Trên cơ sở Nghị định 99, Dự án Khu vực PNKB đã tiến hành nghiên cứu ban đầu về tính khả thi trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR đối với DVDL trong khu vực VQG PNKB.. Đợt nghiên
Trang 1CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng (VQG PNKB) thuộc tỉnh Quảng Bình, miền Trung Việt Nam là nơi có cảnh quan núi đá vôi kỳ vĩ, với hệ động, thực vật đa dạng và độc đáo Cảnh quan tuyệt đẹp của khu vực này cùng với danh hiệu Di sản Thiên nhiên Thế giới được UNESCO công nhận (năm 2003) là những yếu tố thu hút trên 350.000 lượt du khách đến tham quan VQG mỗi năm
Tuy nhiên, tài nguyên thiên nhiên (TNTN) của VQG PNKB đang gặp phải nhiều áp lực từ cộng đồng địa phương, bao gồm cả tình trạng khai thác gỗ trái phép và bẫy, bắt động vật hoang dã Cuộc sống của đa số người dân vùng đệm VQG gặp rất nhiều khó khăn; tỷ lệ hộ nghèo còn rất cao Người dân chủ yếu sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp trong khi đó diện tích đất nông nghiệp lại rất hạn chế Do đó, phần lớn người dân vẫn đang sống phụ thuộc vào các nguồn TNTN trong khu vực VQG Nhu cầu thương mại về gỗ và động vật hoang dã từ bên ngoài ngày càng cao, cộng với công tác thực thi pháp luật chưa được thực hiện một cách hiệu quả làm gia tăng những
áp lực nói trên
Dự án Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng
Dự án khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng là dự án hợp tác giữa Chính phủ Việt Nam và Bộ Hợp tác và Phát triển Kinh tế Liên bang Đức (BMZ) Dự án được phối hợp thực hiện giữa Ủy ban Nhân dân (UBND) tỉnh Quảng Bình và hai tổ chức phát triển Đức: Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ
và Ngân hàng Tái thiết Đức KfW
Mục tiêu của Dự án là hỗ trợ cho Ban quản lý (BQL) VQG PNKB và các bên liên quan trong việc bảo tồn đa dạng sinh học (ĐDSH) của VQG PNKB, quản lý các hoạt động du lịch và cải thiện sinh kế của cộng đồng địa phương theo hướng bền vững nhằm giảm áp lực lên nguồn TNTN của VQG Dự án hỗ trợ các phương pháp tiếp cận mang tính cải tiến, trong đó bao gồm hỗ trợ nghiên cứu và áp dụng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR)
Chi trả DVMTR tại khu vực VQG PNKB
Tại khu vực VQG PNKB, du lịch được xác định là loại dịch vụ phù hợp nhất để áp dụng chính sách chi trả DVMTR Điều này có nghĩa là các đơn vị, cá nhân có hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch (DVDL) trong khu vực VQG như các đơn vị kinh doanh du lịch, công ty lữ hành, khách sạn, nhà hàng hay các quầy hàng lưu niệm
có thể được yêu cầu chi trả DVMT do VQG PNKB cung ứng Loại DVMTR được trả tiền DVMTR trong trường hợp này là “bảo vệ cảnh quan tự nhiên” và “bảo tồn ĐDS” của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho DVD
Trên cơ sở Nghị định 99, Dự án Khu vực PNKB đã tiến hành nghiên cứu ban đầu về tính khả thi trong việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR đối với DVDL trong khu vực VQG PNKB Đợt nghiên cứu này được thực hiện trên cơ sở và mục tiêu sau:
• Thứ nhất, khái niệm về chi trả DVMTR được đánh giá là một công cụ giúp cung cấp nguồn tài chính
bổ sung cho các hoạt động bảo tồn của VQG PNKB Chính sách này bao gồm cơ chế chia sẻ lợi ích với cộng đồng địa phương bằng cách hợp đồng với cộng đồng địa phương tham gia trực tiếp vào các hoạt động BVR, từ đó tạo ra các nguồn thu nhập mới cho người dân, đồng thời giảm áp lực lên nguồn TNTN của VQG
• Thứ hai, đợt nghiên cứu ở VQG PNKB kế thừa và làm rõ thêm các kết quả từ cuộc nghiên cứuh khả thi (NCKT) về chi trả DVMTR tại VQG Ba Bể được thực hiện vào tháng 11/2011 Cả hai nghiên cứu ở VQG Ba Bể và VQG PNKB được xem là các trường hợp nghiên cứu điển hình bởi vì cho đến nay, ngoài hai địa điểm nói trên, chưa có nơi nào khác
ở Việt Nam tiến hành các đợt nghiên cứu tương
tự về tính khả thi của việc chi trả DVMTR từ DVD
• Thứ ba, hai đợt NCKT này là cơ sở để xây dựng các khuyến nghị về việc hoàn thiện khung chính sách
về chi trả DVMTR ở cấp quốc gia
Chi trảg DVMTR tại Việt Nam
Năm 2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định 99/2010/
NĐ-CP về khung chính sách Chi trả (DVMT) Chính sách này được đưa ra dựa trên ý tưởng rừng cung cấp các dịch vụ môi trường có giá trị sử dụng đối với nhu cầu của xã hội và con người, ví dụ như điều tiết nguồn nước, cảnh quan tự nhiên hay (ĐDS) Theo Nghị định 99, có nhiều đối tượng được hưởng lợi từ các DVMTR, ví dụ như: các đơn vị cung cấp nước sinh hoạt hưởng lợi từ các nguồn nước sạch và các công ty du lịch hưởng lợi từ các cảnh quan tự nhiên, ĐDS Theo đó, các đối tưởng hưởng lợi này được yêu cầu đóng góp một phần doanh thu để chi trả tiền DVMTR cho những đối tượng cung ứng DVMTR Đối tượng cung ứng DVMTR là những đơn
vị, cá nhân có đóng góp công sức vào bảo vệ rừng (BVR)
Đối tượng được quyền nhận các khoản chi trả DVMTR chính là các chủ rừng hoặc người dân địa phương được các chủ rừng giao khoán BVg
Các cuộc tranh luận ở cấp chính sách đã bổ sung thêm mục tiêu cải thiện sinh kế cho cộng đồng địa phương vào khái niệm về chi trả DVMTR bởi lẽ đói nghèo được xem
là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng suy thoái rừng ;
và trong bối cảnh Việt Nam thì hầu như không thể tách những nỗ lực BVg, bảo tồn thiên nhiên ra khỏi công tác giảm nghèo
Trang 2Một phương án giúp giải quyết được thách thức này là
áp dụng vé DVMTR đối với du khách tham quan VQG
Đây là hình thức mà du khách sẽ chi trả phí DVMTR trực tiếp Hình thức này được xác định là khả thi hơn bởi nó cho phép tạo ra khoản thu DVMTR khá cao trong khi giữ được các chi phí hành chính liên quan ở mức thấp
Các khoản chi trả DVMTR nên được phân bổ nhằm mang lại lợi ích cho cán bộ kiểm lâm VQG cũng như người dân địa phương, từ đó tăng cường hiệu quảgBVR, bảo tồn ĐDSH
(BQ) VQG PNKB được xem là chủ rừng, là đơn vị cung ứng DVMTR và là đối tượng được chi trả tiền DVMTR
BQL VQG có thể ký hợp đồng giao khoán BVRg với các hộ gia đình địa phương, gắn kết vai trò của người dân vào các hoạt động BVg và bằng hình thức đó, người dân sẽ trở thành bên cung ứng DVMTR
Trong quá trình thực hiện đợt nghiên cứu nói trên, BQL VQG PNKB cho biết VQG không thể chia sẻ các lợi ích tiềm năng từ nguồn chi trả DVMTR với người dân địa phương bởi vì VQG cần sử dụng nguồn thu từ DVMTR để tăng lương cho các cán bộ kiểm lâm Tuy nhiên, các quy định mới được ban hành ở cấp quốc gia trong thời gian trở lại đây yêu cầu các KBT/VQG phải xây dựng cơ chế đồng quản lý với sự tham gia của cộng đồng địa phương trong BVg Nhằm tăng cường sự hợp tác chặt chẽ hơn giữa BQL VQG với các cộng đồng địa phương, cần có thêm thông tin, quy định hướng dẫn cụ thể và những
hỗ trợ cần thiết về cách thức lồng ghép các cơ chế đồng quản lý nói trên vào trong chương trình chi trả DVMTR
Cơ chế chi trả phải dễ hiểu và minh bạch đối với tất cả các bên liên quan nhằm đảm bảo sự hỗ trợ từ các bên liên quan đối với triển khai thực hiện chính sách chi trả DVMTR
Đợt nghiên cứu về tính khả thi về áp dụng chi trả DVMTR
từ dịch vụ du lịch tại VQG PNKB đã chỉ ra hai vấn đề cốt lõi mà các bên liên quan đã hiểu chưa đúng:
Thứ nhất, hình thức chi trả DVMTR trực tiếp hiện nay được áp dụng mà chưa có sự thống nhất với các đối tượng nộp phí về mức phí Cụ thể, BQL VQG PNKB ký hợp đồng với các công ty lữ hành, cho phép các công
ty này tổ chức các chuyến tham quan tới tuyến du lịch trong VQG và áp dụng một mức phí là 500.000 đồng/
du khách BQL VQG cho rằng đây là phí “DVMTR”, mặc
dù mức thu phí này không được đàm phán giữa BQL VQG và công ty lữ hành
Thứ hai, hình thức chi trả trực tiếp không được phân biệt rõ ràng với cơ chế thu phí cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái (một công cụ tài chính khác đối với KBT) Ví dụ, một khu vực trong VQG PNKB được cho một đơn vị tư nhân thuê để kinh doanh du lịch sinh thái (bắt đầu từ 2011) trên cơ sở hợp đồng giữa hai bên Các chủ thể liên quan xem đây
là hợp đồng chi trả DVMTR, nhưng thực ra đây là hợp đồng cho thuê môi trường rừng
Các quy định và các văn bản hướng dẫn về chi trả DVMTR và cho thuê môi trường rừng trước tiên cần đưa ra được định nghĩa cụ thể và rõ ràng hơn nhằm tránh được sự hiểu nhầm trong triển khai thực hiện
Các bước tiếp theo
Báo cáo NCKT đã đưa ra các kiến nghị đối với các ban ngành cấp tỉnh, BQL VQG PNKB và Dự án Khu vực PNKB
về việc thực hiện các hoạt động liên quan đến chi trả DVMTR trong khu vực VQG PNKB Các kiến nghị này được đưa ra dựa trên các kết quả chính của báo cáo NCKi, đồng thời giới thiệu hình thức chi trả phí DVMTR trực tiếp từ du khách, khuyến nghị sự tham gia của người dân địa phương vào việc thực hiện cơ chế chi trả DVMTR và chia sẻ lợi ích cũng như các hoạt động cung cấp thông tin và nâng cao nhận thức về thực hiện chính sách chi trả DVMTR Các kiến nghị này sẽ góp phần định hướng việc thực hiện chi trả DVMTR tại khu vực VQG PNKB trong thời gian tới
Các kết quả của đợtiNCKT về chi trả DVMTR
Đợt nghiên cứu đã giúp phát hiện nhiều điểm hạn chế trong khung pháp lý hiện nay về chi trả DVMTR từ dịch
vụ du lịch ở các khu bảo tồn Đợt nghiên cứu cho thấy rằng một cơ chế chi trả DVMTR khả thi cần phải đáp ứng nhiều tiêu chí khác nhau mà vốn dĩ chưa được thể hiện
rõ khi triển khai áp dụng Nghị định 99 đối với loại DVDL:
Cách thức thu phí DVMTR phải được tiến hành với mức chi phí hành chính thấp nhất có thể nhằm đảm bảo rằng khoản tiền thu được phải đủ để trang trải tất
cả các chi phí cần thiết và đóng góp đáng kể vào ngân sách bảo vệ VQG
Việc đưa tất cả các tổ chức, cá nhân kinh doanh DVDL được hưởng lợi từ DVMTR về bảo vệ cảnh quan tự nhiên
và bảo tồn ĐDSc của VQG PNKB có thể dẫn đến tình trạng chi phí quản lý hành chính quá cao bởi vì không phải tất cả các doanh nghiệp hoạt động trong DVDL đều ghi chép đầy đủ sổ sách kinh doanh Chính vì thế, hiện tại không có cơ sở đáng tin cậy để tính toán các khoản phí DVMTR mà các doanh nghiệp phải nộp Ngoài ra,
khô-ng phải tất cả các doanh khô-nghiệp du lịch trokhô-ng tỉnh đều hưởng lợi như nhau từ các DVMTR của VQG PNKB Rất nhiều khách sạn, nhà nghỉ có doanh thu không chỉ đến
từ nguồn du khách tham quan PNKB, đặc biệt các khách sạn, nhà nghỉ ở thành phố Đồng Hới có doanh thu từ DVDL biển và từ nguồn khách nghỉ qua đêm khi đi công tác Chính vì vậy, việc xác định mức phí DVMTR mà các khách sạn, nhà nghỉ phải chi trả là rất khó Chỉ có các khách sạn, nhà nghỉ nằm ở khu vực gần VQG PBKB là hầu như hoàn toàn được hưởng lợi từ DVMTR của VQG
Tuy nhiên, trên thực tế những khách sạn, nhà nghỉ này hầu hết lại là các hộ gia đình kinh doanh quy mô nhỏ,
vì vậy nếu xác định họ là đối tượng duy nhất phải chi trả DVMTR có thể trở thành một gánh nặng đối với họ
Trong khi có những đối tượng đang hưởng lợi nhiều hơn lại không phải trả bất kì khoản phí nào
Dự án Khu vực Phong Nha - Kẻ Bàng
Số 9 Quang Trung, Đồng Hới
Quảng Bình, Việt Nam
T +84 52 3843179 F +84 52 3850941
E office.pn-kb@giz.de
I www.giz.de/viet-nam
www.pnkb-quangbinh.org.vn
Chịu trách nhiệm: Jens Kallabinski
Biên tập:
Annika Korte
Phạm Thị Liên Hòa