Bản tin vắn chính sách này 10/2012 tóm tắt các kết quả chính của hai nghiên cứu điểm tại Vườn quốc gia VQG Ba Bể và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng về khả năng áp dụng chính sách chi trả dịch vụ
Trang 1Tóm tắt chính sách
CHI TRẢ DỊCH VỤ
MÔI TRƯỜNG RỪNG trong DU LỊCH
Xuất bản bởi
Trang 2CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG TỪ DU LỊCH TẠI CÁC KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN VIỆT NAM
Chi trả Dịch vụ môi trường rừng hay Chi trả dịch vụ hệ sinh thái?
Tại Việt Nam, hiện chỉ có khái niệm chi trả dịch vụ môi trường rừng được sử dụng và được thể chế hóa Đến nay, chưa có khung pháp lý về chi trả dịch vụ môi trường đối với các dịch vụ môi trường khác ngoài dịch vụ môi trường rừng Tuy nhiên, với nhiều quốc gia khác trên thế giới, khái niệm Chi trả dịch vụ môi trường đang được sử dụng vì nó có tính bao quát hơn
Bản tin vắn chính sách này (10/2012) tóm tắt các kết quả chính của hai nghiên cứu điểm tại Vườn quốc gia (VQG) Ba Bể và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng về khả năng áp dụng chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng (DVMTR) từ du lịch theo quy định tại Nghị định 99/2010/NĐ-CP ngày 24/09/2010 của Chính phủ (NĐ 99) đối với loại dịch vụ môi trường rừng liên quan đến “Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên” và “Bảo tồn đa dạng sinh học” Nội dung tóm tắt này sẽ góp phần vào quá trình tham luận về việc triển khai thực hiện cơ chế chi trả DVMTR trong lĩnh vực du lịch tại Việt Nam
Trang 3Trên thế giới, khái niệm Chi trả Dịch vụ Môi trường (CTDVMT) được hiểu như sau:
“là một giao dịch tự nguyện đối với một loại dịch vụ môi trường cụ thể giữa ít nhất một bên sử
dụng dịch vụ môi trường và một bên cung ứng dịch vụ môi trường khi và chỉ khi bên cung ứng dịch vụ môi trường có khả năng cung cấp dịch vụ (trong những điều kiện cụ thể) (Wunder, 2005)
Tại các khu bảo tồn thiên nhiên (KBT), những DVMTR này thường do Ban quản lý KBT cung cấp, nhất là với sự hỗ trợ từ cộng đồng địa phương hay cá nhân Bên sử dụng dịch vụ là những doanh nghiệp có nguồn thu từ các dịch vụ du lịch và khách du lịch đến tham quan KBT
Ở Việt Nam, khái niệm chi trả DVMTR được diễn giải khác với Quốc tế dưới một số góc độ như sau: Thứ nhất, Nhà nước đóng vai trò điều tiết chủ yếu: Chi trả DVMTR được xem là một công cụ dựa vào thị trường, bắt buộc áp dụng trong một số điều kiện nhất định và được đưa vào các quy định của Chính phủ Thứ hai, xóa đói giảm nghèo là một trong những mục tiêu chính của chính sách chi trả DVMTR (Nguyễn, 2009) Do vậy, hầu như không thể tách những nỗ lực bảo vệ rừng
và bảo tồn đa dạng sinh học ra khỏi công tác xóa đói giảm nghèo Một số nhà phê bình thì cho rằng, trọng tâm của chi trả DVMTR không thể là các vấn đề “vì người nghèo”, vì điều này có thể hạn chế hiệu quả của chương trình chi trả DVMTR Do đó, “trọng tâm hàng đầu” [ ] vẫn là vấn
đề môi trường chứ không phải vấn đề đói nghèo (Wunder, 2008) Tuy nhiên, rất nhiều cộng đồng dân cư ở Việt Nam có truyền thống sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, vì vậy, chính sách chi trả DVMTR nếu như không xét đến việc đáp ứng nhu cầu của người nghèo thì khó có thể thực hiện lâu dài
Nghị định 99/2010/NĐ-CP (Điều 4) về chi trả DVMTR đề cập đến hai dịch vụ môi trường có thể áp dụng đối với dịch vụ du lịch, đó là “bảo vệ cảnh quan thiên nhiên” và “bảo tồn đa dạng sinh học”
Vì vậy, “các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch được hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch” (NĐ 99/2010/NĐ-CP, Điều 7, Khoản 4) Các doanh nghiệp
có nguồn thu từ du lịch có nghĩa vụ đóng góp một khoản phí DVMTR tương đương 1-2% của doanh thu đạt được thông qua một cơ chế chi trả gián tiếp (khoản tiền này được quản lý thông qua Quỹ bảo vệ và phát triển rừng (Quỹ BVPTR), được thành lập theo NĐ số 05/2008/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2008 của Chính phủ, là tổ chức tiếp nhận ủy thác tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng) Đối với các địa phương không có đủ điều kiện thành lập Quỹ BVPTR, thì UBND cấp tỉnh quyết định cơ quan, tổ chức làm thay nhiệm vụ của Quỹ BVPTR cấp tỉnh Với hình thức thanh toán trực tiếp, số tiền đóng góp có thể cao hơn (nhưng không dưới 1%), vì cần phải thương lượng trực tiếp giữa bên mua và bên cung ứng dịch vụ Phí thu được từ các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch như công ty lữ hành, nhà hàng, khách sạn hoặc điểm kinh doanh hàng lưu niệm
sẽ được sử dụng vào mục đích hỗ trợ các hoạt động bảo vệ rừng nhằm đóng góp vào bảo tồn đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên Các đối tượng ký hợp đồng nhận khoán bảo vệ rừng với chủ rừng như các tổ chức, hộ gia đình hoặc cộng đồng dân cư thôn là đối tượng được chi trả tiền DVMTR (NĐ 99/2010/NĐ-CP, Điều 8)
Hiện nay, việc thực hiện chính sách chi trả DVMTR theo NĐ 99/2010/NĐ-CP mới chủ yếu tập trung áp dụng với đối tượng là các nhà máy thủy điện và công ty cung cấp nước sạch Đến nay, mới có tỉnh Lâm Đồng triển khai thí điểm cơ chế chi trả DVMTR trong du lịch Cụ thể, hiện tại Lâm Đồng có 14 công ty du lịch đóng 1% doanh thu cho Quỹ BVPTR của tỉnh
1 BỐI CẢNH: CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI TRƯỜNG RỪNG ĐỐI VỚI DỊCH VỤ
DU LỊCH Ở VIỆT NAM
Trang 42 ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI
TRƯỜNG RỪNG tỪ DỊCH VỤ DU LỊCH Ở HAI VƯỜN QUỐC GIA
VƯỜN QUỐC GIA BA BỂ
Nghiên cứu tiền khả thi về chi trả DVMTR từ du lịch tại VQG Ba Bể được thực hiện vào tháng 11/2011, bởi Dự án “Bảo tồn Đa dạng sinh học các hệ sinh thái rừng Việt Nam” do Tổ chức Hợp tác Phát triển Đức GIZ phối hợp triển khai với Vụ Bảo tồn Thiên nhiên (Vụ BTTN), Tổng cục Lâm nghiệp (TCLN), Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NN&PTNT) nhằm đánh giá khả năng áp dụng chính sách chi trả DVMTR đối với loại dịch vụ “Bảo vệ cảnh quan thiên nhiên” và
“Bảo tồn đa dạng sinh học” phục vụ dịch vụ du lịch theo quy định tại NĐ 99/2010/NĐ-CP Trước khi nghiên cứu được tiến hành, chi trả DVMTR từ du lịch được cho là khả thi với VQG Ba Bể
vì theo số liệu của Ban quản lý VQG trong năm 2010 VQG đã tiếp đón khoảng 23.000 lượt du khách Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện thuận lợi, doanh thu tiềm năng từ nguồn chi trả DVMTR từ du lịch của VQG có thể lên đến 260.000.000 đồng/năm Điều kiện thuận lợi ở đây được hiểu là tất cả các nguồn thu từ kinh doanh các dịch vụ khách sạn, nhà hàng, nghỉ tại nhà dân (homestay), kinh doanh hàng lưu niệm và kinh doanh lữ hành được xác định chính xác
và báo cáo đầy đủ cho cơ quan thuế và tất cả khách du lịch đều mua vé vào VQG khi đến tham quan Tuy nhiên, trên thực tế thì đây mới là giả thiết và tiền thu từ DVMTR theo hình thức thanh toán gián tiếp sẽ không đáng kể Khoản thu này sẽ không đủ trang trải cho các chi phí giao dịch
có thể có của cơ chế chi trả DVMTR, cũng như không tạo được động lực khuyến khích cho các bên cung ứng dịch vụ Nghiên cứu kết luận, việc thực hiện cơ chế chi trả DVMTR dựa trên thu phí từ các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch là không khả thi trong điều kiện hiện nay tại VQG
Ba Bể do nhiều thách thức khác nhau
Trang 5VƯỜN QUỐC GIA PHONG NHA – KẺ BÀNG
Dự án hợp tác kỹ thuật “Bảo tồn và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng” (Dự án khu vực PNKB) cũng đã tiến hành nghiên cứu ban đầu
về tính khả thi của việc thực hiện chi trả DVMTR từ dịch vụ du lịch trong khu vực dự án Kế thừa những kết quả và bài học kinh nghiệm của cuộc nghiên cứu tại VQG Ba Bể, đợt nghiên cứu tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được cho rằng, sẽ có những kết quả khả quan hơn đối với việc áp dụng chi trả DVMTR bởi PNKB có số lượng du khách đến tham quan hàng năm cao hơn nhiều
so với VQG Ba Bể (năm 2011 ở PNKB có 360.000 lượt khách trong khi đó ở VQG Ba Bể chỉ có 23.000 lượt du khách vào năm 2010), vì thế số tiền thu phí chi trả ở PNKB sẽ cao hơn tại Ba Bể Nghiên cứu này cũng nhằm kiểm chứng các kết quả của nghiên cứu tại Ba Bể, đồng thời tìm hiểu thêm những thách thức và cơ hội trong thực hiện chi trả DVMTR từ dịch vụ du lịch Ngoài việc tìm hiểu về vấn đề thu phí chi trả DVMTR từ du lịch, nghiên cứu ở PNKB còn tìm hiểu tính khả thi của việc áp dụng thu phí DVMTR bổ sung đối với khách du lịch
Nghiên cứu cho thấy, nguồn phí từ chi trả DVMTR từ dịch vụ du lịch ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
có thể lên tới 533.000.000 đồng/năm từ rất nhiều các đối tượng kinh doanh du lịch, ví dụ như các khách sạn, nhà hàng, các điểm kinh doanh hàng lưu niệm, công ty lữ hành Tuy nhiên, con số ước tính này còn chưa thực tế do vẫn dựa trên các giả định trên các điều kiện thuận lợi Trong khi đó, tương tự như VQG Ba Bể, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cũng chưa có được những điều kiện thuận lợi này Bên cạnh đó, con số này chênh lệch đáng kể so với kết quả đánh giá tỷ lệ chi trả DVMTR tiềm năng từ dịch vụ du lịch được thực hiện bởi Sở NN&PTNT tỉnh Quảng Bình (09/2012) Theo
đó, giá trị thu được từ chi trả DVMTR hàng năm được ước tính là vào khoảng 332.000.000 đồng dựa trên 1% doanh thu của Trung tâm Du lịch VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và doanh thu của một điểm du lịch do tư nhân quản lý Sự khác biệt về con số ước tính này cho thấy, việc xác định đối tượng chi trả vẫn còn rất thách thức; đồng thời những quy định hiện hành có thể dẫn đến những cách hiểu khác nhau về đối tượng chi trả tiềm năng và đối tượng không phải chi trả
ĐÁNH GIÁ TÍNH KHẢ THI CỦA VIỆC THỰC HIỆN CHI TRẢ DỊCH VỤ MÔI
TRƯỜNG RỪNG tỪ DỊCH VỤ DU LỊCH Ở HAI VƯỜN QUỐC GIA
Trang 6Một trong rất nhiều thách thức đối với cơ chế chi trả DVMTR là việc xác định những chủ thể sử dụng dịch vụ là đối tượng chi trả Nếu đưa tất cả các chủ thể hưởng lợi từ DVMTR vào danh sách này sẽ nảy sinh một loạt thách thức về mặt thủ tục hành chính Các chủ thể kinh doanh dịch vụ
du lịch rất đa dạng, nếu xét về các tiêu chí như vị trí kinh doanh, quy mô và sản phẩm kinh doanh (người bán hàng lưu niệm địa phương và người chèo thuyền chở du khách cũng như các doanh nghiệp quy mô lớn như các nhà đầu tư tư nhân và kinh doanh chuỗi khách sạn) Đối với trường hợp các công ty lữ hành và chủ khách sạn việc xác định đối tượng nộp phí rất khó khăn bởi công
ty lữ hành thường cung cấp các dịch vụ du lịch khác nhau - một chuyến tham quan đến KBT có thể là điểm đến duy nhất trong một tour du lịch, hoặc là một điểm dừng chân của một hành trình dài mà công ty cung cấp dịch vụ Ví dụ, rất nhiều khách du lịch đến tham quan VQG Ba Bể đã kết hợp chuyến tham quan này với tour du lịch qua Hà Giang Đối với VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, nhiều công ty tour cung cấp dịch vụ tham quan cho du khách đến VQG PNKB nằm trong một gói tour du lịch dài ngày gồm nhiều điểm đến khác nhau Do đó, rất khó có thể xác định công ty du lịch lữ hành được hưởng lợi bao nhiêu từ những chuyến tham quan đến KBT để có thể làm cơ sở ước tính doanh thu và tính toán số tiền chi trả cho các dịch vụ môi trường, dịch vụ hệ sinh thái Vấn đề trên cũng tương tự đối với nhóm đối tượng khách sạn Nghiên cứu tại Phong Nha - Kẻ Bàng đã chỉ rõ: hầu hết các du khách chỉ đến tham quan VQG PNKB trong ngày đều nghỉ đêm tại thành phố Đồng Hới (cách VQG hơn 40km) Như vậy, việc xác định các khách sạn ở Đồng Hới phải trả mức phí DVMTR như thế nào không hề dễ, bởi doanh thu của các khách sạn này không chỉ đến từ nguồn du khách đến tham quan Phong Nha - Kẻ Bàng, mà còn từ các du khách đến Quảng Bình để du lịch biển và số khách chỉ có nhu cầu nghỉ đêm Như thế, chỉ có các khách sạn
ở thị trấn Phong Nha, xã Sơn Trạch – nằm gần VQG PNKB là đối tượng phải nộp phí DVMTR Trên thực tế, những khách sạn này thường có quy mô nhỏ, vì vậy trách nhiệm nộp phí DVMTR
có thể trở thành một gánh nặng đối với họ Trong khi có những đối tượng đang được hưởng lợi nhiều hơn lại không phải trả bất kì khoản phí nào
XÁC ĐỊNH ĐỐI TƯỢNG CHI TRẢ DVMTR TIỀM NĂNG
NHỮNG THÁCH THỨC ĐỐI VỚI CHI TRẢ DVMTR tỪ DU LỊCH VÀ GIẢI PHÁP TIỀM NĂNG
Các tổ chức, cá nhân kinh doanh dịch vụ du lịch có hưởng lợi từ dịch vụ môi trường rừng phải chi trả tiền dịch vụ về bảo vệ cảnh quan tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học của các hệ sinh thái rừng phục vụ cho dịch vụ du lịch (NĐ 99, Điều 7)
Dịch vụ môi trường rừng “bảo vệ cảnh quan thiên nhiên” và “bảo tồn đa dạng sinh học” được cung cấp trong phạm vi ranh giới nào?
Cả hai nghiên cứu đều bắt đầu với giả định rằng, khu vực cung cấp dịch vụ môi trường “bảo vệ cảnh quan thiên nhiên” và “bảo tồn đa dạng sinh học” nằm trong ranh giới của các KBT Tuy nhiên, khi đó nảy sinh ngay một câu hỏi: Liệu có hợp lý không nếu chi trả DVMTR chỉ trong ranh giới của các KBT? Bởi vì, vùng đệm cũng có vai trò quan trọng trong bảo tồn đa dạng sinh học đối với các KBT Chính vì vậy mà khu vực vùng đệm cần sự quản lý đặc biệt Hơn nữa, cũng cần phải cân nhắc có nên tách riêng diện tích KBT và diện tích vùng đệm trong cơ chế chi trả DVMTR, vì những thôn/bản đang cung cấp DVMTR phân bố ở cả hai khu vực này Cách xác định ranh giới khu vực cung cấp dịch vụ có liên quan đến việc phân bổ doanh thu giữa các đối tượng cung cấp Khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa có hướng dẫn cách xác định khu vực cung cấp dịch
vụ Do vậy, khuôn khổ pháp lý cần phải quy định cụ thể về cách xác định diện tích khu vực cảnh quan thiên nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học trong chi trả DVMTR
§
3
Trang 7Tác động không mong muốn có thể xảy ra từ việc chi trả DVMTR
Khi một công ty du lịch phải chi trả DVMTR, họ chắc chắn sẽ tính thêm khoản phí này vào giá dịch vụ đối với du khách Nếu điều này không thể thực hiện được, họ sẽ trích một khoản từ lợi nhuận ra để chi trả Một
số phỏng vấn ở Phong Nha - Kẻ Bàng cho thấy những mô hình kinh doanh du lịch có quy mô nhỏ gặp khó khăn trong việc tính thêm phí DVMTR cho khách hàng vì tăng giá dịch vụ không hề đơn giản Những mô hình này thường là của người dân địa phương, là những người đang tìm kiếm các cơ hội sinh kế mới thay thế cho việc khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên từ khu vực VQG Việc yêu cầu những mô hình kinh doanh dịch vụ du lịch quy mô nhỏ này phải trả phí DVMTR có thể làm phản tác dụng của chiến lược hỗ trợ phát triển sinh kế địa phương thông qua khuyến khích phát triển những mô hình du lịch quy mô nhỏ Và như vậy, cơ chế DVMTR sẽ làm tăng thêm gánh nặng cho họ
Làm thế nào để giải quyết thách thức này?
Lựa chọn các đối tượng chi trả tiềm năng
Một giải pháp có thể là xây dựng các tiêu chí cụ thể trong khuôn khổ pháp lý làm căn cứ lựa chọn những đối tượng chi trả tiềm năng Những tiêu chí này có thể dựa trên địa điểm kinh doanh và mức doanh thu: các mô hình kinh doanh nhỏ có thể được miễn trừ chi trả phí DVMTR do mức phí mà họ sẽ phải nộp là không đáng kể, đặc biệt khi so sánh với những doanh nghiệp du lịch lớn hơn Bên cạnh đó, những doanh nghiệp có quy mô nhỏ thường không ghi chép đầy đủ sổ sách kinh doanh, khiến việc xác định doanh thu để căn cứ vào đó tính toán khoản phí phải nộp hầu như không khả thi Việc đưa tất cả các mô hình kinh doanh nhỏ vào danh sách nộp phí DVMTR có thể dẫn đến tình trạng chi phí quản lý sẽ vượt quá doanh thu nhận được
Vé dịch vụ môi trường rừng dành cho du khách tham quan KBT
Du khách là đối tượng sử dụng dịch vụ môi trường rừng Theo qui định hiện hành, các công ty du lịch phải trích một khoản từ doanh thu để chi trả DVMTR Như vậy, rất có khả năng các công ty du lịch giải quyết khoản DVMTR bằng cách tăng giá cả dịch vụ du lịch để du khách chi trả và đương nhiên làm tăng giá dịch vụ du lịch
Trong phần này, thuật ngữ chi trả DVMTR được sử dụng bởi vì phí này do du khách chi trả và phí này không được quy định tại NĐ 99
Có một giải pháp có thể tránh được những thách thức trong việc xác định đối tượng nộp phí và các chi phí giao dịch, đó là áp dụng vé DVMTR cho du khách tham quan các KBT dưới dạng một loại phí thu bổ sung nhắm trực tiếp vào đối tượng du khách (mà du khách sẽ mua cùng với vé vào tham quan các điểm du lịch trong KBT) Kết quả từ cả hai nghiên cứu tiền khả thi đều cho thấy sự lựa chọn này mang tính khả thi hơn xét về mức thu nhập và chi phí hành chính liên quan
Ở nhiều KBT, du khách phải trả phí vào cổng để vào tham quan KBT hay các điểm du lịch khác
Do vậy, thu phí DVMTR trực tiếp ngay tại quầy bán vé vào cửa sẽ không làm tăng thêm đáng kể gánh nặng hành chính cho du khách Khi áp dụng cơ chế thu vé DVMTR bổ sung, du khách cần được giải thích rõ ràng về loại dịch vụ này và cần thực hiện các hoạt động nâng cao nhận thức cho khách tham quan về sự khác nhau giữa vé vào cổng KBT và vé DVMTR Và việc này có thể được thực hiện ngay tại ở quầy bán vé Để làm được điều này, cần có khuôn khổ pháp lý quy định
rõ du khách là đối tượng nộp phí DVMTR theo hình thức chi trả trực tiếp Bên cạnh đó, cũng cần hướng dẫn cụ thể về cơ chế chi trả DVMTR dành cho du khách
Trang 8Theo Nghị định 99/2010/NĐ-CP, Ban quản lý KBT được xem là chủ rừng và do đó cũng là đơn vị cung ứng DVMTR và là đối tượng được chi trả tiền DVMTR Ban quản lý KBT có thể ký hợp đồng giao khoán bảo vệ rừng với các hộ gia đình địa phương Như vậy, có thể gắn kết cộng đồng vào các hoạt động bảo vệ rừng và qua đó họ trở thành bên cung cấp DVMTR
Một trong những khó khăn trong xác định các đơn vị cung cấp DVMTR là Ban quản lý KBT đôi khi thực hiện đồng thời nhiều vai trò khác nhau: Trong trường hợp VQG Ba Bể và VQG Phong Nha
- Kẻ Bàng, Ban quản lý KBT vừa là đối tượng cung cấp DVMTR vừa là đối tượng chi trả DVMTR bởi vì hai VQG này đều có Trung tâm Du lịch đảm nhận vai trò bán vé vào cửa đối với các điểm
du lịch trong VQG và cung cấp dịch vụ du lịch kèm theo Điều này gây khó khăn cho việc theo dõi
cơ chế, đặt ra câu hỏi về lợi ích của việc chi trả DVMTR khi mà Ban quản lý KBT lại trả tiền cho chính mình hoặc trực tiếp hoặc thông qua Quỹ BVPTR Vấn đề này cần được giải quyết bởi nó làm giảm tính hiệu quả của cơ chế chi trả DVMTR
Cộng đồng địa phương và các cá nhân chỉ được hưởng lợi từ chương trình chi trả DVMTR khi Ban quản lý KBT ký hợp đồng giao khoán bảo vệ môi trường rừng với họ Vì vậy, nếu như không
có hợp đồng nào được ký kết thì cơ chế này sẽ không đóng góp vào công tác giảm nghèo cho cộng đồng địa phương
§ Các đối tượng được chi trả tiền DVMTR là các chủ rừng có cung ứng DVMTR và các đối tượng có hợp đồng
nhận khoán bảo vệ rừng với các chủ rừng là các tổ chức nhà nước Các đối tượng nhận khoán bảo vệ rừng
có thể là các tổ chức, hộ gia đình hoặc là cộng đồng dân cư thôn (NĐ 99/2010/NĐ-CP, Điều 8)
8 XÁC ĐỊNH RÕ CÁC CHỦ THỂ CUNG CẤP DỊCH VỤ
Trang 9Làm thế nào để giải quyết thách thức này?
Một trong những giải pháp có thể là BQL KBT thực hiện giao khoán bảo vệ rừng cho người dân địa phương Nên tham khảo bài học kinh nghiệm từ Chương trình 661 và 147 nhằm gia tăng tính hiệu quả của hoạt động giao khoán bảo vệ rừng cho các hộ gia đình địa phương Các kinh nghiệm cho thấy, thu nhập từ hoạt động bảo vệ rừng tỷ lệ thuận với hiệu quả của hoạt động: nếu thu nhập quá thấp sẽ không tạo được động lực cho hoạt động bảo vệ và phát triển rừng đối với những đối tượng nhận khoán Ví dụ, các hộ gia đình sinh sống tại vùng đệm có thể tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng thuộc KBT thông qua các hoạt động hợp tác tuần tra rừng giữa lực lượng kiểm lâm KBT và cộng đồng địa phương Liên quan đến nội dung này, Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ban hành ngày 1/6/2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 – 2020 thúc đẩy sự tham gia của người dân địa phương vào công tác bảo vệ rừng của KBT, nhưng lại chưa quy định cụ thể cách thức lồng ghép cơ chế đồng quản lý vào chương trình chi trả DVMTR Tương tự, Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng giai đoạn 2011-2020 theo Quyết định số 57/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ thì Ban quản lý KBT phải xây dựng cơ chế đồng quản lý với cộng đồng địa phương dựa trên nguyên tắc chia sẻ lợi ích và trách nhiệm bảo vệ và phát triển rừng
Nhìn chung, cần phải đảm bảo tính minh bạch trong cơ chế chi trả; đặc biệt trong những trường hợp mà KBT đóng vai trò kép vừa là đối tượng chi trả vừa là đối tượng nhận phí DVMTR Cơ chế chi trả DVMTR cần được đặt dưới sự giám sát của một cơ quan nhà nước như UBND tỉnh hoặc một tổ chức xã hội dân sự Việc quản lý tài chính cần minh bạch và công khai trước các bên liên quan và người dân
Trang 10Nghị định 99 qui định các hình thức chi trả DVMTR; những cơ chế chi trả này có thể dưới hình thức trực tiếp hoặc gián tiếp Tuy nhiên, trên thực tế, các quy định của pháp luật nhiều khi được hiểu chưa chính xác Nghiên cứu về áp dụng chính sách chi trả DVMTR ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng cho thấy, hiện đang có hai cách hiểu sai, đặc biệt liên quan đến hình thức chi trả trực tiếp Hình thức chi trả DVMTR trực tiếp hiện nay được áp dụng mà chưa có sự thống nhất với các đối tượng nộp phí về mức phí Ví dụ, hiện đang có cách hiểu chưa đúng khi áp dụng quy định với các công ty lữ hành có kinh doanh du lịch trong VQG Cụ thể, Ban quản lý VQG Phong Nha - Kẻ Bàng ký hợp đồng với các công ty lữ hành cho phép các công ty này tổ chức các chuyến tham quan tới tuyến du lịch trong VQG và áp dụng một mức phí là 500.0000 đồng/du khách Ban quản
lý VQG cho rằng đây là phí DVMTR, mặc dù mức thu phí này không được đàm phán giữa Ban quản lý VQG và công ty lữ hành
Hình thức chi trả trực tiếp không được phân biệt rõ ràng với cơ chế thu phí cho thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái - một công cụ tài chính khác Ví dụ, một khu vực rộng khoảng 55ha thuộc VQG Phong Nha - Kẻ Bàng được cho một đơn vị tư nhân thuê trong 50 năm (bắt đầu
từ năm 2011) để kinh doanh du lịch sinh thái Cơ chế thanh toán trực tiếp được áp dụng cho Ban quản lý VQG với mức phí thanh toán là 1% doanh thu/năm đối với 5 năm đầu và 1.5% đối với các năm tiếp theo Các chủ thể liên quan xem đây là hợp đồng chi trả DVMTR, nhưng thực ra đây là hợp đồng cho thuê môi trường rừng Hình thức cho thuê môi trường rừng có thể đem lại mức chi trả cao hơn cho VQG Phong Nha - Kẻ Bàng để tái đầu tư vào bảo tồn
Làm thế nào để giải quyết thách thức này?
Khuôn khổ pháp lý hiện hành chưa có những quy định hướng dẫn phân biệt sự khác nhau giữa những cơ chế tài chính dành cho KBT và các trường hợp áp dụng Ví dụ, QĐ 24 đề cập đến những công cụ tài chính khác nhau nhưng không phân tích rõ sự khác biệt Như vậy, quy định
và các văn bản hướng dẫn về chi trả DVMTR và cho thuê môi trường rừng trước tiên cần đưa ra được định nghĩa rõ ràng về những công cụ này tránh sự hiểu nhầm
Chi trả trực tiếp (NĐ 99, Điều 9): “Đối tượng cung cấp và đối tượng sử dụng các dịch vụ môi trường rừng
tự thỏa thuận về loại dịch vụ, mức chi trả và phương thức chi trả phí DVMTR phù hợp với các quy định tại
NĐ này và các quy định pháp luật khác có liên quan [ ], mức chi trả không thấp hơn mức chi trả quy định
ở Điều 11 NĐ này
Chi trả gián tiếp (NĐ 99, Điều 11): “Mức chi trả tiền dịch vụ môi trường rừng tính bằng 1% đến 2% trên
doanh thu đạt được trong kỳ [ ] Giao UBND cấp tỉnh quy định đối tượng phải chi trả [ ]”
§
XÁC ĐỊNH CƠ CHẾ CHI TRẢ VÀ PHÂN BIỆT CHI TRẢ DVMTR VỚI CÁC CÔNG CỤ TÀI CHÍNH KHÁC
doanh du lịch sinh thái Thu nhập từ chi trả DVMTR từ du lịch được đầu tư
vào bảo tồn và duy trì cảnh quan thiên nhiên cũng
như đa dạng sinh học của KBT
Thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái là hình thức bên thuê môi trường rừng để kinh doanh phải trả một khoản phí để được kinh doanh du lịch sinh thái trong KBT Điều này tương tự như việc cấp giấy phép kinh doanh trong KBT Hiện nay, hình thức này ở Việt Nam vẫn còn chưa rõ ràng và cần phải có hướng dẫn cụ thể.
Chi trả DVMTR là hợp đồng giữa bên sử dụng dịch vụ
và bên cung ứng dịch vụ môi trường rừng DVMTR
có thể được chi trả dưới hình thức trực tiếp hoặc gián
tiếp thông qua một Quỹ BVPTR cấp tỉnh.
Thuê môi trường rừng là dạng hợp đồng kinh doanh giữa Ban quản lý KBT và đối tượng thuê môi trường rừng để kinh doanh du lịch sinh thái
Đối tượng của chính sách chi trả DVMTR là tất cả các
chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch được hưởng lợi
từ cảnh quan thiên nhiên và đa dạng sinh học kể cả
những chủ thể không trực tiếp hoạt động trong KBT
Thuê môi trường rừng là các chủ thể kinh doanh dịch vụ du lịch trực tiếp hoạt động và phát triển kinh doanh du lịch bên trong ranh giới KBT.