1. Trang chủ
  2. » Hoá học lớp 10

nguyen thanh trung dhsp

46 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 46
Dung lượng 56,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua tình huống truyện lấy vợ của Tràng, Kim Lân không chỉ nói lên được thực trạng đen tối của xã hội Việt Nam trước Cách mạng , mà còn thể hiện được thân phận đói nghèo, bị rẻ rú[r]

Trang 1

BÀI GIẢNG VĂN HỌC 2019

Nội dung 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐỌC HIỂU VĂN BẢN

1.1 Thể thơ: thể thơ Đường luật, thể thơ tự do (thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, v.v…)

Hài thanh: Cặp song thất lấy tiếng thứ ba làm chuẩn, có thể có thanh bằng (câu thất –bằng) hoặc trắc (câu thất – trắc) nhưng không bắt buộc Còn cặp lục bát thì sự đối xứngbằng – trắc chặt chẽ hơn (giống như ở thể lục bát)

Trống Trường Thành lung lay bóng nguyệt

Khói Cam Tuyền mờ mịt khúc mây

Chín tầng gươm báu trao tay

Nửa đêm truyền hịch đợi ngày xuất chinh

(Chinh Phụ Ngâm, Đặng Trần Côn – Đoàn Thị Điểm)

Trang 2

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi

Này của Xuân Hương mới quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại

Đừng xanh như lá bạc như vôi

(Hồ Xuân Hương)

1.1.3.3 Thất ngôn bát cú

+ Kết cấu: đề (phá đề, thừa đề) thực, luận (mỗi cặp này đối nhau), kết

+ Luật thơ: Chữ 2,4,6 trong câu 1 đúng công thức TBT hoặc BTB và ngược đối với câu

kế tiếp trong cùng một liên thơ (đề thực luận và kết)

+Chỉ gieo vần bằng và thường gieo ở câu 1,2,4,6,8 Hệ thống thanh chữ thứ 5 ngược vớithanh của chữ cuối câu đó.Quanh năm buôn bán ở mom sông

Nuôi đủ năm con với một chồng

lặn lội thân cò khi quãng vắng

Eo sèo mặt nước buổi đò đông

Một duyên hai nợ âu đành phận

Trang 3

Năm nắng mười mưa dám quản công

Cha mẹ thói đời ăn ở bạc

Có chồng hờ hững cũng như không

1.1.4 Thơ tự do

Đúng như cái tên của nó: không bị gò bó bởi số câu số chữ, niêm, luật, vần, đối,

… Nhận biết thơ tự do rất đơn giản: đếm số chữ trong 1 dòng thơ, dòng nhiều dòng ítkhông gò bó, và không bắt buộc theo quy luật như các thể thơ khác (Lục bát cũng dòng 6dòng 8 nhưng nó cứ luân phiên theo quy luật)

Khi ta lớn Đất Nước đã có rồi

Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa " mẹ thường hay kể

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc.

1.2 Các biện pháp tu từ: điệp từ, điệp ngữ, điệp cấu trúc cú pháp, so sánh, nhân hóa,

Điệp ngữ nối tiếp

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện

trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi mèo đốt nương xuân … (Nguyễn Tuân)

Điệp ngữ cách quãng

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Heo hút cồn mây, súng ngửi trời

Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống

Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi

Điệp ngữ chuyển tiếp (điệp ngữ vòng)

Trang 4

nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm

+Tác dụng

Điệp ngữ vừa để nhấn mạnh ý

Chiều chiều oai linh thác gầm thét

Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người

Tạo cho câu văn, câu thơ, đoạn văn, đoạn thơ giàu âm điệu, giọng văn trở nên tha thiết,

nhịp nhàng hoặc hào hùng mạnh mẽ

Tây Tiến người đi không hẹn ước

Đường lên thăm thẳm một chia phôi

Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

tạo sự nhịp nhàng, cân đối cho văn bản

Đất Nước là nơi dân mình đoàn tụ

Yêu nhau và sinh con đẻ cái

Gánh vác phần người đi trước để lại

Dặn dò con cháu chuyện mai sau

Trang 5

Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.

+ Đặc điểm

Phép so sánh thông thường gồm 3 yếu tố:

(1) Vế A: Đối tượng (là sự vật, hoặc phương diện …) được so sánh

(2) Từ so sánh

(3) Vế B: Sự vật làm chuẩn để so sánh

(4) Cơ sở so sánh: tương đồng

1 và 3 phải có mặt, nếu không thì sẽ trở thành ẩn dụ

2 thì tùy sắc thái (giả định, khẳng định, tính chất – bằng hoặc hơn kém) có thể là:

như, giống, tựa, khác nào, tựa như, giống như, là, bao nhiêu,…bấy nhiêu, hơn, kém

4 thiếu: Mình ơi có nhớ ta chăng, Ta như sao vượt chờ trăng hỡi người

Có thể đảo trật tự hai vế: Như chiếc đảo bốn bề chao mặt sóng, Hồn tôi vang tiếng

vọng của hai miền

+Tác dụng

So sánh tạo ra những hình ảnh cụ thể sinh động bởi lấy cái cụ thể so sánh với cái

không cụ thể hoặc kém cụ thể hình dung được sự vật rõ hơn.

Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

Anh/chị hãy nhận diện biện pháp tu từ nghệ thuật nổi bật trong đoạn thơ trên và phân

tích hiệu quả biểu đạt của nó

Trang 6

Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng.

Anh/chị hãy nhận diện biện pháp tu từ nghệ thuật nổi bật trong đoạn văn trên và phân

tích hiệu quả biểu đạt của nó

Mai cũng ngồi trước mặt Tnú như vậy đấy, cũng đôi mắt có hai hàng lông mày đậm đến che tối cả tròng đen long lanh, ừ có lẽ đôi mắt đó ít trang nghiêm hơn, chất chứa nhiều thương yêu hơn, nhưng cũng bình thản như vậy, cứng rắn như vậy đó.

Anh/chị hãy nhận diện biện pháp tu từ nghệ thuật nổi bật trong đoạn văn trên và phân

tích hiệu quả biểu đạt của nó

_Nhân hóa

+Định nghĩa

Từ nhân hoá nghĩa là trở thành người Nhân hoá là cách gọi hoặc tả con vật, cây cối, đồvật, hiện tượng thiên nhiên bằng những từ ngữ vốn được dùng đẻ gọi hoặc tả con người;làm cho thế giới loài vật, cây cối đồ vật, … trở nên gần gũi với con người, biểu thị đượcnhững suy nghĩ tình cảm của con người

Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa.

+Phân loại

Gọi sự vật bằng những từ vốn gọi người

VD: Bác giun đào đất suốt ngày

Hôm qua chết dưới bóng cây sau nhà (Trần Đăng Khoa)

Những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người được dùng để chỉ hoạt động, tính chất sự vật, thiên nhiên

Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi

Mường Lát hoa về trong đêm hơi

Trò chuyện tâm sự với vật như đối với người

VD :

Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Trang 7

+Tác dụng

Phép nhân hoá làm cho câu văn, bài văn thêm cụ thể, sinh động, gợi cảm ; làm chothế giới đồ vật, cây cối, con vật được gần gũi với con người hơn

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mai này con ta lớn lên

Con sẽ mang Đất Nước đi xa

Đến những tháng ngày mơ mộng

+Tính chất

Muốn có phép ẩn dụ thì giữa hai sự vật hiện tượng được so sánh ngầm phải có nét tươngđồng quen thuộc nếu không sẽ trở nên khó hiểu

Ẩn dụ chính là một phép chuyển nghĩa lâm thời khác với phép chuyển nghĩa thường

xuyên trong từ vựng Trong phép ẩn dụ, từ chỉ được chuyển nghĩa lâm thời mà thôi.

+Phân loại

Ẩn dụ hình tượng là cách gọi sự vật A bằng sự vật B

VD:

Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

Ẩn dụ cách thức là cách gọi hiện tượng A bằng hiện tượng B

VD: Họ gánh theo tên xã tên làng trong mỗi chuyến di dân

Anh bạn dãi dầu không bước nữa

Gục lên súng mũ bỏ quên đời!

Ẩn dụ phẩm chất là cách lấy phẩm chất của sự vật A để chỉ phẩm chất của sự vật B

VD:

Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

Mai Châu mùa em thơm nếp xôi

Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác là lấy cảm giác A để chỉ cảm giác B

VD:

Nhớ về rừng núi, nhớ chơi vơi

Trang 8

+Tác dụng

Ẩn dụ làm cho câu văn thêm giàu hình ảnh và mang tính hàm súc Sức mạnh của

ẩn dụ chính là mặt biểu cảm Cùng một đối tượng nhưng ta có nhiều cách thức diễn đạtkhác nhau (thuyền – biển, mận – đào, thuyền – bến) cho nên một ẩn dụ có thể dùng chonhiều đối tượng khác nhau

Ẩn dụ luôn biểu hiện những hàm ý mà phải suy ra mới hiểu Chính vì thế mà ẩn dụlàm cho câu văn giàu hình ảnh và hàm súc, lôi cuốn người đọc người nghe

+Bài tập

Anh/chị hãy nhận diện biện pháp tu từ nghệ thuật nổi bật trong đoạn thơ trên và phân

tích hiệu quả biểu đạt của nó

Rải rác biên cương mồ viễn xứ

Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

Lấy một bộ phận để gọi toàn thể

Trong anh và em hôm nay

Đều có một phần Đất Nước

Khi hai đứa cầm tay

Đất Nước trong chúng ta hài hòa nồng thắm

Khi chúng ra cầm tay mọi người

Đất Nước vẹn tròn, to lớn

Lấy vật chứa đựng để gọi vật bị chứa đựng

Nhớ khi giặc đến giặc lùng

Trang 9

Rừng cây núi đá ta cùng đánh Tây

Núi giăng thành luỹ sắt dày

Rừng che bộ đội rừng vây quân thù

Mênh mông bốn mặt sương mù

Ðất trời ta cả chiến khu một lòng.

Lấy dấu hiệu của sự vật để gọi sự vật

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng…

…Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Áo chàm đưa buổi phân ly

Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay

Lấy cái cụ thể để gọi cái trừu tượng

Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

+Tác dụng

+Bài tập

1.3 Các phương thức biểu đạt trong văn học

Có 6 phương thức biểu đạt, cụ thể như sau: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh, nghịluận, hành chính - công vụ

_Tự sự: là dùng ngôn ngữ để kể một chuỗi sự việc, sự việc này dẫn đến sự việc kia, cuối

cùng tạo thành một kết thúc Ngoài ra, người ta không chỉ chú trọng đến kể việc mà cònquan tâm đến việc khắc hoạ tính cách nhân vật và nêu lên những nhận thức sâu sắc, mới

mẻ về bản chất của con người và cuộc sống

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc.Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở gà gáy Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương.

- Miêu tả: là dùng ngôn ngữ làm cho người nghe, người đọc có thể hình dung được cụ

thể sự vật, sự việc như đang hiện ra trước mắt hoặc nhận biết được thế giới nội tâm củacon người

Trang 10

Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn.

_ Biểu cảm là một nhu cầu của con người trong cuộc sống bởi trong thực tế sống luôn có

những điều khiến ta rung động (cảm) và muốn bộc lộ (biểu) ra với một hay nhiều ngườikhác PT biểu cảm là dùng ngôn ngữ để bộc lộ tình cảm, cảm xúc của mình về thế giớixung quanh

Ví dụ:

Nhớ gì như nhớ người yêu

Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

Nhớ từng bản khói cùng sương

Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

_Thuyết minh là cung cấp, giới thiệu, giảng giải…những tri thức về một sự vật, hiện

tượng nào đó cho những người cần biết nhưng còn chưa biết

Ví dụ:

Nội dung ôn tập tuyển sinh theo chương trình tốt nghiệp trung học phổ thông quốc giabao gồm 3 nội dung chính là đọc hiểu văn bản, nghị luận xã hội và nghị luận văn học.Đọc hiểu văn bản tập trung vào các vấn đề thể thơ, phương thức biểu đạt, từ láy, nội dung

và dựng đoạn Nghị luận xã hội giới hạn trong hai dạng là nghị luận tư tưởng ý kiến vàhiện tượng xã hội đời sống Nghị luận văn học hướng đến 6 tác phẩm gồm: Tây Tiến,Việt Bắc, Đất nước, Vợ nhặt, Người lái đò sông Đà và Rừng xả nu

_Nghị luận là phương thức chủ yếu được dùng để bàn bạc phải trái, đúng sai

nhằm bộc lộ rõ chủ kiến, thái độ của người nói, người viết rồi dẫn dắt, thuyếtphục người khác đồng tình với ý kiến của mình

Ví dụ:

Muốn đạt kết quả cao trong kỳ thi sắp tới thì cần phải làm bài tốt Muốn làm bàitốt thì phải có được kiến thức và kỹ năng cần thiết Kiến thức và kỹ năng chỉ có thể hìnhthành thông qua quá trình tiếp thu và rèn luyện nghiêm túc trong lớp Trong lớp học cầnphải tập trung chú ý nghe giảng và đóng góp bài học Bài học tất nhiên không thể hoàn bịnếu học viên ngủ gục trong lớp…

Hành chính – công vụ là phương thức dùng để giao tiếp giữa Nhà nước với nhân

dân, giữa nhân dân với cơ quan Nhà nước, giữa cơ quan với cơ quan, giữa nước này vànước khác trên cơ sở pháp lí [thông tư, nghị định, đơn từ, báo cáo, hóa đơn, hợp đồng…]

Ví dụ:

Điều 13 Quy chế thi THPT Quốc gia năm 2015 quy định mọi vi phạm quy chế thi đều bị lập biên bản, xử lý kỷ luật và thông báo cho thí sinh

Trang 11

1 Khiển trách đối với những thí sinh phạm lỗi một lần: nhìn bài hoặc trao đổi bài với thí sinh khác Hình thức này do cán bộ coi thi quyết định tại biên bản được lập

2 Cảnh cáo đối với các thí sinh vi phạm một trong các lỗi sau đây:

a) Đã bị khiển trách một lần nhưng trong giờ thi môn đó vẫn tiếp tục vi phạm quy chế thi

ở mức khiển trách.

b) Trao đổi bài làm hoặc giấy nháp với thí sinh khác.

c) Chép bài của thí sinh khác hoặc để thí sinh khác chép bài của mình.

Hình thức kỷ luật cảnh cáo do cán bộ coi thi quyết định tại biên bản được lập, kèm tang vật (nếu có)…

1.4 Từ láy

+ Nhận diện các từ láy trong văn bản

+ Phân tích hiệu quả biểu đạt của từ láy

Là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị theo những quy luật nhất định saocho quan hệ giữa các tiếng trong từ điệp đối, hài hòa về âm và nghĩa, có giá trị tượngtrưng hóa

Đặc điểm: cấu tạo bao gồm một hình vị gốc và một/vài hình vị láy Ý nghĩa của từ được quy định bởi hình

vị gốc (nho nhỏ) tuy nhiên có khả năng hình vị láy tác động sắc thái hóa (hay ho, mùa màng) ý nghĩa hình

Khấp kha khấp khểnh

Láy toàn thể Lăm lăm, khư

khưPhát hiện và phân tích hiệu quả biểu đạt của các từ láy trong văn bản sau

Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm

Mình đi, có nhớ những nhà

Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

1.5 Nhận diện nội dung của văn bản và thái độ của tác giả thể hiện trong văn bản

Nội dung văn bản và thái độ tác giả gắn kết chặt chẽ với nhau, có thể được phân ra làmbốn yếu tố như sau:

_ Đề tài

Đề tài là phạm vi cuộc sống được nhà văn nhận thức, lựa chọn, khái quát, bình giá và thểhiện trong văn bản Việc lựa chọn đề tài bước đầu bộc lộ khuynh hướng và ý đồ sáng táccủa tác giả

Trang 12

_ Cảm hứng nghệ thuật

Cảm hứng nghệ thuật là nội dung tinh cảm chủ đạo của văn bản Những trạng thái tâmhồn, những cảm xúc được thể hiện đậm đà, nhuần nhuyễn trong văn bản sẽ truyền cảm vàhấp dẫn người đọc Qua cảm hứng nghệ thuật, người đọc cảm nhận được tư tưởng, tìnhcảm của tác giả nêu trong văn bản

_ Tư tưởng

Tư tưởng của văn bản là sự lí giải đối với chủ đề đã nêu lên, là nhận thức của tác giảmuốn trao đổi, nhắn gửi, đối thoại với người đọc Tư tưởng là linh hồn của văn bản vănhọc

Những nội dung trên có thể được xác định thông qua ngôn từ, kết cấu, thể loại của vănbản

Bài tập: xác định nội dung chính của văn bản/ Đặt nhan đề cho văn bản và thái độ của tác giả.

Làng ở trong tầm đại bác của đồn giặc.Chúng nó bắn, đã thành lệ, mỗi ngày hai lần, buổi sáng sớm và xế chiều, hoặc đứng bóng và xẩm tối, hoặc nửa đêm và trở

gà gáy Hầu hết đạn đại bác đều rơi vào ngọn đồi xà nu cạnh con nước lớn Cả rừng xà nu hàng vạn cây không có cây nào không bị thương Có những cây bị chặt đứt ngang nửa thân mình, đổ ào ào như một trận bão Ở chỗ vết thương, nhựa ứa ra, tràn trề, thơm ngào ngạt, long lanh nắng gay gắt, rồi dần dần bầm lại, đen và đặc quện thành từng cục máu lớn.

Mặt Tnú đanh lại Anh lẳng lặng đi cho đến khi anh nhận ra tiếng chày dồn dập của làng anh Bây giờ anh chợt hiểu ra rằng hình như cái mà anh nhớ nhất ở làng, nỗi nhớ day dứt lòng anh suốt ba năm nay chính là tiếng chày đó, tiếng chày chuyên cần, rộn rã của những người đàn bà và những cô gái Strá, của mẹ anh ngày xa xưa, của Mai, của Dít, từ ngày lọt lòng anh đã nghe thấy tiếng chày ấy rồi Tnú cố giữ bình tĩnh nhưng ngực anh vẫn đập liên hồi, chân cứ vấp mãi mấy cái rễ cây ở chỗ ngã quẹo vào làng.

Cái đói đã tràn đến xóm này tự lúc nào Những gia đình từ những vùng Nam Định, Thái Bình, đội chiếu lũ lượt bồng bế, dắt díu nhau lên xanh xám như những

Trang 13

bóng ma, và nằm ngổn ngang khắp lều chợ Người chết như ngả rạ Không buổi sáng nào người trong làng đi chợ, đi làm đồng không gặp ba bốn cái thây nằm còng queo bên đường Không khí vẩn lên mùi ẩm thối của rác rưởi và mùi gây của xác người.

Trong một lúc Tràng hình như quên hết những cảnh sống ê chề, tăm tối hằng ngày, quên cả cái đói khát ghê gớm đang đe dọa, quên cả những tháng ngày trước mặt Trong lòng hắn bây giờ chỉ còn tình nghĩa giữa hắn với người đàn bà đi bên Một cái gì mới mẻ, lạ lắm, chưa từng thấy ở người đàn ông nghèo khổ ấy, nó ôm

ấp, mơn man khắp da thịt Tràng, tựa hồ như có bàn tay vuốt nhẹ trên sống lưng.

Ta về, mình có nhớ ta

Ta về ta nhớ những hoa cùng người

Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

Ngày xuân mơ nở trắng rừng

Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

Ve kêu rừng phách đổ vàng

Nhớ cô em gái hái măng một mình

Rừng thu trăng rọi hoà bình

Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

Đất Nước là nơi ta hò hẹn

Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm

Đất là nơi " con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc"

Nước là nơi " con cá ngư ông móng nước biển khơi"

1.6 Viết đoạn văn ngắn khoảng 5 – 7 câu về một vấn đề liên quan đến nội dung của văn bản

Các dạng lập luận trong đoạn

a-Quy nạp:Là quá trình lập luận đi từ cái riêng đến cái chung; chủ đề đứng ở cuối đoạn.Hiện nay trình độ của đại đa số đồng bào ta bây giờ không cho phép đọc dài, điều kiệngiấy mực của ta không cho phép viết dài và in dài, thì giờ của ta, người lính đánh

giặc,người dân đi làm, không cho phép xem lâu Vì vậy, nên viết ngắn chừng nào tốt chừng ấy (Hồ Chí Minh)

Trang 14

b-Diễn dịch: Trái với quy nạp, đi từ khái quát đến cụ thể, câu chủ đề dứng ở đầu đoạnchứa nội dung khái quát là hạt nhân ý nghĩa của toàn đoạn

Tôi quyết trong lịch sử thi ca Việt Nam chưa bao giờ có một thời đại phong phú như thời đại này Chưa bao giờ người ta thấy xuất hiện cùng lúc một hồn thơ rộng như Thế Lữ,

mơ màng như Lưu Trọng Lư, hùng tráng như Huy thông, trong sáng như Nguyễn NhượcPháp, ảo não như Huy Cận, quê mùa như Nguyễn Bính, kỳ dị như Chế Lan Viên… và rạorực băn khoăn như Xuân Diệu” (Hoài Thanh)

c-Song hành: Các ý trong đoạn văn có quan hệ đồng đẳng nhau, đều triển khai mộtphương diện của tiểu chủ đề, tập hợp tất cả các câu mới thấy rõ ý của toàn đoạn

Ca dao là bầu sữa nuôi dưỡng tuổi thơ Ca dao là hình thức trò chuyện tâm tình của những chàng trai cô gái Ca dao là tiếng nói biết ơn, tự hào về công đức của tổ tiên và anh linh của những người đã khuất Ca dao là phương tiện bộc lộ nỗi tức giận hoặc lòng hân hoan của người sản xuất.

d-Móc xích:Trình bày đoạn văn theo kiểu móc xích là việc trình bày ý nọ nối tiếp ý kia, ýcâu sau móc nối vào ý câu trước cứ thế nối tiếp nhau cho đến khi đoạn văn kết thúc

Đọc thơ Nguyễn Trãi, nhiều người đọc khó mà biết có đúng là thơ Nguyễn Trãi không.

Đúng là thơ nguyễn Trãi rồi thì cũng không phải là dễ hiểu đúng Lại có khi chữ hiểu đúng, câu hiểu đúng mà toàn bài không hiểu Không hiểu vì không biết chắc bài thơ được

viết ra lúc nào trong cuộc đời nhiều chìm nổi của Nguyễn Trãi”

f-Đan xen nhiều kiểu cấu trúc:

Diễn dịch – Quy Nạp; Diễn dịch – Song hành; Song song – Quy nạp; có kiểu cấu trúctối giản: Đoạn văn chỉ có một câu

Trang 15

và nhân dân Muốn cho quân đội mạnh cần xây dựng bồi đắp vững chắc nền tảng củanhân dân.

_Thắng lợi như một tòa lầu cao, xây càng cao thì nền móng càng phải vững vàng,nếu không được lòng dân thì lầu càng cao càng nguy hiểm, thắng lợi càng lớn càng dễsụp đổ

Xây dựng quân đội cần đồng bộ với xây dựng thế trận lòng dân, thắng lợi chỉ cóđược nếu hội tụ đủ hai điều kiện: quân tốt và dân tốt, thiếu một trong hai đều không thể Quán triệt tinh thần vì nhân dân phục vụ

Đây là một ý kiến dưới hình thức thơ, dễ thuộc dễ nhớ Bác Hồ luôn vận dụng hìnhthức này để vận động và tranh thủ sức mạnh của đa số quần chúng nhân dân, đây chính

là bài học cho cá bộ chiến sĩ công an nhân dân

Một bộ phận có dấu hiệu tiêu cực, thoái hóa, phải đấu tranh mạnh mẽ chống lại thiểu

số này để vững lòng dân và sát cánh trong sự nghiệp xây dựng bảo vệ tổ quốc

Tích cực vận động và phát huy sức mạnh từ phía nhân dân thông qua sự lãnh đạo của

Trang 16

Đảng, tổ chức của Đoàn thể, làm cho dân "hiểu Công an, yêu công an, và giúp đỡ Côngan".

Nghiêm túc tham gia phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ ChíMinh”, học tập, thấm nhuần và thực hiện 6 điều Bác dạy

Luôn luôn giúp đỡ, tổ chức, giáo dục nhân dân

Báo Đại Kỷ Nguyên ngày 20/09/2015 có bài viết nhấn mạnh rằng: Mối quan hệ mạnh nhất, chính là nhân phẩm Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 từ) nêu suy nghĩ của anh

(chị) về ý kiến này

1 Giải thích vấn đề

_Ý kiến trên gồm có hai vế, vế sau định nghĩa, làm rõ cho vế trước Nội dung chính đềcao nhân phẩm và xem đây là mối quan hệ quan trọng nhất mà ta có được trong côngviệc, đời sống

_Mối quan hệ: sự ràng buộc, tác động lẫn nhau giữa hai hay nhiều chủ thể Mối quan hệ

ở đây mang ý nghĩa xã hội, tức là yếu tố mà người ta có thể tranh thủ được để hưởng lợiích trên cơ sở huyết thống, giao du, quen biết…

_Nhân phẩm: phẩm chất con người, cá nhân; ở đây mang ý nghĩa tích cực

_Vấn đề ở đây là xác định bản thân quan trọng hơn các yếu tố khác trong quá trình thiếtlập một mối quan hệ công việc, giao thương

_Mối quan hệ quan trọng nhất lại chính là nhân phẩm Đây là giá trị bản thân

Trang 17

không phụ thuộc vào ngoại cảnh Câu nói trên đúng đắn khi nhấn mạnh giá trị thực sựcần thiết của mỗi con người để xúc tiến công việc, giao thương thành công Có nhiềumối quan hệ nhưng không có năng lực, có năng lực mà không có đạo đức… thì cũng vôdụng Nhân phẩm bao hàm cả tài và đức.

_Thấu hiểu được nhận xét trên chính là nắm được ý nghĩa của nhân phẩm Khôngchỉ trong giao thương mà còn là cuộc sống, giá trị con người là ở bản thân anh ta Cónhân phẩm là biết tự trọng và tôn trọng người khác, có năng lực và trách nhiệm Xã hộicần những người có nhân phẩm để phát triển

_Rèn luyện nhân phẩm là một quá trình lâu dài và cần thiết Sự phát triển toàndiện cả thể chất, tinh thần, năng lực cần được chú trọng trong từng công việc hằng này,từng suy nghĩ, hành động Khi có nhân phẩm tốt thì những mối quan hệ nảy sinh trên đómới thực sự bền vững và hiệu quả

_Làm việc dựa trên mối quan hệ là kết quả của văn hóa nông nghiệp, có nền tảng

từ tư duy họ hàng: một giọt máu đào hơn ao nước lã Ngày nay, văn minh công nghiệp,

tư duy này vẫn còn rơi rớt, cần mạnh dạn gạt bỏ, nhìn việc không nhìn người, xem kếtquả công việc là quan trọng nhất

_Cá nhân cần chú trọng rèn đức luyện tài, hình thành nhân phẩm tốt để đáp ứngcho công việc, phát triển bản thân và cống hiến cho xã hội

Trang 18

Sống ảo

Ngày nay, ở giới trẻ, một lời thách đố đưa ra, hàng ngàn người tập trung xuống đường chờ đợi; để gây sự chú ý, người ta có thể vô tình lẫn cố ý phát ngôn gây sốc; để nổi

tiếng, có người bất chấp lòng tự tôn Sống ảo trở thành một hiện tượng đáng chú ý

Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 từ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề này

_Hậu quả là quên đi các quan hệ xã hội, mỗi người một thế giới riêng, mất khả nănggiao tiếp Sống ảo người ta vô cảm và thiếu trách nhiệm hơn nhiều, thui chột nhân cách._Sống ảo không chỉ giới trẻ mà còn tràn qua các lĩnh vực khác: giáo dục, khoa học (bệnhthành tích…)

_Thật ra mạng xã hội cũng có ích, giúp chia sẻ, kết nối cá nhân Đây là xu hướng chung,không thể ngăn cản được

_Ảo tưởng trong cuộc sống không phải là không tốt: ảo tưởng sức mạnh bản thân giúp talàm được những việc vượt ngưỡng bình thường, Ý thức tốt thì đây chính là hình mẫuthúc đẩy cá nhân vươn lên

3 Bàn bạc mở rộng và bài học nhận thức, hành động

Từ những suy nghĩ và bàn luận của riêng mình, thí sinh có thể rút ra những bài học

Trang 19

khác nhau, dưới đây là những ý tham khảo.

_Rèn luyện bản lĩnh đời sống vững vàng, tham gia các hoạt động xã hội, tình nguyện, từthiện, các khóa học kỹ năng

_Dùng mạng xã hội với phong cách ứng xử phù hợp, biết dùng như phương tiện để làmcuộc sống tốt đẹp chứ không quên đi cuộc sống thực

Nhân dân ta có hai lực lượng

Trong Bài nói tại Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ 10, tháng 1 năm 1956, Hồ Chủ

tịch cho rằng: “Nhân dân ta có hai lực lượng Một là quân đội, để đánh giặc ngoại

xâm, để bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn hòa bình Một lực lượng nữa là Công an, để chống kẻ địch trong nước, chống bọn phá hoại Có lúc chiến tranh, có lúc hòa bình Lúc chiến tranh thì quân đội đánh giặc, lúc hòa bình thì tập luyện Còn Công an thì phải đánh địch thường xuyên, lúc chiến tranh có việc, lúc hòa bình lại càng nhiều việc” [Hồ Chí Minh toàn tập, tập 8, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, tr.118] Viết bài văn nghị

luận (khoảng 600 từ) nêu suy nghĩ của anh (chị) về tính chất đặc biệt của lực lượng côngan

Trang 20

Vai trò của lực lượng Công an thường quy vào bảo vệ an ninh nhưng thật ra nhiệm

vụ lại bao hàm tất cả các lĩnh vực văn hóa, kinh tế, chính trị xã hội Trong thời chiến, lựclượng Công an ở những vị trí khác nhau cũng đóng góp tích cực vào đấu tranh giảiphóng dân tộc, thời bình lại xây dựng bảo vệ tổ quốc

So sánh giữa hai lực lượng quân đội và công an: Quân đội trực tiếp đánh địch ngoàichiến trường, Công an đánh địch trong hậu phương Hai lực lượng đều có vai trò quantrọng

Điểm riêng của Công an là đánh địch thường xuyên, liên tục Thời bình, Quân đội cóthể tập trung luyện tập, Công an vẫn thường trực chiến đấu

Lúc hòa bình mới là nhiều việc, là mặt trận gian khổ nhất cho Công an bởi dễ có tâm lýyên tâm, kẻ địch thì gian xảo, bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác

Bản thân người Công an luôn hiểu rõ tính đặc thù công tác, quyết tâm, quán triệtNghị quyết, chỉ đạo các cấp Với đảng và chính phủ, công an là sợi dây chuyền đưa tưtưởng, đường lối đến và thực hiện trong nhân dân Người cán bộ công an “Phải phụctùng sự lãnh đạo của Đảng từ trên xuống dưới”

Luôn tập trung cao độ, quyết tâm hoàn thành mọi nhiệm vụ được giao, không lơilỏng, mất cảnh giác

Hưởng ứng phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”, họctập, thấm nhuần và thực hiện 6 điều Bác dạy

Trang 21

Dựa vào dân để hoạt động

“Một vạn công an thì có hai vạn tai, hai vạn mắt, hai vạn tay chân, nhưng nhân dân

có hàng triệu tai, hàng triệu mắt, hàng triệu tay chân Cho nên chúng ta phải dựa vào dân để hoạt động Khi tổ chức được dân, đoàn kết được dân thì việc gì cũng làm được”.

[Bộ Công an – Tổng cục Xây dựng lực lượng CAND (2003), Chủ tịch Hồ Chí Minh với

CAND, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr 64] Anh chị hãy bình luận ý kiến trên của

Khi có sự hỗ trợ của nhân dân thì kẻ địch khó mà che giấu được

Hiểu được điều đó, người Công an nhân dân phải gắn bó, dựa vào, tổ chức và đoànkết để phát huy sức mạnh nhân dân nhằm hoàn thành nhiệm vụ

2 Bình luận

Thí sinh có thể mở rộng bàn luận theo các hướng khác nhau, dưới đây là ý tham khảo

Ý nghĩa Công an nhân dân nghĩa là từ nhân dân mà ra, vì nhân dân phục vụ Lựclượng Công an bảo vệ nhà nước gắn liền với nhân dân như một thể thống nhất

Sức mạnh của nhân dân mạnh hơn gấp nhiều lần bất kỳ một lực lượng nào, đó là tàisản quý giá mà nhiều vị anh hùng, lãnh tụ kiệt xuất của dân tộc đều vận dụng thắng lợi.Trong suốt lịch sử đấu tranh giải phóng Công an đã dựa vào dân, được dân che chở,nay trong thời đại mới, với nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ đất nước càng cần dựa vào sứcdân

Trang 22

không thể tự kiêu, tự cao, tự đại.

Câu nói của Bác lý giải nguyên nhân và định hướng Công an nhân dân: dùng tai vàmắt nhân dân cho tốt nghĩa là với ta thì nhìn thấy nghe được sự thật, với địch thì giấuche để đánh bại

Người chiến sĩ Công an nhân dân cần kính trọng, lễ phép với dân

Dựa vào dân không phải là ỷ lại, đẩy hết cho dân, phải chủ động, tích cực thông qua

tổ chức Đoàn thể để giúp đỡ, tổ chức, giáo dục nhân dân nhằm phát huy sức mạnh nhândân trong xây dựng bảo vệ tổ quốc

Thực hiện hài hòa mối quan hệ giữa bí mật công tác và tổ chức nhân dân theonguyên tắc phòng gian phải đi đôi với giữ bí mật

Tích cực tham gia phong trào “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức Hồ Chí Minh”,học tập, thấm nhuần và thực hiện 6 điều Bác dạy

“Đối với nhân dân phải: kính trọng, lễ phép”

Trong 6 điều Bác Hồ dạy Công an nhân dân có điều thứ 4 là “Đối với nhân dân phải: kính trọng, lễ phép” Anh (chị) hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 từ) để cho

biết suy nghĩ của mình về lời dạy trên

- “Lễ phép” là thái độ đúng mực, kính trọng người trên

 Bác Hồ dạy Công an nhân dân phải có thái độ ứng xử đúng mực, kính trọng, lễphép với nhân dân một cách tự nguyện

b Vì sao công an nhân dân phải kính trọng, lễ phép với nhân dân?

- Công an nhân dân là một lực lượng vũ trang trọng yếu của Đảng và Nhà nước

Trang 23

nhưng đây lại là lực lượng “từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu, hi sinh

và phục vụ” Thái độ ứng xử đối với nhân dân có ý nghĩa rất quan trọng trongviệc hình thành nhân cách người công an cách mạng - công an nhân dân

- Muốn hoàn thành và hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, ngoài những phẩm chấtnổi bật khác như lập trường tư tưởng vững vàng, lòng dũng cảm, trình độ chuyênmôn nghiệp vụ thì trọng dân, lễ phép với dân là một phẩm chất cao quý đượcgắn với bản chất tốt đẹp của mỗi cán bộ chiến sĩ công an nhân dân

- Kính trọng, lễ phép với nhân dân không chỉ giúp cán bộ chiến sĩ công an luônđoàn kết gắn bó mật thiết với nhân dân, mà còn dựa vào nhân dân để rèn luyện,chiến đấu và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao

- Gần dân, kính trọng, yêu thương nhân dân để nhân dân hiểu rõ sự nghiệp bảo vệ

an ninh trật tự, an toàn xã hội quan hệ trực tiếp đến lợi ích bản thân của mỗingười, từ đó mỗi người đều có trách nhiệm tham gia xây dựng thế trận lòng dân,thế trận an ninh nhân dân, tạo thành sức mạnh của lòng dân

3) Bàn bạc, mở rộng:

- Thế nhưng, bên cạnh những hình ảnh đẹp về công an nhân dân, phải thẳng thắn thừanhận có những cán bộ, chiến sĩ công an không còn là những công bộc của dân mà trởthành những “ông quan cách mạng” nhũng nhiễu, cửa quyền, hạch sách dân làm nhândân bất bình, xói mòn niềm tin vào công an nhân dân

- Làm thế nào để tiếp tục xây dựng và củng cố hình ảnh tốt đẹp về người chiến sĩ công

an nhân dân gần dân, kính trọng, lễ phép với nhân dân, “đi dân nhớ, ở dân thương”?Điều đó đòi hỏi mỗi cán bộ, chiến sĩ công an nhân dân phải nỗ lực rèn luyện, xây dựngnếp sống văn hóa ứng xử tốt đẹp với nhân dân, với đồng chí đồng đội, với bản thânmình

"Quân tốt, dân tốt, Muôn sự đều nên, Gốc có vững, cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên

nền nhân dân

"Quân tốt, dân tốt, Muôn sự đều nên, Gốc có vững, cây mới bền, Xây lầu thắng lợi trên

nền nhân dân" [ Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009, t.5,

tr.502.] Anh chị hãy bình luận ý kiến trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh

1 Giải thích vấn đề

Ngày đăng: 08/02/2021, 06:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w