- Sau khi tập hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình tổ chức và cơ chế quản lý của PCHK, kinh nghiệm của các Công ty điện lực khác thuộc EVN về sự hình thành và phát t
Trang 1B Ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
- -
ĐỔI THÀNH CÔNG TỪ MÔ HÌNH CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN PHỤ THUỘC THÀNH CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN ĐỘC LẬP – ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC HOÀN KIẾM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
- -
ĐỔI THÀNH CÔNG TỪ MÔ HÌNH CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN PHỤ THUỘC THÀNH CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN ĐỘC LẬP – ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC HOÀN KIẾM
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc công bố trong bất
kỳ công trình nào khác
Tác giả
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, quý thầy cô trong Viện Kinh tế và quản lý, Viện đào tạo sau đại học - Trường đại học Bách khoa Hà Nội đã giảng dạy, trang bị kiến thức cho tôi trong toàn khóa học
Tôi xin trân thành cám ơn PGS TS Trần Văn Bình người thầy đã tận tình hướng dẫn và đóng góp những ý kiến quý báu cho tôi trong suốt quá trình thực hiện Luận văn thạc sỹ
Xin cảm ơn Lãnh đạo Ban Tổ chức nhân sự EVN, Ban Lãnh đạo Tổng Công
ty điện lực TP Hà Nôi, Công ty điện lực Hoàn Kiếm, các bạn bè đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp tôi hoành thành Luận văn này./
Hà Nội, ngày 09 tháng 03 năm 2015
Tác giả
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6
DANH MỤC CÁC BẢNG 7
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ 8
MỞ ĐẦU 9
1 Tính cấp thiết của đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu của luận văn: 10
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn: 10
4 Phương pháp nghiên cứu: 11
5 Kết cấu của luận văn: 11
CHƯƠNG 1 12
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM 12
1.1 Các loại hình Công ty và mô hình tổ chức quản lý 12
1.1.1 Các loại hình Công ty [8] 12
1.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty [17] 14
1.2 Mô hình Công ty TNHH Một thành viên 20
1.2.1 Lịch sử hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn 20
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 21
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức 21
1.3 Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và xu hướng cải tổ của ngành điện lực [18] 22
1.3.1 Mô hình truyền thống và xu hướng cải tổ của ngành điện ở một số nước trên thế giới 22
1.3.2 Lịch sử ngành điện Việt Nam và xu hướng cải tổ [11] 27
1.3.3 Đề án tái cấu trúc Tập đoàn điện lực Việt Nam.[1] 30
1.3.4 Xu hướng cải tổ của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội 37
1.3.5 Đề án củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của các Công ty điện lực, điện lực cấp Quận, Huyện [13] 39
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG I 42
CHƯƠNG 2 44
THỰC TRẠNG VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC HOÀN KIẾM 44
2.1 Giới thiệu tổng quan về Công ty Điện lực Hoàn Kiếm 44
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 44
2.1.2 Cơ cấu tổ chức quản lý 46
2.1.3 Tổng quan về năng lực của Công ty Điện lực Hoàn Kiếm 48
2.1.4 Tổng quan về ngành nghề và kết quả sản xuất kinh doanh 49
2.2 Mô hình phân cấp tại Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội [15] 51
2.2.1 Công tác kế hoạch: 52
2.2.2 Công tác quản lý đầu tư xây dựng, mua sắm vật tư thiết bị: 53
2.2.3 Công tác tài chính - kế toán: 55
2.2.4 Công tác kinh doanh điện năng: 58
2.2.5 Công tác tuyển dụng, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực: 60
2.2.6 Công tác lao động tiền lương và chế độ đối với người lao động: 61
2.3 Phân tích nhận dạng nhu cầu điều chỉnh khi chuyển đổi từ mô hình Công ty điện lực Hoàn Kiếm hạch toán phụ thuộc thành Công ty điện lực Hoàn Kiếm hạch toán độc lập có tư cách pháp nhân đầy đủ 63
2.3.1 Đánh giá mô hình tổ chức Công ty Điện lực Hoàn Kiếm 63
2.3.2 Sự cần thiết phải chuyển đổi mô hình Công ty điện lực Hoàn kiếm phụ thuộc thành mô hình Công ty điện lực Hoàn Kiếm độc lập 69
KẾT LUẬN CHƯƠNG II 73
CHƯƠNG 3 74
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM CHUYỂN ĐỔI THÀNH CÔNG TỪ MÔ HÌNH CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN PHỤ THUỘC THÀNH CÔNG TY PHÂN PHỐI ĐIỆN CÓ TƯ CÁCH PHÁP NHÂN ĐỘC LẬP - ÁP DỤNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC HOÀN KIẾM 74
3.1 Định hướng chiến lược của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội giai đoạn 2016 - 2020 74
Trang 73.1.1 Mục tiêu và nhiệm vụ tổng quát của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội [14]
74
3.1.2 Các chỉ tiêu chủ yếu của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội 75
3.2 Một số yêu cầu đối với Công ty điện lực Hoàn Kiếm 81
3.3 Một số giải pháp nhằm chuyển đổi thành công từ mô hình Công ty phân phối điện phụ thuộc thành công ty phân phối điện có tư cách pháp nhân độc lập - Công ty TNHH MTV Điện lực Hoàn Kiếm 82
3.3.1 Giải pháp về Mô hình tổ chức, cơ chế quản lý 82
3.3.2 Giải pháp xây dựng hệ thống các tiêu chí đánh giá hiệu quả hoạt động của Công ty 85
3.3.3 Giải pháp nâng cao năng lực lưới điện và chất lượng quản lý vận hành, đảm bảo cấp điện an toàn, ổn định, đáp ứng nhu cầu phụ tải 86
3.3.4 Giải pháp đổi mới công tác kinh doanh điện năng, cải cách thủ tục hành chính, nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng 86
3.3.5 Giải pháp đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 88
3.3.6 Giải pháp đổi mới công tác tài chính, hạch toán kế toán 89
3.3.7 Giải pháp đổi mới công tác kế hoạch 89
3.3.8 Giải pháp ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, tăng năng suất lao động, giảm chi phí hoạt động 90
3.3.9 Giải pháp cải tiến chế độ tiền lương, thưởng, tạo động lực cho người lao động 91
3.3.10 Giải pháp thực hiện văn hóa doanh nghiệp, xây dựng hình ảnh, uy tín cộng đồng 92
KẾT LUẬN CHƯƠNG III 93
KẾT LUẬN 95
TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
PHỤ LỤC 99
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NLDC Trung tâm Điều độ Hệ thống điện quốc gia
NPT Tổng Công ty truyền tải điện Quốc gia
ADB Ngân hàng Phát triển châu Á
ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
ERAV Cục Điều tiết Điện lực của Việt Nam
EVNHANOI Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội
ISO Tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế
VCGM Thị trường phát điện cạnh tranh Việt Nam
VWCM Thị trường bán buôn điện cạnh tranh Việt Nam
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1 Tỷ trọng về sản lượng các nguồn điện 37
Bảng 2.1 Số lượng khách hàng và điện thương phẩm 49
Bảng 2.2 Vốn kinh doanh và giá trị phần vốn Nhà nước 50
Bảng 2.3 Các chỉ tiêu cơ bản trong công tác Đầu tư xây dựng 51
Bảng 2.4 Tình hình sử dụng lao động của Công ty giai đoạn 2010 – 2013 51
Bảng 2.5 Bảng so sánh về Mô hình tổ chức và phân cấp ra quyết định của mô hình Công ty điện lực có tư cách pháp nhân phụ thuộc và Mô hình Công ty điện lực có tư cách pháp nhân độc lập (TNHH MTV) 65
Bảng 3.1 Định mức tiêu thụ điện năng cho tiêu dùng dân cư năm 2020 75
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình tổ chức quản trị đơn giản 14
Hình 1.2 Mô hình tổ chức quản trị theo trực tuyến hay phân ngành 15
Hình 1.3 Mô hình tổ chức quản trị theo chức năng 16
Hình 1.4 Mô hình tổ chức quản trị trực tuyến - chức năng 17
Hình 1.5 Mô hình tổ chức quản trị trực tuyến - tham mưu 18
Hình 1.6 Mô hình tổ chức quản trị theo ma trận 19
Hình 1.7 Mô hình tổ chức Công ty TNHH MTV 22
Hình 1.8 Mô hình tổ chức EVN 35
Hình 1.9 Tương quan phụ tải và giá biên thị trường điện 36
Hình 1.10 Tỉ trọng cơ cấu nguồn điện EVN 36
Hình 1.9 Mô hình tổ chức EVNHANOI 38
Hình 2.1 Sơ đồ tổ chức Công ty Điện lực Hoàn Kiếm 47
Hình 3.1 Sô đồ tổ chức Công ty TNHH MTV Điện lực Hoàn Kiếm 83
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Điện năng là một hàng hóa đặc biệt, là sản phẩm đầu vào quan trọng của tất cả các ngành công nghiệp, là nhu cầu tiêu dùng thiết yếu của đời sống xã hội
- Tập đoàn điện lực Việt Nam đã được tái cơ cấu với mục tiêu bảo đảm EVN
có cơ cấu hợp lý, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh điện; cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích cho xã hội, quốc phòng và an ninh; nâng cao sức cạnh tranh; bảo đảm hiệu quả sản xuất kinh doanh; hoàn thành nhiệm vụ sản xuất; cung ứng điện cho nền kinh tế và nhu cầu cầu xã hội [1]
- Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện đổi tên các Điện lực và Chi nhánh
điện trực thuộc Tổng công ty Điện lực Thành phố Hà Nội (EVNHANOI), Điện lực Hoàn Kiếm được đổi tên thành Công ty Điện lực Hoàn Kiếm (PCHK) [2] Với
nhiệm vụ Quản lý vận hành, kinh doanh bán điện và đầu tư phát triển lưới điện từ cấp điện áp 35kV xuống 0,4kV và có nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng là đảm bảo vận hành cung ứng điện liên tục, an toàn, ổn định với chất lượng cao phục vụ các hoạt động chính trị, an ninh, văn hoá, ngoại giao, phát triển kinh tế xã hội của quận Hoàn Kiếm nói riêng cũng như của Thủ đô Hà Nội
- Thị trường bán buôn điện Việt Nam đã được Chính phủ quy định Cụ thể, năm 2015, 2016 sẽ triển khai thí điểm, chuẩn bị để năm 2017 đưa vào vận hành chính thức [3]
Trước bối cảnh đó, để PCHK thực hiện tốt các chức năng nhiệm vụ của mình
cũng như các quy định của chính phủ, của EVN thì mô hình tổ chức và cơ chế quản
lý cần phải được nghiên cứu sắp xếp, chuyển đổi hoàn thiện hợp lý Chính vì vậy
mà tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu và đề xuất một số giải pháp nhằm chuyển đổi thành công từ mô hình Công ty phân phối điện phụ thuộc thành Công ty phân phối điện có tư cách pháp nhân độc lập - Áp dụng tại Công ty điện lực Hoàn Kiếm” làm nội dung luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình
Trang 122 Mục đích nghiên cứu của luận văn:
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý
tại PCHK Làm sáng tỏ những vấn đề thực tiễn về các giải pháp để chuyển đổi từ
mô hình Công ty phân phối điện phụ thuộc thành Công ty phân phối điện có tư cách pháp nhân độc lập mà cụ thể là chuyển đổi mô hình Công ty điện lực Hoàn Kiếm hiện nay sang mô hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Điện lực Hoàn
Kiến đạt hiệu quả cao nhất Đánh giá hiệu quả hoạt động của PCHK cũng như việc thực hiện chức năng, vai trò của PCHK đối với nền kinh tế, từ đó đưa ra kiến nghị nhằm đem lại hiệu quả hoạt động của PCHK sau chuyển đổi sang Công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên và phương hướng tiếp theo sau chuyển đổi
- Nghiên cứu mô hình tổ chức tại PCHK và mô hình tổ chức các công ty điện
lực trên thế giới trong các giai đoạn phát triển khác nhau để rút ra bài học kinh
nghiệm cho PCHK
- Sau khi tập hợp, hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về mô hình tổ
chức và cơ chế quản lý của PCHK, kinh nghiệm của các Công ty điện lực khác
thuộc EVN về sự hình thành và phát triển, Luận văn đề xuất các giải pháp nhằm xây dựng thành công mô hình Công ty TNHH MTV Điện lực Hoàn Kiếm
3 Phạm vi nghiên cứu của luận văn:
- Luận văn tập chung nghiên cứu các quy định của pháp luật trong quá trình chuyển đổi doanh nghiệp nhà nước sang Công ty TNHH MTV để từ đó đưa ra một
số kiến nghị cho hoạt động của DNNN sau khi chuyển đổi nhằm đem lại hiệu quả hơn cho hoạt động của các công ty
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn: Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là
mô hình tổ chức tại PCHK Các nội dung nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực
trạng mô hình tổ chức, cơ chế quản lý, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu
quả sản xuất kinh doanh tại PCHK
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu mô hình tổ chức, cơ chế quản lý,
hoạt động sản xuất kinh doanh của PCHK giai đoạn từ năm 2011-2014
Trang 134 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp của chủ nghĩa duy vậy biện chứng, duy vật lịch sử để nhìn nhận thực tiễn khách quan quá trình phát triển của ngành điện nói chung, mô
hình tổ chức, cơ chế quản lý tại PCHK nói riêng, tác giả đã sử dụng kết hợp các
phương pháp nghiên cứu sau đây:
+ Tổng hợp, phân tích: quá trình phát triển của PCHK là lâu dài qua nhiều thời
kỳ phát triển, thay đổi cơ chế chính sách của đất nước Do vậy, Luận văn thực hiện tổng hợp quá trình này có tính hệ thống và phân tích để có những kế luận, kiến nghị
và đề xuất cho phù hợp với giai đoạn phát triển hiện nay
+ Thống kê, so sánh: trên cơ sở kinh nghiệm về hình thành, phát triển mô hình
tổ chức Công ty phân phối điện, có xét đến khía cạnh về trình độ phát triển ngành
điện, trình độ phát triển của nền kinh tế để rút ra bài học kinh nghiệm cho PCHK + Khảo sát thực tế: ngành nghề kinh doanh của PCHK nằm trong một ngành
kinh tế kỹ thuật, nên việc thiết lập mô hình tổ chức cần phù hợp với thực tế sử dụng thiết bị công nghệ và phù hợp với khu vực quản lý
+ Nghiên cứu điển hình và lấy ý kiến chuyên gia: cùng với khảo sát thực tế,
phương pháp nghiên cứu điển hình cũng được sử dụng để đảm bảo mô hình công ty phân phối điện có chọn lọc Đồng thời, lấy ý kiến chuyên gia cung cấp thêm thông tin về kinh nghiệm thực tiễn trong xử lý vấn đề nghiên cứu đảm bảo các yêu cầu kinh tế kỹ thuật
5 Kết cấu của luận văn:
Luận văn gồm có phần mở đầu, phần kết luận, các phụ lục bảng biểu và 3 chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về mô hình doanh nghiệp tại Việt Nam
Chương 2: Thực trạng về hoạt động của Công ty điện lực Hoàn Kiếm
Chương 3: Một số giải pháp nhằm chuyển đổi thành công từ mô hình công ty phân phối điện hạch toán phụ thuộc thành công ty phân phối điện có tư cách pháp nhân độc lập
Trang 14b Đặc điểm:
Số lượng thành viên tối thiểu là ba, thành viên có thể là cá nhân hoặc tổ chức; Vốn điều lệ của Công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phần và được phản ánh trong cổ phiếu Việc góp vốn vào công ty được thực hiện bằng cách mua cổ phần; Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp (cổ phần) của mình cho người khác;
c Tổ chức quản lý:
- Đại hội đồng cổ đông; Hội đồng quản trị; Giám đốc (Tổng giám đốc)
- Đối với Công ty cổ phần ≥ 11 thành viên có thêm Ban kiểm soát
1.1.1.2 Công ty TNHH Một thành viên
a Khái niệm:
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (sau đây gọi là chủ sở hữu công ty); chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty
Trang 15c Tổ chức quản lý:
Tuỳ theo quy mô, ngành nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức và quản lý nội bộ của Công ty TNHH MTV áp dụng một trong 2 mô hình sau:
- Mô hình HĐQT: Gồm HĐQT và Giám đốc hoặc tổng giám đốc (thường áp
dụng trong trường hợp quy mô kinh doanh lớn, ngành, nghề kinh doanh đa dạng)
- Mô hình Chủ tịch Công ty: gồm Chủ tịch Công ty và Giám đốc hoặc Tổng
giám đốc:
1.1.1.3 Công ty TNHH có từ 2 thành viên trở lên
a Khái niệm:
Là một tổ chức kinh doanh có tư cách pháp nhân, trong đó thành viên có thể là
cá nhân hoặc tổ chức số lượng thành viên ít nhất là 2 và nhiều nhất không vượt quá
50 người
b Đặc điểm:
Là doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có tài sản riêng tách bạch với tài sản của các thành viên Công ty; Thành viên có thể là tổ chức hoặc cá nhân nhưng số lượng thành viên ít nhất phải là 2 và không vượt quá 50 người; Không được quyền phát hành cổ phiếu;
c Tổ chức quản lý:
- Hồi đồng thành viên; Chủ tịch Hội đồng thành viên; Giám đốc (Tổng GĐ)
- Số lượng thành viên ≥ 11 thì gồm như trên và thêm Ban kiểm soát
1.1.1.4 Công ty hợp danh
a Khái niệm
Là doanh nghiệp mà trong đó ít nhất có 2 thành viên hợp danh chịu trách
nhiệm vô hạn bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của Công ty
b Đặc điểm:
Có ít nhất 2 thành viên hợp danh, ngoài ra còn có thể có các thành viên góp vốn; Thành viên hợp danh phải là cá nhân có trình độ chuyên môn, uy tín nghề nghiệp, tiến hành hoạt động kinh doanh dưới một hãng chung và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Công ty hợp danh
Trang 16không có tư cách pháp nhân; Không được phép phát hành bất cứ một loại chứng khoán nào
c Tổ chức quản lý:
Hội đồng thành viên; Giám đốc Công ty
1.1.1.5 Doanh nghiệp tư nhân
1.1.2 Mô hình tổ chức bộ máy quản lý Công ty [17]
1.1.2.1 Mô hình tổ chức quản trị đơn giản (Simple structure)
Hình 1.1 Mô hình tổ chức quản trị đơn giản Đặc trưng cơ bản của kiểu mô hình tổ chức này là tất cả các quyết định quan trọng của tổ chức đều do một người đứng đầu làm Vì tất cả quyền điều hành đều tập trung vào nhà quản trị nên người này có một tầm quản trị rộng
NHÀ QUẢN TRỊ CAO CẤP (GIÁM ĐỐC)
NHÂN VIÊN,
CÔNG NHÂN
NHÂN VIÊN, CÔNG NHÂN
NHÂN VIÊN, CÔNG NHÂN
NHÂN VIÊN, CÔNG NHÂN
Trang 17Kiểu này không phức tạp, là một dạng tổ chức thấp và thường chỉ có hai hay
ba cấp Nó được sử dụng nhiều trong các doanh nghiệp nhỏ như là cửa hàng bách hóa, tiệm ăn, hiệu may quần áo Ở đây người đứng đầu tổ chức vừa có vai trò là quản trị gia, vừa có vai trò là chủ sở hữu doanh nghiệp
1.1.2.2 Mô hình tổ chức quản trị theo trực tuyến hay phân ngành (Divisional structure or line structure)
Hình 1.2 Mô hình tổ chức quản trị theo trực tuyến hay phân ngành
Cơ cấu này được xây dựng trên các nguyên tắc sau:
- Mỗi người cấp dưới chỉ có một thủ trưởng cấp trên trực tiếp
NHÀ QUẢN TRỊ CAO CẤP (GIÁM ĐỐC)
NGƯỜI LÃNH ĐẠO TUYẾN 1
NGƯỜI LÃNH ĐẠO TUYẾN 2
Trang 18- Mối quan hệ trong cơ cấu tổ chức này được thiết lập chủ yếu theo chiều dọc
- Công việc quản trị được tiến hành theo tuyến
1.1.2.3 Mô hình tổ chức quản trị theo chức năng (Functional structure)
Hình 1.3 Mô hình tổ chức quản trị theo chức năng
Cơ cấu tổ chức quản trị theo chức năng là kiểu tổ chức, trong đó nhân viên được tập trung thành đơn vị căn cứ theo sự tương đồng về công việc, về chức năng
Ưu điểm:
NGƯỜI LÃNH ĐẠO
TỔ CHỨC (GIÁM ĐỐC)
NGƯỜI LÃNH ĐẠO CHỨC NĂNG A (TỔ CHỨC)
NGƯỜI LÃNH ĐẠO CHỨC NĂNG B (KỸ THUẬT)
NGƯỜI LÃNH ĐẠO CHỨC NĂNG C (KINH TẾ)
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 1 (PHÂN XƯỞNG 1)
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 2 (PHÂN XƯỞNG 2)
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 3 (PHÂN XƯỞNG 3)
Trang 19- Người lãnh đạo tổ chức được sự giúp sức của các chuyên gia chuyên môn giỏi nên giải quyết các vấn đề chuyên môn tốt hơn; không đòi hỏi lãnh đạo phải có kiến thức toàn diện chuyên sâu về nhiều lĩnh vực
- Phát huy được tài năng chuyên môn của các chuyên gia về các chức năng quản trị
Nhược điểm:
- Vi phạm chế độ một thủ trưởng; chế độ trách nhiệm không rõ ràng;
- Gia tăng sự phân chia giữa các đơn vị chức năng, thường phát sinh mâu thuẫn giữa các đơn vị chức năng, vì đơn vị nào cũng chỉ thấy mục tieu riêng của đơn vị mình mà bỏ quên mục tiêu của cả tổ chức
1.1.2.4 Mô hình tổ chức quản trị trực tuyến - chức năng
Cơ cấu tổ chức quản trị trực tuyến - chức năng là kiểu cơ cấu phối hợp hữu cơ hai loại cơ cấu trực tuyến và chức năng
Ghi chú: Quan hệ chức năng
Quan hệ trực tuyến
Hình 1.4 Mô hình tổ chức quản trị trực tuyến - chức năng
NGƯỜI LÃNH ĐẠO
TỔ CHỨC (GIÁM ĐỐC)
NGƯỜI LÃNH ĐẠO TUYẾN 2
NGƯỜI LÃNH ĐẠO
TUYẾN 1
NGƯỜI LÃNH ĐẠO CHỨC NĂNG A
NGƯỜI LÃNH ĐẠO CHỨC NĂNG A
NGƯỜI LÃNH ĐẠO CHỨC NĂNG A
BỘ PHẬN
SẢN
XUẤT 1
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 2
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 1
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 2
Trang 20Kiểu mô hình này hiện nay được sử dụng khá rộng rãi trong sản xuất kinh doanh Tuy nhiên mô hình này cũng như các mô hình trên thường thích ứng trong điều kiện môi trường ổn định và phù hợp cho các công ty có ít chủng loại mặt hàng
và đơn ngành
1.1.2.5 Mô hình tổ chức quản trị trực tuyến - tham mưu
Kiểu mô hình tổ chức trực tuyến - tham mưu còn được gọi là cơ cấu phân nhánh thực chất là kiểu cơ cấu tổ chức theo trực tuyến mở rộng
Ghi chú: Quan hệ tham mưu
Quan hệ trực tuyến
Hình 1.5 Mô hình tổ chức quản trị trực tuyến - tham mưu
NGƯỜI LÃNH ĐẠO
TỔ CHỨC (GIÁM ĐỐC)
NGƯỜI LÃNH ĐẠO TUYẾN 2
NGƯỜI LÃNH ĐẠO
TUYẾN 1
BỘ PHẬN THAM MƯU THEO CHỨC NĂNG
BỘ PHẬN
SẢN
XUẤT 1
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 2
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 1
BỘ PHẬN SẢN XUẤT 2
Trang 21Ưu điểm:
- Đảm bảo chế độ một thủ trưởng, đồng thời vẫn sử dụng được các chuyên gia, tạo điều kiện cho người lãnh đạo dành nhiều thời gian đề suy nghĩ về chiến lược; chế độ trách nhiệm rõ ràng; bảo đảm sự thống nhất trong toàn tổ chức
1.1.2.6 Mô hình tổ chức quản trị theo ma trận
Hình thức tổ chức này có nhiều cách gọi khác nhau, như tổ chức theo ma trận hay bàn cờ hoặc quản trị theo đề án hay sản phẩm
TRƯỞNG PHÒNG KỸ SƯ THỦY LỰC
TRƯỞNG PHÒNG KỸ SƯ LUYỆN KIM
TRƯỞNG PHÒNG THIẾT
KẾ SƠ BỘ
TRƯỞNG PHÒNG KỸ SƯ
CƠ KHÍ
QUẢN
TRỊ DỰ
ÁN A
Trang 22Ưu điểm:
Có tính năng động và mục tiêu cao; việc hình thành và giải thể các cơ cấu nhanh, dễ dàng chuyển các nhân viên từ việc thực hiện một đề án này sang việc thực hiện một đề án khác;
Nhược điểm:
Dễ xẩy ra việc tranh chấp ảnh hưởng giữa những người lãnh đạo đối với các
bộ phận, nhân viên cấp dưới; cơ cấu này đòi hỏi phải có những quy định về điều lệ, thể thức, quy tắc rõ ràng và chặt chẽ
Phạm vi sử dụng của cơ cấu ma trận rất rộng rãi đặc biệt là ở các viện nghiên cứu, các trường đại học, trong các công ty, tập đoàn lớn, các công ty xuyên quốc gia, xuyên lục địa
1.2 Mô hình Công ty TNHH Một thành viên
1.2.1 Lịch sử hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn
Khác với loại hình công ty, công ty trách nhiệm hữu hạn là sản phẩm hoạt động lập pháp theo sáng kiến của nhà lập pháp Đức 1892, các nhà luật học của Đức đã đưa ra mô hình công ty trách nhiệm hữu hạn với những lập luận sau:
Thứ nhất: Mô hình công ty cổ phần đang tồn tại không thích hợp với nhiều mô hình kinh tế khác nhau, các quy định quá phức tạp đối với công ty cổ phần thật không cần thiết và không phù hợp với các loại công ty vừa và nhỏ, có rất ít thành viên Thứ hai: Chế độ trách nhiệm vô hạn của công ty đối nhân không phù hợp với tấc cả các nhà đầu tư Nhiều nhà đầu tư muốn được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn
để tránh được rủi ro, biết hạn chế rủi ro là một yếu tố quan trọng để thành đạt trong kinh doanh, do đó các nhà làm luật Đức đã sáng tạo ra loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn, vừa kết hợp được ưu điểm về chế độ trách nhiệm hữu hạn của công ty
và ưu điểm về chế độ thành viên quen biết nhau của công ty đối nhân
Với những ưu điểm của công ty trách nhiệm hữu hạn, nên sau khi có luật công
ty trách nhiệm hữu hạn năm 1892 của Đức được ban hành thì loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn đã được các nhà đầu tư lựa chọn, và từ đó số lượng công ty trách nhiệm hữu hạn không ngừng tăng lên
Trang 23Ở Việt Nam từ năm 1986 Đảng ta đề ra đường lối xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà Nước, cùng với chính sách kinh tế đó đã tạo điều kiện cho sự ra đời của các loại hình công ty Ngày 12/12/2005 Quốc hội đã thông qua Luật doanh nghiệp 2005 thay thế cho Luật doanh nghiệp 1999, Luật doanh nghiệp Nhà Nước và Luật đầu tư Nước ngoài tại Việt nam Luật doanh nghiệp 2005 quy định việc thành lập, tổ chức, quản
lý và hoạt động của các loại hình doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế
1.2.2 Đặc điểm pháp lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm một thành viên có những đặc điểm pháp lý sau đây:
Thứ nhất: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một
tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu Luật doanh nghiệp 2005 đã mở rộng đối tượng trở thành chủ sở hữu công ty bao gồm: Tổ chức, cá nhân, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tự do kinh doanh, tự chọn mô hình doanh nghiệp đầu tư kinh doanh
Thứ hai: Chủ thể có quyền thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân hay pháp nhân độc lập thì họ phải thoả mãn các điều kiện về năng lực chủ thể, họ hoàn toàn có quyền nhân danh mình khi tham gia các quan hệ kinh
tế
Thứ ba: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được giảm vốn điều lệ Quy định này được xem như là một hạn chế đối với quyền sở hữu công ty Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên không được phát hành cổ phiếu
Thứ tư: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên với số vốn là một khối thống nhất hoàn toàn độc lập với tài sản riêng của từng thành viên trong công ty, độc lập với tài sản của công ty là phải tuân thủ theo những quy định chung của pháp luật nói chung và đối với các công ty khác nói riêng
1.2.3 Cơ cấu tổ chức và quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là tổ chức
Trang 24Hình 1.7 Mô hình tổ chức Công ty TNHH MTV
Cơ cấu tổ chức, quản lý công ty TNHH MTV theo mô hình Hội đồng thành viên bao gồm: Hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và Kiểm soát viên Cơ cấu tổ chức này chỉ áp dụng trong trường hợp chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên bổ nhiệm nhiều người đại diện theo uỷ quyền, tức là từ hai người trở lên được ủy quyền Trường hợp một người đại diện theo ủy quyền sẽ theo mô hình Chủ tịch công ty
1.3 Mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh và xu hướng cải tổ của ngành điện lực [18]
1.3.1 Mô hình truyền thống và xu hướng cải tổ của ngành điện ở một số nước trên thế giới
a Những lý do cải tổ
Hầu như tất cả các nước trên thế giới, dù các nước công nghiệp hay đang phát triển, dù là Châu Âu, châu Phi hay châu Mỹ, xu thế cải tổ ngành điện lực đều đã và đang tiến hành Nhiều nước đã thực hiện quá trình này từ một vài năm nay, một số khác có các dự án cải tổ đang được hình thành và đang dần từng bước thiết lập nên những cấu trúc mới cho ngành điện lực
PHÒNG BAN
CƠ QUAN
ĐƠN VỊ SẢN XUẤT
HỘI ĐỒNG THÀNH VIÊN
BAN GIÁM ĐỐC
BAN KIỂM SOÁT
ĐƠN VỊ SẢN XUẤT
Trang 25Trào lưu và quá trình cải tổ này được giải thích bởi nhiều nguyên nhân và tác dung của chúng cũng khác nhau giữa các nước công nghiệp hóa, các nước đang phát triển và giữa các châu lục
Trước hết đó là sự hoạt động kém hiệu quả của ngành điện lực Cho đến trước thời kỳ cải tổ được bắt đầu từ giữa những năm 1980, mô hình tổ chức ngành điện lực ở đại đa số các nước trên khắp châu lục là mô hình công ty độc quyền quốc gia thâu tóm quá trình sản xuất, truyền tải đến phân phối điện năng vào tay một hoặc vài công ty nhà nước Lúc đó nhu cầu tiêu thụ điện năng ở các nước công nghiệp hóa gần như đã đạt đến mức bão hòa (100% các hộ tiêu thụ đã có điện, các tiện nghi sinh hoạt đã được trang bị đầy đủ, mức độ điện khí hóa các quá trình sản xuất đã ở trình độ cao) Hình thành tổ chức công ty độc quyền đã không tạo được sự năng động để đấp ứng xu hướng phát triển xã hội hình thành sau đó
Ngoài ra cũng cần kể thêm vai trò tác động của các tổ chức tài chính như: Ngân hàng thế giới, Ngân hàng phát triển châu á thông qua điều kiện xét duyệt các
dự án cho vay Nếu như trong những thập niên 50-60 tổ chức ngân hàng thế giới khuyến khích trào lưu quốc hữu hóa ngành điện tạo ra những công ty độc quyền nhà nước thống nhất quản lý toàn bộ các khâu từ sản xuất, truyền tải phân phối đến điện năng thì ngày nay chính tổ chức này lại khuyến kích theo trào lưu cải tổ theo hướng
tư nhân hóa, tạo môi trường cạnh tranh ở những khâu nhất định trong dây truyền này
Dưới tác động của các lý do vừa nêu trên , hầu như tất cả các nước trên khắp các châu lục đều đã và đang bắt tay vào quá trình cải tổ lại các tổ chức ngành điện Trào lưu chung của các quá trình cải tổ cho thấy rằng một mô hình tổ chức mới của ngành điện lực đang dần được hình thành Tuy nhiên cách thức tiến hành cụ thể ở từng nước, từng châu lục khác nhau
Trang 26Mô hình tổ chức trước đây của ngành điện lực dựa trên quan niệm điện lực là một ngành kinh tế có tính chất độc quyền tự nhiên Những phân tích ngày nay cho thấy ở từng công đoạn, từ sản xuất, truyền tải đến phân phối điện năng, tính chất độc quyền này thể hiện hoàn toàn khác nhau Xét về phương diện kỹ thuật thì hai khâu truyền tải và phân phối mang tính chất rõ nét của độc quyền tự nhiên (người ta không thể xây dựng đồng thời trên cùng một khu phố hai mạng điện phân phối hoạt động cạnh tranh nhau) Nhưng ở khâu sản xuất chúng ta hoàn toàn có thể tạo ra môi trường cạnh tranh giữa các công ty sản xuất có tính chất khác nhau về pháp nhân (nhà nước, liên doanh, tư nhân…) giữa các loại nhà máy (nhiệt điện, thủy điện, điện nguyên tử…) Về mặt thương mại chúng ta cũng có thể tạo ra môi trường cạnh tranh ở khâu phân phối bằng cách chuyển nhượng quyền tổ phức phân phối một vùng lãnh thổ nào đó cho một công ty, một tổ chức hoặc cá nhân theo các tiêu chuẩn cạnh tranh về giá cả và chất lượng phục vụ Chính xuất phát từ quan điểm này mà người ta đưa ra mô hình, trong đó khâu sản xuất được tách khỏi các khâu truyền tải và phân phối bằng cách cho phép nhiều công ty sản xuất độc lập (kể cả nhập khẩu điện) tham gia vào quá trình cung cấp năng lượng điện Ở khâu phân phối, cạnh tranh thương mại cũng hình thành bằng cách chuyển nhượng hoặc cho phép các công ty phân phối tư nhân tham gia phân phối điện năng ở từng vùng nhất định Riêng khâu truyền tải vẫn giữ vai trò độc quyền trong hệ thống điện lực các nước
Quá trình cải tổ ngành điện lực ở nước Anh thể hiện rất rõ xu thế chia cắt này Công ty điện lực Anh quốc trước đây được tổ chức lại thành 3 công ty sản xuất (national power, power gen và nuclear electric) và một công ty truyền tải giữ vai trò điều độ và truyền tải điện năng từ các công ty sản xuất đến 12 công ty phân phối tư nhân đảm nhận chức năng kinh doanh bán điện đến các hộ tiêu thụ Việc chia cắt này đã làm xuất hiện quan niệm điện năng cũng được coi là thứ hàng hóa như bất
kỳ một sản phẩm vật chất nào và cũng tồn tại các thị trường bán buôn, bán lẻ giữa các công ty sản xuất, truyền tải và phân phối với các hộ tiêu thụ Mô hình chia cắt
Trang 27này được khá nhiều nước trên thế giới áp dụng (Achentina, Chilê, Ôxtrâylia và các nước vùng Bắc Âu)
Các nước khu vực Đông Nam Á thực hiện quá trình cải tổ ngành điện lực theo
mô hình thổ chức về cơ bản giống như mô hình của các nước phát triển nhằm tạo môi trường cạnh tranh trong khâu sản xuất bằng cách cho phát triển các công ty phát điện độc lập dưới dạng các hợp đồng BOT (Build - Operate - Transfer) hoặc BOO (Build - Own - Operate) Các khâu truyền tải và phân phối vẫn giữ tính chất độc quyền tự nhiên hoặc độc quyền phân phối trên một vùng lãnh thổ nhất định Về mặt tư cách pháp nhân, ở Malaysia và Indonexia các công ty điện lực đã được tư nhân hóa và trở thành các công ty TNHH Thậm chí ở Malaysia, người ta còn bán 23% cổ phần của công ty điện lực ra thị trường chứng khoán Ở Philipin, công ty điện lực quốc gia vẫn giữ vai trò độc quyền ở các khâu sản xuất và truyền tải, Riêng khâu phân phối lại do một số công ty tư nhân hoặc tập thể đảm nhiệm Ở Thái Lan, quá trình cải tổ được bắt đầu muộn hơn, mãi đến năm 1992 quốc hội Thái Lan mới thông qua đạo luật cho phép tư nhân hóa một phần công ty điện lực quốc gia (EGAT) Sau đó một chi nhánh của EGAT được tách ra để thành lập công ty TNHH EGGO (Electricity Generating Company Ltd) Tuy nhiên mô hình của EGGO còn quá bé so với công ty độc quyền nhà nước cho nên sự cạnh tranh giữa các công ty chỉ là hình thức
Nhìn chung lại thì quá trình cải tổ ngành điện lực của các nước có điểm chung
là tìm cách bãi bỏ cơ chế độc quyền của các công ty độc quyền quốc gia và tạo môi trường khuyến khích khu vực kinh tế tư nhân tham gia vào quá trình phát triển ngành điện lực Tuy nhiên thể thức tiến hành và các mô hình tổ chức cụ thể ở từng nước, từng châu lục có khác nhau, thậm chí ở một số nước như Pháp, Italia , người
ta vẫn tìm cách bảo vệ quy chế độc quyền
Dưới đây, giới thiệu các mô hình tổ chức ngành điện lực chủ yếu đang được
áp dụng ở các nước
Trang 28Mô hình 1: Sơ đồ tổ chức của hệ thống điện độc quyền thống nhất không có
cạnh tranh trong bất kỳ một khâu nào của quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng Khách hàng chỉ có thể mua điện từ một công ty độc quyền
Độc quyền
Sản xuất
Truyền tải
Phân phối
Mô hình 2: Có sự chia cắt ở khâu phân phối nhƣng khâu sản xuất và truyền tải
vẫn nằm trong tay các công ty độc quyền quốc gia Các công ty phân phối không có khả năng lựa chọn nhà cung cấp sản phẩm điện năng cho mình
Sản xuất Truyền tải
Mô hình 3: Đƣợc gọi là mô hình của công ty độc quyền bán điện có sự cạnh
tranh trong khâu sản xuất thông qua các dự án sản xuất độc lập nhƣng toàn bộ khâu truyền tải và phân phối điện năng lại đƣợc tập chung vào trong tay một công ty, hộ tiêu thụ không đƣợc quyền lựa chọn nhà cung cấp cho mình
Sản xuất
Phân phối Phân Phối
Sản xuất Sản xuất Sản xuất
Công ty truyền tải, phân phối
Trang 29Mô hình 4: Có sự cạnh tranh trong cả hai khâu thêm vào đó, các khách hàng
công nghiệp lớn có thể trực tiếp ký hợp đồng mua điện từ công ty truyền tải, ở đây
có sự cạnh tranh trong khâu sản xuất, đồng thời khách hàng có thể lựa chọn nhà cung cấp cho mình
1.3.2 Lịch sử ngành điện Việt Nam và xu hướng cải tổ [11]
1.3.2.1 Ngành điện Việt Nam từ năm 1954 đến năm 1995
Ngành điện Việt Nam được coi là hình thành năm 1954 khi Cục điện lực được thành lập trực thuộc Bộ Công Thương sau chuyển về trực thuộc Bộ Công nghiệp (1958-1961) Tuy nhiên, với hoàn cảnh hai miền đất nước còn chia cắt Bắc Nam,
mô hình tổ chức ngành điện còn ở giai đoạn sơ khai Tại miền Bắc, cơ sở vật chất ngành điện tiếp quản rất nghèo nàn với 21 nhà máy phát điện lớn nhỏ sử dụng nhiên liệu là dầu và than với tổng công suất khoảng 68 MW Phần lớn các nhà máy điện vận hành riêng rẽ cung cấp điện áp cao nhất là 30,5 kV
Trong khi đó, cơ sở vật chất ngành điện miền Nam năm 1954 cũng không lớn hơn miền Bắc với tổng công suất nguồn điện khoảng 76MW Các cơ sở điện lực ở miền Nam và miền Trung phát triển tự phát và rời rạc, tài sản do các công ty nước ngoài đầu tư và sở hữu để sản xuất kinh doanh
Giai đoạn 1954 đến 1961 là giai đoạn khôi phục các cơ sở sản xuất điện tại miền Bắc và xây dựng thêm một số nhà máy điện mới như nhà máy điện Lào Cai
Trang 308MW, nhà máy điện Hàm Rồng-Thanh Hoá 6 MW, nhà máy điện Vinh 8MW
Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý không có gì thay đổi so với năm 1954, nghĩa là Cục điện lực trực tiếp quản lý các nhà máy điện và xí nghiệp Năm 1960 đánh dấu mốc quan trọng về định hướng phát triển đất nước tại Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ ba, chỉ rõ đường lối công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa với điện lực đi trước một bước
Đầu năm 1961, Tổng cục Điện lực được thành lập và trực thuộc Bộ Thuỷ lợi và Điện lực (1961-1963) do Cục điện lực được sáp nhập vào Bộ Thuỷ lợi và năm 1963, Tổng cục Điện lực đổi lại tên Cục Điện lực và chuyển về trực thuộc
Bộ Công nghiệp nặng (1963-1969), đánh dấu những thay đổi về tổ chức ngành điện theo hướng bắt đầu coi trọng khâu kinh doanh điện
Năm 1969, Bộ Điện và Than được thành lập, vừa quản lý nhà nước và trực tiếp chỉ đạo điều hành sản xuất kinh doanh các đơn vị Từ năm 1969 đến khi giải phóng đất nước (năm 1975), ngành điện tại miền Bắc được các nước xã hội chủ nghĩa giúp đỡ đầu tư xây dựng thêm các nhà máy điện mới và lưới điện đồng bộ
Về mô hình tổ chức và cơ chế quản lý không thay đổi do chỉ tập trung vào mở rộng qui mô sản xuất để dần từng bước đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất và sinh hoạt Giai đoạn miền Nam hoàn toàn giải phóng (năm 1975) đánh dấu một bước ngoặt quan trọng của đất nước, là tiền đề để phát triển kinh tế đất nước trong thời
kỳ hòa bình Mô hình tổ chức và cơ chế quản lý ngành điện cũng được thay đổi cho phù hợp, năm 1976 Bộ Điện và Than thành lập ba công ty điện lực tại ba miền của đất nước với mô hình tích hợp dọc, có nhiệm vụ quản lý, vận hành, sửa chữa toàn bộ tài sản nhà máy điện và lưới điện theo địa giới hành chính
Các công ty điện lực tiếp tục được chuyển về trực thuộc Bộ Điện lực 1987) và Bộ Năng lượng (1987-1995) Trong giai đoạn này, công tác tổ chức của ngành điện đã được nâng cao và đi dần vào chuyên môn hoá Bộ Năng lượng thực hiện chức năng quản lý nhà nước, đồng thời trực tiếp quản lý các công ty điện lực, các công ty xây lắp, khảo sát thiết kế điện và các trường đào tạo
(1981-1.3.2.2 Ngành điện Việt Nam từ năm 1995 đến nay
Trang 31Hình thành doanh nghiệp nhà nước chủ đạo trong ngành điện Đồng thời với tổ chức lại Bộ Năng lượng, các doanh nghiệp trong ngành điện từ các khâu phát điện, truyền tải điện và phân phối điện cũng được tổ chức lại thành Tổng công ty Điện lực Việt Nam (EVN) năm 1994, là một DNNN qui mô lớn nằm trong quan điểm quản lý kinh tế vĩ mô của Chính phủ
Đến năm 1995, tư duy quản lý kinh tế nhà nước tiếp tục được cải thiện và thay đổi với quan điểm hình thành phôi thai của TĐKT nhà nước là thành lập Bộ Công nghiệp trên cơ sở sáp nhập các Bộ Năng lượng, Bộ Công nghiệp nặng và Bộ Công nghiệp nhẹ
Năm 2007, Bộ Công Thương được thành lập trên cơ sở sáp nhập Bộ Công nghiệp và Bộ Thương mại, mở ra giai đoạn mới thúc đẩy phát triển ngành điện EVN được thành lập theo Quyết định số 147/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Điện lực Việt Nam trước đây và các đơn vị thành viên, là công ty nhà nước được chuyển đổi thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu theo Quyết định
số 975/QĐ-TTg ngày 25/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ
Trong lịch sử 60 năm của ngành Điện cách mạng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam với vị trí là một ngành kinh tế trọng điểm của đất nước đã chứng tỏ được vai trò chủ đạo trong cung cấp điện cho phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia Trong tất cả giai đoạn phát triển của đất nước, đặc biệt là thời
kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, Điện lực Việt Nam đã có những đóng góp xứng đáng
Từ cơ sở vật chất nghèo nàn và lạc hậu tiếp quản từ tay người Pháp, sau 60 năm chiến đấu, bảo vệ, xây dựng và phát triển, ngành Điện cách mạng Việt Nam đã
có những bước tiến vượt bậc, trở thành một ngành kinh tế - kỹ thuật hiện đại, đủ sức gánh vác vai trò là đòn bẩy cho nền kinh tế đất nước Từ các cụm nhà máy - đường dây hoạt động độc lập theo từng khu vực, ngày hôm nay hệ thống điện quốc gia là một thể thống nhất, các đường dây và trạm biến áp truyền tải và phân phối trải khắp
Trang 32các miền của đất nước, trong đó trục xương sống gồm 3 mạch đường dây siêu cao
vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô, quan điểm của EVN về Đề án tái cơ cấu như sau:
- EVN tiếp tục là tập đoàn kinh tế do nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ, chịu trách nhiệm chính trong việc phát triển nguồn điện và hệ thống truyền tải quốc gia; là công cụ vật chất quan trọng để Chính phủ điều tiết kinh tế vĩ mô, thực hiện các mục tiêu an sinh xã hội; cung cấp đủ điện cho nền kinh tế quốc dân, tiếp tục đầu
Trang 33tư đưa điện về nông thôn, miền núi, hải đảo góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh theo nghị quyết của Đảng;
- EVN đóng vai trò chính trong việc từng bước hình thành thị trường điện cạnh tranh trong nước, đa dạng hoá phương thức đầu tư và kinh doanh điện, khuyến khích nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển ngành điện;
- Thực hiện tái cơ cấu phải đảm bảo không gây xáo trộn lớn trong cung ứng điện cho nền kinh tế quốc dân, không ảnh hưởng xấu đến các khách hàng và đối tác, không tăng thêm các chi phí và giảm thiểu phát sinh các đầu mối quản lý trung gian
1.3.3.2 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở chính sách của Đảng và Chính phủ về Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2020, kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm
2011-2015 của EVN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 854, EVN xác định mục tiêu tổng quát giai đoạn 2011-2015 là:
- Tập trung đầu tư nguồn điện và lưới điện đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững cho EVN, phấn đấu đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu điện cho nền kinh tế quốc dân;
- Tập trung nguồn vốn và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn; nghiên cứu, phát triển và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, tăng cường quản trị doanh nghiệp đảm bảo tăng doanh thu, giảm chi phí để nâng cao hiệu quả hoạt động;
- Từng bước tham gia hoàn thiện và phát triển thị trường điện theo lộ trình Chính phủ quy định
1.3.3.3 Định hướng đề án
- Rà soát, xác định lại nhiệm vụ, ngành nghề kinh doanh chính, EVN chỉ kinh doanh những ngành chính và những ngành liên quan phục vụ trực tiếp ngành, nghề kinh doanh chính
- Xây dựng chiến lược phát triển đến năm 2015, tầm nhìn đến 2020 phù hợp chiến lược phát triển ngành, nhu cầu thị trường, khả năng về vốn và năng lực trình
độ quản lý
Trang 34- Xây dựng phương án tổ chức lại sản xuất kinh doanh, triển khai tái cơ cấu các doanh nghiệp thành viên để thực hiện chuyên môn hóa, phân công, hợp tác, không dàn trải, phân tán nguồn lực, tránh cạnh tranh nội bộ theo hướng sáp nhập, hợp nhất các doanh nghiệp thành viên kinh doanh cùng ngành nghề
- Xây dựng phương án tài chính để triển khai thực hiện nhiệm vụ chính được giao và xử lý các tồn tại về tài chính trong quá trình tái cơ cấu Chấm dứt tình trạng đầu tư ngoài ngành, lĩnh vực sản xuất, kinh doanh chính trước năm 2015
- Tái cơ cấu về quản trị doanh nghiệp và cơ chế hoạt động
1.3.3.4 Một số nội dung chính của Đề án tái cơ cấu EVN
a) Ngành, nghề kinh doanh chính
- Sản xuất, truyền tải, phân phối và kinh doanh mua bán điện năng; chỉ huy điều hành hệ thống sản xuất, truyền tải, phân phối và phân bổ điện năng trong hệ thống điện quốc gia;
- Xuất nhập khẩu điện năng;
- Đầu tư và quản lý vốn đầu tư các dự án điện;
- Quản lý, vận hành, sửa chữa, bảo dưỡng, đại tu, cải tạo, nâng cấp thiết bị điện, cơ khí, điều khiển, tự động hoá thuộc dây truyền sản xuất, truyền tải và phân phối điện, công trình điện; thí nghiệm điện;
- Đầu tư, kinh doanh cơ khí điện lực;
- Xuất nhập khẩu nhiên liệu, nguyên vật liệu, vật tư thiết bị ngành điện;
- Xây lắp, giám sát lắp đặt thiết bị nhà máy điện, thiết bị đường dây và trạm biến áp, thiết bị công nghệ thông tin; sản xuất vật liệu xây dựng, vật liệu cách điện, vật liệu cách nhiệt, trang bị bảo hộ lao động;
- Tư vấn quản lý dự án; tư vấn lập dự án đầu tư, tư vấn đấu thầu, lập dự toán
và giám sát thi công công trình nhà máy điện, các công trình đường dây và trạm biến áp, công trình công nghệ thông tin, các công trình công nghiệp và dân dụng;
- Đầu tư tài chính và kinh doanh vốn mà Nhà nước giao cho EVN;
b) Cơ cấu về tổ chức và sở hữu
Trang 35- Kiện toàn tổ chức quản lý và nhân sự quản lý điều hành Công ty mẹ - Tập đoàn Điện lực Việt Nam
- Các đơn vị trực thuộc
* Các nhà máy phát điện:
Để thực hiện chức năng phát điện, EVN trực tiếp nắm giữ các nhà máy thuỷ điện đa mục tiêu với tổng công suất đặt là 6102 MW dưới hình thức công ty hạch toán phụ thuộc, bao gồm Hoà Bình, Trị An, Yaly (Pleikrong, Ialy, Sê San 3), Sơn
La, Tuyên Quang, Phát triển thuỷ điện Sê San (Sê San 4)
Đồng thời, EVN tiếp tục trực tiếp đầu tư các dự án nguồn điện với tổng công suất đặt là 9200 MW, bao gồm: thủy điện Sơn La, thuỷ điện Lai Châu, điện hạt nhân Ninh Thuận và các thuỷ điện tích năng
* Công ty Mua bán điện và Trung tâm Điều độ hệ thống điện Quốc gia: trong
khi EVN tiếp tục giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo đầy đủ điện cho nhu cầu phát triển quốc gia, EPTC và NLDC sẽ tiếp tục là đơn vị trực thuộc
* Trung tâm Thông tin điện lực: là đại diện cơ quan ngôn luận của EVN trên
diễn đàn báo chí và các phương tiện truyền thông đại chúng
* Trung tâm Công nghệ thông tin: EVN đã thành lập Trung tâm Công nghệ
thông tin trên cơ sở Thông báo số 234/TB-VPCP
* Ban Qua ̉n lý đầu tư và kinh doanh Tòa nhà EVN: tiếp tục quản lý Dự án
Trung tâm điều hành và Thông tin viễn thông Điện lực Việt Nam
* Bốn trường đào tạo: Đại học Điện lực; Cao đẳng Điện lực thành phố Hồ Chí
Minh; Cao đẳng Điện lực miền Trung; và Cao đẳng Nghề điện
- Các công ty con
Các công ty con do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ (9 công ty)
* Thành lập ba Công ty mẹ - Tổng công ty phát điện 1, 2, 3 theo các Quyết
định số 3023/QĐ-BCT, 3024/QĐ-BCT, 3025/QĐ-BCT ngày 01 tháng 06 năm 2012 của Bộ Công Thương
Trang 36* Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia: EVN tiếp tục nắm giữ 100% vốn
điều lệ để đảm bảo định hướng phát triển lưới điện truyền tải, giữ vững sự ổn định của hệ thống điện;
* Năm Tổng công ty Điện lực (miền Bắc, miền Trung, miền Nam, thành phố
Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh)
Các công ty do EVN nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc quyền chi phối khác (9 công ty)
* Bốn Công ty cổ phần Cơ khí điện (Cơ điện miền Trung, Cơ điện Thủ Đức,
Cơ khí Điện lực và Chế tạo Thiết bị điện Đông Anh)
* Bốn Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng điện (1, 2, 3 và 4)
* Công ty Tài chính cổ phần Điện lực (EVN Finance):
c) Cơ cấu về quản trị doanh nghiệp và cơ chế hoạt động
Đổi mới quản trị và cơ chế hoạt động là rất quan trọng và cần thực hiện đồng thời với tái cơ cấu về ngành, nghề kinh doanh và tổ chức theo hướng sau:
- Tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện hệ thống quy chế quản lý nội bộ
- Nghiên cứu, sắp xếp lại cơ cấu tổ chức, bộ máy quản lý, điều hành
- Hoàn thiện quy chế về công tác cán bộ, đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực
- Tăng cường công tác kiểm soát nội bộ
- Ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ; thực hiện các giải pháp tăng doanh thu, giảm chi phí hoạt động sản xuất kinh doanh, tăng năng suất lao động
- Tăng cường chỉ đạo người đại diện vốn tại các công ty con, công ty liên kết
và kiểm soát việc trả thù lao, lương, thưởng
- Kiện toàn hoạt động của tổ chức đảng, đoàn thể
d) Sơ đồ tổ chức mới của EVN (Hình 1.8)
Trang 38Hình 1.9: Tương quan phụ tải và giá biên thị trường điện VN 12-2014
Hình 1.10: Tỉ trọng cơ cấu nguồn điện các đơn vị EVN
Nguồn: EVN
Nguồn: EVN
Trang 39Nhiệt điện than 182.13 41.7%
Nhiệt điện dầu 0.00 0.0%
1.3.4 Xu hướng cải tổ của Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội
Trên cơ sở chính sách của Đảng và Chính phủ về Chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội 2020, kế hoạch sản xuất kinh doanh và đầu tư phát triển 5 năm
2011-2015 của EVN đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 854; Thực hiện chủ trương của Đảng, Chính phủ và EVN về việc tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước, tập trung phát triển DNNN trong những ngành, lĩnh vực quan trọng có ý nghĩa then chốt của nền kinh tế quốc dân, chủ yếu thuộc các chuyên ngành kinh tế, kỹ thuật liên quan đến kết cấu
hạ tấng kinh tế xã hội, dịch vụ công, ổn định kinh tế vĩ mô, quan điểm của
EVNHANOI về xu hướng cải tổ như sau:
- EVNHANOI tiếp tục là Tổng Công ty do EVN nắm giữ 100% vốn điều lệ,
chịu trách nhiệm chính trong việc cung cấp đủ điện cho TP Hà Nội,
- Tập trung đầu tư nguồn điện và lưới điện đảm bảo phát triển hiệu quả và bền vững cho EVN, phấn đấu đảm bảo cung cấp đầy đủ nhu cầu điện cho nền kinh tế quốc dân;
- Tập trung nguồn vốn và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn; nghiên cứu, phát triển và áp dụng khoa học công nghệ tiên tiến, tăng cường quản trị doanh nghiệp đảm bảo tăng doanh thu, giảm chi phí để nâng cao hiệu quả hoạt động;
Trang 40- Từng bước tham gia hoàn thiện và phát triển thị trường điện theo lộ trình Chính phủ quy định
- Thực hiện tái cơ cấu phải đảm bảo không gây xáo trộn lớn trong cung ứng điện cho nền kinh tế quốc dân, không ảnh hưởng xấu đến các khách hàng và đối tác, không tăng thêm các chi phí và giảm thiểu phát sinh các đầu mối quản lý trung gian
- Từng bước chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh của 29 Công ty điện lực quận huyện và Công ty công nghệ thông tin, Công ty thí nghiệm điện, Công ty cơ điện thành công ty TNHH MTV có tư cách pháp nhân độc lập
Sơ đồ tổ chức EVNHANOI (Hình 1.11)