Đến Hồng Đức quốc âm thi tập gồm 328 bài thơ Nôm, ra đời cuối thế kỷ XV, khi văn học dân tộc được viết bằng chữ Nôm đã phát triển khá mạnh, thế mà thơ tả cảnh thu trong mục Thiên địa môn
Trang 1Cảnh thu trong thơ Trung đại Việt Nam
Có thể nói, Cảnh thu là một trong những hình ảnh thiên nhiên nổi bật của bức tranh bốn mùa: Xuân, Hạ, Thu, Đông trong thơ trung đại Việt Nam Thiên nhiên mùa thu vừa là nguồn cảm hứng, vừa là nơi gửi gắm tâm tư, tình cảm của thi nhân, theo lẽ “tức cảnh sinh tình”, “tả cảnh ngụ tình” Cảnh thu trong thơ trung đại có khi được miêu tả qua một
số câu thơ trong bài tứ tuyệt, bát cú Đường luật… hoặc ở rải rác trong truyện thơ Nôm, nhưng cũng có khi cả bài thơ hướng về một đề tài “vịnh thu” (tả cảnh mùa thu) hoàn chỉnh…
Nói về đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam cũng có nghĩa là tìm hiểu quá trình phát triển của nó qua nhiều thế kỷ, nhất là từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Nguyễn Du, và đặc biệt là Nguyễn Khuyến Bởi vì, ban đầu các nhà thơ Việt Nam “vịnh thu” cũng giống như tả cảnh mùa xuân, mùa hạ, mùa đông- thường thiên về sử dụng những hình ảnh có sẵn trong nguồn thơ Đường (Trung Quốc) và mang tính ước lệ, tượng trưng Nhưng qua một thời gian dài, đề tài này đã đạt đến độ chín, vừa dễ hiểu, trong sáng, vừa gần gũi với thực tế thiên nhiên mùa thu Việt Nam
1 Đề tài “vịnh thu” trong thơ trung đại Việt Nam trước thế kỷ XIX
Trong mối quan hệ ảnh hưởng của văn học trung đại Trung Quốc đối với văn học trung đại nước ta, thì thơ “vịnh thu” Việt Nam cũng có sự ảnh hưởng và học hỏi thơ Đường - một trong những đỉnh cao của thơ ca nhân loại - cũng là điều tất nhiên Cảnh thu có trong thơ Trung Quốc, được thể hiện qua hình ảnh: lá đỏ, rừng phong, tuyết đưa hơi lạnh, chày đập vải, cây ngô đồng đã “du nhập” vào thơ thu Việt Nam, ở cả chữ Hán và chữ Nôm
Bắt nguồn cảm hứng từ một đêm thu đất nước, trong bài “Thu dạ dữ Hoàng giang
Nguyễn Nhược thuỷ đồng phú” (Đêm thu cùng ngâm với Hoàng giang Nguyễn Nhược-thuỷ), Nguyễn Trãi viết:
Hồng diệp đôi đình trúc ủng môn,
Mãn giai minh nguyệt quá hoàng hôn
Cửu tiêu thanh lộ tam canh thấp,
Tứ bích hàn cùng triệt dạ huyên
Thiên lại ngữ thu kinh thảo mộc,
Ngọc thằng đê Hán chuyển càn khôn
(Lá đỏ chồng ở sân, trúc ôm lấy cửa,
Đầy thềm trăng sáng quá lúc chạng vạng rồi
Móc trong chín tầng mây thấm ướt ba canh,
Dế lạnh ở bốn vách kêu ran suốt đêm
Tiếng sáo trời báo tin thu khiến cây cỏ kinh động,
Sao Ngọc thằng xuống thấp ở Ngân hà, càn khôn
chuyển vần )(1)
Lá đỏ (hồng diệp) trong câu thơ trên là lá cây phong, thường có ở Trung Quốc, vào giữa tiết thu nên ngả dần thành mầu đỏ tía Còn trúc ôm lấy cửa, đầy thềm trăng sáng, khí thu lạnh nên “móc… thấm ướt ba canh” là những nét hiện thực thường thấy vào dịp cuối thu ở vùng rừng núi miền Bắc nước ta Tiếng dế kêu, tiếng sáo trời, càn khôn chuyển vần
là những âm thanh mùa thu có phần yên ả hơn, sau những tháng xáo động mạnh mẽ của sấm sét, mây mưa mùa hè Và những âm thanh ấy được gợi lên từ cảm quan tinh tế, hàm chứa nhiều ý nghĩa nhân sinh của một nhà thơ lớn Chất liệu tạo nên cảnh thu ở đây
Trang 2phần lớn vẫn được lấy từ cảnh vật và thời tiết Việt Nam, nhưng ngay ở câu đầu, chữ đầu của bài thơ vẫn mang tính ước lệ, tượng trưng, vay mượn cảnh thu trong thơ Trung Quốc
Vẫn chưa thoát khỏi công thức, ước lệ, tượng trưng, trong bài Thôn xá thu châm (Tiếng châm mùa thu ở thôn xóm) của Nguyễn Trãi, hình ảnh chính vẫn là hòn đá (châm) để đập vải và giặt, với tiếng chày nện thình thình và nỗi buồn biệt ly của người chinh phụ có chồng ngoài quan ải xa xôi Là vùng thôn dã đang độ thu về mà cảnh thiên nhiên mùa thu chỉ được biết qua vài nét chung chung như khắp sông đâu đấy… Và người chinh phụ oán vì nỗi biệt ly tình, chẳng rõ ở thời nào, nơi nào? Bài này chỉ có 4 câu, được dịch thành thơ như sau:
Khắp sông đâu đấy nện thình thình,
Đất khách trăng khuya bỗng giật mình
Quan ải mịt mù chinh phụ oán,
Tiếng thu thảy gửi biệt ly tình
Đến Hồng Đức quốc âm thi tập gồm 328 bài thơ Nôm, ra đời cuối thế kỷ XV, khi văn học dân tộc được viết bằng chữ Nôm đã phát triển khá mạnh, thế mà thơ tả cảnh thu (trong mục Thiên địa môn) cũng chưa thực sự gắn với sắc màu cụ thể của thiên nhiên Việt Nam, vẫn còn chung chung, mơ hồ như là tả cảnh vật ở đâu đó Chẳng hạn như bài thơ sau đây:
Lác đác ngô đồng mấy lá bay,
Tin thu hiu hắt lọt hơi may
Ngàn kia cách nước so le địch,
Mái nọ bên đường đủng đỉnh chày
Lau chổng bãi Nam ngàn dặm rợp,
Nhạn về ải Bắc mấy hàng bay
Quí Ưng, Tống Ngọc dường bao nữa,
Khi ấy nhiều người cám cảnh thay
Là người Việt Nam, làm thơ tả cảnh thu tại quê hương mình, được viết bằng tiếng dân tộc mình thì không ít những hình ảnh cụ thể mang mầu sắc Việt Nam có thể dùng, thế
mà cứ phải lặp lại những “mô típ” người nước ngoài và nhiều người trong nước đã viết, đến sáo mòn như lá ngô đồng, đủng đỉnh chày, nhạn về ải Bắc, Quý Ưng, Tống Ngọc từ đời nào bên Trung Quốc! Phải chăng trong một thời gian dài, cách dạy và học theo lối giáo điều, khuôn sáo của nhà trường phong kiến đã hạn chế sự linh hoạt, sáng tạo của các nhà thơ trung đại, xuất thân từ các nhà nho?
Nhà thơ - nhà phê bình văn học Xuân Diệu có lời khen bài Mùa thu của Ngô Chi Lan, một
nữ sĩ dưới thời Lê Thánh Tông là “một bước tiến của thơ”, “lời văn ở đây đã trong sáng, liền, thoải mái, không vất vả, không gợn, và có nhạc điệu”, đồng thời ông cũng chỉ ra hạn chế có tính cố hữu của các nhà thơ ở giai đoạn này: “Còn thì vẫn các yếu tố ước lệ: Gió vàng, bóng nhạn, giếng ngọc, rừng phong”(2) Bài thơ Nôm có nhan đề Mùa thu thể hiện rõ chủ ý của Ngô Chi Lan là dành trọn cho việc tả cảnh thu, đã được Xuân Diệu nhận xét ở trên, gồm bốn câu:
Gió vàng hiu hắt cảnh tiêu sơ,
Lẻ tẻ bên trời bóng nhạn thưa
Giếng ngọc sen tàn bông hết thắm,
Rừng phong lá rụng tiếng như mưa
(Hồng Đức quốc âm thi tập)
Trang 3Những thế kỷ XVI-XVIII tiếp theo, các nhà thơ trung đại Việt Nam tuy ít sử dụng những hình ảnh mang tính công thức, ước lệ khi tả cảnh thu, nhưng vẫn còn hạn chế ở sự thiếu sáng tạo hình ảnh và chưa thể hiện rõ nét riêng, độc đáo trong mỗi nhà thơ
Bài thơ Thu tứ của Nguyễn Bỉnh Khiêm có hình ảnh mây, nhạn, trăng:
Vân biên nhạn quá hồn vô số,
Thiên thượng nguyệt minh ứng hữu kỳ
(Tầng mây đàn nhạn bay qua,
Trời quang, trăng sáng như là hẹn nhau)
(Ý thu - bản dịch của Hoàng Việt thi văn tuyển)
Trong Chinh phụ ngâm, khi nói về sự lạnh lẽo, cô đơn của người vợ có chồng đi chinh chiến, nhất là ở những đêm thu, tác giả viết:
Vài tiếng dế nguyệt soi trước ốc,
Một hàng tiêu gió thốc ngoài hiên
Bài thơ Thu dạ I của Nguyễn Du cũng có sao sáng, tiếng dế kêu não nề trong đêm lạnh: Phiền tinh lịch lịch lộ như ngân,
Đông bích hàn trùng bi cánh tân
(Sao vàng lấp lánh ánh sương dầy,
Dế khóc tường đông giọng đắng cay)
(Quách Tấn dịch)
Trong Ngẫu hứng I, Nguyễn Du cũng tả trăng sáng và gió lạnh mùa thu:
Minh nguyệt mãn thiên hà cố cố,
Tây phong xuy ngã chính thê thê
(Trăng sáng trời cao vằng vặc thế,
Gió tây ta quá lạnh lùng thôi)
(Đào Duy Anh dịch )
Trước Nguyễn Du, nhưng sau Đặng Trần Côn, Nguyễn Gia Thiều viết:
Trải vách quế gió vàng hiu hắt,
Mảnh vũ y lạnh ngắt như đồng
(Cung oán ngâm khúc)
Đến Thu dạ II, Nguyễn Du vẫn không có gì mới:
Vạn lý thu thanh thôi lạc diệp,
Nhất thiên hàn sắc tảo phù vân
(Muôn dặm tiếng thu dồn lá rụng,
Đầy trời sắc lạnh quét mây bay)
(Quách Tấn dịch)
Điểm lại một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thơ trung đại Việt Nam viết về mùa thu, chúng ta thấy rõ những hạn chế trong bút pháp miêu tả, ở cả thơ chữ Hán và chữ Nôm
là thiên về sách vở, ước lệ, tượng trưng, chung chung, thiếu tính hiện thực, sinh động,
cụ thể và chưa có được nét riêng biệt, độc đáo ở mỗi nhà thơ Nhưng đến Nguyễn Khuyến (1835-1909), với ba bài thơ thu nổi tiếng, thì những ưu điểm trong bút pháp
Trang 4miêu tả của ông sáng rỡ lên như một dấu son tươi mới Theo Bùi Văn Nguyên, đó là
“thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam , và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là Nôm, là Việt Nam”(3) của Tam nguyên Yên Đổ
2 Nguyễn Khuyến với chùm thơ Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm
Nguyễn Khuyến, bằng tài năng của mình, đã đưa thơ Việt Nam phát triển lên một bước mới, đặc biệt là đến gần với hiện thực, cụ thể và sinh động hơn trong bút pháp miêu tả Thiên nhiên làng quê trong thơ Yên Đổ đến với độc giả bằng tất cả vẻ đẹp giản dị, thanh
sơ mà vẫn có được những nét hấp dẫn riêng của nó
Trong số rất nhiều bài thơ tả cảnh thiên nhiên của Nguyễn Khuyến, có ba bài thơ đã luôn toả ra thứ ánh sáng êm dịu và trong trẻo, làm say đắm lòng người Thiên nhiên bao la của những ngày thu muộn, có ao nước trong veo lóng lánh bóng trăng, có đom đóm “lập loè ngõ tối” đã tạo nên ba bức tranh đặc sắc về cảnh thu Việt Nam ở vùng đồng bằng Bắc Bộ
Trong cuốn Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế kỷ XIX), Nguyễn Lộc nhận định: ''Nói về thiên nhiên, trong văn học cổ có rất nhiều, tả cái đẹp của thiên nhiên mùa thu trong văn học cổ rất hay Nhưng trước Nguyễn Khuyến, chưa bao giờ có một thiên nhiên nào đậm đà phong vị của đất nước quê hương đến thế''(4) Xuân Diệu cũng đã từng nhận xét: ''Nguyễn Khuyến nổi tiếng nhất trong văn học Việt Nam là về thơ Nôm,
mà trong thơ Nôm của Nguyễn Khuyến, nức danh nhất là ba bài thơ mùa thu: Thu điếu, Thu ẩm, Thu vịnh'' Ba bài thơ này được nhân dân ghi nhớ và truyền tụng bởi mùa thu của miền Bắc nước ta được miêu tả rất sinh động, sát thực, chứ không phải mùa thu mượn ở nơi khác Tiêu biểu cho thu Việt Nam phải nói đến Thu điếu Đọc bài thơ, chúng
ta có thể tưởng tượng ra trước mắt một bức tranh thuỷ mặc, có bối cảnh xa, gần thật sống động Khung cảnh thu được gói vào trong một không gian hẹp, chiếc ao thu be bé, xinh xắn, chiếc thuyền câu cũng bé tẻo teo Nguyễn Khuyến dường như hoá thân thành một nhà quay phim tài ba bậc nhất: Tầm nhìn của ông như chiếc máy quay, lúc phóng lên cao, khi vụt xuống thấp, bao quát cả không gian mùa thu Làn nước trong veo làm nổi bật chiếc thuyền câu nhỏ nhắn Cả khung cảnh ấy làm phông duy nhất cho một chiếc
lá thu vàng rơi trước gió Chữ vèo gợi tả dáng thanh mảnh của chiếc lá thu bay Tuy nhỏ
bé nhưng dường như nó có sức thu cả đất trời vào mình Khí thu làm cho ao thu lạnh, nhưng cái lạnh lẽo ấy không đáng để người ta sợ hãi và chạy trốn Trái lại, nó khơi nguồn hứng khởi cho con người ngắm cảnh thu, yêu thu hơn Bài thơ xinh xắn đã mở ra trước mắt chúng ta cảnh vật thiên nhiên nơi làng quê: Đây là từng gợn lăn tăn của dòng nước xanh biếc; kia là chiếc lá vàng khẽ rơi làm duyên cùng làn gió nhẹ; ngước mắt lên nhìn là bầu trời xanh ngắt, rộng lớn, không hề vẩn tạp, cao vời vợi, sâu thăm thẳm trong không gian đa chiều
Ngõ trúc là một hình ảnh rất đặc trưng cho cảnh làng quê vùng đồng bằng Bắc Bộ Yêu thay dáng trúc thẳng thắn với tán lá xanh biếc như bầu trời thu kia Đâu dễ có được hình ảnh thơ thuần Việt tuyệt đối ấy nếu không có một tình yêu quê hương đằm thắm thiết tha đến vô cùng, cộng với ngòi bút tả thực tài hoa của tác giả! Quan sát, miêu tả cảnh thu có chiều sâu, từ gần đến xa, từ xa đến gần trong Thu điếu thật là sinh động và tinh tế! Các từ láy lạnh lẽo, tẻo teo, lơ lửng vừa gợi cảm, gợi hình, rất xác thực, sinh động và gần gũi
Ngồi trên chiếc thuyền bé tẻo teo ấy, nhà thơ cũng trở nên bé nhỏ, cô đơn trong khoảng không gian giữa mặt nước và bầu trời Trước thời cuộc đảo điên, vận nước đen tối, một ông quan thanh liêm đã về vườn liệu có thể làm gì cho dân cho nước? Chưa thể “đắp tai,
Trang 5cài trốc”, “ngoảnh mặt làm ngơ” vì còn chút lo đời, nhà thơ muốn gửi gắm tâm sự của mình vào cảnh thu để bớt đi nỗi buồn vì bất lực Song, thiên nhiên làng quê mộc mạc, thân thiết ấy lại càng làm cho ông cảm thấy day dứt về trách nhiệm của bản thân Khát vọng phục vụ quê hương không thành cũng giống như việc câu cá không được, ông chưa
đủ kiên nhẫn để ngồi chờ, vì không còn cách nào khác để giải toả niềm u uẩn của mình Nỗi trống vắng không cùng khiến nhà thơ nghe được tiếng cá đớp mồi thật nhỏ - âm thanh duy nhất trong khung cảnh thu tĩnh lặng Nhờ có âm thanh ấy, cảnh thu sống động hơn và đủ để đánh thức thi sĩ trở về với thực tại, sau những suy ngẫm mơ màng
Có thể nói, sự xuất hiện bất ngờ của một âm thanh trong khung cảnh tĩnh lặng ấy, là nét sắc sảo và tinh tế trong nghệ thuật tả cảnh của nhà thơ Nếu tiếng chó nhỏ bên ao cắn tiếng người (Đến chơi nhà bác Đặng - Nguyễn Khuyến) làm cho buổi trưa hè ở làng quê trở nên có sức sống hơn, thì ở đây cá đâu đớp động dưới chân bèo (Thu điếu) lại chứa đựng một âm thanh đa nghĩa, vừa cô đơn, vừa bất lực
Cũng trong mạch cảm xúc ấy, Nguyễn Khuyến đã đưa cái thần của cảnh thu Việt Nam vào bài Thu vịnh Cái thanh thoát nhẹ nhõm, cái cao vời vợi của không gian được gói gọn trong bầu trời thu xanh ngắt kia Điểm nhấn trên nền trời ấy là cần trúc - Một sự tạo hình trong không gian thật cụ thể Cây trúc còn non trông yếu ớt, mong manh, khi có làn gió thu hiu hiu thổi nhẹ, giống như chiếc cần câu nghiêng bóng xuống mặt ao, đu đưa trước gió Đường nét cong cong của thân cây, mầu xanh biếc của lá cây như điểm xuyết cho bầu trời thu thêm trong sáng, gợi bao nỗi niềm cho người ngắm cảnh Cần trúc là nét đặc tả hồn thu Việt Nam và trong mối liên hệ hoà hợp với trời thu, ao thu đã tạo nên hình ảnh đặc trưng cho mùa thu đất Việt Chùm hoa xuất hiện trong Thu vịnh đưa hương thơm ngạt ngào từ quá khứ bay đến hiện tại bằng trí tưởng tượng của chính nhà thơ Tiếng ngỗng vọng tưởng kêu vang trong bầu trời như bứt tâm hồn nhà thơ về với thực tại Âm thanh ấy vang xa sao mà xa lạ thế, bởi đó đâu phải ngỗng quê hương Nỗi đau của người dân mất nước càng thấm thía hơn trong đêm thu vắng vẻ Ở hai câu cuối, Nguyễn Khuyến bộc lộ lòng mình, ông thấy thẹn thùng với Đào Tiềm - thi sĩ nổi tiếng ở Trung Quốc đã sớm từ quan về ở ẩn trước cuộc đời ô trọc Ông tiếc rằng mình không từ
bỏ quan trường sớm như Đào Uyên Minh xưa kia Cái thẹn trong lời kết ở Thu vịnh càng khiến nhân cách của Nguyễn Khuyến thêm sáng đẹp Đứng trước thiên nhiên kỳ diệu ấy, tâm hồn con người như được “soi” bằng thứ ánh sáng tinh khiết để nhân cách được bộc
lộ dễ dàng hơn Qua cảnh vật mùa thu, Nguyễn Khuyến đến với chúng ta thật hơn, gần gũi hơn nhiều
Đến với Thu ẩm, chúng ta cũng không thấy những hình ảnh ước lệ, tượng trưng, văn hoa, sang trọng như "rèm châu, lầu ngọc, chén vàng" mà thay vào đó là sự bình dân, thanh sơ và giản dị, với Năm gian nhà cỏ thấp le te - Ngõ tối đêm sâu đóm lập loè Hình ảnh ngôi nhà, vừa là tả thực, vừa khái quát tầm vóc của một làng quê vùng đồng chiêm trũng Từ láy le te đã khắc hoạ hình dáng của ngôi nhà cỏ trong không gian, nó là nơi thu hút, hội tụ sự ấm áp, dung dị của đời sống nông thôn đất Việt Đối lập với những
"lầu son, gác tía", "lồng ngọc, rèm châu" xa lạ, ngôi nhà cỏ như đang nâng đỡ trên mình một giá trị văn hoá đáng quý Yêu quê hương, yêu đất nước, yêu cảnh thu, yêu con người, Nguyễn Khuyến với hình ảnh thơ mộc mạc ấy đã đặt mốc cho quá trình phát triển nội dung thơ dân tộc Quả thực, hình ảnh ngôi nhà cỏ đã đem đến cái nhìn khác hẳn so với câu thơ ước lệ về sự phù hoa: Bên hoa triệu ngọc ngồi ngơ ngẩn - Dưới nguyệt rèm châu đứng thẩn thơ (Thu ngâm - Nữ sĩ Ni Tần)
Dù sao, năm gian nhà cỏ ấy mới là thực của ta, đẹp với những gì giản dị, mộc mạc mà ta
có Nhiều ý kiến khẳng định rằng, cảnh thu trong Thu vịnh không chỉ được miêu tả về một thời điểm nhất định, mà là trong nhiều thời điểm, có tính khái quát về mùa thu Việt Nam Hình ảnh đóm lập loè trong đêm sâu, ngõ tối được hiện lên thật dung dị và gần gũi với thôn quê thời thực dân nửa phong kiến cuối thế kỷ XIX Cuộc sống hiện đại ngày nay
Trang 6ít thấy xuất hiện loài đom đóm Nhưng bắt gặp hình ảnh con đom đóm nhỏ bé trong thơ Nguyễn Khuyến, mỗi chúng ta lại thấy tràn ngập tâm hồn thứ ánh sáng của đồng nội Tuy yếu ớt, nhưng nó có thể làm sáng tâm hồn con người hơn là thứ ánh sáng rực rỡ của đèn lồng - một hình ảnh mượn của thơ Trung Quốc Ánh sáng đom đóm đẹp hơn, lung linh hơn nhiều lần khi được Nguyễn Khuyến nâng niu và trân trọng Hình ảnh thơ ở đây không có "lời vàng, ý ngọc" nhưng lại đem đến sức rung động mãnh liệt cho con người Đâu phải ngẫu nhiên, quần chúng nhân dân lại yêu thích và thuộc ba bài thơ thu của Nguyễn Khuyến, như chúng ta đã biết Hình ảnh mầu khói nhạt, bóng trăng loe gợi lên
vẻ đẹp huyền ảo của đêm thu đất Việt Trong cuộc sống dung dị đời thường, với con mắt tinh tế, Nguyễn Khuyến đã thu vào góc nhìn của mình cảnh tượng mĩ lệ của thiên nhiên: Ánh trăng trên trời giao hoà với mặt nước dưới đất, khiến trời thu, đất thu hoà nhập vào một
Hơn ai hết, Nguyễn Khuyến hiểu rằng sống thực với thiên nhiên, để tâm đến nó thì thiên nhiên cũng đâu nỡ phụ người Dù thanh sơ, nhưng cảnh thu Việt Nam vẫn có những nét hấp dẫn riêng của nó Và cảnh thu ấy lại gợi lên những nỗi niềm sâu kín của nhà thơ: Da trời ai nhuộm mà xanh ngắt - Mắt lão không vầy cũng đỏ hoe (Thu ẩm) Phải chăng do uống rượu nhiều nên mắt nhà thơ bị đỏ? Không! Nguyễn Khuyến đã nói: Rượu tiếng rằng hay, hay chẳng mấy cơ mà! Đúng là cụ Tam nguyên đã khóc! Nỗi thương nước, thương dân luôn thường trực, nhưng chưa làm được gì trong thời buổi ấy, vì bất lực, đó là nỗi lòng của Nguyễn Khuyến Và từ nguồn mạch sâu kín ấy, nước mắt nhà thơ đã trào ra trong một lần uống rượu, trước cảnh thu
Quá trình hàng trăm năm gọt giũa, phát triển, đề tài "vịnh thu" đã thành công khi bắt gặp ngòi bút tài hoa của Nguyễn Khuyến vào giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX Giá trị của Thu điếu, Thu vịnh, Thu ẩm đã chứng minh điều đó Trước khi kết thúc bài viết này, xin nhắc lại nhận định của Xuân Diệu về những tuyệt tác của cụ Tam nguyên Yên Đổ trong tiến trình thơ trung đại Việt Nam, về đề tài tả cảnh thu: "Ba bài thời thu của Nguyễn Khuyến, nhìn gộp lại, là thành công tốt đẹp của quá trình dân tộc hoá nội dung mùa thu cho thật là thu Việt Nam, trên đất nước ta, và dân tộc hoá hình thức lời thơ, câu thơ cho thật là nôm; mà ở đây, dân tộc hoá cũng thống nhất với quần chúng hoá”(5)
Đặc điểm của văn học trung đại
Trong tập sách Đặc trưng văn học trung đại Việt Nam (1 ), Lê Trí Viễn nêu ba đặc trưng: cao nhã, vô ngã và hữu ngã, quy phạm và bất quy phạm Tác giả giải thích, đại ý: cao nhã là sự cao quý, thanh nhã ở quan niệm văn chương, quan niệm của người sáng tác, ở chức năng xã hội của văn chương, ở sự hạn hẹp của việc phổ biến (tr 139); vô ngã và hữu ngã là quá trình chuyển biến của văn học, đi từ vô ngã chuyển dần sang hữu ngã (tr 225); quy phạm và bất quy phạm cũng là quá trình chuyển đổi giữa cái quy tắc, nền nếp đến cái bất quy tắc, phá vỡ nề nếp có sẵn trong diễn đạt
Khi nêu đặc điểm cơ bản của văn học trung đại, hai bộ sách Ngữ văn 10, chương trình chuẩn và chương trình nâng cao hiện hành, đã có sự khác biệt Sách Ngữ văn 10,
chương trình chuẩn, tập 1, viết (lược ghi các đề mục): 1) Những đặc điểm về nội dung: a) Chủ nghĩa yêu nước; b) Chủ nghĩa nhân đạo; c) Cảm hứng thế sự; 2) Những đặc điểm
về nghệ thuật: a) Tính quy phạm và sự phá vỡ tính quy phạm; b) Khuynh hướng trang nhã và xu hướng bình dị; c) Tiếp thu và dân tộc hoá tinh hoa văn học nước ngoài (2 ) Sách Ngữ văn 10, chương trình nâng cao, tập 1, viết (lược ghi các đề mục): 1) Gắn bó với vận mệnh đất nước và số phận con người; 2) Luôn hấp thụ mạch nguồn văn học dân gian; 3) Tiếp thu tinh hoa văn học Trung Hoa trên tinh thần dân tộc, tạo nên những giá trị văn học đậm đà bản sắc Việt Nam; 4) Trong khuôn khổ thi pháp trung đại, văn học Việt Nam luôn vận động theo hướng dân tộc hoá và dân chủ hoá (3 )
Trang 7Có thể thấy các đặc điểm được nêu rất chung, e nhiều nền văn học (và văn học trung đại) của các dân tộc trên thế giới cũng không thể khác thế (đề mục 3 của sách Ngữ văn
10, chương trình nâng cao, có thể thay tên các nước liên quan) Mà mỗi khi có sự chung cùng kiểu ấy, thì để được gọi là đặc điểm (đặc điểm: nét riêng biệt) tất phải viện đến một vấn đề có tính chất bổ sung, chẳng hạn: mức độ đậm nhạt của các yếu tố liên quan; nhưng các sách được đề cập đã không làm như vậy
Giả sử những trình bày ở trên là tính chất của văn học trung đại nói chung, thì theo thiển
ý của người viết, dưới đây là một số đặc điểm về hình thức của riêng các thể loại, kiểu tác phẩm thuộc tản văn và biền văn trong nền văn học trung đại Việt Nam
- Tính ngắn gọn:
Hầu hết các văn bản văn học thuộc tản văn và biền văn đều có dung lượng ngắn gọn Khi là một tập sách, thì đó thường là một tập hợp của những mẩu ngắn hợp thành Lĩnh nam chích quái (Trần Thế Pháp (?)), Nam Ông mộng lục (Hồ Nguyên Trừng), Truyền kì mạn lục (Nguyễn Dữ), Thánh Tông di thảo (Lê Thánh Tông), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), là những dẫn chứng Thượng kinh kí sự (Lê Hữu Trác) và Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái) cũng ở mức vừa phải (4 )
- Chưa có sự phân định rõ ràng giữa các thể loại, kiểu tác phẩm:
Với các thể loại văn học, nhất là các thể kí, như kí sự, kí văn, tuỳ bút, tạp thuật, ngẫu lục, khó thể phân định sự khác biệt nhau giữa chúng Với những kiểu tác phẩm thuộc các lĩnh vực hành chính, nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn cũng không có sự rạch ròi Chẳng hạn, giữa chiếu và dụ, chế và sắc, biểu và tấu, sớ, được dùng lẫn lộn, giữa một bài luận với một bài văn sách viết lối tản văn cũng thường khó tách bạch
- Sự chi phối của thể biền văn, tản văn chịu ảnh hưởng của biền văn, là điều kiện quan trọng để biến phần lớn các văn bản không thuộc các thể loại văn học trở thành tác phẩm văn học:
Nếu ở trường hợp vận văn, hầu như hễ sử dụng đến là thuộc về văn học (không thuộc thể thơ này thì thuộc thể thơ khác, không ở loại bác học thì ở cùng dân gian), thì với biền văn, cũng gần như thế Với tản văn chịu ảnh hưởng của biền văn thì mức độ có giảm bớt Còn với tản văn thì ngoài các thể loại văn học, ở các lĩnh vực khác, phải xét cái chất văn chương (để xác định có phải là tác phẩm văn học hay không) qua mỗi văn bản cụ thể Điều này có nghĩa, thể văn, một yếu tố thuần tuý hình thức, có vai trò quyết định tính chất, phạm vi của văn bản
Ở đây, thể biền văn (và một phần tản văn chịu ảnh hưởng của biền văn) đã có tác dụng biến đổi phần lớn các văn bản không thuộc các thể loại văn học trở thành tác phẩm văn học Chẳng hạn, một tờ chiếu biền văn thì thường được coi là một tác phẩm văn học (tức
tờ chiếu này bên cạnh chức năng là một lệnh, còn có chức năng là một tác phẩm nghệ thuật), trong lúc một tờ chiếu bằng tản văn thì để được công nhận là một tác phẩm văn học, cần phải "đong đếm" theo những tiêu chuẩn của nghệ thuật, xem nó có hội đủ không đã (giả sử không là tác phẩm văn học, thì nó chỉ có mỗi chức năng là một lệnh của vua ban)
Trên đây, chỉ là những suy nghĩ bước đầu Vấn đề cần được trao đổi, thảo luận để có thể
có được những nhìn nhận khách quan, thấu đáo hơn
Đặc điểm của Văn học trung đại Việt Nam
Trang 8Đặc điểm của Văn học trung đại Việt Nam
1 Chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa nhân đạo- hai dòng chủ lưu của VHTÐVN
a Chủ nghĩa yêu nước:
Văn hóa Ðại Việt, văn chương Ðại Việt khởi nguồn từ truyền thống sản xuất và chiến đấu của tổ tiên, từ những thành tựu văn hóa và từ chính thực tiễn hàng nghìn năm đấu tranh chống giặc ngoại xâm phương Bắc
Hiếm thấy một dân tộc nào trên thế giới lại phải liên tục tiến hành những cuộc chiến tranh chống giặc ngoại xâm như dân tộc Việt Nam Nhà Tiền Lê, nhà Lý chống Tống Nhà Trần chống Nguyên Mông Nhà Hậu Lê chống giặc Minh Quang Trung chống giặc Thanh Những cuộc kháng chiến vệ quốc vĩ đại được tiến hành trong trường kỳ lịch sử nhằm bảo
vệ nền độc lập, thống nhất của Tổ quốc không những tôi luyện bản lĩnh dân tộc, nâng cao lòng tự hào, tự tin, khí thế hào hùng của dân tộc mà còn góp phần làm nên một truyền thống lớn trong văn học Việt Nam: Chủ nghĩa yêu nước
Ðặc điểm lịch sử đó đã quy định cho hướng phát triển của văn học là phải luôn quan tâm đến việc ca ngợi ý chí quật cường, khát vọng chiến đấu, chiến thắng, lòng căm thù giặc sâu sắc, ý thức trách nhiệm của những tấm gương yêu nước, những người anh hùng dân tộc quên thân mình vì nghĩa lớn Có thể nói, đặc điểm này phản ánh rõ nét nhất mối quan hệ biện chứng giữa lịch sử dân tộc và văn học dân tộc
Quá trình đấu tranh giữ nước tác động sâu sắc đến sự phát triển của văn học, bồi đắp, phát triển ý thức tự hào dân tộc, tinh thần độc lập tự chủ Cho nên, chế độ phong kiến
có thể hưng thịnh hay suy vong nhưng ý thức dân tộc, nội dung yêu nước trong văn học vẫn phát triển không ngừng
Các tác phẩm văn học yêu nước thời kỳ này thường tập trung thể hiện một số khía cạnh tiêu biểu như:
- Tình yêu quê hương
- Lòng căm thù giặc
- Yï thức trách nhiệm
- Tinh thần vượt khó, sẵn sàng hy sinh vì Tổ quốc
- Ý chí quyết chiến, quyết thắng
- Ðề cao chính nghĩa của người Việt Nam trong những cuộc kháng chiến
b Chủ nghĩa nhân đạo
Văn học do con người sáng tạo nên và tất yếu nó phải phục vụ trở lại cho con người Vì vậy, tinh thần nhân đạo là một phẩm chất cần có để một tác phẩm trở thành bất tử đối với nhân loại Ðiều này cũng có nghĩa là, trong xu hướng phát triển chung của văn học nhân loại, VHTÐVN vẫn hướng tới việc thể hiện những vấn đề của chủ nghĩa nhân đạo như:
Trang 9- Khát vọng hòa bình
- Nhận thức ngày càng sâu sắc về nhân dân mà trước hết là đối với những tầng lớp thấp hèn trong xã hội phân chia giai cấp
- Ðấu tranh cho hạnh phúc, cho quyền sống của con người, chống lại ách thống trị của chế độ phong kiến
- Ca ngợi vẻ đẹp của con người lao động
- Tố cáo mạnh mẽ và đấu tranh chống những thế lực phi nhân
2 Văn học viết phát triển dựa trên những thành tựu của văn học dân gian
- Văn học viết Việt Nam hay bất kỳ một nền văn học dân tộc nào khác đều phải phát triển trên cơ sở kế thừa những tinh hoa của văn học dân gian Trong tình hình cụ thể của VHTÐVN, mối quan hệ giữa văn học viết và văn học dân gian chủ yếu là do các nguyên nhân sau:
+ Sau khi nước nhà độc lập, nhu cầu thiết yếu mà nhà nước phong kiến Việt Nam cần phải chú ý là việc xây dựng một nền văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc, chống lại âm mưu bành trướng, đồng hóa của kẻ thù phương Bắc và nâng cao lòng tự hào dân tộc
+ Những tác phẩm bằng chữ Hán trong thời kỳ này thường dễ xa lại với quần chúng bình dân, tác phẩm ít được truyền tụng rộng rãi Vì vậy, càng về sau, nhu cầu quần chúng hóa, dân tộc hóa tác phẩm ngày càng mạnh mẽ Trong quá trình giải quyết vấn đề này, chỉ có văn học dân gian là nhân tố tích cực nhất
Quá trình kế thừa, khai thác VHDG là một quá trình hoàn thiện dần các yếu tố tinh lọc từ VHDG bắt đầu từ thơ ca Nguyễn Trãi về sau (Thời Lý- Trần, việc tiếp thu nguồn VHDG chưa được đặt ra đúng mức)
+ Văn học viết tiếp thu từ văn học dân gian chủ yếu là về đề tài, thi liệu, ngôn ngữ, quan niệm thẩm mỹ, chủ yếu là khía cạnh ngôn ngữ và thể loại
+ Trong quá trình phát triển, hai bộ phận luôn có mối quan hệ biện chứng, tác động, bổ sung lẫn nhau để cùng phát triển (Những tác động trở lại của văn học viết đối với văn học dân gian
3 Văn học viết phát triển dựa trên cơ sở tiếp thu, tinh lọc những yếu tố tích cực của hệ ý thức nước ngoài
- Sự du nhập của các học thuyết vào Việt Nam chủ yếu do các nguyên nhân sau:
+ Vấn đề giao lưu văn hóa giữa các dân tộc là một vấn đề mang tính quy luật Từ xưa, nước ta và các vùng phụ cận đã có sự giao lưu văn hóa nhưng chỉ trong phạm vi hẹp, chủ yếu là từ Trung Quốc sang
+ Hơn 1000 năm bắc thuộc, dân tộc ta không tránh khỏi bị ảnh hưởng bởi sự bành trướng văn hóa và nhất là âm mưu đồng hóa của kẻ thù Những tên quan lại phương Bắc sang đô hộ Việt Nam không chỉ bóc lột, vơ vét tài nguyên mà còn truyền bá rộng rãi các
Trang 10học thuyết triết học có nguồn gốc từ Trung Quốc vào Việt Nam một cách khéo léo và thâm hiểm
+ Khi nhà nước phong kiến VN bắt đầu hình thành, giai cấp thống trị không có mẫu mực nào khác hơn là nhà nước PK TQ đã tồn tại trước đó hàng nghìn năm và có rất nhiều kinh nghiệm trong việc lợi dụng các học thuyết triết học như một công cụ đắc lực trong việc củng cố ngai vàng, thống trị nhân dân
- Các học thuyết Nho- Phật- Lão đều có những điểm tích cực nhất định nên các nhà tư tưởng lớn của Việt Nam thời Trung đại đã chú ý khai thác, tinh lọc, vận dụng sao cho nét tích cực đó phát huy tác dụng trong hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử
4 Văn học chữ Hán phát triển song song với văn học chữ Nôm
Ngay từ khi được các nhà văn mạnh dạn đưa vào sáng tác văn học, chữ Nôm ngày càng khẳng định vị trí của mình bên cạnh chữ Hán vốn đã có ảnh hưởng sâu sắc trong văn học thời Lý Trần
Sự phát triển của Văn học chữ Nôm khẳng định ý thức dân tộc phát triển ngày càng cao, biểu hiện lòng tự hào, ý thức bảo vệ ngôn ngữ, văn hóa dân tộc chống lại âm mưu đồng hóa của kẻ thù
Ở thời Lý, Trần, việc sử dụng chữ Nôm trong sáng tác văn học chưa được phổ biến
Từ thế kỷ XV về sau, Nguyễn Trãi đã mạnh dạn đưa chữ Nôm vào sáng tác văn học Thơ ông tuy chưa được trau chuốt nhưng đậm đà bản sắc dân tộc.Thành công của Nguyễn Trãi chính là tiền đề cho con đường phát triển của văn học chữ Nôm đến đỉnh cao Truyện Kiều
5 Thơ phát triển sớm và mạnh hơn văn xuôi
Ở thời trung đại, văn chính luận mang tính quan phương chủ yếu là công cụ của nhà nước phong kiến Mặt khác, những đặc thù trong tư duy nghệ thuật, truyền thống sáng tác dẫn đến một thực tế là các tác phẩm văn xuôi hình tượng chỉ chiếm một số lượng khiêm tốn so với các tác phẩm thơ ca
Thể thơ thường sử dụng nhất trong VHTÐ là thơ Ðường luật Ðây là hệ quả của quá trình giao lưu văn hóa lâu dài và nằm trong quan niệm thẩm mỹ của các nhà thơ cổ điển Trong thời kỳ này, thơ Ðường luật đã được chính quy hóa trong văn chương trường ốc và văn chương cử tử Cho nên, sự thống trị văn đàn của thơ Ðuờng luật trong bất kỳ một tập thơ nào thời trung đại là một điều dễ hiểu
Tuy nhiên, việc sử dụng thơ Ðường luật với tư cách là một thể thơ chính thống trong các
kỳ thi và trong sáng tác đã gây không ít trở ngại trong nội dung thể hiện do bị chi phối bởi sự ngặt nghèo của luật thơ chặt chẽ
Ở thời Nguyễn Trãi, thơ luật Ðường biến thể thành thơ thất ngôn xen lục ngôn đầy sáng tạo, độc đáo, phóng khoáng, rất phù hợp với cách nghĩ, cách nói, tâm lý của dân tộc nên được một số nhà thơ đời sau tiếp tục sử dụng (Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm)
6 Việc sử dụng điển tích và các hình ảnh tượng trưng ước lệ- những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng phổ biến trong văn chương trung đại