Trong giai đoạn 2014-2015, ĐHQGHN ưu tiên tập trung xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình nghiên cứu trọng điểm hướng tới các sản phẩm và giải pháp KH&CN có khả năng [r]
Trang 1R&D&C: CHIẾC ĐŨA THẦN ĐỂ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ-XÃ HỘI
KHCN đã trở thành nhân tố cĩ tác động
quyết định đối với sự tăng trưởng và
phát triển của kinh tế - xã hội Thương
mại hĩa kết quả nghiên cứu gĩp phần
tích cực thúc đẩy phát triển thị trường
KHCN và đẩy nhanh ứng dụng kết quả
nghiên cứu vào cuộc sống Chuyển giao
cơng nghệ là đưa kiến thức kĩ thuật ra
khỏi ranh giới nơi sản sinh ra nĩ đến
nơi cĩ nhu cầu tiếp nhận cơng nghệ
Nơi sản sinh ra cơng nghệ bao gồm các
doanh nghiệp, trường ĐH, viện nghiên
cứu, phịng thí nghiệm, vườn ươm tạo
cơng nghệ,…
Tại mơi trường ĐH, việc thương mại hĩa
các sản phẩm nghiên cứu và phát triển
thường diễn ra theo 3 cách tiếp cận chiến lược, đĩ là bán quyền sử dụng phát minh/ sáng chế, thực hiện các hợp đồng nghiên cứu khoa học theo đặt hàng và thành lập các cơng ty trong trường ĐH
Tầm quan trọng của nghiên cứu triển khai được thể hiện qua việc tạo ra các cơng ty cơng nghệ mới Hơn nữa, các nghiên cứu triển khai tại các trường ĐH/
viện nghiên cứu ngày càng thu hút được
sự quan tâm của các ngành cơng nghiệp
Ngày nay, các ngành cơng nghiệp đang trơng cậy rất nhiều vào các kết quả nghiên cứu và phát triển cơng nghệ của các trường ĐH Thúc đẩy KHCN được triển khai theo 3 phương thức: xây dựng
và phát triển nguồn lực, nghiên cứu triển khai (R&D) và chuyển giao cơng nghệ
Về cơ bản, để tạo ra sản phẩm KHCN
hồn thiện sẵn sàng cho việc thương mại hĩa được thực hiện theo hai quy trình: quy trình theo chiều xuơi và quy trình theo chiều ngược.Trong quá trình
R&D xuơi, từ Ý tưởng bắt tay vào Nghiên
cứu, Thử nghiệm rồi Hồn thiện và nhân rộng Cịn đối với quá trình R&D ngược,
từ Cơng nghệ hồn thiện sau đĩ Phân
tích để tìm ra bí quyết cơng nghệ, tiếp
đến Thử nghiệm, và cuối cùng là Hồn
thiện và nhân rộng.
Các hoạt động R&D ở các trường ĐH của các nước đang phát triển, trong đĩ
cĩ Việt Nam, cĩ xu hướng tăng mạnh
Cĩ thể dễ dàng nhận thấy trong vài năm gần đây, hoạt động thương mại hĩa đã bước đầu nhen nhĩm và tăng tốc phát triển Hai địa hạt của KHCN là nghiên
ĐỨC PHƯỜNG
R&D&C
ĐIỂN HÌNH THÀNH CÔNG TỪ ĐHQGHN
Trang 2cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng có
bước phát triển nhanh, tác động mạnh
mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Những thành tựu của nghiên cứu cơ bản
nhằm giải quyết các bài toán thực tiễn,
tạo nền tảng và bệ đỡ chắc chắn cho sự
phát triển bền vững của nền khoa học
nước ta Mặc dù ranh giới giữa nghiên
cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng
không rõ ràng nhưng muốn phát triển
nghiên cứu ứng dụng theo chiều sâu cần
phải dựa trên nền tảng của nghiên cứu
cơ bản Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn
Quân từng nhấn mạnh: “Đã có người
đặt vấn đề bỏ qua nghiên cứu cơ bản,
chỉ tập trung vào tiếp nhận và làm chủ
công nghệ của nước ngoài Nhưng nếu
chỉ đi học lại cái của người khác thì làm
sao có sáng chế được”
Báo cáo của Bộ trưởng Nguyễn Quân
tại phiên giải trình do UB KH,CN&MT
của QH tổ chức về “Cơ chế tài chính và
huy động nguồn lực đầu tư nhằm nâng
cao hiệu quả hoạt động KH&CN” đã
nêu rõ: Khoa học tự nhiên đã có bước
phát triển trong nghiên cứu cơ bản, tạo
triển vọng hình thành một số lĩnh vực
KHCN đa ngành mới (vũ trụ, y sinh, tính
toán, môi trường, biển, nano, hạt nhân)
Nghiên cứu cơ bản điều kiện tự nhiên, tài nguyên, khí hậu, môi trường đã đóng góp thiết thực cho công tác dự báo, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu, phát triển vùng lãnh thổ Trong một số lĩnh vực có thế mạnh, Việt Nam có thứ hạng khá cao trong khu vực: toán học
và vật lý đã vươn lên vị trí thứ hai và thứ
ba trong khu vực ASEAN
Hiện nay, những trường ĐH trọng điểm
ở Việt Nam đã duy trì và phát triển nghiên cứu cơ bản, chuyển giao những kết quả nghiên cứu cơ bản vào địa hạt của nghiên cứu ứng dụng Có thể kể đến những đơn vị đã đạt được những kết quả nổi bật như: Trường ĐHKHTN, Trường ĐH Công nghệ, ĐHQGHN…, trong đó điển hình là nhóm nghiên cứu của GS.TS Phạm Hùng Việt thuộc Trung tâm CETADS, đã công bố kết quả nghiên cứu trên tạp chí hàng đầu thế giới Nature
Bên cạnh đó, rõ ràng trong hoạt động KHCN tại các trường ĐH/ viện nghiên cứu ở Việt Nam triển khai nghiên cứu ứng dụng, phát triển công nghệ và tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực: vật liệu mới, nông nghiệp, cơ khí, tự động hóa, công nghệ thông tin, môi trường
và năng lượng Gần đây xuất hiện các nhóm nghiên cứu từ các trường ĐH đã bắt đầu chú trọng tập trung đầu tư nhân lực, nắm bắt bí kíp công nghệ (know – how), phát triển nghiên cứu theo chiều sâu Tại một số cơ sở đào tạo, nghiên cứu lớn đang thúc đẩy phong trào tạo lập trường phái nghiên cứu, nắm các công nghệ lõi để phát triển, mở rộng nghiên cứu, đầu tư cả về nghiên cứu
cơ bản, tạo nguồn lực và chuyển giao công nghệ Tuy nhiên, điều này chỉ có thể triển khai được ở một số trung tâm nghiên cứu có tiềm lực mạnh như: Viện Hàn lâm KH&CN Việt Nam, ĐHQGHN, ĐHQG-HCM…
Mặt khác, quá trình R&D theo chiều ngược lại cũng đã được triển khai rải rác
ở một số đơn vị có tiềm năng Những công nghệ mới của nước ngoài có khả năng ứng dụng cao ở Việt Nam được tiến hành giải mã tạo ra những sản phẩm tương đương nhưng với chi phí, giá thành thấp hơn nhiều so với sản phẩm nhập ngoại cùng loại
TIÊN PHONG ĐƯA KHOA HỌC TỚI CỘNG ĐỒNG
Giám đốc ĐHQGHN Phùng Xuân Nhạ
Nghiên cứu - Triển khai - Thương mại hóa các kết quả nghiên cứu (R&D&C) đang được xem là chiếc đũa thần cho sự phát triển kinh tế - xã hội Các trường ĐH và viện nghiên cứu trở thành những trung tâm sáng tạo và là những hạt nhân quan trọng trong hệ thống đổi mới quốc gia Là một trung tâm đại học hàng đầu cả nước, ĐHQGHN
đã nhanh chóng có những chủ trương chiến lược đưa khoa học hướng tới cộng đồng Những kết quả nghiên cứu đã chuyển giao thành công được
xã hội đánh giá cao là minh chứng cho chủ trương đúng đắn đó.
Trang 3cho biết, ĐHQGHN đang trong quá
trình xây dựng và phát triển theo định
hướng nghiên cứu đồng thời xác định
hoạt động KHCN phải hướng tới nâng
cao chất lượng đào tạo đại học và sau
đại học Hoạt động NCKH được triển
khai theo 4 hướng chính: Khoa học Tự
nhiên - Y dược, Khoa học Công nghệ
- Kĩ thuật, Khoa học Xã hội nhân văn,
Khoa học liên ngành hướng tới tạo ra
sản phẩm quốc gia và có ứng dụng thực
tiễn, phục vụ nhân sinh
Có thể nói ĐHQGHN là một trong
những địa chỉ đi đầu trong việc thương
mại hóa các kết quả nghiên cứu, hướng
khoa học tới cộng đồng Chẳng hạn,
điển hình trong việc tạo lập trường phái
nghiên cứu phải kể đến nghiên cứu về
công nghệ lõi chế tạo máy phát tín hiệu
mã nhận biết chủ quyền quốc gia Đây là
sản phẩm của nhóm nghiên cứu mạnh
Trường ĐH Công nghệ Sản phẩm đã
được trao Cup vàng tại Techmart 2012
và đã đăng kí sáng chế tại Cục SHTT
Máy phát siêu cao tần có chất lượng
tương đương thiết bị nhập ngoại trong
khi giá thành chỉ bằng một phần ba
Nhưng điều quan trọng hơn cả, theo
PGS.TS Bạch Gia Dương - trưởng nhóm
nghiên cứu, là các nhà khoa học đã làm
chủ được công nghệ lõi để từ đó tiếp
tục phát triển chế tạo các thiết bị trong
lĩnh vực siêu cao tần khác mà từ trước
đến nay chúng ta đều phải phụ thuộc
vào nước ngoài như: thiết bị chuyển tiếp
truyền hình, chuyển tiếp các thông tin
mang tính bảo mật cao; hoặc phát triển
các hệ thống thu phát vệ tinh, chế tạo
máy thu tìm kiếm, trinh sát vị trí của vệ
tinh VINASAT đối với các trạm mặt đất
Đồng thời, các nhà khoa học Việt Nam
sẽ hoàn toàn chủ động trong việc tự sửa
chữa, bảo hành hoặc thay thế
Ngoài việc bằng mọi giá phải làm chủ
được công nghệ lõi, nhóm nghiên cứu
của Trường ĐH Công nghệ đã đầu tư
mạnh cho nghiên cứu cơ bản - điều mà
ít cơ sở đào tạo và nghiên cứu khác, nhất
là trong lĩnh vực siêu cao tần, làm được
Từ công nghệ lõi, nhóm nghiên cứu của
PGS.TS Bạch Gia Dương đã mạnh dạn
xây dựng một trường phái nghiên cứu,
xác lập sắc thái nghiên cứu riêng về siêu
cao tần tại Trường ĐHCN Hiện nay, những nghiên cứu của nhóm đã khẳng định thương hiệu, được nhiều nơi biết đến Máy phát siêu cao tần của nhóm nghiên cứu đã hoàn thiện và sẵn sàng chuyển giao công nghệ
Một ví dụ điển hình trong việc nối kết nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng là sản phẩm khẩu trang nano diệt khuẩn - sản phẩm nghiên cứu của PGS
TS Phạm Văn Nho, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN Đây là lần đầu tiên Việt Nam nghiên cứu ứng dụng thành công vật liệu nano TiO2 hoạt tính cao vào chế tạo khẩu trang nano diệt khuẩn Công dụng của sản phầm này là bảo vệ người dùng khỏi bị lây nhiễm vi rút, vi khuẩn gây bệnh qua đường hô hấp, chống dị ứng, chống khí thải giao thông và mùi độc hại, tạo khí oxy âm làm khí thở trong lành; ngăn tia tử ngoại Sử dụng được nhiều lần (khoảng 3 tháng), có hiển thị thời hạn hiệu dụng Phẩm chất khác biệt của sản phẩm này là chứa lớp lọc phủ
vật liệu nano TiO2 hoạt tính cao có tác dụng phân hủy không lưu lại dấu vết (tạo thành hơi nước và khí cacbonic) các loại vi rút, vi khuẩn trong điều kiện ánh sáng thường hay trong tối
Đây là sản phẩm công nghệ cao được nghiên cứu sản xuất hoàn toàn trong nước, nên hiệu quả kỹ thuật kinh tế xã hội rất lớn, có khả năng phòng chống đại dịch lây nhiễm đường hô hấp ở quy
mô quốc gia, quốc tế, nâng cao sức khoẻ cộng đồng trong các vùng khí hậu
có nhiều dịch bệch truyền nhiễm Sản phẩm được cấp 2 bằng độc quyền giải pháp hữu ích về tính năng diệt vi khuẩn
vi rút và về kết cấu Sản phẩm cũng được trao cúp vàng tại Chợ Công nghệ thiết bị quốc tế Việt nam 2012 và được Viện Vệ sinh dịch tễ Trung ương chứng nhận chất lượng Sản phẩm sẵn sàng để thương mại hóa rộng rãi Hiện nhóm nghiên cứu
đã có đơn đặt hàng sản xuất 15 nghìn chiếc nhưng do hạn chế về nhân lực, kinh phí nên chỉ đáp ứng được 1/3
Các hoạt động R&D ở các trường ĐH của các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam, có xu hướng tăng mạnh Có thể
dễ dàng nhận thấy trong vài năm gần đây, hoạt động thương mại hóa đã bước đầu nhen nhóm và tăng tốc phát triển Hai địa hạt của KHCN là nghiên cứu cơ bản và nghiên cứu ứng dụng có bước phát triển nhanh, tác động mạnh mẽ đối với sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 4Công trình nghiên cứu Hệ thống đo từ xa
các thông số của bệnh nhân của GS.TSKH
Nguyễn Phú Thùy đem lại ứng dụng tiềm
năng cho ngành y tế, ứng dụng trong các
bệnh viện và được các chuyên gia ý tế đánh
giá cao Khi đo huyết áp nhịp tim các động
cơ được lập trình tự động bơm khí vào bao
khí đeo trên bắp tay bệnh nhân Van khí sẽ
được lập trình để từ từ xả khí, trong khi cảm
biến áp suất theo dõi các xung nhịp tim Dựa
vào nguyên lí đo kiểu dao động, các thông
số huyết áp tâm thu, huyết áp tâm trương
và nhịp tim được xác định chính xác Sau khi
đo xong, các thông tin được truyền về hệ
thống máy tính trung tâm thông qua các bộ
thu phát không dây Hệ thống đường truyền
không dây được thiết kế hai chiều, do đó, các
bác sĩ và nhân viên y tế không những nhận
được thông tin cập nhật từ các máy đo đeo
trên tay bệnh nhân mà còn có thể lập trình
thay đổi về lịch trình đo phù hợp với từng
bệnh nhân Công trình đã được cấp Bằng độc
quyền Giải pháp hữu ích
Hay điển hình trong việc hợp tác, nghiên cứu,
sản xuất sản phẩm tiềm năng, chuẩn quốc tế
và phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam là việc phát triển công nghệ sạch sản xuất nhiên liệu sạch BDF Các nhà khoa học của khoa Hóa học, Trường ĐHKHTN, ĐHQGHN, đã nghiên cứu phát triển công nghệ sạch - đồng dung môi để sản xuất nhiên liệu sinh học (BDF) có chất lượng cao So với các công nghệ thông thường, công nghệ đồng dung môi có hiệu quả vượt trội Khoa Hóa học đang tiến hành sản xuất BDF quy mô pilot BDF có chất lượng vượt tiêu chuẩn ASTM D6751 của Mỹ Hiện tại “Công nghệ đồng dung môi” này đã được hoàn chỉnh cả về quy trình và thiết bị, sẵn sàng chuyển giao cho các cơ sở và địa phương có nhu cầu phát triển BDF ở mọi quy
mô Và tháng 9 vừa qua, các nhà khoa học
ở đây đã chuyển giao 36 tấn BDF cho tỉnh Quảng Ninh Biodiesel đã được sử dụng thử
nghiệm cho xe chở đất, xe ô tô buýt, máy cày, máy bơm nước, máy phát điện và máy tàu du lịch ở vịnh Hạ Long Kết quả thử nghiệm cho thấy, các loại động cơ vận hành tốt sau nhiều tháng sử dụng sử dụng BDF B100 sản xuất được Thành phần khí thải không chứa SO2,
Trang 5hyđrocacbon thơm, lượng khí CO giảm hơn 2/3 và lượng khí nhà kính CO2 giảm hơn 40%
ĐƯỢC XÃ HỘI ĐÁNH GIÁ CAO Những ví dụ trên chỉ là một trong rất nhiều sản phẩm nghiên cứu tiềm năng của các nhà khoa học ĐHQGHN Điều này cho thấy tiềm năng nghiên cứu triển khai tại ĐHQGHN nói riêng và các trường ĐH/ viện nghiên cứu nói chung là rất lớn Tuy nhiên, việc chuyển giao các kết quả nghiên cứu này đang gặp phải những khó khăn do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là còn thiếu một hành lang pháp lý đảm bảo cho việc thương mại hóa và quyền lợi cho nhà khoa học
Việc cho phép các nhà khoa học có thể mở công ty trong trường ĐH/ viện nghiên cứu sẽ là một thuận lợi, tạo cho
họ một “kênh” đặc biệt để đưa kết quả nghiên cứu vào cuộc sống
Mặc dù các nhà khoa học có sản phẩm tiềm năng rất cần sự hợp tác với doanh
nghiệp trong việc tìm đầu ra cho sản phầm nhưng lại khó khăn trong việc tìm đối tác: do thiếu thông tin; doanh nghiệp chưa tin tưởng vào sản phẩm nghiên cứu trong nước Ngoài ra, nhà khoa học còn gặp khó khăn do sức
ép từ chính doanh nghiệp khi doanh nghiệp luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu Những nhóm nghiên cứu này cũng gặp khó khăn trong việc quảng bá sản phẩm nghiên cứu; gặp khó khăn trong vấn đề
cơ sở hạ tầng nghiên cứu; kinh phí đầu
tư Dường như khi kết thúc đề tài, dự án rất khó tìm thêm nguồn kinh phí, hỗ trợ
để tiếp tục phát triển sản phẩm ở mức cao và hoàn thiện hơn
Cũng theo ý kiến của các nhà khoa học,
để có thể đạt được những kết quả tốt hơn, vẫn cần những sự hỗ trợ của Nhà nước trong các vấn đề: Sản phẩm KHCN
là một sản phẩm mới, chưa có tên tuổi
Để có thể kích thích được phong trào nghiên cứu, Nhà nước cần có một chính
Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân và đoàn công tác thăm quan gian triển lãm sản phẩm KHCN của ĐHQGHN ảnh: Bùi Tuấn
Trong giai đoạn 2014-2015,
ĐHQGHN ưu tiên tập trung
xây dựng và triển khai thực
hiện các chương trình nghiên
cứu trọng điểm hướng tới
các sản phẩm và giải pháp
KH&CN có khả năng thương
mại hóa theo 4 nhóm lĩnh vực
sau đây: Khoa học Tự nhiên và
Y dược: tạo tiền đề nâng cao
chất lượng cuộc sống; Công
nghệ và Kỹ thuật: thúc đẩy
phát triển công nghiệp điện
tử và tự động hóa; Khoa học
xã hội nhân văn và kinh tế:
nền tảng lý luận của đổi mới
với các chương trình nghiên
cứu; Khoa học liên ngành: các
chương trình nghiên cứu Phát
triển bền vững Tây Bắc, Công
nghệ giám sát hiện trường
gần thời gian thực và An ninh
phi truyền thống.
Trang 6sách ưu tiên sử dụng các sản phẩm này
như: ưu đãi thuế nhập khẩu, ưu đãi cho
khách hàng sử dụng sản phẩm KHCN
Bộ trưởng Bộ KH&CN Nguyễn Quân
đánh giá, ĐHQGHN đã có những sản
phẩm KHCN có ứng dụng thực tiễn
được chuyển giao cho địa phương,
doanh nghiệp, cũng như có các công
bố khoa học có giá trị trên các tạp chí
khoa học hàng đầu thế giới (Nature) Với
tôn chỉ “khoa học vị nhân sinh”, “khoa
học vị doanh nghiệp”, ĐHQGHN đã có
những nỗ lực trong việc thương mại hoá
các sản phẩm KHCN, tạo sự gắn kết giữa
trường đại học và các doanh nghiệp,
đưa các sản phẩm KHCN ứng dụng vào
thực tế cuộc sống
Bộ trưởng cũng kêu gọi các doanh
nghiệp, đặc biệt các tập đoàn kinh tế
của nhà nước hợp tác chặt chẽ với các
trường ĐH/ viện nghiên cứu, là người đặt
hàng các trường ĐH, viện nghiên cứu để
hình thành những nhiệm vụ KHCN, các
đề tài, dự án để cho ra đời các sản phẩm
chất lượng cao Bộ trưởng cũng cam kết,
Bộ KH&CN luôn sẵn sàng đồng hành để
hỗ trợ ĐHQGHN cũng như các trường đại học trong việc công bố quốc tế cũng như đăng kí các sáng chế KHCN trong
và ngoài nước
Sự đánh giá cao của các bộ, ngành và
sự tin tưởng của các doanh nghiệp được minh chứng qua sự kiện ĐHQGHN kí kết 12 hợp tác, thoả thuận chuyển giao công nghệ, sản phẩm KHCN, tư vấn hợp tác với tỉnh Hà Nam và các công ty, doanh nghiệp tại Triển lãm và Hội nghị thương mại hoá sản phẩm khoa học và công nghệ vừa qua Nói về ý nghĩa của chương trình hợp tác trong lĩnh giáo dục
và đào tạo, khoa học và công nghệ giữa ĐHQGHN và tỉnh Hà Nam, ông Trần Hồng Nga - Phó Chủ tịch UBND tỉnh cho biết: việc hợp tác này có ý nghĩa quan trọng giúp Hà Nam tăng cường tiềm lực, đào tạo và khai thác có hiệu quả nguồn lực khoa học và công nghệ, đưa KHCN của tỉnh Hà Nam phát triển lên tầm cao mới
Nói về tiềm năm cũng như sự dồi dào
các nguồn lực KHCN, Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức nhấn mạnh, ĐHQGHN có tổng số 349 giáo sư và phó Giáo sư (18%), 839 tiến sĩ khoa học
và tiến sĩ (44%) Ngoài ra, hàng năm khoảng 300 các nhà khoa học trình độ cao ở trong và ngoài nước đến làm việc tại ĐHQGHN ĐHQGHN còn có 33 tiến
sĩ danh dự, trong đó có nhiều nhà khoa học đạt giải Nobel, các nhà hoạt động kinh tế, chính trị… Đó là những nguồn lực tiềm tàng của ĐHQGHN
Phó Giám đốc ĐHQGHN Nguyễn Hữu Đức cho biết, những năm gần đây, công
bố quốc tế đã trở thành văn hoá chất lượng trong ĐHQGHN Sau 20 năm xây dựng và phát triển, số bài báo quốc tế trong hệ thống ISI của ĐHQGHN đã tăng lên khoảng 20 lần (năm 1993 –
10 bài/năm, năm 2013 – gần 200 bài/
năm), chiếm hơn 10% tổng số bài báo ISI của cả nước Nhiều bài báo có số lần trích dẫn cao (từ 50 đến 500 lần) Trong
đó, nhóm nghiên cứu của GS.TS Phạm Hùng Việt, Trường ĐHKH Tự nhiên đã có công bố trên tạp chí Nature hàng đầu của thế giới (chỉ số ảnh hưởng IF = 38)
Các lĩnh vực khoa học xã hội nhân văn, kinh tế, luật cũng đã công bố gần 100 bài báo trên các tạp chí quốc tế ISI Đây
là những chỉ số quan trọng đánh giá cả trình độ nghiên cứu và mức độ hội nhập của ĐHQGHN
Trong giai đoạn 2014-2015, ĐHQGHN
ưu tiên tập trung xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình nghiên cứu trọng điểm hướng tới các sản phẩm và giải pháp KH&CN có khả năng thương mại hóa theo 4 nhóm lĩnh vực sau đây:
Khoa học Tự nhiên và Y dược: tạo tiền
đề nâng cao chất lượng cuộc sống;
Công nghệ và Kỹ thuật: thúc đẩy phát triển công nghiệp điện tử và tự động hóa; Khoa học xã hội nhân văn và kinh tế: nền tảng lí luận của đổi mới với các chương trình nghiên cứu; Khoa học liên ngành: các chương trình nghiên cứu Phát triển bền vững Tây Bắc, Công nghệ giám sát hiện trường gần thời gian thực
và An ninh phi truyền thống