Một kết quả ban đầu về khu hệ động vật không xương sống của 2 hệ thống hang bao gồm động Phong Nha và Hang Tối đã được đưa ra dựa trên kết quả của đợt khảo sát sơ bộ tiến hành trong thán
Trang 1TS Timothy Moulds
TS Phạm Đình Sắc Renee Mouritz
Tháng 5 năm 2010
Khảo sát sơ bộ khu hệ động vật hang động tại Vườn quốc gia Phong Nha -
Kẻ Bàng - Khu Di sản Thiên nhiên Thế giới,
tỉnh Quảng Bình, Việt Nam
Trang 2Ts Timothy Moulds (Cử nhân địa chất, Tiến sỹ chuyên ngành sinh thái hang động)
Tư vấn Sinh thái hang động
9/448 Murray St Perth, WA 6000
Australia
timothy.moulds@alumni.adelaide.edu.au
Ts Phạm Đình Sắc, PhD Trưởng Phòng Sinh thái môi trường Đất Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật
18 Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy,
Hà Nội Việt Nam Renee Mouritz (BSc)
PO Box 170 Yallingup, WA 6282
Dự án “Bảo tồn và Quản lý bền vững nguồn tài nguyên thiên nhiên khu vực
Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng”
Sở Kế hoạch và Đầu tư
09 Quang Trung, Đồng Hới, Quảng Bình
Ảnh bìa: Loài cuốn chiếu sống ở hang Tiên Sơn (ảnh Timothy Moulds)
BẢN QUYỀN: Tài liệu này được chuẩn bị theo các yêu cầu của khách hàng nói trên và không mang tính đại biện đối với bất kỳ bên thứ ba nào Nội dung tài liệu có thể được trích dẫn đối với các mục đích nghiên cứu khoa học hoặc sử dụng nhằm các mục đích mang tính công bằng khác, nhưng không nên sửa đổi, viết lại hoặc phát cho bất kỳ bên thứ ba nào theo hình thức bản copy cứng hoặc mềm mà không được phép sự cho phép của khách hàng hoặc các tác giả nói trên
Trang 3Nội dung
Mục lục ảnh 4
Tóm tắt 5
1.0 Giới thiệu 8
1.2 Mục tiêu của khảo sát 9
1.3 Giới thiệu về sinh học hang động 9
1.3.1 Sự phân loại các dạng hang động 10
1.3.2 Cơ sở dinh dưỡng của hệ sinh thái hang động 11
1.3.3 Nguồn và đa dạng của phân hang động 12
1.4 Thời gian và thành phần tham gia khảo sát 13
1.5 Sự hạn chế của báo cáo 13
2.0 Phương pháp tiến hành điều tra 13
3.0 Kết quả điều tra 15
3.1 Động Phong Nha 15
3.1.1 Động Tiên và động Cung Đình 15
3.1.2 Hang Bi Ký 16
3.1.3 Bãi sát mép nước trong động Phong Nha 16
3.1.3 Bãi đá 16
3.2 Động Tiên Sơn 17
3.2.1 Động Tiên Sơn – khu vực du lịch 17
3.2.2 Động Tiên Sơn – khu vực tự nhiên 17
3.3 Hang Tối 18
3.3.1 Vùng giáp ranh (tranh tối tranh sáng) 18
3.3.2 Vùng chuyển tiếp 19
4.0 Thảo luận 19
4.1 So sánh đa dạng sinh học hang động ở VQG Phong Nha - Kẻ Bàng 19
4.2 Ý nghĩa 20
5.0 Đề xuất bảo vệ đa dạng sinh học 21
5.1 Quản lý hang động 21
5.1.1 Tiếng ồn 21
5.1.2 Rác (Sự tích luỹ rác trong hang động) 21
5.1.3 Ánh sáng không thích hợp 23
5.1.4 Nền hang – Sự phá huỷ hệ sinh thái 24
5.2 Tóm tắt các đề xuất quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ đa dạng sinh học hang động 26
5.3 Đề xuất cho các công việc trong tương lai 27
6.0 Kết luận 28
6.1 Lời cảm ơn 30
7.0 Tài liệu tham khảo 31
8.0 Phụ lục 34
Trang 4Hình 3.1 Trầm tích phân chim ở động Tiên (Ảnh Tim Moulds)
Hình 3.2 Loài Sparassidae Heteropoda sp 1 ở động Tiên Sơn (Ảnh Tim Moulds)
Hình 3.3 Bọ cạp mù ở động Tiên Sơn (cơ thể dài khoảng 10 mm - ảnh Tim Moulds)
Hình 3.4 Mối có mặt ở trầm tích của phân chim ở vùng giáp ranh của hang Tối (Ảnh Renee Mouritz)
Hình 5.1 Vỏ lạc ở động Tiên Sơn (Ảnh Tim Moulds)
Hình 5.2 Tàn thuốc lá và rác ở động Bi Ký (Ảnh Tim Moulds)
Hình 5.3 Sinh trưởng của động vật hướng sáng ở động Tiên Sơn (Ảnh Tim Moulds)
Hình 5.4 Tầng nền ở động Phong Nha (Ảnh Tim Moulds)
Hình 5.5 Tầng nền ở động Tiên Sơn (Ảnh Tim Moulds)
Figure 6.1 Các tác giả (từ trái qua phải), Renee Mouritz, Phạm Đình Sắc, và Timothy Moulds
ở động Bi Ký, động Phong Nha (Ảnh Đặng Ngọc Kiên)
Trang 5Tóm tắt
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, thuộc Bắc Trung bộ Việt Nam Nhờ có những giá trị đặc trưng về địa hình địa mạo, năm 2003 Vườn quốc gia (VQG) Phong Nha - Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Diện tích vùng lõi của Vườn quốc gia rộng 85,754 ha, với trên
300 hang động đã được ghi nhận Khu hệ động vật hang động của vùng được đánh giá có giá trị đặc hữu cao, nhưng đến nay chưa được tiến hành nghiên cứu
Một kết quả ban đầu về khu hệ động vật không xương sống của 2 hệ thống hang bao gồm động Phong Nha và Hang Tối đã được đưa ra dựa trên kết quả của đợt khảo sát sơ bộ tiến hành trong tháng 5 năm 2010 Hai hang động này cách nhau 5
km và nằm trên cùng một hệ thống vùng núi đá vôi Do thời gian khảo sát có hạn, nên việc khảo sát chủ yếu dùng phương pháp quan sát và thu bắt mẫu bằng tay, tại các điểm khác nhau của hang động, tiến hành khảo sát nhanh và tìm ra những loài chủ yếu có mặt tại vùng Khảo sát diễn ra trong 5 ngày, với nhiều điểm đã được chọn để thu mẫu trong mỗi ngày
Kết quả khảo sát sơ bộ khu hệ động vật hang động tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng
đã thu được 248 cá thể động vật không xương sống, bốn mươi môt (41) loài từ ba hang động đã được xác định Các loài này thuộc 5 lớp, 14 bộ, và 29 họ Năm (5) loài được xác định là phổ biến ở 3 hang động nghiên cứu; bao gồm 3 loài nhện, 1 loài
dế, và một loài cuốn chiếu Nhiều loài chỉ tìm được ở Hang Tối mà không tìm thấy ở động Phong Nha và động Tiên Sơn Kết quả chỉ ra 58% trên tổng số loài tìm được chỉ có mặt ở hang Tối, trong khi tỷ lệ này ở động Phong Nha là 55%, và ở động Tiên Sơn là 44%
Khảo sát đã thu được 116 cá thể từ động Phong Nha, bao gồm 4 lớp, 10 bộ, 19 họ,
và 20 loài Động Tiên Sơn bao gồm 41 cá thể thuộc 4 lớp, 7 bộ, 12 họ, và 16 loài Mức độ đa dạng ở hang Tối cao hơn, bao gồm 5 lớp, 7 bộ, 15 họ, và 19 loài
Đặc biệt, trong quá trình khảo sát, chúng tôi đã phát hiện ra 1 loài bọ cạp thuộc họ
bọ cạp mù tại động Tiên Sơn Ghi nhận này rất có ý nghĩa, bởi vì hiện nay mới chỉ phát hiện được 20 loài thuộc họ bọ cạp này trên thế giới Loài bọ cạp này chắc chắn
là loài mới cho khoa học, và được cho là ghi nhận đầu tiên ở châu Á Đây là ghi nhận có ý nghĩa nhất trong đợt khảo sát sơ bộ đa dạng sinh học trong hang động ở Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng
Kết quả khảo sát chỉ ra rằng những khác nhau trong sự quần tụ của khu hệ động vật
là những khác nhau ý nghĩa trong đa dạng động vật giữa khu vực phát triển hoạt động du lịch và khu vực tự nhiên trong cùng một hang động Phần lớn động vật ghi nhận được từ động Tiên và động Cung Đình là những loài phổ biến ở các khu vực khác Sự phong phú của loài thuộc lớp giáp xác ở vùng này được lý giải bởi sự có
Trang 6mặt bởi rác thải và những mẫu thức ăn dư thừa để lại, dường như trái ngược hẳn với hang Tối
Sự hiện diện của những thùng rác cũng ảnh hưởng đến đa dạng của khu hệ động vật trong hang động, cụ thể là hầu hết các loài động vật không xương sống ghi nhận được khu vực dành cho du lịch của động Tiên Sơn hoặc ở bên cạnh các thùng đựng rác đều là các loài phổ biến bên ngoài hang động chứ không phải các loài chuyên sống trong hang động Các loài động vật đó ở khu vực này phong phú hơn ở các khu vực tự nhiên có lẽ bởi sự phong phú của nguồn thức ăn Sự thiếu nguồn thức
ăn ở khu vực tự nhiên của động Tiên Sơn dẫn đến sự nghèo nàn của động vật, thậm chí không thấy xuất hiện các loài thuộc nhóm nhiều chân và nhóm côn trùng cánh cứng, và chỉ tìm thấy 6 trong số 16 loài phổ biến ở hai khu vực khảo sát
Kết quả của nghiên cứu này không cho phép so sánh với các vùng núi đá vôi khác,
kể cả ở Việt Nam hay các vùng khác của châu Á Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu này đưa ra một dấu hiệu của sự đa dạng từ vùng núi đá vôi quan trọng này Sự có mặt của loài bọ cạp thuộc họ bọ cạp mù, một ghi nhận mới cho khu vực châu Á gợi ý rằng Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng hứa hẹn một tiềm năng lớn cho các khám phá về sinh học trong hệ thống hang động
Các kết quả của khảo sát bước đầu này là cơ sở để đưa ra một số đề xuất rất quan trọng trong việc duy trì đa dạng sinh học ở hệ thống hang động trong tương lai:
1 Cần khẩn trương làm những lối đi phân cách bằng các cột trụ và dây cáp trong những hang du lịch để khách du lịch khi thăm hang không làm ảnh hưởng đến môi trường sống ở nền hang - là môi trường sống quan trọng của nhiều loài côn trùng và nhện Tốt hơn hết là làm những lối đi cách nền động ở những hang động phục vụ khách du lịch để giảm thiểu tác động đến nền hang động
2 Cần dọn sạch lượng bùn dày đặc ở các nền hang để tạo môi trường sống cho các loài côn trùng và nhện hang
3 Cần dọn sạch lượng rác thải lưu cữu trong hang vì số rác thải này sẽ kéo theo các loài chuột và chúng sẽ tiêu diệt các loài côn trùng và nhện trong hang
4 Di dời các thùng rác ra ngoài vì các thùng rác sẽ kéo theo các loài chuột (như
lý do trên) và chúng cũng lôi cuốn các loài côn trùng từ bên ngoài làm ảnh hưởng đến sự đa dạng và phân bố của các loài côn trùng và nhện trong hang
5 Nghiêm cấm việc ăn, uống trong các hang động vì những thức ăn thừa, rơi vãi sẽ kéo theo các loài chuột vào trong hang
Trang 76 Giảm thiểu tiếng ồn trong các hang động nhằm hạn chế sự tác động đến các quần thể dơi và chim chuyên cư trú trong hang động, những quần thể này thải ra một lượng phân lớn, giúp duy trì sự đa dạng của quần xã côn trùng trong hang Vì thế, nếu không giảm được tiếng ồn, các quẩn thể dơi và chim này sẽ biến mất kéo theo sự phá hủy của cả hệ sinh thái côn trùng chuyên sống dựa vào nguồn phân trong hang
7 Nghiêm cấm việc hút thuốc trong các hang động vì khói thuốc sẽ tác động gây hại đến các quần thể dơi và chim, còn các đầu mẩu thuốc lá và các vỏ bao sót lại cũng là nguồn rác thải trong các hang động
8 Thay đổi việc chiếu sáng trong các hang động vì ánh điện kích thích sự sinh trưởng của các loài thực vật hướng sáng (những loài thực vật sinh trưởng nhờ ánh sang nhân tạo trong các hang động) Những loài thực vật hướng sang này cung cấp thức ăn cho nhiều loài côn trùng sống bên ngoài hang động, và do đó làm ảnh hưởng đến sự đa dạng và phân bố của các loài côn trùng và nhện trong hang
9 Thêm vào đó, cần phải tiến hành thêm nhiều nghiên cứu toàn diện để có thể đánh giá sự đa dạng của khu hệ động vật hang động tại VQG Phong Nha –
Kẻ Bàng Việc làm này sẽ góp phần tăng thêm đáng kể sự hiểu biết của chúng ta về sự đa dạng sinh học và những loài đặc hữu tại đây
10 Việc cần làm trước khi tiến hành việc phát triển du lịch tại các hang động mới, cần phải tiến hành việc đánh giá toàn diện sự đa dạng sinh học trong hang động nhằm cung cấp những dẫn liệu cơ bản để có thể kiểm soát những ảnh hưởng đến khu hệ động vật có trong đó Những nghiên cứu cơ bản này cũng
sẽ chỉ ra những sinh cảnh quan trọng cần trú trọng bảo tồn trong mỗi hang động và chỉ ra cần phải ưu tiên bảo vệ những loài sinh vật quan trọng nào
Các đề xuất (1 - 8) tương tự các đề xuất của Brian Clark 2009a), với mục đích ngăn chăn sự suy thoái của hệ thống hang động, và bảo đảm duy trì một di sản thiên nhiên thế giới, cùng với việc bảo tồn được giá trị đa dạng sinh học trong hang động của vùng
Hệ thống hang động của Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng chứa đựng một khu
hệ động vật đa dạng và rất giá trị Kết quả của khảo sát sơ bộ này mới chỉ đưa ra một phần rất nhỏ kho báu về tài nguyên sinh học của một khu di sản thiên nhiên thế giới có một không hai này, là cơ sở cho việc khám phá giá trị của nó trong tương lai
Trang 81.0 Giới thiệu
Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng nằm trên địa bàn tỉnh Quảng Bình, thuộc Bắc Trung bộ Việt Nam Do có những giá trị đặc trưng về địa hình địa mạo, năm 2003 Phong Nha – Kẻ Bàng được UNESCO công nhận là di sản thiên nhiên thế giới Diện tích vùng lõi của Vườn quốc gia rộng khoảng 85,754 ha, với trên 300 hang động đã được ghi nhận, bao gồm hang lớn nhất thế giới là hang Sơn Đoòng Hang động của vùng được khám phá và ghi nhận lần đầu tiên bởi các nhà khám phá hang động Anh Các khám phá này tiếp diễn 2 năm 1 lần, với kết quả là 17 hang ở vùng Phong Nha và 3 hang ở vùng Kẻ Bàng đã được phát hiện Mặc dù khu hệ động vật hang động mang tính đặc hữu cao, nhưng các khảo sát về khu hệ động vật vẫn chưa được tiến hành
Các hệ thống hang động của khối núi Kẻ Bàng
Hình 1.1 Bản đồ hệ thống hang động vùng Kẻ Bàng (Theo www.vietnamcaves.com 2010)
Trang 91.2 Mục tiêu của khảo sát
Mục tiêu của khảo sát sơ bộ này nhằm làm cơ sở cho các khảo sát tiếp theo ở khu
di sản thiên nhiên thế giới Phong Nha - Kẻ Bàng, Việt Nam Khảo sát này mục đích đưa ra một đánh giá sơ bộ về khu hệ động vật không xương sống ở hai hệ thống hang động là hệ thống động Phong Nha và hang Tối Những hang động này cách nhau 5 km Mục đích của cuộc khảo sát:
1 Xác định thành phần chính khu hệ động vật không xương sống tại mỗi hang động nghiên cứu
2 Xác định nơi trú ngụ chủ yếu của động vật
3 Xác định những đe dọa đến sự tồn tại của động vật hang động
4 Đưa ra chiến lược quản lý nhằm bảo tồn động vật hang động
5 So sánh mức độ đa dạng của hai hệ thống hang động
6 Đưa ra các đề xuất cho các công việc trong tương lai dựa vào kết quả nghiên cứu hiện tại
1.3 Giới thiệu về sinh học hang động
Môi trường hang động thường kiến tạo theo kiểu đồng nhất và ổn định dẫn đến các đặc trưng về tiến hóa và biến đổi sinh thái, như sự cạnh tranh trong loài, chia cắt nguồn tài nguyên, và các tiến trình hình thành loài (Poulson và White 1969) Chế độ ánh sáng ảnh hưởng đến chức năng hệ sinh thái (Lamprecht và Weber 1992, Langecker 2000) Nhiệt độ không thay đổi, chỉ biến đổi nhẹ giữa các mùa Độ ẩm thường cao là điều kiện lý tưởng cho nhiều loài động vật không xương sống dị ứng với điều kiện khô hạn Sự thiếu quá trình quang hợp của thực vật làm thay đổi cấu trúc dinh dưỡng trong hệ thống hang động, với nguồn năng lượng thường được chuyển đến từ mặt đất (Poulson and Lavoie 2000, Poulson 2005) Hang động được xác định như là những khoảng trống trong lòng đất, mặc dù vậy các loài động vật thích nghi với điều kiện hang động thường xuất hiện ở những không gian nhỏ trong những hang rộng lớn (Howarth 2003)
Hang động được chia ra một số vùng sinh học khác biệt (Hình 1.1) Các vùng này tương ứng với chế độ ánh sáng và các điều kiện môi trường khác nhau (Humphreys
2000a) Vùng cửa hang là khu vực có chế độ ánh sáng bình thường, vẫn hỗ trợ
quá trình quang hợp của cây cối, nhiệt độ và ẩm độ thay đổi hàng ngày Vùng giáp
ranh (tranh tối, tranh sáng) là vùng cách xa vùng cửa hang, ưu thế bởi các loài địa y
và các loài tảo là những loài thích hợp với điều kiện ánh sáng yếu Nhiệt độ và độ
ẩm vẫn có thể thay đổi, và ẩm độ thường cao hơn so với bên ngoài
Đi sâu hơn vào trong hang, ánh sáng giảm tới 00, gọi là vùng tối Vùng tối chia ra ba vùng phụ; bao gồm: vùng chuyển tiếp, vùng hang sâu và vùng cổ sinh Vùng chuyển tiếp là vùng tối, nhưng nhiệt độ và độ ẩm vẫn thay đổi theo môi trường mặt đất bên ngoài Vùng hang sâu nhiệt độ và ẩm độ gần như không biến đổi Vùng cổ sinh chỉ
Trang 10tìm thấy ở một số hang động, là vùng sâu nhất của hang, phổ biến là CO2 và mức
độ thấp của O2 (Howarth and Stone 1990)
Hình 1.2 Các khu vực môi trường hang động Theo Moulds 2006
1.3.1 Sự phân loại các dạng hang động
Động vật không xương sống hang động được phân loại theo các dạng của hang động sử dụng hệ thống của Schiner - Racovitza (Schiner 1854, Racovitza 1907), mặc dù có nhiều hệ thống khác đã được đưa ra bởi các tác giả khác nhau (xem tài liệu tham khảo của Boutin 2004)
Hệ thống phân loại của Schiner – Racovitza dựa vào mối liên quan sinh thái học với môi trường hang động, đặc biệt là các hiểu biết chi tiết về sinh thái học động vật, mà các hiểu biết này vẫn còn thiếu ở hầu hết các loài Để khắc phục tình trạng này, khái niệm về hình thái hang động (Christiansen 1962) là những thích nghi về hình thái chuyên biệt cho môi trường hang động được sử dụng để xác định những loài sống trong hang động Hình thái hang động là những quy định sơ bộ về mặt hình thái đã được sử dụng để mô tả cả về hình thái và những thích nghi về tập tính (Howarth 1973) Sự kết hợp này đưa ra một hệ thống thiết thực, dễ dàng trong thực địa và giảm thiểu các yêu cầu chi tiết về sinh thái học Các cấp độ phân loại hang động cho các nhóm sinh thái học khác nhau được mô tả như sau:
Troglobites (sinh v ật sống ở hang động) là những động vật bắt buộc phải có
những thích nghi riêng biệt như không có hoặc tiêu giảm các sắc tố trên cơ thể, hay đối với mắt; bay nhảy kém, nhưng phát triển các thích nghi phụ và chuyên biệt (Barr 1968, Poulson and White 1969) Những loài này hoàn toàn phụ thuộc vào nguồn thức ăn và điều kiện sinh sản ở trong hang động
Vùng chuyển tiếp
Vùng tối
Vùng hang sâu
Vùng cổ sinh
Trang 11Chúng ở vùng hang sâu nơi mà các điều kiện là ổn định nhất và gần gũi với vùng giáp ranh ở cửa hang
Troglophiles (sinh vật sống hoàn toàn ở trong hang động) là những động vật
mà có thể hoàn thành toàn bộ chu kỳ sống của chúng trong hang động nhưng không phải hoàn toàn thích nghi chuyên biệt với môi trường hang động Những loài này có khả năng sống ở bên ngoài hang động, ở những nơi có bóng tối và ẩm ướt
Trogloxenes (sinh vật sống ở hang xen kẽ) là những động vật sử dụng hang
động cho một phần chu kỳ sống của chúng hoặc hang động như là nơi chúng
ẩn náu, và chúng sẽ rời hang khi chúng cần thức ăn Động vật diển hình của nhóm này là các loài dơi hay chim én
Accidentals (loài ngẫu nhiên) là những động vật mà hang động không phải là
môi trường sống chính của chúng
Các động vật sống dưới nước trong hang động cũng được phân ra giống như các động vật đất, tuy nhiên tất cả các tiết đầu tố ‘stygo’ được thay thế bởi ‘troglo’ (Humphreys 2000a)
1.3.2 Cơ sở dinh dưỡng của hệ sinh thái hang động
Các quần thể sinh vật hang động phụ thuộc vào nguồn năng lượng sống sót được đưa vào hệ thống hang động Nguồn năng lượng đưa vào này biến đổi rất nhiều, mà nguồn thức ăn sẵn có thì có giới hạn (Peck 1976) Nhiều hệ thống hang động coi
như lụt lội là chủ yếu (Hawes 1939, Humphreys 1991, Culver et al 1995) đã mang
theo nguồn năng lượng và những động vật tạm thời vào hệ thống hang động Những rễ cây thâm nhập vào là những nguồn năng lượng khác được tìm thấy phổ biến ở những hang nhiệt đới (Hoch 1988, Hoch and Howarth 1999) Phân của dơi, chim và một số loài cánh cứng là nguồn năng lượng quan trọng (Harris 1970,
Poulson 1972, Decu 1986, Blyth et al 2002, Moulds 2004, Moulds 2006) Các động
vật chết có thể trở thành nguồn thức ăn cho những loài ăn xác chết sống gần cửa hang (Richards 1971) Những động vật lang thang khu vực cửa hang cũng là nguồn thức ăn, mặc dù nó theo chu kỳ của tự nhiên và hạn chế về mặt số lượng, ngoại trừ những hang động ở gần những con sông sẽ mang đến một số lượng lớn của những loài động vật đất, đặc biệt là những thời điểm nước dâng lên rồi hạ xuống theo chu
kỳ
Phần lớn môi trường hang động nói chung là làm suy giảm nguồn thức ăn và do đó quần thể động vật hang động rất thưa thớt Tuy nhiên, các hang động có sự lắng đọng của phân động vật khác nhau về cơ bản với hang khác bởi vì nguồn thức ăn là không có giới hạn, với một quần thể lớn của các động vật không xương sống sống dựa vào phân của động vật Các loài này không có sự thích nghi về hình thái cũng như tập tính, có lẽ bởi vì thiếu sự lựa chọn với nguồn năng lượng tối thiểu đã lấn át
sự tiến hoá theo môi trường hang động Sự xâm thực và thiết lập các quần xã động
Trang 12vật sống dựa vào phân động vật ở hang động chưa được tìm hiểu nhiều Giả thuyết cho sự phát tán của động vật chân khớp sống dựa vào phân là rất đa dạng, nhưng rất ít các cuộc khảo sát được tiến hành
1.3.3 Nguồn và đa dạng của phân hang động
Theo các tác giả (Horst 1972, Poulson 1972), lượng phân có trong hang có thể là của những loài chuyên sống trong hang, chúng có thể chỉ là một nhóm động vật nhất định Do sự không đồng đều về về điều kiện sinh - địa chất trên trái đất nên tương ứng với mỗi một nơi có một nhóm sinh vật đóng vai trò quan trọng hơn trong việc cung cấp nguồn phân
Nguồn phân phổ biến và rộng khắp là được sản xuất bởi các loài dơi và những trầm tích này nói chung chiếm số lượng nhiều nhất Sự lắng đọng theo không gian và thời gian của phân dơi khác nhau từ các hang động ở vùng nhiệt đới đến vùng ôn đới Các loài dơi chuyên cư trú trong các hang động ở các vùng ôn đới có chu kỳ cư trú tập trung thành đàn trong một số hang nhất định vào các tháng mùa hè khi chúng sinh con, sau đó vào mùa đông cả đàn phải phân tán sang những hang khác để ngủ đông Cùng với chu kỳ này là một lượng phân lớn sẽ được tích tụ trong những hang
mà cả đơn dơi sử dụng trong các tháng mùa hè còn các tháng còn lại trong năm không còn nguồn phân bổ sung vào các hang đó nữa Ngược lại, tại các hang động
ở vùng nhiệt đới nơi có nhiệt độ ổn định quanh năm nên các loài dơi thường xuyên
cư trú trong cả năm thay vì chỉ cư trú theo chu kỳ như trên (Trajano 1996, Gnaspini and Trajano 2000) Tuy nhiên, theo nghiên cứu của các tác giả Gnaspini and Trajano (2000) tại Brazil cho thấy nhiều quần thể dơi tại đây thường thay đổi nơi cư trú nên nơi sống của chúng cũng rất đa dạng không theo chu kỳ hay mùa vụ trong năm Kết quả là lượng phân bổ sung do chúng tạo ra tại một vị trí nhất định cũng không được liên tục trong một vài năm Thêm vào đó, thành phần thức ăn của các loài dơi (các loài hút máu, các loài ăn côn trùng, các loài ăn hoa, quả hay các loài chuyên hút mật) cũng ảnh hướng đến lượng phân và do đó, ảnh hưởng đến cả các quần xã sống dựa vào nguồn phân (Gnaspini 1992, Ferreira và Martins 1998, Ferreira và Martins 1999)
Tại những vùng phía bắc của Nam Mỹ, Caribe và các hang động ở vùng nhiệt đới thuộc Đông Nam Á, các loài chim cũng là những sinh vật thải ra lượng phân lớn Các loài chim chuyên sống trong hang làm tổ trong những chỗ khuất ánh sáng cung cấp một nguồn năng lượng quan trọng cho các loài động vật ở hang Các loài chim
ở hang (thuộc giống Aerodramus spp.) làm tổ ở cửa hang và những chổ khuất ánh sáng trong những hang ở vùng Đông Nam Á, bắc Australia và Thái Bình Dương và chúng là những loài chuyên ăn côn trùng (Medway 1962, Humphreys và Eberhard
2001, Koon và Cranbrook 2002) Lượng phân do chúng thải ra có thể ngang bằng với lượng phân của một quẩn thể dơi có cùng kích thước thải ra
Trang 131.4 Thời gian và thành phần tham gia khảo sát
Khảo sát được tiến hành trong thời gian từ 13 đến 23 tháng 5 năm 2010 Thành phần bao gồm Ts Timothy Moulds (chuyên gia sinh học hang động Úc), Ts Phạm Đình Sắc (Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật, Việt Nam), và Renee Mouritz (trợ lý nghiên cứu, Úc) Ngoài ra, cuộc khảo sát còn được hỗ trợ tại thực địa của Nguyễn Ngọc (Trung tâm du lịch VQG Phong Nha - Kẻ Bàng), Đặng Ngọc Kiên (Trung tâm Nghiên cứu Khoa học và Cứu hộ, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng), Ts Joachim Esser (GTZ), Nguyễn Thị Phương Hà (GTZ), và Dirk Euller (Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Đức, DED)
1.5 Sự hạn chế của báo cáo
Báo cáo này trình bày kết quả của 10 ngày, bao gồm cả thời gian khảo sát thực địa tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng trong tháng 5 năm 2010 Khảo sát dự kiến sẽ tiến hành nghiên cứu sơ bộ đa dạng sinh học hang động của 2 hệ thống hang trong VQG Do điều kiện thiết bị không cho phép, vì vậy chỉ định loại sơ bộ các mẫu vật đã thu được Kế hoạch của đoàn khảo sát bao gồm cả việc đánh giá đa dạng sinh học tại hang Thiên Đường, nhưng các công việc xây dựng đang được tiến hành tại cửa hang, vì vậy việc khảo sát không được tiến hành
2.0 Phương pháp tiến hành điều tra
Nghiên cứu khu hệ động vật hang động có thể sử dụng nhiều kỹ thuật khác nhau tuỳ theo các nhóm động vật và lượng thời gian cho khảo sát Các phương pháp có thể bao gồm:
Bẫy hố
Thu bắt bằng tay
Rây từ rác
Vợt để thu động vật dưới nước
Do thời gian có hạn nên chúng tôi quyết định chỉ sử dụng phương pháp quan sát và thu bắt bằng tay, tại các hang động khác nhau và các sinh cảnh khác nhau, để tìm các loài động vật không xương sống chính có mặt ở các hang Để tiến hành một khảo sát toàn diện khu hệ động vật hang động (động vật có xương sống và động vật không xương sống) phải bao gồm nhiều kỹ thuật thu mẫu tại mỗi hang và thời gian phải bảo đảm
Trang 14Hình 2.1 Renee Mouritz và Nguyễn Ngọc đang tìm kiếm động vật không xương sống, Động Tiên Sơn (Ảnh Tim Moulds)
Khảo sát thực địa được tiến hành hơn 5 ngày trong tháng 5 năm 2010, bao gồm nhiều điểm khảo sát cụ thể trong mỗi ngày Các điểm khảo sát bao gồm:
1 Động Phong Nha - động Tiên và động Cung Đình
2 Động Phong Nha - động Tiên với trầm tích phân động vật
3 Động Phong Nha - hang Bi Ký
4 Động Phong Nha – bãi sát mép nước
5 Động Phong Nha – bãi đá
6 Động Tiên Sơn – khu vực du lịch
7 Động Tiên Sơn – khu vực tự nhiên
8 Hang Tối – khu vực giáp ranh
9 Hang Tối – khu vực chuyển tiếp
Trang 15Mẫu vật thu được bảo quản trong cồn 100%, và định loại sử dụng kính soi nổi Olympus SZ-60 Mẫu vật được định loại đến cấp độ loài hình thái Nhện được định loại bởi Ts Phạm Đình Sắc, mẫu vật còn lại được định loại bởi Ts Timothy Moulds Tất cả mẫu vật được gửi tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, sau một thời gian sẽ được chuyển về Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật để định loại
3.0 Kết quả điều tra
Kết quả nghiên cứu sơ bộ khu hệ đông vật hang động tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã thu được 248 cá thể, bao gồm 41 loài từ ba hang động Chúng thuộc 5 lớp,
14 bộ, và 29 họ Năm loài phổ biến ở cả ba hang động; bao gồm 3 loài nhện, 1 loài
dế, và 1 loài cuốn chiếu Hang Tối ghi nhận được nhiều loài khác với các loài ở Phong Nha và Tiên Sơn, 58% trên tổng số loài tìm được chỉ có mặt ở hang Tối, trong khi tỷ lệ này ở động Phong Nha là 55%, và ở động Tiên Sơn là 44%
Các loài dế, mặc dù không phổ biến ở tất cả các hang hay các điểm nghiên cứu, nhưng chỉ thu được các mẫu vật trưởng thành
Kết quả trình bày số lượng cá thể tại mỗi hang động khảo sát, Phong Nha, Tiên Sơn, và hang Tối Chi tiết được trình bày trong bảng của phụ lục
Trang 16Hình 3.1 Trầm tích phân chim ở động Tiên (Ảnh Tim Moulds)
Động Cung Đình bao gồm dấu hiệu của phân các loài động vật, mà không bị dẫm đạp bởi con người Tại khu vực này, ở một diện tích nhỏ (1m x 0.4m) đã thể hiện sự
đa dạng cao so với các khu vực khác của hang, bao gồm 3 loài nhện đã được ghi nhận ở động Tiên, và đặc biệt hơn là bao gồm 6 loài có ở đây mà không tìm thấy ở các nơi khác của động Phong Nha Đa dạng sinh học của khu vực này khác biệt so với các nơi khác của hang, bao gồm 3 bộ và 4 loài chỉ tìm thấy tại đây trong suốt quá trình khảo sát tại 3 hang động
3.1.2 Hang Bi Ký
Khu vực này thuộc động Phong Nha, có mức độ đa dạng sinh học thấp nhất trong tất cả các khu vực được khảo sát, với 5 loài, và cũng thấp nhất về số lượng cá thể thu được, với 9 cá thể ghi nhận được Tất cả các loài ghi nhận được ở đây cũng tìm thấy ở các nơi khác, ngoại trừ loài cua nước ngọt
3.1.3 Bãi sát mép nước trong động Phong Nha
Một số bãi cát men theo sông trong động Phong Nha đã được khảo sát, kết quả cho thấy khu vực này có mức đa dạng sinh học cao Sáu loài đã được ghi nhận ở khu vực này, một nửa trong số đó là nhện Một loài Collembola (bọ đuôi bật) đã được tìm thấy ở bãi cát sát mép sông mà không ghi nhận được ở các nơi khác của động Phong Nha
3.1.3 Bãi đá
Phần cuối của đoạn sông đầu tiên, cách cửa động Phong Nha khoảng 2 km, là một bãi đá rộng Khu vực này đã ghi nhận được 8 loài, bao gồm 7 loài nhện, còn lại là
Trang 17loài cuốn chiếu với các mắt tiêu giảm Không có thêm loài côn trùng hay động vật khác nào tìm thấy ở khu vực này
3.2 Động Tiên Sơn
Kết quả thu được 41 cá thể từ động Tiên Sơn, bao gồm 4 lớp, 7 bộ, 12 họ, và 16 loài
3.2.1 Động Tiên Sơn – khu vực du lịch
Khu vực du lịch của động Tiên Sơn bao gồm phần cửa động, vùng tranh tối tranh sáng, và bắt đầu của khu vực chuyển tiếp Khu vực này tương đối đa dạng, với 11 loài được ghi nhận, tuy nhiên, cần chú ý rằng khu vực này có đặt các thùng rác Nhiều loài phổ biến của cuốn chiếu và bọ cánh cứng được ghi nhận từ vùng này Các loài nhện rất nghèo tại khu vực này do các tác động của việc đi lại
Hình 3.2 Loài nhện Sparassidae Heteropoda sp 1 ở động Tiên Son (Ảnh Tim
Moulds)
3.2.2 Động Tiên Sơn – khu vực tự nhiên
Khu vực tự nhiên của động Tiên Sơn khác biệt hoàn toàn với khu du lịch bởi không
có các hoạt động đi lại của người du lịch, thể hiện sự khác biệt trong quần tụ của các loài động vật Khu vực này bao gồm 11 loài, trong đó 5 loài chỉ ghi nhận được ở