cận về du lịch sinh thái tỉnh Saravan 34 Bảng 2.6: Các loại hình du lịch sinh thái chủ yếu được du khách chọn lựa khi đến tỉnh Saravan 36 Bảng 2.7 Sự kết hợp du lịch sinh thái với các loại hình du lịch khác 37 Bảng 2.8: Tổng quan dự án đầu tư về du lịch tỉnh Saravan đến từ năm 2015–2017 40
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Kênh thông tin của du khách du tiếp cận du lịch sinh thái ở Saravan 34
Sơ đồ 3.1: Kênh phân phối sản phẩm du lịch sinh thái đối với khách nội địa 55
Sơ đồ 3.2: Kênh phân phối sản phẩm du lịch sinh thái đối với khách quốc tế 55
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nước Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào (CHDCND Lào) đã và đang thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN) Bước đầu, đường lối đúng đắn đó đã đạt được những thành tựu hết sức quan trọng Trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, ngành
du lịch CHDCND Lào mới bắt đầu hội nhập và hợp tác nên khả năng chủ động đưa ra các dụ án hợp tác còn nhiều hạn chế Dịch vụ du lịch hiện nay chưa đa dạng, phong phú, kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội chưa theo kịp tộc độ phát triển, chất lượng dịch vụ thấp, giá cả cao, sản phẩm chưa phong phú, chưa khai thác và bảo tồn những tài nguyên tự nhiên theo đúng quy định là những thách thức lớn đối với ngành du lịch nói chung và đối với tỉnh Saravan nói riêng
Du lịch nói chung và du lịch sinh thái (DLST) trong hệ thống các khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng là loại du lịch vẫn còn mới cả về khái niệm lẫn tổ chức quản lý kinh doanh không chỉ đối với Lào mà cho tất cả các nước khác Trong giai đoạn mở cửa và hội nhập với lợi thế hơn nhiều nước trong khu vực, tiềm năng phong phú và đa dạng của các hệ sinh thái, nên ngay từ thời gian đầu của quá trình phát triển kinh tế của đất nước, việc phát triển DLST ở nước CHDCND Lào nói chung và tỉnh Saravan nói riêng đã được coi trọng Tỉnh Saravan có khu rừng đặc dụng, vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan tự nhiên tươi đẹp và khu rừng văn hóa, lịch sử làm cơ
sở vững chắc cho sự phát triển DLST Sự định hình và khởi sắc của DLST ở các địa phương trong thời gian qua là cơ sở và nền tảng cho ngành du lịch tỉnh Saravan hoạch định chiến lược phát triển DLST một cách ổn định và bền vững
Với đặc trưng của tỉnh là gồm có nhiều dân tộc và nhiều nét văn hóa khác nhau của nhân dân sống trong tỉnh Saravan Đồng thời, tỉnh Saravan là tỉnh có nhiều rừng núi, đồng bằng với nhiều khu bảo tồn sinh thái của tỉnh cũng như của quốc gia cần được bảo tồn và khai thác một cách hiệu quả cùng với chính sách bảo tồn khu DLST của nhà nước trong nhưng năm qua, và sự cần thiết trong công tác tuyên truyền những
Trang 11lối sống và sinh hoạt của người dân trong những khu vực rừng sinh thái đã được bảo
vệ cùng với sự phát triển bền vững tránh được những sự tàn phá của văn hóa phương
tây Vì vậy đề tài “Phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Saravan, nước CHDCND Lào”
được chọn làm đề tài khóa luận cuối khóa
2 Tình hình nghiên cứu
Từ nửa cuối thế kỷ XIX, cùng với sự ra đời của vườn quốc gia các hình thái du lịch thiên nhiên đã thu hút du khách một cách đặc biệt Vườn quốc gia Yellowstone (Mỹ) là vườn quốc gia đầu tiên của thế giới được thành lập vào năm 1893
Thuật ngữ “DLST” mới chỉ được sử dụng và đề cấp đến nhiều trong thế kỷ 20 khoảng những năm đầu của thập kỷ 90 Về nguồn gốc, DLST bắt nguồn từ du lịch thiên nhiên và du lịch ngoài trời Ban đầu các hình thức du lịch không gắn liền với mục tiêu bảo tồn Cho đến thập niên 70 thì ngày càng nhiều các du khách tham quan nhận thức được hậu quả sinh thái mà họ có thể gây ra cho giá trị của thiên nhiên và có thể làm tồn thương sâu sắc đến quyền lợi lâu dài của người dân địa phương Do đó, đã hình thành nên các tour du lịch chuyên môn hóa mà chỉ đơn giản là xem chim, cưỡi lạc
đà trên sa mạc, đi bộ ngoài thiên nhiên có người hướng dẫn tăng lên Đến lúc này có thể nói là ngành DLST đã hình thành và phát triển
DLST là một hiện tượng phức tạp và đa lĩnh vực Vấn đề giảm thiểu tác động môi trường được coi là một tiêu chuẩn đầu tiên cho sự phát triển ngành DLST Từ đó thuật công nghề sinh thái đã được sử dụng nhiêu trong kế hoach xây dựng các chương trình DLST
Hiệp định du lịch ASEAN, ngày 14 tháng 11 năm 2001, tại hội nghị Thượng đỉnh ASEAN lần thứ 7, Brunei Darussalam đã ký kết Hiệp định Du lịch ASEAN Việt nam và các nước trong khu vực đã nhận thức được tầm quan trọng chiến lược của ngành DLST đối với tăng trưởng kinh tế bền vững của các nước thành viên ASEAN, cũng như sự đa dạng về văn hóa, kinh tế và các lợi thế sẵn có của khu vực, có lợi cho
sự phát triển du lịch của ASEAN nhằm cải thiện chất lượng cuốc sống, hòa bình và thịnh vượng của khu vực Đây là cơ hội để du lịch Lào nói chung và tỉnh Saravan nói riêng tìm cho mình một hướng đi mới trong loại hình du lịch mới này
Trang 12- GS.TSKH Lê Huy Bá, Thái Lê Nguyên, Nguyễn Thị Thanh Nga, Lệ Hằng,
Thái Vũ Bình, Võ Đình Long(2009), Du lịch sinh thái, Chi nhánh NXB Khoa học và
Kỹ thuật, TP.HCM
- Nguyễn Hoàng Sơn, “Tiềm năng, hiện trạng và giải pháp phát triển du lịch
sinh thái ở huyện A Lưới, tỉnh Thừa Thiên Huế” Bài báo được đăng trên Tạp chí khoa
học và giáo dục , Trường Đại học sư phạm Huế Năm 2010
- Nguyễn Thị Sửu (2009), “Một số trò chơi dân gian dân tộc Tà Ôi”, Tập
nghiên cứu văn hóa dân gian Thừa Thiên Huế, trang 17
- Lê Văn Tin (2009), “Tiềm năng, hiện trạng và giải pháp phát triển du lịch
sinh thái huyện A lưới – Tỉnh Thừa Thiên Huế” Đại học Sư Phạm, Đại học Huế
- Nguyễn Thị Tuyết (2011), “Phát triển du lịch sinh thái ở tỉnh Ninh Bình hiện
nay”, khóa luận tốt nghiệp khóa K41, khoa Kinh tế Chính trị, trường Đại học Kinh tế -
Đại học Huế
Ở CHDCND Lào, việc nghiên cứu phát triển DLST vẫn là loại hình du lịch mới, chưa có điều kiện khai thác và đưa nó trở thành một trong những ngành kinh tế dịch vụ trọng điểm Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu về DLST đã được triển khai tại Viên Chăn, Luông Pha băng đã tạo điều kiện cho DLST nước CHDCND Lào phát triển Tuy nhiên, DLST ở tỉnh Saravan chưa được đầu tư, nghiên cứu với tư cách là một ngành kinh tế của địa phương
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng DLST tỉnh Saravan
trong thừi gian qua, đề tại tập trung xây dựng các giải pháp có tính khả thi cho việc phát triển DLST tỉnh Saravan trong thời gian tới theo hướng bền vững
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống cơ sở lý luận về khung lý thuyết DLST và kinh nghiệm phát triển DLST ở môt số địa phương
- Đánh giá thực trạng kinh doanh DLST ở các điểm, khu, truyến điểm DLST của tỉnh Saravan trong thời gian qua và đề xuất các giải pháp cơ bản có tính khả thi nhằm phát triển DLST tỉnh Saravan trong thời gian tới
Trang 134 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu các yếu tố tự nhiên, kinh tế
xã hội có tác động đến sự phát triển DLST của tỉnh Saravan
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về không gian: Chỉ nghiên cứu các loại hình hoạt động DLST tại tỉnh Saravan + Về thời gian: Từ năm 2012 đến nay và định hướng đến năm 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài cũng sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử và cách tiếp cận hệ thống cùng phương pháp phân tích tổng hợp, đối chiếu so sánh trong quá trình thực hiện để đảm bảo tính khách quan, khoa học
- Phương pháp nghiên cứu sẽ dựa vào phân tích số liệu thứ cấp với mục tiêu chủ yếu là đánh giá đúng thực trạng phát triển DLST ở tỉnh Saravan của nước CHDCND Lào trong thời gian qua
- Đề tài cũng sử dụng số liệu sơ cấp khảo sát các đối tượng tham gia trong hoạt động DLST tỉnh Saravan để rõ hơn thực trạng của hoạt động này
- Ngoài ra đề tài sử dụng phần mềm excel để phân tích số liệu sơ cấp
6 Đóng góp của đề tài
Để tài là tài liệu tham khảo cho sinh viên và nhà nghiên cứu khác về lĩnh vực DLST Trong chừng mực nào đó, đề tài có thể làm tư liệu tham khảo cho các nhà hoạch định chính sách phát triển DLST
Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển DLST
Chương 2: Thực trạng phát triển DLST ở tỉnh Saravan nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
Chương 3: Phương hướng và giải pháp cơ bản phát triển DLST ở tỉnh Saravan, nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào trong thời gian tới
Trang 14CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN
DU LỊCH SINH THÁI
1.1 Quan niệm, vai trò và phân loại du lịch sinh thái
1.1.1 Quan niệm, đặc trưng và mục tiêu của lịch sinh thái
Khái niệm DLST
Vào thập niên 70 của thế kỷ XX, du lịch đại chúng vẫn chủ yếu chú trọng đến việc săn bắn các loài thú lớn Chính sự việc này đã gây phiền nhiễu tới đời sống của các loài động vật hoang dã, phá hủy thiên nhiên và môi trường Tuy nhiên, dần dần du khách cũng bắt đầu nhận thức được những tác hại sinh thái do họ gây ra và hơn thế nữa người dân địa phương cũng đã có sự quan tâm đến giá trị của tự nhiên và môi trường nên các tour du lịch chuyên về săn bắn chim, thú, cưỡi lạc đà, bộ hành thiên nhiên đã bắt đầu có sự hướng dẫn và quản lý nghiêm ngặt DLST dần dần được định hình từ đây
DLST (Ecotourism) là loại hình du lịch khá mới mẻ (mới thật sự được quan tâm
từ thập kỷ 80) nhưng từng bước đã khẳng định được lý do tồn tại của nó (thập kỷ 90 của thế kỷ XX được coi như là “thập kỷ của DLST”)
Có người quan niệm DLST là loại hình du lịch có lợi cho sinh thái, ít có những tác động tiêu cực đến sự tồn tại và phát triển của HST, nơi diễn ra các hoạt động du lịch Cũng có ý kiến cho rằng: DLST đồng nghĩa với du lịch địa lý, du lịch có trách nhiệm, du lịch xanh, du lịch có lợi cho môi trường hay có tính bền vững
Ở góc nhìn hẹp, xét về mặt chữ nghĩa DLST đơn thuần chỉ là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “du lịch” và “sinh thái” Tuy nhiên, trên thực tế khái niệm này phức tạp hơn nhiều và cho đến nay đã có rất nhiều khái niệm:
Năm 1987, nhà nghiên cứu tiên phong về DLST: Hector Ceballos - Lascurain
đã đưa ra khái niệm tương đối hoàn chỉnh về DLST như sau: “DLST là du lịch đến
những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi, với những mục đích đặc biệt: nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá”
Trang 15Năm 1991, Wood định nghĩa DLST như sau: “DLST là du lịch đến các khu vực
còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế để ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương”
Năm 1993, Lindberg và Hawkins đưa ra khái niệm rất ngắn gọn nhưng phản
ánh khá đầy đủ về nội dung và chức năng của DLST Theo đó: “DLST là du lịch có
trách nhiệm với các khu thiên nhiên, là công cụ để bảo tồn môi trường và cải thiện phúc lợi cho nhân dân địa phương”
Ở mỗi quốc gia, mỗi tổ chức quốc tế đều phát triển những định nghĩa riêng của mình về DLST
Định nghĩa của Nêpan: “DLST là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân
dân vào việc hoạch định và quản lí các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào”
Định nghĩa của Malaysia: “DLST là hoạt động du lịch và thăm viếng một cách
có trách nhiệm về mặt môi trường, tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn,
có ảnh hưởng của du khách không lớn và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực, có lợi về xã hội và kinh tế”
Định nghĩa của Ôxtrâylia: “DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên, có liên quan
đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên, được quản lí bền vững về mặt sinh thái”
Định nghĩa của Hiệp hội DLST quốc tế: “DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới
các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương”
Năm 1994, nhấn mạnh đến yếu tố bảo vệ TNDL và giáo dục môi trường,
Buckley đã tổng quát khái niệm DLST như sau: “ Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên,
Trang 16được quản lý bền vững, hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là DLST”
Như vậy, từ định nghĩa DLST được đưa ra đầu tiên vào năm 1987, sau nhiều năm và qua nhiều định nghĩa khác nhau đã cho thấy có sự thay đổi về quan niệm Từ chỗ cho rằng DLST đơn thuần chỉ là loại hình du lịch mà địa bàn của nó là các khu vực tự nhiên còn tương đối hoang sơ và du khách đến đó ít có những hoạt động làm ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên sang cách nhìn tích cực hơn, đó là DLST còn có vai trò đóng góp cho bảo tồn, mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương (CĐĐP), có trách nhiệm và giáo dục cao về môi trường
Mặc dù DLST vẫn còn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau, với những tên gọi khác nhau Nhưng đa số ý kiến của các chuyên gia hàng đầu về DLST đều cho
rằng DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các hoạt động bảo tồn
và được nuôi dưỡng, quản lý theo hướng bền vững về mặt sinh thái, du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các HST và VHBĐ DLST nói theo một định nghĩa nào đi
chăng nữa thì nó phải hội đủ các yếu tố cần:
Sự quan tâm tới thiên nhiên và môi trường;
Dựa trên địa bàn hấp dẫn về tự nhiên cả các yếu tố văn hóa bản địa: Đối tượng của DLST là những khu vực hấp dẫn về tự nhiên, kể cả những nét văn hóa bản địa đặc sắc Đặc biệt, những khu vực tự nhiên còn tương đối nguyên sơ, ít bị tác động lớn Chính vì vậy, hoạt động DLST thường diễn ra và thích hợp tại lãnh thổ có các vườn Quốc gia và các khu bảo tồn tự nhiên có giá trị
Đảm bảo bền vững về sinh thái, ủng hộ bảo tồn: Đây là một đặc trưng khác biệt
vì nó được phát triển trong môi trường có những hấp dẫn ưu thế về mặt tự nhiên Vì thế, trong DLST, hình thức, địa điểm và mức độ sử dụng cho các hoạt động du lịch phải được duy trì và quản lý cho sự bền vững của cả hệ sinh thái và bản thân ngành du lịch Điều này được thể hiện ở quy mô nhóm khách tham quan thường có số lượng nhỏ, yêu cầu sử dụng các phương tiên, dịch vụ về tiện nghi của du khách thường thấp hơn các yêu cầu về đảm bảo kinh nghiệm du lịch có chất lượng Các hoạt động trong
Trang 17DLST thường ít gây tác động đến môi trường và du khách sẵn sàng chi trả cho việc bảo vệ môi trường
Có giáo dục môi trường: Đặc điểm giáo dục môi trường trong DLST là một yếu
tố cơ bản phân biệt DLST với các loại hình du lịch khác Giáo dục và thuyết minh môi trường bằng các nguồn thông tin, truyền tải thông tin đến du khách thông qua tài liệu, hướng dẫn viên, các phương tiện tại điểm, tuyến tham quan là những hình thức quan trọng trong việc trong việc làm giàu kinh nghiệm du lịch, nâng cao nhận thức về môi trường và bảo tồn
Khuyến khích cộng đồng địa phương tham gia và hưởng lợi ích du lịch: DLST cải thiện đời sống, tăng thêm lợi ích cho cộng đống địa phương trên cơ sở cung cấp về kiến thức, những kinh nghiệm thực tế để đa số người dân có khả năng tham gia vào quản lý, vận hành dịch vụ DLST Đó cũng là cách để người dân có thể trở thành những người bảo tồn tích cực
Cung cấp các kinh nghiệm du lịch với chất lượng cao cho du khách: Việc thỏa mãn những mong muốn của du khách là nâng cao hiểu biết và những kinh nghiệm du lịch lý thú, là sự tồn tại sống còn lâu dài của ngành DLST Vì vậy, các dịch vụ du lịch trong DLST tập trung nhiều vào việc đáp ứng những nhu cầu nhận thức và kinh nghiệm
du lịch hơn là các dịch vụ cho nhu cầu tiện nghi Thỏa mãn những nhu cầu này của khách DLST chỉ nên đứng sau công tác bảo tồn và bảo vệ những gì mà họ tham quan
Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái
Cũng như hoạt động của các loại hình du lịch khác, DLST cũng tiềm ẩn những tác động tiêu cực đối với môi trường và tự nhiên Nếu như đối với những loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là những ưu tiên hàng đầu thì ngược lại DLST coi đây là một trong những nguyên tắc cơ bản, quan trọng cần được tuân thủ, bởi vì:
- Việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái chính là mục tiêu của hoạt động DLST
- Sự tồn tại của DLST gắn liền với môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình Sự xuống cấp của môi trường, sự suy thoái của các hệ sinh thái đồng nghĩa với
Trang 18Với nguyên tắc này mọi hoạt động DLST sẽ phải được quản lý chặt chẽ để giảm thiểu các tác động đến môi trường, đồng thời phần thu nhập từ hoạt động DLST
sẽ được đầu tư trở lại để thực hiện các giải pháp bảo vệ môi trường và duy trì sự phát triển các hệ sinh thái
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng:
Được xem là một trong những nguyên tắc quan trọng đối với hoạt động DLST, bởi vì các giá trị văn hóa bản địa là một bộ phận hữu cơ không thể tách rời với các giá trị của hệ sinht thái ở một khu vực cụ thể Sự xuống cấp hoặc thay đổi tập tục sinh hoạt văn hóa truyền thống của cộng đồng địa phương sẽ làm giảm sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực, vì nó sẽ làm thay đổi hệ sinh thái đó Hậu quả của quá trình này sẽ tác động trực tiếp đến DLST Chính vì vậy, việc phát huy bản sắc văn hóa cộng đồng địa phương có ý nghĩa quan trọng và là nguyên tắc hoạt động của DLST
Tạo cơ hội có việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương:
Đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu hướng tới của DLST Nếu như các loại hình du lịch khác ít quan tâm đến vấn đề này và phần lớn lợi nhuận từ các hoạt động
du lịch đều thuộc về các công ty điều hành thì ngược lại DLST sẽ dành một phần đáng
kể lợi nhuận từ hoạt động của mình để đóng góp vào việc cải thiện môi trường sống của cộng đồng địa phương
Trách nhiệm với xã hội và cộng đồng
Trong lần Hội thảo Quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển DLST ở Việt
Nam” (từ ngày 7 - 9/9/1999) do Tổng cục Du lịch Việt Nam tổ chức trên cơ sở phối
hợp với nhiều Tổ chức Quốc tế như ESCAP, WWF, IUCN, , với sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế và Việt Nam về DLST Định nghĩa DLST lần
đầu tiên được đưa ra ở Việt Nam như sau: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên
nhiên và văn hóa bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có sự đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”
Có thể nói, định nghĩa do Hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển
DLST ở Việt Nam” đưa ra đã bao hàm đầy đủ nội dung của DLST Nó bao quát được
các quan niệm về DLST của các nhà khoa học trên thế giới
Trang 19Các đặc trưng của DLST
Thứ nhất, sản phẩm, tài nguyên DLST trước hết là thiên nhiên
DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, khách du lịch tìm đến các khu bảo tồn thiên nhiên, các vườn quốc gia, rừng nguyên sinh, hoặc các tài nguyên thiên nhiên khác chưa bị tàn phá để tìm hiểu, sống hoà mình với thiên nhiên Nếu chỉ có đặc trưng này thì chỉ được gọi là du lịch dựa vào tự nhiên, không phải là DLST
Thứ hai, DLST không tách rời giáo dục môi trường sinh thái
Các cơ quan cung ứng các dịch vụ du lịch, các cơ quan bảo tồn, các hãng lữ hành, các công ty du lịch, các đơn vị tổ chức và khách du lịch tham gia vào DLST có trách nhiệm tích cực thực hiện các giải pháp về bảo vệ môi trường sinh thái, giảm thiểu tác động tiêu cực của du lịch đối với môi trường và vãn hoá Đây là điểm quan trọng để phân biệt DLST vói du lịch tự nhiên
Thứ ba, có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương
Các chương trình hoạt động chủ yếu do hướng dẫn viên địa phương, những ngưdi có kiến thức sâu rộng và kinh nghiệm về tài nguyên thiên nhiên xung quanh họ được thiết lập dựa vào tài nguyên thiên nhiên và văn hoá của khu vực
Thứ tư, các phương tiện và việc sắp xếp để hỗ trợ các chương trình hoạt động
DLST bao gồm các trang thông tin trung tâm, đường mòn tự nhiên, cơ sở lưu trú, ăn uống sinh thái, sách báo và các tài liệu khác
Thứ năm, quy định rõ những việc được làm và những việc không được làm
Việc tổ chức các hoạt động DLST phải được lập thành đề án cụ thể trình lên cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Ban quản lí các khu DLST phải lồng ghép công tác tuyên truyền giáo dục về ý thức cũng như những quy định về bảo vệ môi trường cho du khách vào trong các hoạt động DLST
Mục tiêu của DLST
Mục tiêu nghiên cứu về DLST: Nhằm phát triển một ngành “kinh tế xanh”,
có sức cạnh tranh và đóng góp được vào sự phát triển kinh tế - xã hội của cộng đồng địa phương; những mục tiêu, chiến lược được vạch ra cho DLST là phải đặt dưới
sự chỉ đạo của hoạt động toàn ngành du lịch, gắn với quy hoạch phát triển kinh tế -
Trang 20xã hội của vùng, theo định hướng phát triển du lịch của từng quốc gia Các mục tiêu
cụ thể sau cần được quan tâm:
• Mục tiêu sinh thái – môi trường
Xem xét đến khả năng gánh chịu của vùng sinh thái về lượng du khách Tính nhạy cảm của sinh vật và các hệ sinh thái, vấn đề ô nhiễm môi trường, tải lượng rác thải, nước thải và các quá trình làm gián đoạn sinh thái do du khách gây ra Phát triển DLST phải đi đôi với việc bảo vệ môi trường sinh thái bền vững, từ đó đặt ra các kế hoạch và cơ chế quản lý phù hợp với việc khai thác, tôn tạo các loại tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái
• Mục tiêu tăng tính thẩm mỹ
Tối thiểu hóa những thiệt hại sinh thái do du khách mang lại là một phần trong mục tiêu thẩm mỹ của DLST Du khách có thể giảm “thiện chí trả tiền” một khi tính hấp dẫn về thẩm mỹ, sinh thái của cảnh quan đã bị suy giảm, bị phá vỡ DLST ở đây thực chất là hiện thân của một loạt các chờ đợi nóng bỏng về tính hoang dã của thiên nhiên hoặc những nơi chưa được khám phá
Về bản chất thì DLST là một loại hình du lịch nhằm làm gia tăng sự mong đợi
và đồng thời cũng làm tăng nguy cơ về một loại hình du lịch “đến rồi chạy xa một cách vô trách nhiệm” một sự tràn vào của những dòng người yêu thích thiên nhiên đến
“điên dại” tại những điểm mới nhất và sau đó chúng lại bị bỏ rơi một khi đã được khám phá và môi trường ở đó đã bị thoái hóa Vì vậy, trong quy hoạch và điều hành DLST phải dự tính đến khả năng này
sẽ thấy được lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển DLST
Các cấp chính quyền tạo điều kiện, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư phát triển DLST, vừa để quảng bá hình ảnh du lịch địa phương, mang lại nguồn lợi nhuận cho doanh nghiệp và cũng đồng thời mang lại nguồn thu ngân sách cho quốc gia
Trang 21Phát triển cơ sở hạ tầng, thu hút khách du lịch trong và ngoài nước, đưa du lịch nói chung và DLST nói riêng dần trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cho địa phương
• Mục tiêu an ninh quốc phòng, trật tự an toàn xã hội
Quy hoạch và phát triển DLST không ngoài mục tiêu thu hút lữ hành thiên nhiên trong và ngoài nước đến với cộng đồng địa phương Tuy nhiên, không vì thế mà chúng ta bỏ qua vấn đề an ninh quốc phòng và trật tự an toàn xã hội Cần chú ý tạo thêm việc làm, tăng thêm thu nhập và góp phần ổn định kinh tế, xã hội và bảo vệ
an ninh quốc phòng cho khu vực
• Mục tiêu văn hóa - xã hội
Văn hóa đã từng là một nhân tố bị bỏ rơi trong bảo tồn Bảo tồn và phát triển du lịch mà từ chối quyền lợi và mối quan tâm của cộng đồng địa phương là tự chuốc hại vào mình, nếu không muốn nói là xâm phạm đến văn hóa và làm hỏng đến nền kinh tế bản địa; nguy cơ về thất bại trong DLST sẽ rất cao Do đó, trong quy hoạch DLST, theo chúng tôi cần phải gắn kết việc giữ gìn và tôn tạo các truyền thống văn hóa đặc trưng của địa phương, bảo tồn được môi trường nhân văn
trong sạch, đồng thời khai thác tốt các di sản văn hóa có giá trị phục vụ cho du lịch
• Mục tiêu hỗ trợ phát triển
Nghiên cứu về DLST ở đây không chỉ nhằm mục đích đơn thuần là tìm hiểu về thị hiếu du khách để tối đa hóa lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường mà còn phải cung cấp các thông tin tư liệu, những định hướng chiến lược cơ bản để khuyến khích hỗ trợ cho sự phát triển, xúc tiến, lập kế hoạch, thiết lập mối quan hệ giữa các ban ngành, tạo lực đẩy cho sự phát triển của ngành “công nghiệp xanh” này
Như vậy, DLST phải hội đủ các yêu cầu sau:
- Kích thích sự gia tăng khách du lịch về với thiên nhiên
- Bảo tồn các giá trị của tự nhiên, các giá trị của đa dạng sinh học
- Giải quyết các mối quan tâm trăn trở về môi trường, kinh tế - xã hội… lấy bảo tồn tài nguyên thiên nhiên làm trọng tâm
- Thúc đẩy sự phát triển bền vững - một trong những nền tảng cơ bản của ngành kinh tế “sạch” và “xanh”
Trang 221.1.2 Vai trò của du lịch sinh thái
DLST là một loại hình du lịch thân thiện với môi trường, hướng đến tính bền vững, DLST có khả năng giải quyết những vấn đề quan trọng mà các loại hình du lịch đơn thuần khác không giải quyết được, có thể khái quát vai trò của DLST qua các tiêu chí sau:
Phát triển kinh tế ở địa phương
Tạo công ăn việc làm cho người dân địa phương, bao gồm cả những người trực tiếp trong ngành du lịch và những người gián tiếp thông qua các hoạt động bổ trợ hoặc quản lí tài nguyên
Việc thu thuế từ hoạt động của khu du lịch và các dịch vụ bán hàng của động đồng dân cư sẽ góp phần tăng thu ngân sách cho địa phương
DLST mang lại nguồn thu ngoại tệ cho doanh nghiệp và thu hút vốn từ nước ngoài vào nền kinh tế trong nước
DLST sẽ tạo ra cơ hội cho cộng đồng các doanh nghiệp đa dạng hóa các sản phẩm
du lịch để đáp ứng nhu cầu của du khách về các loại hàng hóa và dịch vụ kèm theo
DLST làm đa dạng hóa nền kinh tế trong nước đặc biệt là ở vùng nông thôn, nơi còn thiếu việc làm hoặc công việc không ổn định
DLST mang lại lợi nhuận cho ngành sản xuất và cung cấp dịch vụ ăn uống cũng như khách sạn và cơ sở lưu trú, hàng thủ công mỹ nghệ và dịch vụ hướng dẫn viên
Phát triển các khu du lịch sẽ góp phần thu hút đầu tư, đảm bảo nguồn tài chính
để cải tạo hệ thống đường xá và cơ sở hạ tầng, phục vụ cho du lịch và phát triển kinh
tế - xã hội của địa phương
Đáp ứng nhu cầu thưởng ngoạn cảnh quan thiên nhiên của du khách
Tạo ra môi trường xanh, sạch, đẹp, giúp du khách thoải mái và cảm nhận sự thư thái khi đến với những địa điểm DLST
Mang lại cho du khách những thông tin, những hiểu biết mới về văn hóa, môi trường cũng như con người bản địa
Hiểu rõ lịch sử, quá trình hình thành các giá trị văn hóa tinh thần cũng như lối sống đặc trưng của người dân địa phương
Trang 23Khôi phục và phát triển các nghề thống của địa phương để áp ứng nhu cầu của khách du lịch như: cùng trải nghiệm trong các hoạt động sản xuất đồ lưu niệm, chăn
nuôi trồng trọt, tham gia trực tiếp vào các lễ hội văn hóa của người dân địa phương,
Quảng bá, tôn vinh, giữ gìn bản sắc văn hóa bản địa
DLST có thể nâng mức nhận thức về văn hóa xã hội địa phương DLST tạo ra thu nhập để giúp chi trả cho việc bảo tồn các di tích khảo cổ, các công trình và các địa điểm mang tính lịch sử
Việc trao đổi kiến thức và kinh nghiệm về văn hóa có thể mang lại lợi ích cho
cả hai bên chủ và khách tại điểm DLST và điều đó làm sống lại các truyền thống và nghề cổ truyền của địa phương
Đưa hình ảnh văn hóa địa phương ra khu vực và thế giới thông qua các hoạt động sinh hoạt lễ hội truyền thống với du khách trong và ngoài nước
1.1.3 Phân loại du lịch sinh thái
DLST rất đa dạng và phong phú về loại hình, một số loại hình chủ yếu được khai thác phục vụ khách du lịch như:
Du lịch dựa theo các hệ sinh thái tự nhiên đặc thù
Các HST này có tính đa dạng sinh học cao, nhiều loài sinh vật đặc hữu, quý hiếm Bao gồm các các HST rừng; HST rừng ngập mặn ven biển; HST núi cao; HST đất ngập nước, ngập mặn; HST đầm lầy nội địa; HST Sông, hồ; HST đầm phá; HST san hô, cỏ biển; HST vùng cát ven biển; HST biển đảo; sân chim, cảnh quan tự nhiên Thường được tập trung bảo vệ ở các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN), khu dự trữ sinh quyển (KDTSQ)
Du lịch dựa theo các hệ sinh thái nông nghiệp
Đây là loại hình DLST được rất nhiều khách du lịch lựa chọn Mỗi vùng miền đều có một đặc trưng nông nghiệp riêng tạo nên một dòng chảy quyến rũ ru khách trong và ngoài nước Đến với du lịch dựa theo các hệ sinh thái nông nghiệp, du khách
có thể tự mình trải nghiệm những hoạt động sản xuất, trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt ví
dụ như: bắt cá bằng những dụng cụ làm bằng tre, tự tay trồng các loại rau, củ, quả, xem cách làm mật ong, tự hái và sao chè khô, cho đà điểu, dê, thỏ, bò sữa ăn,
Trang 24Dưới góc nhìn của du khách quốc tế, Việt Nam là một đất nước có văn hóa, truyền thống, lịch sử gắn liền với nền văn minh lúa nước Du khách đến Đồng bằng sông Cửu Long được bắt cá, hái quả; đến miền Trung được trồng rau; đến Tây Bắc được thử gặt lúa trên ruộng bậc thang Đó chính là những thứ thu hút khách du lịch đến với Việt Nam Đây là bài học hữu ích mà tỉnh Saravan có thể học hỏi để phát triển DLST địa phương mình
Du lịch văn hóa bản địa
Các giá trị VHBĐ có sự hình thành và phát triển gắn liền với sự tồn tại và phát triển của HST tự nhiên, được khai thác với tư cách là TNDLST bao gồm:
Kiến thức canh tác, khai thác, bảo tồn và sử dụng các loài sinh vật phục vụ cuộc sống của cộng đồng
Đặc điểm sinh hoạt văn hóa với các lễ hội truyền thống
Kiến trúc dân gian, công trình gắn với các truyền thuyết, đặc điểm tự nhiên của khu vực
Các sản phẩm thủ công mỹ nghệ gắn liền với cuộc sống của cộng đồng
Các di tích lịch sử văn hóa, khảo cổ gắn liền với lịch sử phát triển, tín ngưỡng của cộng đồng
Ngoài ra, DLST còn có thể phân loại một cách đơn giản như sau:
Tài nguyên DLST tự nhiên: bao gồm tất cả các yếu tố thuộc về tự nhiên phục
vụ cho các hoạt động DLST
Tài nguyên DLST nhân văn: bao gồm các giá trị văn hóa bản địa
1.2 Nội dung phát triển du lịch sinh thái
1.2.1.Thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế
Du lịch nói chung và DLST nói riêng có mối quan hệ mật thiết với kinh tế Để nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động của DLST, cần mở rộng quy mô hoạt động, tranh thủ khai thác mọi nguồn lực trong và ngoài nước, phát huy tối đa sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nâng cao chất lượng dịch vụ DLST để đáp ứng nhu cầu phát triển ngày càng cao của xã hội Nên đa dạng hóa về loại hình dịch vụ DLST, đảm bảo mang lại hiệu quả cao về kinh tế
Trang 25Tập trung đàu tư về chất lượng dịch vụ để thu hút khách du lịch, quảng bá thương hiệu
Xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật, đầu tư hệ thống DLST phát triển được cả thế giới biết đến
Phát triển nguồn nhân lực và nghiên cứu ứng dụng khoa học công nghệ: Đào tạo lại và đào tạo mới đội ngũ cán bộ, lao động có kỹ năng, nghiệp vụ đáp ứng được yêu cầu phát triển DLST trong thời đại mới
1.2.2 Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa Error! Bookmark not defined.bản địa
Phát triển DLST phải gắn với bảo tồn và gìn giữ những nét đẹp văn hóa đã được hun đúc từ bao đời DLST cũng chính là cơ hội thuận lời để quảng bá những nét đặc trưng về văn hóa, về bản sắc dân tộc của mỗi vùng miền khác nhau, đưa nét đẹp truyền thống dân tộc đến với cả thế giới
Tổ chức các tour DLST tham gia các lễ hội truyền thống văn hóa cộng đồng, tham quan những công trình kiến trúc, di tích lịch sử văn hóa gắn liền với đặc điểm tự nhiên, lịch sử của từng khu vực
1.2.3 Bảo vệ môi trường sinh thái tự nhiên
Cùng với phát triển DLST, công tác bảo vệ môi trường phải luôn được chú trọng, coi đó là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển bền vững của các khu DLST
Thực hiện thường xuyên có hiệu quả công tác tuyên truyền cho học sinh, sinh viên, người dân địa phương, về tầm quan trọng của việc phát triển DLST gắn liền với bảo vệ môi trường
Tổ chức trồng cây xanh cùng khách du lịch như là một hoạt động du lịch, vừa tuyên truyền, vừa tiến hành thu gom rác thải, trả lại sự thuần khiết cho môi trường, chi trả cho dịch vụ môi trường là vô cùng cần thiết
1.3 Các điều kiện cơ bản để phát triển du lịch sinh thái
Xuất phát từ nguyên tắc và mục tiêu của DLST, có thể tổng quát hóa các điều kiện để phát triển DLST theo năm nội dung cơ bản sau đây:
- Thứ nhất: để có thể tổ chức tốt được loại hình DLST tại một điểm đến điều
kiện trước tiên là ở đó phải tồn tại của các hệ sinh thái tự nhiên điển hình với tính đa
Trang 26sinh của các điều kiện địa lý, khí hậu khu vực và các động thực vật bao gồm: Sinh thái
tự nhiên (Natural Ecology); Sinh thái động vật (Animal Ecology); Sinh thái thực vật(Plant Ecology); Sinh thái nông nghiệp điển hình (Agricultural Ecology); Sinh thái khí hậu (Eco climate); Sinh thái nhân văn (Human Ecology).Các yếu tố sinh thái đặc thù nêu trên góp phần nêu bật tính chất DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên Tuy nhiên ngày nay DLST cũng còn phát triển hoạt động dưới nhiều loại hình khác như: DLST vùng nông thôn (Rural tourism), du lịch trang trại điển hình (Farm tourism), DLST văn hóa (Cultural Ecotourism)
- Thứ hai: tính chất quản lý tổ chức của con người như:
+ Đòi hỏi tính chuyên nghiệp của nhân viên tác nghiệp trong hoạt động DLST
Vì để đảm bảo tính giáo dục, nâng cao sự hiểu biết cho khách DLST, người hướng dẫn viên du lịch ngoài khả năng về ngôn ngữ truyền đạt, còn là người có am hiểu các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hóa cộng đồng sở tại Yếu tố này rất quan trọng và có ảnh hưởng rất lớn đến đến hiệu quả của hoạt động DLST Trong nhiều trường hợp, cần thiết phải có sự cộng tác của người địa phương để có những hiểu biết tốt nhất truyền đạt đến cho du khách
+ Đòi hỏi người quản lý điều hành phải có nguyên tắc cụ thể Trước đây các nhà điều hành du lịch truyền thống thường chỉ quan tâm đến lợi nhuận và không có bất
kỳ cam kết nào cho việc bảo tồn hoặc quản lý các khu thiên nhiên, họ chỉ đơn giản là tạo cho du khách cơ hội để nhận biết những giá trị tự nhiên và văn hóa mặc cho sau này những giá trị này suy giảm hay vĩnh viễn biến mất Ngược lại các nhà điều hành
và quản lý DLST luôn có sự cộng tác chặt chẽ giữa với các nhà quản lý của những khu bảo tồn thiên nhiên và cả cộng đồng địa phương để thiết lập những nguyên tác quản lý với mục đích đóng góp vào việc bảo vệ một cách lâu dài các giá trị tự nhiên và văn hóa bản địa, cải thiện cuộc sống và nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương và khách du lịch
- Thứ ba: mục đích hạn chế đến mức tối đa các tác động có thể có do hoạt động
DLST gây ra cho tự nhiên và môi trường, do đó DLST phải tính đến điều kiện “sức chứa” hoặc “sức tải” Khái niệm sức chứa được hiểu ở 4 khía cạnh: vật lý, sinh học, tâm lý học và xã hội học Sức chứa về khía cạnh vật lý được hiểu là lượng khách tối đa
Trang 27mà điểm đến DLST có thể tiếp nhận, điều này liên quan đến những tiêu chuẩn tối thiểu
về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinh hoạt của họ
- Thứ tư: thỏa mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách DLST Việc thỏa mãn những mong muốn của khách DLST với những kinh nghiệm, hiểu biết mới về tựnhiên, văn hóa bản địa là một công việc rất phức tạp nhưng nó lại là yêu cầu thực sựcần thiết đối với sự tồn tại lâu dài của DLST Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng du khách phải là ưu tiên hàng đầu chỉ đứng sau công tác bảo tồn những giá trị sinh thái tựnhiên
và giá trị xã hội
- Thứ năm: vì khách DLST luôn có nhu cầu và tư duy cao trong việc thưởng ngoạn, đã biến loại hình du lịch này thành loại du lịch trí thức, tư duy tiên tiến Do đó phải xây dựng mẫu khách DLST điển hình, họ là những du khách quan tâm thực sự đến giá trị tự nhiên và nhân văn ở khu vực thiên nhiên hoang dã
1.4 Các tiêu chuẩn đánh giá sự phát triển du lịch sinh thái bền vững
Cơ sở để đánh giá sự phát triển bền vững của một chủ thể du lịch là những tiêu chuẩn hoặc yếu tố được dùng để đánh giá quá trình hoạt động, để so sánh về mặt không gian và thời gian ở phạm vi vĩ mô hoặc vi mô của nền kinh tế xã hội Các nhóm tiêu chuẩn hoặc yếu tố dùng làm cơ sở để đánh giá sự phát triển DLST theo hướng bền vững bao gồm 3 tiêu chuẩn chính như sau:
1.4.1 Tiêu chuẩn về kinh tế
- Mức tăng trưởng kinh tế do quá trình phát triển đem lại
- Mức đóng góp cho phát triển kinh tế địa phương
- Sự phát triển phù hợp với mục tiêu đề ra trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội của quốc gia và địa phương
1.4.2 Tiêu chuẩn về xã hội – con người
- Sự khai thác hợp lý các giá trị văn hóa-xã hội
- Giáo dục, xây dựng, phục hồi và phát triển văn hóa truyền thống của dân tộc
- Sự hưởng thụ về văn hóa, mức sống và sinh hoạt của cộng động được cải thiện
1.4.3 Tiêu chuẩn về môi trường
- Mức độ khai thác và bảo vệ tài nguyên
- Sức chứa của các điểm đến DLST, mật độ phát triển cho phép
Trang 28- Bảo vệ hệ sinh thái bằng việc giáo dục nâng cao nhận thức tôn trọng, bảo vệ
và phục hồi hệ sinh thái cho các địa phương tham gia vào hoạt động phát triển Các tiêu chuẩn đánh giá nêu trên có ý nghĩa rất quan trọng giúp cho việc định lượng và định tính về những hoạt động phát triển cho một quốc gia, một vùng, một tỉnh và từng doanh nghiệp như: giúp cho các nhà hoạch định chiến lược và đề ra chính sách, xác định nhiệm vụ, mục tiêu phát triển DLST bền vững; giúp đưa ra các quyết định, chương trình hoạt động để đạt được nhiệm vụ và mục tiêu phát triển bền vững
1.4.4 Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực đóng vai trò quan trọng đối với sự phát triển DLST ở mỗi địa phương, có tác động quyết định tới hiệu quả của các doanh nghiệp Để phát triển DLST tỉnh Saravan đã đầu tư cơ sở vật chất và kỹ thuật các yếu tố nguồn nhân lực phục vuk du lịch tuy nhiên các yếu tố này còn rất hạn chế, chưa trở thành động lức để thu hút khách du lịch
Về nguồn nhân lực hoạt động du lịch của tỉnh Saravan được giao cho sở văn hóa và du lịch tỉnh Saravan chịu trách nghiệm quản lý, với số lượng cán bộ quản lý chưa đủ vừa chưa đảm bảo chất lượng, những cán bộ quản lý này một số người chưa được đạo tạo nghiệp vụ chuyên ngành du lịch, chưa có trình độ ngoại ngữ đáp ứng nhu cầu đây là trở ngại lớn để phát triển du lịch tỉnh Saravan
1.4.5 Chất lượng dịch vụ
Chất lượng dịch vụ DLST được thể hiện qua nhiều mặt: Không khí trong lành, cảnh quan đẹp, sạch, giá cả hợp lí, đội ngũ nhân viên tận tình chu đáo, mang lại sự hài lòng, thoải mái cho khách du lịch khi đến đây
Nhóm tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ DLST thể hiện ở:
+ Gia tăng số lượng các dịch vụ DLST bằng cách tạo ra sản phẩm du lịch mới hoặc bổ sung, hoàn thiện sản phẩm du lịch hiện có
+ Gia tăng mức độ hài lòng, thỏa mãn của khách du lịch, thu hút lượng khách
du lịch nhiều hơn
Trang 291.5 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái ở một số địa phương
1.5.1 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái tại nước Cộng Hoà Dân chủ Nhân dân Lào
Với nhiều điểm đến nổi tiếng thu hút khách du lịch, ngành công nghiệp không khói của Lào đã khai thác hiệu quả, đóng góp rất lớn vào kinh tế của Lào
Trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2016 - 2025 và tầm nhìn
2016 - 2030 vừa được thông qua, Chính phủ Lào nỗ lực tăng GDP bình quân đầu người lên 3.190USD vào năm 2020 từ con số 1.970USD của năm 2015 Đồng thời tỷ
lệ tăng trưởng kinh tế của Lào đạt không dưới 7,5% mỗi năm Trong đó, công nghiệp
du lịch là một trong những ưu tiên phát triển của Lào để góp phần đạt được mục tiêu phát triển đề ra
Như nhiều quốc gia trên thế giới có ngành du lịch phát triển, ngành công nghiệp không khói của Lào đang tạo ra nguồn thu được đánh giá khá bền vững như từ nguồn thu ngoại tệ, thúc đẩy các ngành nghề kinh doanh liên quan đến du lịch, kích thích phát triển cơ sở hạ tầng, tạo việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân Thống kê cho thấy, số lượng khách du lịch trên toàn thế giới vào năm 1990 đạt khoảng 455 triệu người, tạo ra nguồn thu 264 tỷ USD, sau đó tăng lên 805 triệu người với 640 tỷ USD
và dự kiến đạt hơn 1,5 tỷ khách du lịch năm 2020, tạo ra 1.550 tỷ USD Riêng tại Lào, đất nước khu vực Đông Nam Á (ASEAN) này chỉ thu hút hơn 14 nghìn lượt khách năm 1990 Nhưng chỉ ba năm sau đó, Lào đón hơn 100 nghìn lượt khách và tiếp tục tăng ấn tượng với hơn 4 triệu lượt vào năm 2014, tức đạt mục tiêu đề ra sớm hơn tới 6 năm Tương tự, nguồn thu từ công nghiệp du lịch vào năm 1993 chỉ khoảng 6.280 triệu USD, tăng lên hơn 640 triệu USD vào năm 2014 và dự kiến đạt khoảng 1,3 tỷ USD vào năm 2025
Trong nhiều năm qua, những chương trình quảng bá du lịch về con người và đất nước Lào được tiến hành liên tục, gây ấn tượng, trong đó nhấn mạnh đến bản sắc văn hóa dân tộc, danh lam thắng cảnh, các công trình, kiến trúc lịch sử, phát triển du lịch dựa vào cộng đồng và khu vực nông thôn Nổi bật nhất phải kể đến khu quần thể Angkor Wat được Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc công
Trang 30tuyến đường được xây dựng để kết nối với các quốc gia láng giềng, phục vụ nhu cầu đi lại thuận tiện hơn cho du khách đến Lào Lào cũng miễn visa cho hàng chục quốc gia trên thế giới, trong đó có người dân của tất cả thành viên ASEAN để khuyến khích nhu cầu du lịch Những chiến lựơc, chính sách và tầm nhìn đa dạng nhưng đúng hướng đã giúp lượng du khách đến Lào vượt qua nhiều quốc gia trong khu vực
Nhằm tạo điều kiện cho du lịch Lào nắm bắt cơ hội trong bối cảnh lượng khách
du lịch toàn cầu ngày càng tăng cao, nhất là cộng đồng kinh tế ASEAN ra đời từ cuối năm 2015, Lào đang tập trung phát triển ngành trên cơ sở phát triển nguồn nhân lực, sản phẩm du lịch, xúc tiến chương trình quảng bá đa dạng hơn Thứ trưởng Bộ Thông tin - văn hóa và du lịch Lào, Chaleune Warinthrasak cho rằng, cả chính phủ, người dân, các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân phải cùng nỗ lực, chung tay mới nhanh chóng đưa ngành công nghiệp du lịch phát triển hiệu quả nhất Ngoài ra, Chính phủ Lào tham gia tích cực vào chiến dịch “Du lịch ASEAN@50” (Visit ASEAN@50) nhằm đánh dấu kỷ niệm 50 năm thành lập hiệp hội vào năm 2017 Chiến dịch đang được triển khai mạnh mẽ bằng việc trưng bày và giới thiệu hàng trăm sản phẩm, sự kiện, lễ hội và kinh nghiệm du lịch ASEAN, hướng tới du khách trong và ngoài khu vực đến với đất nước Lào
1.5.2 Kinh nghiệm phát triển du lịch sinh thái của một số địa phương ở nước Cộng Hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Kinh nghiệm phát triển DLST tại Quảng Bình
Cảnh quan du lịch Quảng Bình được cấu tạo hòa quyện đa dạng giữa núi rừng, đồng bằng, biển, sông ngòi, hồ tạo nên tài nguyên du lịch phong phú Ở Quảng Bình, tài nguyên du lịch cho phát triển DLST là tương đối đa dạng và thuận lợi Trong đó nổi tiếng là: Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng, một di sản thiên nhiên thế giới được UNESCO công nhận 2002 Tại khu bảo tồn này có hệ thông hang động kì vĩ, rừng nguyên sinh, hệ động thực vật đa dạng, hệ thống núi đá vôi rộng lớn có điều kiện thuận lợi để phát triển nhiều loại hình DLST như: tham quan, khám phá hang động, nghiên cứu hệ động thực vật, nghiên cứu thám hiểm tự nhiên , Biển Quảng Bình dài, có nhiều bãi tắm đẹp như Bãi Đá Nhảy, Nhật Lệ, Quảng Đông với cát trắng, nước biển trong xanh, môi trường xanh sạch chưa bị ô nhiễm Có nhiều hồ lớn: An Mã, Phú Vinh, Bàn
Trang 31Sen Có suối nước khoáng nóng với nhiệt độ lên đến 1050C, có lỗ phun lại nằm sát rừng thông rất thuận lợi cho DLST nghỉ dưỡng, chữa bệnh Hiện tại khu nghỉ dưỡng cao cấp
“Sunspa Resort – Đồng Hới” với hệ thống nhà nghỉ và các dịch vụ bổ sung tương đối hoàn hảo phục vụ cho nghỉ ngơi, tắm biển, hội thảo quốc tế và các hoạt động thể thao Đã hoàn thành việc đầu tư giai đoạn đầu và đã đi vào khai thác Đó là một điểm nổi tiếng của Quảng Bình với khách du lịch trong và ngoài nước Ngoài ra, Quảng Bình còn có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng như Đèo Ngang, Đèo Lý Hòa,
Với những tiềm năng sẵn có, bước đầu Quảng Bình đã tận dụng nguồn lực của mình để phát triển DLST Du lịch đang tác động tích cực đến kinh tế: Góp phần tăng trưởng kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân, tạo ra nguồn thu ngoại tệ
Để có được những kết quả bước đầu mà DLST Quảng Bình có được trong thời gian qua thì có một số nguyên nhân sau: Lãnh đạo tỉnh, các ban ngành địa phương và người dân có nhận thức đúng đắn về vai trò, vị trí và tầm quan trọng của DLST, từ đó đề
ra nhiều chính sách phù hợp để phát triển Bên cạnh đó có sự cố gắng, nỗ lực của các doanh nghiệp kinh doanh, sự phối hợp nhịp nhàng giữa các ngành, các địa phương trong công tác quy hoạch và quản lý, Đặc biệt ở Quảng Bình bước đầu đã khuyến khích người dân ở địa phương tham gia vào hoạt động kinh doanh du lịch Hoạt động này không chỉ tạo ra công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương mà còn có tác dụng rất lớn đến việc bảo vệ môi trường, giữ gìn sinh thái Tại khu du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng, người dân xã Sơn Trạch không còn vào rừng khai thác gỗ lậu và săn bắn thú rừng nữa và họ còn ý thức được việc bảo tồn khu du lịch Phong Nha – Kẻ Bàng
là trách nhiệm chính của họ vì đây là tài sản vô giá cho cả hiện tại và tương lai
Tuy nhiên, việc phát triển DLST ở Quảng Bình vẫn còn một số tồn tại:
Vẫn chưa có chiến lược đúng đắn để phát huy những nguồn lực sẵn có để DLST thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh
Chưa có chiến lược phát triển về DLST và du lịch bền vững Du khách đến tham quan Quảng Bình chủ yếu là thăm khu di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha –
Kẻ Bàng và tắm biển Không có nhiều các dịch vụ bổ sung như vui chơi giải trí, mua
Trang 32lưu trú của du khách ngắn do không có sản phẩm du lịch độc đáo, không có những tua DLST thực sự mà chỉ là sự tự phát từ du khách
Đội ngũ nhân lực làm DLST chưa được đào tạo bài bản đặc biệt là người dân địa phương chưa trang bị nhiều kiến thức về môi trường sinh thái, sự phát triển bền vững và hơn thế nữa là kiến thức về DLST
Kinh nghiệm phát triển DLST tại Tiền Giang
Tiền Giang là tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long, được Thủ tướng Chính phủ quyết định là tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm trong tam giác tăng trưởng du lịch thành phố Hồ Chí Minh – Cần Thơ – Kiên Giang và tam giác tăng trưởng kinh tế thành phố Hồ Chí Minh – Biên Hòa – Vũng Tàu
Tài nguyên du lịch Tiền Giang tương đối phong phú Một số nơi được khai thác cho hoạt động du lịch, nhất là tài nguyên thiên nhiên dọc trên sông Tiền và các di tích lịch sử xếp hạng đã thực sự thu hút du khách Tài nguyên DLST Tiền Giang nói lên những tiểu vùng sinh thái đặc trưng: Khu vực Đồng Tháp Mười, khu rừng Tràm với nhiều sinh vật cư trú và sinh sống như chim, cò, còng cọc, các loại cá đồng, Đó vừa
là nhân tố cân bằng sinh thái vừa là nguồn tài nguyên DLST Khu vực Gò Công sình lầy ngập mặn với nhiều loại thủy hải sản phong phú được tạo nên bởi sự tiếp giáp thủy lưu giữa hai dòng nước chủ yếu là mặn, ngọt đan xen với môi trường sinh thái ít khi ảnh hưởng bởi những tác động của con người, thảm thực vật phong phú Ngoài ra còn
có hàng trăm loại đặc sản và hàng ngàn loài cá tôm, tiềm ẩn nhiều nguồn lợi chưa khai phá, là đối tượng tham quan nghiên cứu của khách du lịch Tài nguyên nhân văn của Tiền Giang cũng khá phong phú với 11 di tích được nhà nước xếp hạng, 17 lễ hội lớn nhỏ hàng năm của tỉnh, các loại hình ca nhạc tài tử, cải lương, các làng nghề truyền thống cũng là những điểm hấp dẫn của khách du lịch
Với tài nguyên đa dạng và phong phú, Tiền Giang tổ chức được nhiều loại hình DLST: tham quan miệt vườn, di tích lịch sử văn hóa, du lịch làng quê, sinh hoạt văn hóa truyền thống, hội nghị hội thảo chuyên đề và thâm nhập tìm hiểu đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân Tiền Giang
Có thể nói, Tiền Giang là điểm DLST chính của khu vực hạ lưu sông Cửu Long
và là một trong hai tour du lịch lý tưởng của Việt Nam
Trang 33Tốc độ gia tăng khách du lịch và thu nhập du lịch Tiền Giang tương đối cao, tốc
độ tăng trưởng khách bình quân trong 5 năm gần đây là 13,85% trong đó khách quốc
tế tăng trưởng khoảng 20%
Để DLST Tiền Giang phát triển và đạt được những kết quả trên, ngành du lịch
đã thực hiện các biện pháp:
Xã hội hóa hoạt động du lịch, thực hiện mối liên kết giữa ngành du lịch và nhân dân Hoạt dộng này mang lại nhiều lợi ích từ du lịch cho người dân địa phương, đồng thời khai thác hợp lí các sản phẩm du lịch địa phương
Tăng trưởng đầu tư cho kết cấu hạ tầng, tôn tạo các di tích lịch sử - văn hóa, phát triển tài nguyên nhân văn, các dịch vụ du lịch kèm theo Chú trọng xây dựng hệ thống an ninh du lịch
Đa dạng hóa các loại hình du lịch, xây dựng hệ thống tổ chức xã hội về du lịch, nâng cao hiệu quả hoạt động của các tổ chức xã hội trong hoạt động du lịch cộng đồng
và du lịch chính thức, đa dạng hóa các hình thức đào tạo nguồn nhân lực cho du lịch,
xã hội hóa đầu tư cơ sở vật chất kĩ thuật
Tăng cường vai trò quản lí nhà nước về hoạt động du lịch, quy hoạch, đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng được quan tâm sát sao Xây dựng chiến lược phát triển DLST trong dài hạn Từ vị trí và điều kiện thuận lợi của mình, Tiền Giang tranh thủ đầu tư vào khai thác hợp lí các tiềm năng về du lịch của tỉnh, phối hợp nối tuyến với các tỉnh trong khu vực nhất là các tỉnh lân cận và với thành phố Hồ Chí Minh; Đồng thời đa dạng hóa sản phẩm du lịch, tận dụng lợi thế so sánh, phát triển du lịch của tỉnh Tiền Giang nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam nói chung
Trang 34CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH SINH THÁI
TỈNH SARAVAN CỦA NƯỚC CỘNG HOÀ DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội của tỉnh Saravan
2.1.1 Tổng quan về địa lý kinh tế tỉnh Saravan
Tỉnh Saravan, là một tỉnh của Nam Lào, nằm trên Cao nguyên Bolaven, có tổng diện tích tự nhiên 10.691 kmP2P Tỉnh nằm trên tuyến hành lang Đông - Tây và Bắc - Nam; có quốc lộ 13, quốc lộ 20 là trục giao thông chính của tỉnh nối liền giữa 2 vùng kinh tế trọng điểm là tỉnh Savannakhet ở phía bắc và tỉnh Champasak phía tây nam, phía đông Nam giáp tỉnh SeKong Đường 15B nối Saravan với biên giới Lào - Việt Nam với chiều dài 174 km Saravan có cửa khẩu quốc gia La Lay, tuy nhiên hoạt động của cửa khẩu này chưa nhộn nhịp
Hình 1.1 Bản đồ tỉnh Saravan (hay còn gọi là Salavan)nước Cộng Hoà Dân chủ
Nhân dân Lào
Những đặc điểm về lịch sử hình thành, vị trí địa lý lãnh thổ, địa hình địa mạo và
sự đa dạng về các điều kiện tự nhiên của tỉnh đã tạo ra sự phong phú, đa dạng với tính
Trang 35pha trộn của hệ sinh thái tại chỗ với tính đa dạng sinh thái cao của vùng cao nguyên
Bolaven Saravan là vùng đất có nguồn tài nguyên dồi dào (đá vôi, than đá, kim loại có
giá trị cao…) là trọng điểm phát triển công nghiệp xi măng, vật liệu có chứa xi măng,
vật liệu xây dựng, gạch và bêtông, đá vôi và những ngành khác Có lợi thế trong các ngành cơ khí và chế biến nông lâm sản như: lắp ráp và sửa chữa máy móc, chế biến nông lâm sản phục vụ du lịch và chế biến các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của địa phương cho xuất khẩu (cây cà phê, cao su, cây ăn quả….), với nhiều di sản văn hóa độc đáo còn lưu giữ cho đến ngày nay Đây chính là những yếu tố cơ bản tạo nên tài nguyên
du lịch và DLST đặc sắc của vùng DHCNTB, đảm bảo cho sự phát triển DLST bền vững của vùng trong tương lai Đơn vị hành chính của tỉnh bao gồm các 8 huyện
Dân số toàn tỉnh là 339 nghìn người, mật độ dân số 30 người/kmP2P tính theo, thu nhập bình quân đầu người năm 2012 khoảng 635 USD, thấp hơn trung bình của nước Lào.Tỉnh Saravan gồm có 8 huyện như huyện Khongxedone, Lakhonepheng, Lao Ngam, Saravane, Sa Mouay, Ta Oy, Toumlane, Vapy Trong đó, thị xã Saravan là trung tâm văn hoá, xã hội, chính trị, kinh tế của tỉnh Số người có khả năng làm việc chiếm 73,3% chia theo nghề nghiệp như: nông dân chiếm 64%; làm vườn chiếm 10%; công chức chiếm 3%; doanh nghiệp tư nhân; chiếm 1%; nghề nghiệp khác chiếm 19%; thất nghiệp chiếm 3%
Đặc điểm dân cư của tỉnh Saravan là quy mô dân số ít, mật độ dân cư thưa thớt, lại phân bố không đều Mặt khác, trình độ dân trí chưa cao, lao động có tay nghề và được đào tạo kỷ thuật còn ít Trong khi đó tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển các ngành lĩnh vực kinh tế khác nhau và cần rất nhiều lao động với trình độ ngày càng nâng cao Như vậy, so với yêu cầu phát triển tỉnh thiếu lao động cả về số lượng và chất lượng
2.1.2 Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh Saravan
Về tình hình kinh tế - xã hội là tỉnh phát triển còn chậm và không đồng đều giữa các khu vực trong tỉnh Về dân số với mật độ khoảng 30 người/km2 Về kinh tế, quy mô phát triển có sự chênh lệch khá lớn giữa các huyện trong tỉnh và so với các tỉnh khác Tài nguyên đất đai và vị trí địa lý thuận lợi đã có bước phát triển vượt trội Saravan có điều kiện tốt và tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện; Nhà máy thủy điện
Trang 36Saravan có khả năng trở thành địa bàn trọng điểm phát triển cho nhiều ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản (Cà phê tại huyện Lau Ngàm) Một số chỉ tiêu kinh tế của tỉnh trong những năm gần đây đã có những tiến triển tốt có thể thấy như sau:
Bảng 2.1: Một số chỉ tiêu kinh tế xã hội chủ yếu của tỉnh năm 2017
1 Dân số trung bình (1.000 người) 339
2 Mật độ dân số (người/km2) 30
3 Bình quân GDP/người (USD) 635
Nguồn: Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Saravan, 2016
2.2 Tiềm năng phát triển DLST tỉnh Saravan
2.2.1 Tài nguyên DLST tự nhiên của tỉnh Saravan
Những đặc điểm về lịch sử hình thành, vị trí địa lý lãnh thổ, địa hình địa mạo và
sự đa dạng về các điều kiện tự nhiên của tỉnh đã tạo ra sự phong phú, đa dạng vốn có cùng với tác động có tính chất pha trộn của các hệ sinh thái tại chỗ với tính đa dạng sinh thái cao của các tỉnh lân cận của cao nguyên Bolaven Đây chính là những yếu tố
cơ bản tạo nên tài nguyên DLST đặc sắc của tỉnh
Các hệ sinh thái điển hình ở tỉnh
- Nhóm hệ sinh thái rừng nhiệt đới:
+ HST rừng kín thường xanh - á nhiệt đới phát triển trên núi cao trung bình có mùa đông lạnh ẩm
+ HST rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên núi cao trung bình có mùa đông mát ẩm
+ HST rừng kín thường xanh nhiệt đới phát triển trên núi thấp có mùa khô nóng:
+ HST rừng thưa cây họ dầu rụng lá về mùa khô phát triển trên vùng đồi gò và thung lũng
+ HST rừng kín nửa rụng lá về mùa khô phát triển trên vùng gò đồi và thung lũng
+ HST rừng kín thường xanh nhiệt đới nớng ẩm phát triển trên vùng thấp
- Nhóm HST đất ngập nước (HST thủy vực)
- Nhóm HST nông nghiệp (còn gọi là hệ địa-sinh thái nông nghiệp):
Trang 37Nhóm HST nông nghiệp được chia ra làm ba phân hệ: phân hệ đồng ruộng (hay phân hệ trồng trọt tập trung), phân hệ vườn nông thôn (hay phân hệ quần cư nông thôn) và phân hệ sông suối hồ ao đầm (hay phân hệ thủy vực)
Qua quá trình phát triển, ngày nay HST nông nghiệp đã được nhìn nhận là tài nguyên DLST độc đáo, các tổ chức du lịch nhiều nơi đã tập trung khai thác để tạo nên các sản phẩm DLST nông thôn, DLST vườn trại hấp dẫn nhất lấ các vùng nông nghiệp nhiệt đới Ở tỉnh, đặc biệt các vùng nông thôn, các vùng chuyên canh nông nghiệp như DLST kiểu tham quan vườn cây ăn trái như nhãn, mít, Xoài, cà phê… đã bắt đầu xuất hiện và phát triển mặc dù chưa được hoàn chỉnh theo đúng nghĩa của nó, song ngày càng thu hút được sự quan tâm của khách du lịch quốc tế
Hệ thống rừng đặc dụng, cảnh quan thiên nhiên - một dạng tài nguyên DLST quan trọng
- Hệ thống rừng đặc dụng ở tỉnh Saravan
- Các vườn Quốc gia như rừng quốc gia Sắc sít
- Các danh lam thắng cảnh, núi non, sông nước như sông Sê đôn
- Hệ thống sông, hồ, núi, thung lũng của tỉnh Saravan
2.2.2 Tài nguyên du lịch sinh thái nhân văn tỉnh Saravan
Thiên nhiên ưu đãi cho tỉnh không những về cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp
mà còn để lại cho tỉnh có nhiều tài nguyên nhân văn quý giá mang tầm giá trị quốc gia
và khu vực đó là một nền văn hóa phát triển rực rỡ trước khi lụi tàn, những di sản vật thể để lại không thể kể hết được phân bố tương đối đều khắp trên cả nước trong đó có tỉnh Saravan Đây là tiền đề vững chắc để phát triển DLST văn hóa bản địa trong tương lai
Các di tich lịch sử-văn hóa
Hiện toàn tỉnh có nhiều di tích kiến trúc mang giá trị văn hóa của người dân bản địa nơi đây với lối kiến trúc nhà truyền thống của người Lào và một số dân tộc khác của Lào đã được công nhận là di tích cấp quốc gia và địa phương
Bên cạnh đó, Lào là một nước theo tôn giáo chính là Đạo Phật, nên hệ thống chùa có mặt tại các nơi trong tỉnh nói riêng và nước Lào nói chung Với nối kiến trúc
Trang 38Ngoài ra, tại tỉnh còn có một số di tích lịch sử, kiến trúc mỹ thuật khác mang đậm nét của người dân địa phương, cũng như những kiến trúc có sự giao thoa giữa các tôn giáo, quốc gia khác trên thế giới
Các lễ hội tiêu biểu
Hàng năm, có nhiều lễ hội dân gian của Lào nói chung và dân tộc khác sống trên nước Lào nói riêng TỈnh Saravan là nơi hội tụ của nhiều lễ hội vừa truyền thống, vừa hiện đại, vừa mang yếu tố dân gian, và một số lễ hội khác trong năm của người dân nơi đây, như:
Lễ hội thờ cúng tổ làng, hội đua thuyền, lễ hội bắn pháo đại, Bun Ka Thin…
Lễ hội tôn giáo: Ở Lào đa số là tuân theo đạo phật và những lễ hội mà dân làng
tổ chức với gắn với nhà chùa là nhiều nhất như: Bun Khao Phan Sa, Bun Pi May, Bun
Các loại hình nghệ thuật hiện đại và truyền thống
Với những chương trình biểu diễn đặc thù trong các hoạt động DLST văn hóa phục vụ du khách như: ca múa nhạc truyền thống dân tộc, ca múa nhạc kịch hiện đại,
đã tạo hứng thú và hấp dân du khách đến thăm như: bài múa Saravan là một bài múa được ưa chuộng nhất quả cả nước Lào, đây là đặc trưng và có tính hấp dẫn đã thu hút nhiều khác đến tham và nhảy múa cùng nhau
2.3 Thực trạng phát triển du lịch tỉnh Saravan nước Cộng Hoà Dân chủ Nhân dân Lào trong thời gian qua
2.3.1 Loại hình DLST tại tỉnh Saravan
Toàn tỉnh được phân chia thành 7 vùng du lịch với 35 điểm du lịch, trong đó có
15 điểm DLST, 5 điểm du lịch văn hoá và 5 điểm du lịch lịch sử Các Lễ hội hàng năm theo truyền thống của dân địa phương là những dịp để thu hút khách du lịch từ các nơi trong nước và khách quốc tế như: Hội Bun Pha vết, tháng 3; Hội Pi May Lào ( năm
Trang 39mới ), 13 -16 táng 4; Hội Bun bẳng phai, tháng 5; Hội Bun Khao Phăn Sa (vào Chùa), tháng 7; Hội Bun Ook Phăn Sa (ra Chùa) và đua thuyền, tháng 10
Tại các điểm DLST hiện nay của tỉnh thường khai thác từ tài nguyên du lịch thiên nhiên xen kẽ với các tài nguyên du lịch nhân văn Du khách tham quan điểm DLST thường tìm hiểu luôn cuộc sống của người dân đang cư trú và sinh hoạt tại nơi
đó có những nét văn hóa đặc thù nào nổi trội, khác biệt với những người dân nơi khác như: Thác, hồ ao, núi, rừng, rừng quốc gia, làng văn hóa; Chùa, các sinh hoạt của dân tộc, sản phẩm thủ công; Khu cổ, các hang thời chiến tranh, các bảo tàng Đồng thời, để phục vụ cho nhóm đối tượng khách DLST phải luôn đi kèm với các dịch vụ bổ sung như nhà nghỉ, dịch vụ ăn uống, vui chơi giải trí, thăm viếng các ngôi làng cổ, hoặc mua các sản phẩm thủ công truyền thống của người dân: Nhà hàng ăn uống, đồ lưu niệm, khu nghỉ nghơi giải trí, khách sạn, nhà nghỉ,
Trang 40Bảng 2.2: Tổng hợp hoạt động du lịch sinh thái của tỉnh Saravan từ năm
(người)
Loại sản phẩm
du lịch tại điểm
Dịch vụ kèm theo
Tổng
số khách
Loại sản phẩm
du lịch tại điểm
Dịch
vụ kèm theo
Tổng
số khách
Loại sản phẩm
du lịch tại điểm
Dịch vụ kèm theo
1 43
39,067 Thác,
hồ ao, núi, rừng, rừng quốc gia, làng văn hóa
Nhà hàng ăn uống,
đồ lưu niệm, khu nghỉ nghơi giải trí, khách sạn, nhà nghỉ
42.613 Thác,
hồ ao, núi, rừng, rừng quốc gia, làng văn hóa
Nhà hàng
ăn uống,
đồ lưu niệm, khu nghỉ nghơi giải trí, khách sạn, nhà nghỉ
50.428 Thác,
hồ ao, núi, rừng, rừng quốc gia, làng văn hóa
Nhà hàng ăn uống, đồ lưu niệm, khu nghỉ nghơi giải trí, khách sạn, nhà nghỉ
2 34
36.829 Chùa,
các sinh hoạt của dân tộc, sản phẩm thủ công
Nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ
42.384 Chùa,
các dân tộc, sản phẩm
tủ công
Nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ
49.564 Chùa,
các dân tộc, sản phẩm
tủ công
Nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ
3 7
37.529 Khu cổ,
các hang thời chiến tranh, các bảo tàng
Nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ
40.896 Khu
cổ, các hang thời chiến tranh, các bảo tàng
Nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ
49.897 Khu
cổ, các hang thời chiến tranh, các bảo tàng
Nhà hàng, khách sạn, nhà nghỉ
Nguồn: Sở Văn hóa và Du lịch tỉnh Saravan năm 2017