1. Trang chủ
  2. » Lịch sử lớp 12

R&D&C điển hình thành công từ ĐHQGHN

6 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 8,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong giai đoạn 2014-2015, ĐHQGHN ưu tiên tập trung xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình nghiên cứu trọng điểm hướng tới các sản phẩm và giải pháp KH&CN có khả năng [r]

Trang 1

R&D&C: CHIẾC ĐŨA THẦN ĐỂ PHÁT

TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI

KHCN đã trở thành nhân tố cĩ tác động

quyết định đối với sự tăng trưởng và

phát triển của kinh tế - xã hội Thương

mại hĩa kết quả nghiên cứu gĩp phần

tích cực thúc đẩy phát triển thị trường

KHCN và đẩy nhanh ứng dụng kết quả

nghiên cứu vào cuộc sống Chuyển giao

cơng nghệ là đưa kiến thức kĩ thuật ra

khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nĩ đến

nơi cĩ nhu cầu tiếp nhận cơng nghệ

Nơi sản sinh ra cơng nghệ bao gồm các

doanh nghiệp, trường ĐH, viện nghiên

cứu, phịng thí nghiệm, vườn ươm tạo

cơng nghệ,…

Tại mơi trường ĐH, việc thương mại hĩa

các sản phẩm nghiên cứu và phát triển

thường diễn ra theo 3 cách tiếp cận chiến lược, đĩ là bán quyền sử dụng phát minh/ sáng chế, thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học theo đặt hàng và thành lập các cơng ty trong trường ĐH

Tầm quan trọng của nghiên cứu triển khai được thể hiện qua việc tạo ra các cơng ty cơng nghệ mới Hơn nữa, các nghiên cứu triển khai tại các trường ĐH/

viện nghiên cứu ngày càng thu hút được

sự quan tâm của các ngành cơng nghiệp

Ngày nay, các ngành cơng nghiệp đang trơng cậy rất nhiều vào các kết quả nghiên cứu và phát triển cơng nghệ của các trường ĐH Thúc đẩy KHCN được triển khai theo 3 phương thức: xây dựng

và phát triển nguồn lực, nghiên cứu triển khai (R&D) và chuyển giao cơng nghệ

Về cơ bản, để tạo ra sản phẩm KHCN

hồn thiện sẵn sàng cho việc thương mại hĩa được thực hiện theo hai quy trình: quy trình theo chiều xuơi và quy trình theo chiều ngược.Trong quá trình

R&D xuơi, từ Ý tưởng bắt tay vào Nghiên

cứu, Thử nghiệm rồi Hồn thiện và nhân rộng Cịn đối với quá trình R&D ngược,

từ Cơng nghệ hồn thiện sau đĩ Phân

tích để tìm ra bí quyết cơng nghệ, tiếp

đến Thử nghiệm, và cuối cùng là Hồn

thiện và nhân rộng.

Các hoạt động R&D ở các trường ĐH của các nước đang phát triển, trong đĩ

cĩ Việt Nam, cĩ xu hướng tăng mạnh

Cĩ thể dễ dàng nhận thấy trong vài năm gần đây, hoạt động thương mại hĩa đã bước đầu nhen nhĩm và tăng tốc phát triển Hai địa hạt của KHCN là nghiên

ĐỨC PHƯỜNG

R&D&C

ĐIỂN HÌNH THÀNH CÔNG TỪ ĐHQGHN

Trang 2

cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng có

bước phát triển nhanh, tác động mạnh

mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Những thành tựu của nghiên cứu cơ bản

nhằm giải quyết các bài toán thực tiễn,

tạo nền tảng và bệ đỡ chắc chắn cho sự

phát triển bền vững của nền khoa học

nước ta Mặc dù ranh giới giữa nghiên

cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng

không rõ ràng nhưng muốn phát triển

nghiên cứu ứng dụng theo chiều sâu cần

phải dựa trên nền tảng của nghiên cứu

cơ bản Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn

Quân từng nhấn mạnh: “Đã có người

đặt vấn đề bỏ qua nghiên cứu cơ bản,

chỉ tập trung vào tiếp nhận và làm chủ

công nghệ của nước ngoài Nhưng nếu

chỉ đi học lại cái của người khác thì làm

sao có sáng chế được”

Báo cáo của Bộ trưởng Nguyễn Quân

tại phiên giải trình do UB KH,CN&MT

của QH tổ chức về “Cơ chế tài chính và

huy động nguồn lực đầu tư nhằm nâng

cao hiệu quả hoạt động KH&CN” đã

nêu rõ: Khoa học tự nhiên đã có bước

phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo

triển vọng hình thành một số lĩnh vực

KHCN đa ngành mới (vũ trụ, y sinh, tính

toán, môi trường, biển, nano, hạt nhân)

Nghiên cứu cơ bản điều kiện tự nhiên, tài nguyên, khí hậu, môi trường đã đóng góp thiết thực cho công tác dự báo, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu, phát triển vùng lãnh thổ Trong một số lĩnh vực có thế mạnh, Việt Nam có thứ hạng khá cao trong khu vực: toán học

và vật lý đã vươn lên vị trí thứ hai và thứ

ba trong khu vực ASEAN

Hiện nay, những trường ĐH trọng điểm

ở Việt Nam đã duy trì và phát triển nghiên cứu cơ bản, chuyển giao những kết quả nghiên cứu cơ bản vào địa hạt của nghiên cứu ứng dụng Có thể kể đến những đơn vị đã đạt được những kết quả nổi bật như: Trường ĐHKHTN, Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN…, trong đó điển hình là nhóm nghiên cứu của GS.TS Phạm Hùng Việt thuộc Trung tâm CETADS, đã công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí hàng đầu thế giới Nature

Bên cạnh đó, rõ ràng trong hoạt động KHCN tại các trường ĐH/ viện nghiên cứu ở Việt Nam triển khai nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ và tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực: vật liệu mới, nông nghiệp, cơ khí, tự động hóa, công nghệ thông tin, môi trường

và năng lượng Gần đây xuất hiện các nhóm nghiên cứu từ các trường ĐH đã bắt đầu chú trọng tập trung đầu tư nhân lực, nắm bắt bí kíp công nghệ (know – how), phát triển nghiên cứu theo chiều sâu Tại một số cơ sở đào tạo, nghiên cứu lớn đang thúc đẩy phong trào tạo lập trường phái nghiên cứu, nắm các công nghệ lõi để phát triển, mở rộng nghiên cứu, đầu tư cả về nghiên cứu

cơ bản, tạo nguồn lực và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, điều này chỉ có thể triển khai được ở một số trung tâm nghiên cứu có tiềm lực mạnh như: Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, ĐHQGHN, ĐHQG-HCM…

Mặt khác, quá trình R&D theo chiều ngược lại cũng đã được triển khai rải rác

ở một số đơn vị có tiềm năng Những công nghệ mới của nước ngoài có khả năng ứng dụng cao ở Việt Nam được tiến hành giải mã tạo ra những sản phẩm tương đương nhưng với chi phí, giá thành thấp hơn nhiều so với sản phẩm nhập ngoại cùng loại

TIÊN PHONG ĐƯA KHOA HỌC TỚI CỘNG ĐỒNG

Giám đốc ĐHQGHN Phùng Xuân Nhạ

Nghiên cứu - Triển khai - Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (R&D&C) đang được xem là chiếc đũa thần cho sự phát triển kinh tế - xã hội Các trường ĐH và viện nghiên cứu trở thành những trung tâm sáng tạo và là những hạt nhân quan trọng trong hệ thống đổi mới quốc gia Là một trung tâm đại học hàng đầu cả nước, ĐHQGHN

đã nhanh chóng có những chủ trương chiến lược đưa khoa học hướng tới cộng đồng Những kết quả nghiên cứu đã chuyển giao thành công được

xã hội đánh giá cao là minh chứng cho chủ trương đúng đắn đó.

Trang 3

cho biết, ĐHQGHN đang trong quá

trình xây dựng và phát triển theo định

hướng nghiên cứu đồng thời xác định

hoạt động KHCN phải hướng tới nâng

cao chất lượng đào tạo đại học và sau

đại học Hoạt động NCKH được triển

khai theo 4 hướng chính: Khoa học Tự

nhiên - Y dược, Khoa học Công nghệ

- Kĩ thuật, Khoa học Xã hội nhân văn,

Khoa học liên ngành hướng tới tạo ra

sản phẩm quốc gia và có ứng dụng thực

tiễn, phục vụ nhân sinh

Có thể nói ĐHQGHN là một trong

những địa chỉ đi đầu trong việc thương

mại hóa các kết quả nghiên cứu, hướng

khoa học tới cộng đồng Chẳng hạn,

điển hình trong việc tạo lập trường phái

nghiên cứu phải kể đến nghiên cứu về

công nghệ lõi chế tạo máy phát tín hiệu

mã nhận biết chủ quyền quốc gia Đây là

sản phẩm của nhóm nghiên cứu mạnh

Trường ĐH Công nghệ Sản phẩm đã

được trao Cup vàng tại Techmart 2012

và đã đăng kí sáng chế tại Cục SHTT

Máy phát siêu cao tần có chất lượng

tương đương thiết bị nhập ngoại trong

khi giá thành chỉ bằng một phần ba

Nhưng điều quan trọng hơn cả, theo

PGS.TS Bạch Gia Dương - trưởng nhóm

nghiên cứu, là các nhà khoa học đã làm

chủ được công nghệ lõi để từ đó tiếp

tục phát triển chế tạo các thiết bị trong

lĩnh vực siêu cao tần khác mà từ trước

đến nay chúng ta đều phải phụ thuộc

vào nước ngoài như: thiết bị chuyển tiếp

truyền hình, chuyển tiếp các thông tin

mang tính bảo mật cao; hoặc phát triển

các hệ thống thu phát vệ tinh, chế tạo

máy thu tìm kiếm, trinh sát vị trí của vệ

tinh VINASAT đối với các trạm mặt đất

Đồng thời, các nhà khoa học Việt Nam

sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tự sửa

chữa, bảo hành hoặc thay thế

Ngoài việc bằng mọi giá phải làm chủ

được công nghệ lõi, nhóm nghiên cứu

của Trường ĐH Công nghệ đã đầu tư

mạnh cho nghiên cứu cơ bản - điều mà

ít cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác, nhất

là trong lĩnh vực siêu cao tần, làm được

Từ công nghệ lõi, nhóm nghiên cứu của

PGS.TS Bạch Gia Dương đã mạnh dạn

xây dựng một trường phái nghiên cứu,

xác lập sắc thái nghiên cứu riêng về siêu

cao tần tại Trường ĐHCN Hiện nay, những nghiên cứu của nhóm đã khẳng định thương hiệu, được nhiều nơi biết đến Máy phát siêu cao tần của nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện và sẵn sàng chuyển giao công nghệ

Một ví dụ điển hình trong việc nối kết nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là sản phẩm khẩu trang nano diệt khuẩn - sản phẩm nghiên cứu của PGS

TS Phạm Văn Nho, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN Đây là lần đầu tiên Việt Nam nghiên cứu ứng dụng thành công vật liệu nano TiO2 hoạt tính cao vào chế tạo khẩu trang nano diệt khuẩn Công dụng của sản phầm này là bảo vệ người dùng khỏi bị lây nhiễm vi rút, vi khuẩn gây bệnh qua đường hô hấp, chống dị ứng, chống khí thải giao thông và mùi độc hại, tạo khí oxy âm làm khí thở trong lành; ngăn tia tử ngoại Sử dụng được nhiều lần (khoảng 3 tháng), có hiển thị thời hạn hiệu dụng Phẩm chất khác biệt của sản phẩm này là chứa lớp lọc phủ

vật liệu nano TiO2 hoạt tính cao có tác dụng phân hủy không lưu lại dấu vết (tạo thành hơi nước và khí cacbonic) các loại vi rút, vi khuẩn trong điều kiện ánh sáng thường hay trong tối

Đây là sản phẩm công nghệ cao được nghiên cứu sản xuất hoàn toàn trong nước, nên hiệu quả kỹ thuật kinh tế xã hội rất lớn, có khả năng phòng chống đại dịch lây nhiễm đường hô hấp ở quy

mô quốc gia, quốc tế, nâng cao sức khoẻ cộng đồng trong các vùng khí hậu

có nhiều dịch bệch truyền nhiễm Sản phẩm được cấp 2 bằng độc quyền giải pháp hữu ích về tính năng diệt vi khuẩn

vi rút và về kết cấu Sản phẩm cũng được trao cúp vàng tại Chợ Công nghệ thiết bị quốc tế Việt nam 2012 và được Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương chứng nhận chất lượng Sản phẩm sẵn sàng để thương mại hóa rộng rãi Hiện nhóm nghiên cứu

đã có đơn đặt hàng sản xuất 15 nghìn chiếc nhưng do hạn chế về nhân lực, kinh phí nên chỉ đáp ứng được 1/3

Các hoạt động R&D ở các trường ĐH của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, có xu hướng tăng mạnh Có thể

dễ dàng nhận thấy trong vài năm gần đây, hoạt động thương mại hóa đã bước đầu nhen nhóm và tăng tốc phát triển Hai địa hạt của KHCN là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng có bước phát triển nhanh, tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội

Trang 4

Công trình nghiên cứu Hệ thống đo từ xa

các thông số của bệnh nhân của GS.TSKH

Nguyễn Phú Thùy đem lại ứng dụng tiềm

năng cho ngành y tế, ứng dụng trong các

bệnh viện và được các chuyên gia ý tế đánh

giá cao Khi đo huyết áp nhịp tim các động

cơ được lập trình tự động bơm khí vào bao

khí đeo trên bắp tay bệnh nhân Van khí sẽ

được lập trình để từ từ xả khí, trong khi cảm

biến áp suất theo dõi các xung nhịp tim Dựa

vào nguyên lí đo kiểu dao động, các thông

số huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương

và nhịp tim được xác định chính xác Sau khi

đo xong, các thông tin được truyền về hệ

thống máy tính trung tâm thông qua các bộ

thu phát không dây Hệ thống đường truyền

không dây được thiết kế hai chiều, do đó, các

bác sĩ và nhân viên y tế không những nhận

được thông tin cập nhật từ các máy đo đeo

trên tay bệnh nhân mà còn có thể lập trình

thay đổi về lịch trình đo phù hợp với từng

bệnh nhân Công trình đã được cấp Bằng độc

quyền Giải pháp hữu ích

Hay điển hình trong việc hợp tác, nghiên cứu,

sản xuất sản phẩm tiềm năng, chuẩn quốc tế

và phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam là việc phát triển công nghệ sạch sản xuất nhiên liệu sạch BDF Các nhà khoa học của khoa Hóa học, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN, đã nghiên cứu phát triển công nghệ sạch - đồng dung môi để sản xuất nhiên liệu sinh học (BDF) có chất lượng cao So với các công nghệ thông thường, công nghệ đồng dung môi có hiệu quả vượt trội Khoa Hóa học đang tiến hành sản xuất BDF quy mô pilot BDF có chất lượng vượt tiêu chuẩn ASTM D6751 của Mỹ Hiện tại “Công nghệ đồng dung môi” này đã được hoàn chỉnh cả về quy trình và thiết bị, sẵn sàng chuyển giao cho các cơ sở và địa phương có nhu cầu phát triển BDF ở mọi quy

mô Và tháng 9 vừa qua, các nhà khoa học

ở đây đã chuyển giao 36 tấn BDF cho tỉnh Quảng Ninh Biodiesel đã được sử dụng thử

nghiệm cho xe chở đất, xe ô tô buýt, máy cày, máy bơm nước, máy phát điện và máy tàu du lịch ở vịnh Hạ Long Kết quả thử nghiệm cho thấy, các loại động cơ vận hành tốt sau nhiều tháng sử dụng sử dụng BDF B100 sản xuất được Thành phần khí thải không chứa SO2,

Trang 5

hyđrocacbon thơm, lượng khí CO giảm hơn 2/3 và lượng khí nhà kính CO2 giảm hơn 40%

ĐƯỢC XÃ HỘI ĐÁNH GIÁ CAO Những ví dụ trên chỉ là một trong rất nhiều sản phẩm nghiên cứu tiềm năng của các nhà khoa học ĐHQGHN Điều này cho thấy tiềm năng nghiên cứu triển khai tại ĐHQGHN nói riêng và các trường ĐH/ viện nghiên cứu nói chung là rất lớn Tuy nhiên, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu này đang gặp phải những khó khăn do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là còn thiếu một hành lang pháp lý đảm bảo cho việc thương mại hóa và quyền lợi cho nhà khoa học

Việc cho phép các nhà khoa học có thể mở công ty trong trường ĐH/ viện nghiên cứu sẽ là một thuận lợi, tạo cho

họ một “kênh” đặc biệt để đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống

Mặc dù các nhà khoa học có sản phẩm tiềm năng rất cần sự hợp tác với doanh

nghiệp trong việc tìm đầu ra cho sản phầm nhưng lại khó khăn trong việc tìm đối tác: do thiếu thông tin; doanh nghiệp chưa tin tưởng vào sản phẩm nghiên cứu trong nước Ngoài ra, nhà khoa học còn gặp khó khăn do sức

ép từ chính doanh nghiệp khi doanh nghiệp luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu Những nhóm nghiên cứu này cũng gặp khó khăn trong việc quảng bá sản phẩm nghiên cứu; gặp khó khăn trong vấn đề

cơ sở hạ tầng nghiên cứu; kinh phí đầu

tư Dường như khi kết thúc đề tài, dự án rất khó tìm thêm nguồn kinh phí, hỗ trợ

để tiếp tục phát triển sản phẩm ở mức cao và hoàn thiện hơn

Cũng theo ý kiến của các nhà khoa học,

để có thể đạt được những kết quả tốt hơn, vẫn cần những sự hỗ trợ của Nhà nước trong các vấn đề: Sản phẩm KHCN

là một sản phẩm mới, chưa có tên tuổi

Để có thể kích thích được phong trào nghiên cứu, Nhà nước cần có một chính

Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân và đoàn công tác thăm quan gian triển lãm sản phẩm KHCN của ĐHQGHN ảnh: Bùi Tuấn

Trong giai đoạn 2014-2015,

ĐHQGHN ưu tiên tập trung

xây dựng và triển khai thực

hiện các chương trình nghiên

cứu trọng điểm hướng tới

các sản phẩm và giải pháp

KH&CN có khả năng thương

mại hóa theo 4 nhóm lĩnh vực

sau đây: Khoa học Tự nhiên và

Y dược: tạo tiền đề nâng cao

chất lượng cuộc sống; Công

nghệ và Kỹ thuật: thúc đẩy

phát triển công nghiệp điện

tử và tự động hóa; Khoa học

xã hội nhân văn và kinh tế:

nền tảng lý luận của đổi mới

với các chương trình nghiên

cứu; Khoa học liên ngành: các

chương trình nghiên cứu Phát

triển bền vững Tây Bắc, Công

nghệ giám sát hiện trường

gần thời gian thực và An ninh

phi truyền thống.

Trang 6

sách ưu tiên sử dụng các sản phẩm này

như: ưu đãi thuế nhập khẩu, ưu đãi cho

khách hàng sử dụng sản phẩm KHCN

Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân

đánh giá, ĐHQGHN đã có những sản

phẩm KHCN có ứng dụng thực tiễn

được chuyển giao cho địa phương,

doanh nghiệp, cũng như có các công

bố khoa học có giá trị trên các tạp chí

khoa học hàng đầu thế giới (Nature) Với

tôn chỉ “khoa học vị nhân sinh”, “khoa

học vị doanh nghiệp”, ĐHQGHN đã có

những nỗ lực trong việc thương mại hoá

các sản phẩm KHCN, tạo sự gắn kết giữa

trường đại học và các doanh nghiệp,

đưa các sản phẩm KHCN ứng dụng vào

thực tế cuộc sống

Bộ trưởng cũng kêu gọi các doanh

nghiệp, đặc biệt các tập đoàn kinh tế

của nhà nước hợp tác chặt chẽ với các

trường ĐH/ viện nghiên cứu, là người đặt

hàng các trường ĐH, viện nghiên cứu để

hình thành những nhiệm vụ KHCN, các

đề tài, dự án để cho ra đời các sản phẩm

chất lượng cao Bộ trưởng cũng cam kết,

Bộ KH&CN luôn sẵn sàng đồng hành để

hỗ trợ ĐHQGHN cũng như các trường đại học trong việc công bố quốc tế cũng như đăng kí các sáng chế KHCN trong

và ngoài nước

Sự đánh giá cao của các bộ, ngành và

sự tin tưởng của các doanh nghiệp được minh chứng qua sự kiện ĐHQGHN kí kết 12 hợp tác, thoả thuận chuyển giao công nghệ, sản phẩm KHCN, tư vấn hợp tác với tỉnh Hà Nam và các công ty, doanh nghiệp tại Triển lãm và Hội nghị thương mại hoá sản phẩm khoa học và công nghệ vừa qua Nói về ý nghĩa của chương trình hợp tác trong lĩnh giáo dục

và đào tạo, khoa học và công nghệ giữa ĐHQGHN và tỉnh Hà Nam, ông Trần Hồng Nga - Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết: việc hợp tác này có ý nghĩa quan trọng giúp Hà Nam tăng cường tiềm lực, đào tạo và khai thác có hiệu quả nguồn lực khoa học và công nghệ, đưa KHCN của tỉnh Hà Nam phát triển lên tầm cao mới

Nói về tiềm năm cũng như sự dồi dào

các nguồn lực KHCN, Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức nhấn mạnh, ĐHQGHN có tổng số 349 giáo sư và phó Giáo sư (18%), 839 tiến sĩ khoa học

và tiến sĩ (44%) Ngoài ra, hàng năm khoảng 300 các nhà khoa học trình độ cao ở trong và ngoài nước đến làm việc tại ĐHQGHN ĐHQGHN còn có 33 tiến

sĩ danh dự, trong đó có nhiều nhà khoa học đạt giải Nobel, các nhà hoạt động kinh tế, chính trị… Đó là những nguồn lực tiềm tàng của ĐHQGHN

Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức cho biết, những năm gần đây, công

bố quốc tế đã trở thành văn hoá chất lượng trong ĐHQGHN Sau 20 năm xây dựng và phát triển, số bài báo quốc tế trong hệ thống ISI của ĐHQGHN đã tăng lên khoảng 20 lần (năm 1993 –

10 bài/năm, năm 2013 – gần 200 bài/

năm), chiếm hơn 10% tổng số bài báo ISI của cả nước Nhiều bài báo có số lần trích dẫn cao (từ 50 đến 500 lần) Trong

đó, nhóm nghiên cứu của GS.TS Phạm Hùng Việt, Trường ĐHKH Tự nhiên đã có công bố trên tạp chí Nature hàng đầu của thế giới (chỉ số ảnh hưởng IF = 38)

Các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, kinh tế, luật cũng đã công bố gần 100 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI Đây

là những chỉ số quan trọng đánh giá cả trình độ nghiên cứu và mức độ hội nhập của ĐHQGHN

Trong giai đoạn 2014-2015, ĐHQGHN

ưu tiên tập trung xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình nghiên cứu trọng điểm hướng tới các sản phẩm và giải pháp KH&CN có khả năng thương mại hóa theo 4 nhóm lĩnh vực sau đây:

Khoa học Tự nhiên và Y dược: tạo tiền

đề nâng cao chất lượng cuộc sống;

Công nghệ và Kỹ thuật: thúc đẩy phát triển công nghiệp điện tử và tự động hóa; Khoa học xã hội nhân văn và kinh tế: nền tảng lí luận của đổi mới với các chương trình nghiên cứu; Khoa học liên ngành: các chương trình nghiên cứu Phát triển bền vững Tây Bắc, Công nghệ giám sát hiện trường gần thời gian thực

và An ninh phi truyền thống

Ngày đăng: 03/02/2021, 19:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w