1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thi pháp truyện ngắn trung đại việt nam

36 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 242 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó ông đưa ra bảng phân loại gồmnăm thể loại của truyện Việt Nam trung đại: truyện thần quái, truyện truyền kỳ,truyện diễn ca lịch sử, truyện tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Hán và

Trang 1

Thi pháp truyện ngắn trung đại Việt Nam

THỂ TÀI PHÊ BÌNH | 26/09/2012 - 08:38

Trần Nho Thìn

I ĐỊNH NGHĨA VÀ PHÂN LOẠI TRUYỆN NGẮN TRUNG ĐẠI

Khái niệm truyện ngắn trung đại là một khái niệm tương đối, của khoa nghiên

cứu văn học hiện đại áp dụng cho thực tế văn học thời trung đại Thời trung đạichưa hề biết đến khái niệm này Thay vì dùng một khái niệm có tính chất kháiquát, người xưa có tên gọi riêng cho mỗi cuốn sách (chí, lục, phả, bút, tùy bút,

ký, ký sự, thuyết…) Ngay trong một cuốn sách lại có những tác phẩm khônghoàn toàn giống nhau về đặc trưng thể loại, có những tác phẩm khá giống vớitruyện ngắn hiện đại, nhưng có những tác phẩm lại hoàn toàn không đáp ứngđược tiêu chuẩn của truyện ngắn Thực tế đó cho thấy tính chất phức tạp của đốitượng nghiên cứu Vậy chúng ta nên chọn đối tượng để phân tích như thế nào?

Có nhất thiết phải theo chuẩn mực của truyện ngắn hiện đại hay phải tính đến cảnhững nét riêng biệt của cái gọi là truyện ngắn thời trung đại để nghiên cứu?Trong sự bác tạp của cái gọi là truyện ngắn trung đại, có thể tìm kiếm một số yếu

tố thi pháp chung hay không?

Nhìn sang Trung Quốc là nước có nền văn học khá tương đồng, từng có ảnhhưởng đến văn học Việt Nam thời trung đại, dễ thấy là giới nghiên cứu có mộtcách định danh khác với giới nghiên cứu nước ta trong lĩnh vực tìm hiểu truyệnngắn Khái niệm “tiểu thuyết” được họ sử dụng để diễn tả thể loại văn xuôi cócốt truyện nói chung, còn sự khác biệt về dung lượng được mô tả bằng cách định

danh thêm các từ “chương hồi” Điều này thấy trong Trung Quốc tiểu thuyết sử

lược của Lỗ Tấn (viết từ năm 1923) và vẫn tiếp tục được duy trì trong những bộ

sách chuyên khảo gần đây về lịch sử thể loại tiểu thuyết Trung Quốc Các kháiniệm đoản thiên, trung thiên, trường thiên tiểu thuyết là của lý luận thời hiện đạichứ chưa xuất hiện trong thời cổ trung đại(1) Về đại thể, cho đến nay, giới khoahọc Trung Quốc đều phân biệt hai loại tiểu thuyết thời cổ trung đại: văn ngôntiểu thuyết và bạch thoại tiểu thuyết Văn ngôn tiểu thuyết có ảnh hưởng sâu sắcđến truyện ngắn trung đại nước ta, còn bạch thoại tiểu thuyết lại ảnh hưởng đếnthể loại truyện thơ Việt Nam nên ta không bàn đến ở đây

Các nhà Đông phương học Nga sử dụng khái niệm novella để chỉ thể loại truyện

ngắn ở các nước Đông Á, phân biệt với rasskaz vì khái niệm sau chỉ truyện ngắnhiện đại Nhà nghiên cứu Golyghina dùng khái niệm novella để chỉ thể loại

“truyền kỳ” thời Đường Trong cuốn sách Truyện ngắn (novella) Triều Tiên thời

trung đại, nhà nghiên cứu D.D Elixeev viết: “Theo quan điểm của chúng tôi, để

định danh “truyện ngắn” thời trung đại, tiện hơn cả là dùng khái niệm novella:novella – thuật ngữ dùng để định danh một hình thức nhỏ, có đặc trưng riêng(mặc dù trong đó cũng thể hiện một kiểu quá trình cuộc sống giống như trongtruyện ngắn hiện đại) Đặc trưng này bao hàm trong nguyên tắc lựa chọn các

Trang 2

hiện tượng để thể hiện, trong nguyên tắc giải thích chúng cũng như trong sự độcđáo của các thủ pháp nghệ thuật”(2) Đủ thấy là các nhà nghiên cứu Nga rất có ýthức phân biệt đặc trưng loại hình của truyện ngắn trung đại và hiện đại Elixeevcòn đưa ra định nghĩa novella: “Novella là một thể loại văn học trong đó conngười được thể hiện qua một ví dụ của một sự kiện Sự kiện này được truyền đạtchỉ qua những thời điểm căn bản, đồng thời nó bằng cách nào đó được đưa vàocuộc đời nhân vật”(3) Theo cách hiểu này, ở truyện ngắn trung đại (novella), tínhcách hay đặc điểm của nhân vật thường được minh họa bằng một sự kiện tiêubiểu nào đó, vào một số thời điểm nào đó của cuộc đời nhân vật Từ đó, hướng

mô tả thi pháp của truyện ngắn trung đại cũng phải khác so với thi pháp hiệnđại Truyện ngắn dẫu thế nào đi nữa cũng phải lấy nhân vật làm đối tượng trungtâm và nhân vật này bộc lộ tính cách qua một hay một vài sự kiện được chọn lọctheo một nguyên tắc nhất định Quan điểm lấy nhân vật làm trung tâm và xem

sự kiện có vai trò minh họa cho tính cách của nhân vật sẽ được chúng tôi vậndụng để phân tích thi pháp truyện ngắn trung đại

Để mô tả thi pháp của truyện ngắn trung đại thì điều quan trọng là phải phânloại những sáng tác trung đại được ta gọi một cách ước lệ là truyện ngắn Cónhững cách phân loại khác nhau, xuất phát từ các góc nhìn khác nhau Hiệntượng “bạch thoại tiểu thuyết” hầu như không tồn tại ở nước ta nên chúng ta chỉcần quan tâm đến việc phân loại “văn ngôn tiểu thuyết” Quan điểm phân loạicủa giới nghiên cứu cũng khá đa dạng Và vì không có định danh chính thức

“truyện ngắn” nên chúng ta chỉ có thể xem bảng phân loại văn xuôi tự sự (hay làtiểu thuyết nói chung) Hiện nay, nhiều học giả Trung Quốc xem tiểu thuyếttrung đại gồm hai thành phần, thực ra là phân loại theo tiến trình lịch sử của thể

loại này Sách Cổ điển văn học tam bách đề viết: “ Tiểu thuyết (đây nói đến văn

ngôn tiểu thuyết – TNT) do người thời Hán, Ngụy sáng tác, vô luận nội dungchép chuyện người hay sự kiện, đều có xu hướng lấy sự thực làm chủ Từ thờiTấn về sau, vì sự hưng thịnh của hai tôn giáo Phật, Đạo mà tiểu thuyết do sĩ đại

phu sáng tác có khá nhiều những luận bàn về huyền quái linh dị Bởi vậy mà bên

cạnh loại tiểu thuyết ghi chép về việc của con người, lại xuất hiện một loại tiểu

thuyết chép việc quỉ thần như Sưu thần ký của Can Bảo là tiêu biểu”(4) Tức là tiểuthuyết (ở đây ta hiểu là “truyện ngắn trung đại” – TNT) có hai nhóm: a) viết vềngười thực, việc thực theo nghĩa hiện thực; b) viết về những chuyện quỉ thần,quái dị

Quan sát tiểu thuyết văn ngôn thời kỳ Lục Triều, các nhà nghiên cứu cũng nhậnthấy hai nhóm hay hai khuynh hướng khác nhau, về đại thể giống như cách mô

tả vừa nêu “Tiểu thuyết thời Lục Triều được chia thành hai loại là chí quái (ghi chép chuyện kỳ quái) và chí nhân (ghi chép chuyện của người), đó là lấy hai

khuynh hướng đương thời làm căn bản: khuynh hướng trước lấy các chữ “quái”,

“dị” làm tên sách; khuynh hướng sau lấy chữ “thuyết”, “ngữ” làm tên sách, cũng

Trang 3

được gọi là “thế thuyết thể” (thể loại kể truyện đời)… Tiểu thuyết Lục Triều đó

là thời kỳ mở đầu chính thức cho tiểu thuyết văn ngôn Trung Quốc Cách nhậnđịnh như vậy nếu quả đứng vững được thì nó cũng có ý nghĩa: tiểu thuyết LụcTriều có đặc trưng rõ ràng khác với các loại văn tự sự thời kỳ trước, đặc trưngnày được tiếp tục về sau, từ đó mà hình thành một hình thức văn học mới khônggiống với các loại văn tự sự đó”(5) Có nghĩa là sự phân loại này áp dụng cho cảchặng đường về sau của tiểu thuyết (và cả truyện ngắn) Trung Quốc Nhưngtrên thực tế văn học, yếu tố thần quái, kỳ ảo nhiều khi lại xuất hiện đan xentrong các truyện ghi chép người thực việc thực Thành thử, bất cứ kiểu phân loạinào cũng chỉ là tương đối

Các nhà nghiên cứu Việt Nam dựa trên thực tiễn văn học dân tộc, lại có cáchphân loại riêng Nguyễn Đăng Na chủ trương một bảng phân loại cho văn xuôi

tự sự trung đại thành ba xu hướng: xu hướng dân gian, xu hướng lịch sử, xuhướng thế tục Xu hướng dân gian “sưu tầm, ghi chép, cải biên truyện dân gian”,

“đấy là quá trình văn học hóa truyện dân gian, quá trình lột xác, chuyển từ sángtác văn học dân gian sang sáng tác văn học viết”(6) Xu hướng lịch sử “sưu tầm,ghi chép về nhân kiệt địa linh đất Việt, bao gồm các nhân vật lịch sử (người,thần) và các sự kiện lịch sử”, tuy nhiên ông cũng lưu ý “khi chia thành xu hướngdân gian và xu hướng lịch sử, chúng tôi chỉ muốn đề cập tới hai mạch phát triểnchung của chúng Trên thực tế, hai xu hướng này luôn có sự đan xen và thâmnhập vào nhau Truyện lịch sử thường bị dân gian hóa để cho nó trở thành ly kỳhấp dẫn; còn truyện dân gian lại được lịch sử hóa để tỏ ra nó có “thật”(7) Xuhướng thế tục “viết về chuyện thế tục”, “truyện thế tục lấy con người làm đốitượng và trung tâm phản ánh”, “đối tượng của truyện thế tục là con người vớinhững khát khao trần thế nhất”(8) và truyện thế tục chỉ dừng lại ở hình thứctruyện ngắn

Trần Đình Sử đề nghị dùng khái niệm “truyện” (chứ không phải “tiểu thuyết”)

để định danh loại hình tự sự trung đại Từ đó ông đưa ra bảng phân loại gồmnăm thể loại của truyện Việt Nam trung đại: truyện thần quái, truyện truyền kỳ,truyện diễn ca lịch sử, truyện tiểu thuyết chương hồi, truyện thơ Hán và Nôm.Dựa trên chữ “truyện”, Trần Đình Sử nhấn mạnh “cội nguồn lịch sử của truyện

kể trung đại”, chú ý đến tính chất văn sử triết bất phân của truyện trung đại.Quan điểm này chi phối đáng kể đến việc ông phân tích thi pháp của truyện,chẳng hạn ông lưu ý nhiều đến tinh thần thực lục, nguyên tắc chép sử, lập hồ sơ

nhân vật của các truyện ngắn, kể cả Thánh tông di thảo và Truyền kỳ mạn lục Ông

viết: “Lời trần thuật của tác giả được phân làm hai: Lời trần thuật miêu tả câuchuyện và lời bàn (bình) với hai tư cách khác nhau Một người làm người kể chuyện khách quan “biết hết”, “biết trước” và một người bình luận về mặt đạo

đức hoặc nghệ thuật có quan điểm xác định Đây là điểm làm cho Truyền kỳ mạn

Trang 4

lục và Thánh Tông di thảo giống nhau, và đều cho thấy ảnh hưởng của bút pháp

viết sử và sử bình vào văn học”(9)

Theo chúng tôi, lại có thể phân loại truyện ngắn trung đại theo một tiêu chí khác,tiêu chí cốt truyện Xét về nguồn gốc cốt truyện, có thể chia truyện ngắn trungđại thành ba nhóm chính: 1) Nhóm tác phẩm lấy cốt truyện từ chính sử Thuộc

loại này có thể kể đến kiểu Truyện Trâu Canh ở xã Tử Trầm (Công dư tiệp ký) Cốt truyện về Trâu Canh đã chép ở trong Đại Việt sử ký toàn thư, năm Tân Mão, Thiệu Phong năm thứ 11 (1351) Tất nhiên chính sử chỉ chép vắn tắt sự kiện Đến Công

dư tiệp ký Vũ Phương Đề đã kể chi tiết hơn, tăng cường phần hư cấu hơn, khiến

cho truyện hấp dẫn hơn Truyền thống viết truyện mượn cốt truyện của sáchchép sử đã có từ lâu trong văn học Trung Quốc và là một qui luật của sự pháttriển tiểu thuyết Các bộ sử cung cấp những ghi chép gốc về những nhân vật haynhững sự việc kỳ lạ, cố gắng ghi chép đúng với thực tế vốn có nhưng chưa quantâm đến kỹ thuật kể chuyện Các nhà văn sẽ chọn những nhân vật và sự kiện nàođược coi là thú vị và gia công nghệ thuật, có thể nhận thức và lý giải diễn biếncốt chuyện theo một chiều hướng khác hẳn cốt truyện gốc Đây là trường hợp

từ Tam quốc chí của Trần Thọ đến Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung đã

được nhà Trung Quốc học người Nga Riftin khảo sát rất kỹ lưỡng 2) Nhóm tácphẩm vay mượn cốt truyện Trung Quốc: nhóm này thuộc về một số truyện

của Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ví dụ như Mộc miên thụ truyện (Truyện Ma cây gạo) được giới nghiên cứu cho rằng đã mượn cốt truyện của truyện Mẫu đơn

đăng ký trong Tiễn đăng tân thoại của Cù Hựu (Trung Quốc) Tất nhiên, có truyện

truyền kỳ mà ở đó, việc mượn cốt truyện không rõ nhưng dấu ấn ảnh hưởng thi

pháp truyền kỳ Trung Quốc là rất rõ, ví dụ như truyện Từ Thức lấy vợ

tiên (Truyền kỳ mạn lục) có nhiều dấu hiệu mô phỏng Đào hoa nguyên ký của Đào

Uyên Minh 3) Nhóm tác phẩm có cốt truyện hư cấu thuần túy của Việt Nam.Loại này chiếm số lượng lớn nhất Nội dung thường kể về các nhân vật của ViệtNam – những nhân vật hữu danh và vô danh trong lịch sử, các môtip thườngđược sáng tạo trên cơ sở phỏng lại những lời kể của người này người khác, tức làmôtip dân gian, đã được lưu truyền theo con đường truyền miệng Mỗi nhómtruyện trên có đặc điểm thi pháp riêng

Việc định danh và phân loại truyện ngắn trung đại có thể ảnh hưởng đến cáchphân tích thi pháp Chúng tôi chưa có điều kiện so sánh, đánh giá toàn diện cáchthức phân loại nói trên của các nhà nghiên cứu Việt Nam, song nhận thấy các hệthống phân loại nói trên không thuận lợi đối với việc tìm hiểu thi pháp của loạitruyện kiểu truyện ngắn thời trung đại Theo chúng tôi, việc nghiên cứu thi phápthực chất là tìm hiểu cách kể chuyện, mà đối tượng của việc kể chuyện chính làcon người Tất cả các yếu tố thi pháp đều xoay quanh việc thể hiện con người.Trong chương này, chúng tôi sẽ tiến hành phân tích thi pháp truyện ngắn trungđại trên cơ sở xác định hai loại truyện chủ yếu, viết về hai nhóm nhân vật chính:

Trang 5

1) loại truyện viết về các nhân vật lịch sử, các mẫu hình nhân cách cao thượng,những kiểu “thánh nhân”, “dị nhân” có nét phi thường, kỳ vĩ ; 2) loại truyện viết

về những người bình thường, con người tự nhiên kiểu “phàm nhân”

Truyện ngắn trung đại là một khái niệm ước lệ của giới nghiên cứu hiện đạidùng để chỉ một hiện tượng rất không thuần nhất về cả nội dung và nghệ thuật,bao hàm rất nhiều loại kiểu tác phẩm khác nhau ra đời trong một thời gian rấtdài (khoảng mười thế kỷ) Do đó, vấn đề thi pháp của truyện ngắn trung đại đòihỏi được nghiên cứu không chỉ về phương diện đồng đại (loại hình) mà cả trênphương diện lịch đại (lịch sử) Về mặt đồng đại, chúng ta phải nêu lên đượcnhững nét chung nhất vốn đã tạo nên thi pháp của văn học trung đại, phân biệtvới thi pháp truyện ngắn hiện đại Về mặt lịch đại, cần chỉ ra sự vận động, biếnđổi của các yếu tố thi pháp qua các giai đoạn khác nhau, cuối cùng hướng đếnkết thúc của văn học trung đại và chuẩn bị cho văn học hiện đại

Truyện ngắn trung đại Việt Nam về cơ bản là dạng truyện giống như loại tiểuthuyết văn ngôn theo phân loại của các nhà nghiên cứu Trung Quốc Đây đều làtác phẩm viết bằng chữ Hán của các tác giả đa phần là nhà nho Chỉ có một số

trường hợp như Thiền uyển tập anh và Tam tổ thực lục là có màu sắc tôn giáo

nhưng chưa rõ tác giả là ai Nhưng ngay cả khi tác giả là nhà sư thì vẫn thấy rất

rõ trong thế giới quan của các tác giả hai cuốn sách này nhiều nét của thế giớiquan và quan niệm văn hoá chung cho các tác giả nho sĩ trung đại Việc chú ýđến đặc trưng văn hóa trung đại là hết sức cần thiết đối với chúng ta, nhữngngười hiện đại Có thể một số yếu tố của thi pháp truyện ngắn trung đại khônghẳn hấp dẫn đối với người hiện đại, nhưng chắc chắn là đã hết sức hấp dẫn đốivới người thời xưa vì chúng phù hợp với văn hóa của thời đại ấy Làm rõ sự chiphối của nền tảng văn hóa đến việc chọn đề tài, các thủ pháp nghệ thuật, vấn đềkhông- thời gian, vấn đề nhân vật trong truyện ngắn trung đại là một địnhhướng quan trọng của chúng tôi

II THI PHÁP TRUYỆN NGẮN TRUNG ĐẠI

Bên cạnh những nét tương đồng loại hình, mỗi loại truyện ngắn nói trên lại cómột số nét đặc thù riêng do sự qui định của các quan niệm văn hóa về con ngườithời trung đại Các danh nhân thực ra là thể hiện mẫu hình nhân vật lý tưởng,mẫu người thánh nhân còn các nhân vật trần thế là thể hiện mẫu người tự nhiên,người bình phàm Ứng xử của các mẫu người này đối với xã hội, tự nhiên và bảnthân là khác nhau và các yếu tố thi pháp miêu tả chúng cũng khác nhau

II 1 Thi pháp của loại truyện về các thánh nhân quân tử

II.1.1 Các môtip phổ biến

Thánh nhân quân tử là mẫu hình nhân vật lý tưởng của nho gia Tuy nhiên, kháiniệm thánh nhân quân tử dùng ở đây không chỉ nói về các mẫu hình của nho gia

mà bao quát cả những nhân vật nổi danh, có những nét phi phàm, xuất chúng

theo quan niệm trung đại, kể cả các thiền sư nổi danh Bảng phân loại của Công

Trang 6

dư tiệp ký phản ánh rất rõ phạm vi nhân vật được nhà nho quan tâm Nhân vật

lịch sử thuộc các loại “thế gia”, “danh thần”, “danh nho”, “tiết nghĩa”… kể cả cáctruyện “thần quái”, “âm phần dương trạch” cũng xa gần gắn với loại truyệnthánh nhân, quân tử Cái làm nên chất danh nhân không đơn giản là nổi tiếng, vì

có những người nổi tiếng nhưng không hề là danh nhân Danh nhân nói đây có

màu sắc siêu phàm của lý tưởng về thánh nhân Nhưng Thiền uyển tập anh, Tam

tổ thực lục lại viết về các danh nhân trong giới Thiền học Vì vậy, phải nói là có

nhiều loại nhân vật lý tưởng hoặc nhân vật chính diện: những đáng bậc anhhùng, thánh nhân, vua chúa, nho gia, thiền sư, những nhân vật tài đức lỗi lạc.Nhìn chung, nếu xét về giới tính, đây là nhóm truyện chủ yếu viết về nhữngngười đàn ông Tuy có thể các nhân vật thuộc về Nho giáo hay Phật giáo nhưng

vì đều là nhân vật phi phàm xuất chúng nên đều chịu sự chi phối của một quanniệm chung mang tính chất văn hóa về nhân cách Cũng chính quan niệm đó sẽqui định việc lựa chọn hệ thống các yếu tố thi pháp tả nhân vật

Con người lý tưởng xét về nguồn gốc, theo quan niệm văn hóa truyền thống

phương Đông, là những nhân cách được vũ trụ, trời đất sinh ra Sách Lễ ký viết:

“Nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỉ thần chi hội, ngũ hànhchi tú khí” (Người ta là cái đức của Trời Đất, sự giao hội của âm dương, sự tụ hộicủa quỉ thần, là cái khí tốt lành của ngũ hành) Nguyễn Công Trứ viết: “Trời đấtcho ta một cái tài” và “Thiên phú ngô, địa tái ngô; Thiên địa sinh ngô nguyênhữu ý; Dã thị giang sơn chung tú khí Quả nhiên đài các xuất danh công” (Trờiche ta đất chở ta, Trời đất sinh ta đã có ý; Vốn là sự chung đúc khí tốt đẹp củanúi sông, Nên nhất định sẽ có công danh sự nghiệp trong chốn đài các) Một cách

hình dung nhân cách bản thân không xa lạ với sách Lễ ký như ta vừa thấy Bởi vậy giới nghiên cứu rất có lý khi nhắc đến con người vũ trụ thể hiện trong văn thơ

cổ, trung đại Đây là quan niệm phổ biến của cả văn hoá dân gian và văn hoá báchọc ở phương Đông và đã chi phối đến việc tả nhân vật Không phải ngẫu nhiên

mà trong bài tựa sách Việt điện u linh, Lý Tế Xuyên viết: “Các thần vốn có phẩm

loại không ngang nhau, có vị là tinh túy của núi sông, có vị là nhân vật kiệt linh,khí thế rừng rực lúc đương thời, anh linh tỏa rộng đến đời sau”(10) Bài bạt sách

“Trùng bổ Việt điện u linh tập toàn biên” do Ngô Giáp Đậu viết năm 1919 vẫn tiếp

nhận cách nhìn này của Lý Tế Xuyên: “Nước Việt ta từ lập quốc, sơn kỳ thủy tú,địa linh nhân kiệt, so với các nước trong toàn cầu, thực là anh vĩ đặc biệt, cốnhiên là không chịu nhường ai rồi Chung đúc cái chính khí lại, từ đó xuất hiệnnhiều đấng thần kỳ, sống làm bậc danh tướng, chết làm bậc danh thần, làm bậctiết nghĩa, làm bậc trinh liệt; chính khí của các bậc ấy bàng bạc vòng quanh vòmtrời xanh, hoặc là tản ra mà thành tiên phong thành đạo cốt cũng đều lưu truyềnbất hủ về sau”(11) Nhìn các nhân vật kiệt xuất như là những con người vũ trụ là

cách nhìn xuyên suốt thời trung đại và còn tiếp tục ở đầu thế kỷ XX Kể cả cácthiền sư cũng được miêu tả theo quan niệm văn hóa chung về danh nhân này

Trang 7

Theo quan sát của nhà nghiên cứu D.D Elixeev thì cấu trúc các truyện ngắnpkhexol của Triều Tiên thời trung đại bao gồm: 1 Exposition (Giới thiệu chung);

2 Episode (Sự kiện, tình tiết); 3 Epilogue (Lời kết) “Phần giới thiệu chung có thểrất đa dạng về nội dung nhưng một trong các nhiệm vụ của nó là giới thiệu nhânvật với độc giả Tiếp theo tác giả chuyển sang khắc họa nhân vật Bước đi nàycủa truyện tương ứng với yếu tố tiếp theo – và là chủ yếu – của cấu trúc và cũng

là hạt nhân của truyện- sự kiện… Sự kiện thường bao gồm một vài tình tiết, hơnnữa, các tình tiết này phân biệt nhau về nhiệm vụ… Tiếp theo các sự kiện là phầnepilogue là phần cùng với lời giới thiệu tạo ra ở mức độ nào đó cái nền của toàn

bộ cuộc đời nhân vật, trên cái nền đó, diễn ra sự kiện này Hơn nữa, các lời kếtthường hoàn thành những chức năng khác: chúng có thể cắt nghĩa một phongtục tập quán dân gian này khác, một câu tục ngữ, một thành ngữ dùng trongtruyện hay là đưa ra quan điểm đánh giá của tác giả đối với nhân vật hay sựkiện”(12) Có thể thấy ngay là những nhận xét khái quát về pkhexol trên có thể ápdụng để phân tích kiểu truyện về các nhân vật lịch sử của Việt Nam trung đại.Hầu hết các truyện nếu kể về các nhân vật lý tưởng đều dùng các biện phápnghệ thuật tô đậm màu sắc thần kỳ, phi thường, khác thường của loại nhân vậtnày Một đoạn giới thiệu ngắn mở đầu truyện, có dáng dấp của một đoạn “tríchngang” hiện đại, hướng ngay sự chú ý của người đọc đến tính chất phi thườngnày Có nhiều hình thức đặc tả sự phi thường Đơn giản nhất, phổ biến nhất làliệt kê một số đặc điểm phi thường về ngoại hình và các phẩm chất đạo đức, tinh

thần, những năng lực khác Việt điện u linh (thế kỷ XIV?) kể công tích 27 vị thần

được thờ trong các đền miếu mà tác giả chú ý đến Các vị thần lúc sinh thời,trước khi hiển linh, thường được giới thiệu là có những nét kỳ vĩ, phi thường.Phùng Hưng sức có thể bắt cọp, vật trâu Em trai là Phùng Hãi cũng có thể vác

đá nặng ngàn cân hoặc chiếc thuyền ngàn hộc mà đi hơn mười dặm Lý ÔngTrọng “thân dài hai trượng ba tấc, khí chất thẳng thắn dũng mãnh, khác vớingười thường” Lý Thường Kiệt con nhà gia thế “đời đời trâm hốt”, “là ngườinhiều mưu lược, có tài tướng súy, từ lúc ít tuổi đã lừng danh và phong tư tuấnnhã” Lê Phụng Hiểu “người cao lớn, tướng đẹp, râu tốt, có sức khỏe lạ thường”,từng nhổ cả gốc tre để đánh trận, ăn hết nồi cơm ba mươi Vì thế cái phi thườngnói trên khác xa cái kỳ quái thường gắn với những nhân vật thuộc loại bìnhphàm, tự nhiên mà ta sẽ phân tích trong phần sau Đã là những bậc phi thườngthì không thể có chân dung thực, giống với bọn phàm phu tục tử được Có lẽ vìthế mà vắng bóng việc tả chân dung chi tiết, cụ thể theo bút pháp tả chân được.Kết quả là ta chỉ được tiếp xúc với cách nêu nét khái quát về chân dung, tínhcách

Theo quan niệm nho gia, một trong những dấu hiệu bộc lộ tài năng thiên phú,khiến nhân vật ấy khác thường là tài thơ văn Nếu dấu hiệu của hổ báo là cácvằn đốm trên bộ lông, dấu hiệu của con phượng là sắc lông sặc sỡ thì dấu hiệu

Trang 8

của một thiên tài chính là tài văn chương Đó là quan niệm phổ biến thời xưa về

mối quan hệ giữa tài năng văn chương với nhân cách Văn chương nết đất thông

minh tính trời Do vậy, các môtip về tài thơ văn được sử dụng rộng rãi trong

truyện trung đại Có nhiều truyện nhắc đến tài sáng tác thơ văn, kể lại khả năngứng đối nhanh nhẹn, xuất khẩu thành thơ… của nhân vật lịch sử Ghi chép thơvăn, câu đối cũng là một hình thức minh chứng cho nét phi thường của nhân vật.Thơ văn không chỉ là để nói chí, bộc lộ khát vọng, hoài bão chính trị mà còn làphương tiện giúp cho một nhân vật nào đó đỗ đạt cao, tham gia vào triều chính.Bởi lẽ qua thơ văn của một nhân vật, người xưa cho là có thể đánh giá đượcphẩm chất, năng lực hoạt động chính trị- xã hội của nhân vật đó Loại truyện

danh nho trong Công dư tiệp ký rất tiêu biểu cho môtip kiểu này Thiền uyển tập

anh kể sự tích các thiền sư lại thiên về nhấn mạnh tính chất phi thường của trí

tuệ, học vấn Sư Khuông Việt “dáng mạo khôi ngô tuấn tú, tính tình phóngkhoáng, có chí khí cao xa” Thiền sư Đạo Huệ “tướng mạo đoan chính, giọng nóitrong trẻo” Sư Cứu Chỉ “từ nhỏ hiếu học, đọc khắp các kinh điển Nho, Phật”.Vạn Hạnh từ nhỏ thông minh khác thường, học thông ba giáo, đọc kỹ trăm nhà”

Các nhân vật lịch sử tuy có thể không thuộc đấng bậc như các vị trong Việt điện u

linh đã hiển thánh, được phong thần song vẫn được tả theo công thức chung của

thánh nhân quân tử, của mẫu người vũ trụ Có thể lấy các truyện ở thế kỷ XVIII

đầu thế kỷ XIX viết về những nhân vật lịch sử làm dẫn chứng Công dư tiệp

ký của Vũ Phương Đề (1697- ?) có nhiều truyện mang dáng dấp giai thoại dân

gian do các trí thức nho sĩ sưu tầm nhưng khuôn mẫu truyện thánh nhân vẫnđược tuân thủ Thượng thư Trịnh Thiết Trường (thế kỷ XV) thông minh khácthường, tỏ rõ phẩm chất thần đồng từ nhỏ Có hai bằng chứng: một là lúc nhỏ,nặn voi đã biết lấy đỉa làm vòi, bướm làm tai; hai là một viên quan phủ hỏichuyện học hành thì cậu bé đối đáp trôi chảy Thượng thư Lê Như Hổ “sinh ra

đã thông minh” Hai nét đặc biệt là thân thể cao lớn khác thường, ăn rất khỏe vàrất hiếu học Bùi Cầm Hổ đang đọc văn tế ở Thái miếu thì nến tắt, ông đọc mòkhông sai một chữ; nến đốt được thì ông cũng vừa đọc xong, vua rất khen ngợi

(Tang thương ngẫu lục).

Như vậy, môtip dị thường, phi thường liên quan đến thân thể và trí tuệ thườngđược các truyện quan tâm

Môtip về sự thụ thai kỳ lạ giữa người mẹ của nhân vật với các loài vật cũngnhằm nêu lên sự khác thường, nguồn gốc vũ trụ của danh nhân ấy Thiền sư

Ngộ Ấn là con của khỉ (theo Thiền uyển tập anh, bà mẹ ngồi dệt vải thì có con khỉ

lớn trong rừng chạy ra ôm lấy lưng bà, sau đó bà có mang, sinh ra Ngộ Ấn).Đinh Tiên Hoàng là con của rái cá nên lớn lên rất lanh lợi và giỏi bơi lội

(theo Công dư tiệp ký).

Nguồn gốc vũ trụ của một nhân vật lịch sử, một danh nhân nhiều khi gắn liềnvới thuật phong thủy huyền bí Người tích tụ được năng lượng của vũ trụ, trời

Trang 9

đất theo thuật phong thủy sẽ là người có tài năng, sức mạnh và khả năng tập hợpdân chúng, sẽ thành công trong sự nghiệp Thực ra xét cho cùng, đây là biến thểcủa quan niệm về con người vũ trụ Người xưa tin rằng một người phi thường cóthể ngẫu nhiên được trời đất phú bẩm cho tài năng, nhưng người ta cũng có thểchủ động tạo ra điều kiện tiếp nhận năng lượng vũ trụ bằng thuật phong thủy.

Do đó, nhiều truyện về các danh nhân lịch sử được bao phủ bởi vòng hào quang

kỳ ảo của thuật phong thủy Những môtip phong thủy có sức hấp dẫn lớn đốivới người đọc truyện thời xưa Chúng thỏa mãn trí tò mò của con người tronghoàn cảnh còn khá hạn chế của khả năng phân tích các nguyên nhân hiện thựcdẫn đến thành công Mặt khác, chúng có thể gợi liên tưởng đến thuật phongthủy vốn đang thịnh hành xung quanh con người, đến những câu chuyện truyềnmiệng dân gian từ bao đời về các thầy địa lý Tàu, địa lý Ai Lao đặt mả, giấu củađầy huyền bí, ly kỳ Không gian tiếp nhận truyện ngắn đó ngày nay không còn

tồn tại với người hiện đại nữa Lam Sơn thực lục kể về chuyện Lê Lợi được một

nhà sư Ai Lao chỉ cho một huyệt mộ phát tích, đã táng mộ cha vào huyệt đó nên

sau này sự nghiệp lẫy lừng Tập truyện ký Công dư tiệp ký có thể là cuốn sách tiêu

biểu về phương diện khảo sát ảnh hưởng của thuật phong thuỷ đến sự nghiệp

của các danh nhân Sách này có hẳn chuyên mục Âm phần dương trạch dành kể về

các huyệt táng, mồ mả đã giúp cho các nhân vật lịch sử trở nên nổi tiếng vàthành công như thế nào Ngoài ra, hầu như các truyện khác đều có nội dungphong thủy Đinh Tiên Hoàng đã để xương rái cá dùng cỏ bao bên ngoài lặnxuống vực sâu đặt vào huyệt hình mõm ngựa nên nhiều người theo tôn phục

(theo Công dư tiệp ký) Thượng thư Nguyễn Lễ có mộ của ông nội được táng chính giữa sau cửa thành (thành nào ?) (Công dư tiệp ký) Nhưng ở các tập truyện

khác, vẫn có thể thấy ít nhiều không khí phong thủy đó Đỗ Uông thời nhà Mạc

sở dĩ đỗ Bảng nhãn vì gia đình ông được người Hoa đặt cho một ngôi mộ phát

tích (theo Vũ trung tùy bút) Theo Phạm Đình Hổ, Nguyễn Phi Khanh (thân sinh

Nguyễn Trãi) thích phong thủy đã dời mả tổ đến táng ở làng Nhị Khê Là ngườicủa trời đất nên những môtip có vẻ huyền hoặc đối với người hiện đại lại rấtđược các tác giả trung đại ưa thích sử dụng để nêu lên tính chất phi thường, tính

chất vũ trụ của một nhân vật lịch sử Về Lê Lợi, Lam sơn thực lục chép: “Khi vua

(Lê Lợi) chưa sinh, ở xứ Du sơn trong làng, thôn sau thôn Như Áng, dưới rừngcây thường có con hổ đen thân với người, chưa từng làm hại ai, đến giờ thìnngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385) vua sinh, thì từ đấy không thấy con hổnữa… Lúc vua sinh có ánh sáng đỏ đầy nhà, mùi hương lạ khắp xóm” ĐinhTiên Hoàng khi đánh nhau, có kẻ định đâm thì “bỗng hai con rồng vàng hiện lên

che chở” (Công dư tiệp ký) Kể về Lê Thánh Tông, Tùng Niên trong Tang thương

ngẫu lục đã lần theo dấu vết phát tích đế vương ngay từ người mẹ đã sinh ra

nhân vật lịch sử này Thưở còn là người bình thường, bà ngụ tại phía Tây Namnhà Quốc Tử Giám, nước hồ bao bọc chỗ nhà ở, các thầy tướng số cho là có khí

Trang 10

thiên tử Bà vì có quan hệ họ hàng với các phi tần nên ra vào chốn cung cấm,được vua Lê Thái Tông biết đến và yêu thương Bà có mang, sinh ra người contrai là Lê Thánh Tông sau này Khi bà có mang, chiêm bao thấy thượng đế saimột tiên đồng giáng thế làm vua nước Nam Tiên đồng không vâng chỉ ngay,thượng đế ném hòn ngọc khuê làm sây sát trán Tiên đồng dập đầu lạy tạ, xinban cho một người giúp việc Lúc bừng tỉnh dậy, sinh ra vua Thánh Tông, vếtngọc khuê ở trên trán hãy còn rõ rệt Đến khi làm vua, ông tôn mẹ làm HoàngThái hậu, thường dò tìm người giúp việc trong chiêm bao chưa thấy Rồi cuốicùng có người con gái Nguyễn Trãi bị sung vào hàng nữ nhạc (khi Nguyễn Trãiphải tội), xinh đẹp, 17-18 tuổi mà không nói Khi vua lên ngự tòa thì nàng liềncầm phách hát, tiếng vang lanh lảnh như điệu Quân thiều Hỏi thì nàng nói nănghệt như ngọc nữ trên Thượng đế, bèn thu nạp làm Hoàng hậu Đến khoa thi QuíMùi, Quang Thuận năm thứ 4, Trạng nguyên Lương Thế Vinh vào bái yết, haivai lệch không bằng phẳng Hoàng thái hậu thấy giống hệt như trong mộng vềngười giúp việc Thượng đế phái xuống Trong truyện này, môtip phong thủyđược bổ sung thêm bằng môtip về giấc mộng trên thiên đình để tăng thêm sựthuyết phục cho vị trí hoàng đế của Lê Thánh Tông Tính chất huyền thoại củacâu chuyện là rất rõ ràng Vũ Thái phi lúc nhỏ theo mẹ ra đồng, đương mùa hènắng nóng, cô theo mẹ đứng trên bờ ruộng, “hễ đứng chỗ nào thì có đám mây

che rợp đất, không sai bước nào” (Vũ trung tùy bút) Các nhà nho với quan điểm ngả về thiên mệnh nên thường chú ý đến tính chất thiên phú của phẩm chất danh

nhân Nhà ở và mồ mả có vị trí đúng theo thuật phong thủy có thể đem đến thayđổi quan trọng cho số phận Mả tổ đặt đúng huyệt tức là đặt vào vị trí có thể tíchhợp được những năng lượng vũ trụ (tượng trưng bằng hai yếu tố gió và nước)nên đem lại tài năng, nhân cách và sự thành đạt cho thân chủ Tất nhiên, khi vịtrí của mồ mả tổ tiên không được đắc địa, hoặc đặt ở vị trí khuyết hãm thì sựnghiệp của thân chủ cũng không toàn vẹn Đó là trường hợp của gia đình

Nguyễn Trãi Tang thương ngẫu lục viết: “Nay xét mả tổ nhà ông ở Nhị Khê,

huyệt táng ở ruộng bằng phẳng, người thì cho là cách tướng quân mở cờ, ngườithì cho là hình tướng quân cụt đầu Về phương mùi thì có cái gò rùa, đuôi nóphản lại Trong bản kiềm ký của Hoàng Phúc nói rằng: “Nhị Khê mạch đoản,

họa thảm tru di” chính là trỏ vào đấy vậy” Theo Công dư tiệp ký, Đinh Tiên

Hoàng đã táng huyệt tốt mà thầy địa lý Tàu tìm ra và đã đem xương cốt của bố

từ Trung Quốc sang định táng vào huyệt đó Vì vậy ông ta căm tức, quyết tâmlàm hại Ông ta đưa cho Đinh thanh kiếm bảo đặt kiếm vào cổ ngựa thì sẽ tốthơn Đinh làm theo, nhưng kết quả ngược lại, về sau cả hai cha con bị tên hầu ĐỗThích sát hại “vì thầy địa lý dùng kế đánh lừa để gươm vào đầu ngựa, nên hai

bố con ông mới như thế” Các môtip phong thủy được sử dụng trong truyện

ngắn trung đại gắn liền với quan niệm về bản chất thiên phú địa tái (trời phú bẩm,

đất chở che) của danh nhân, đấng bậc Tất cả các phẩm chất phi thường đều

Trang 11

được giới thiệu như một thứ sản phẩm có sẵn, do vũ trụ, trời đất phú bẩm, chỉ việc ứng dụng vào thực tế xã hội là nổi danh Nói như Nguyễn Công Trứ Dã thị

giang sơn chung tú khí, Quả nhiên đài các xuất danh công (Vốn là sự chung đúc khí

tốt đẹp của núi sông, Nên nhất định sẽ có công danh sự nghiệp trong chốn đàicác) Người xưa không quan tâm đến vai trò của sự đào luyện xã hội đối với tàinăng Dường như đã là người do trời đất, núi sông sinh ra thì tất phải thôngminh, tài trí, chỉ còn chờ dịp được đời biết đến để ra hành đạo hay trổ tài Đó lànhững sản phẩm có sẵn Không có câu chuyện nào kể về những danh nhân màthuở nhỏ là người tỏ ra kém cỏi, ngu dốt, tầm thường Câu chuyện tiếp theo vềhành tích của nhân vật lịch sử chỉ là cơ hội thể hiện phẩm chất được phú bẩm đó.Tác động qua lại giữa tính cách và hoàn cảnh hoàn toàn vắng bóng trong cáctruyện ngắn trung đại Thông thường truyện về các danh nhân sau phần giớithiệu các phẩm chất tiên thiên, phi thường, tác giả chọn một vài sự kiện minhchứng cho khả năng ứng dụng tất yếu của tài năng, vai trò, ý nghĩa xã hội của sựnghiệp, sự nổi tiếng đáng được thờ phụng và ca ngợi của nhân vật đó Các sựkiện thường không nhất thiết phải gắn kết với nhau một cách logich đầu cuối,trước sau mà có giá trị độc lập đối với nhau Cuối truyện thường kể về cái chếtcủa nhân vật, kèm theo lời kết mang tính chất đánh giá, khẳng định hoặc thôngbáo về việc hậu thế ca ngợi, tôn thờ nhân vật ấy Trong các truyện ở giai đoạn màkinh nghiệm viết truyện chưa cao thì các sự kiện chưa thật sự hấp dẫn, chưa sinhđộng nhưng càng về sau, đến các thế kỷ XVIII, những sự kiện tình tiết đã mangtính hư cấu cao, phong phú và hấp dẫn Có thể so sánh: Truyện về Bố cái đại

vương Phùng Hưng chép trong Việt điện u linh dẫn ra các sự kiện thuần túy: anh

em vương đi chinh phục các ấp lân cận, đi đến đâu cũng dẹp yên, nhiều vùngqui phục Đô hộ An Nam thấy vậy đưa quân đánh dẹp cũng thất bại, chết.Phùng Hưng kéo quân vào phủ cai trị Chưa có tình tiết, chưa có ngôn ngữ nhânvật Đến thế kỷ XVIII, các sự kiện triển khai mở rộng sự hiện thực hóa tiềm năngcủa thiên tài đã phong phú hơn, tình tiết và đối thoại nhằm mục đích bộc lộphẩm chất nhân vật đã xuất hiện và làm cho câu chuyện trở nên hấp dẫn hơn

Chẳng hạn, cũng là loại truyện về người có sức khỏe phi thường, Công dư tiệp

ký dẫn ra hàng loạt chi tiết minh chứng: chuyện Như Hổ một mình phạt cỏ

ruộng, chuyện chàng một mình gặt lúa, chuyện đến chơi nhà người bạn ở ThanhHóa ăn hết năm sáu mâm thức ăn cùng ba nồi mười cơm, đến khi đi sứ TrungQuốc thì ấn tượng Lê Như Hổ gây ra cho người Trung Quốc vẫn là sự ăn khỏe.Như vậy, đã có ít nhất đến 4 sự kiện minh chứng cho sự phi thường của nhân vật

về ăn khỏe Nhưng cùng với sự ăn khỏe là trí tuệ khác thường của Như Hổ: khihọc, viết xong một tờ giấy, đọc xong đốt ngay; đi thi đỗ ngay Tiến sĩ, được phongLưỡng quốc Thượng thư Đi sứ Trung Quốc, biết ngay món đầu cá người, vượtqua nhiều thử thách của vua Trung Quốc, từ tiên cầu đảo đến việc dạy hoàng tửTrung Quốc Môtip ăn khỏe dường như được các nhà văn xưa rất hứng thú nên

Trang 12

vẫn trong Công dư tiệp ký, tác giả lại kể chuyện Lương Hữu Khánh ăn khỏe, làm

khỏe và thông minh; chuyện trạng nguyên Lê Nại ăn khỏe Nhưng chuyện ănkhỏe được kể đến ở đây không phải nhằm mục đích ca ngợi lạc thú ăn uốngphàm tục mà chỉ để nhấn mạnh sự khác thường, phi thường của nhân vật

Khác Nho giáo, Phật giáo đề cao quá trình tu tâm và thần bí hóa kết quả của quátrình tu luyện ấy Người tu luyện không chỉ có đạo đức cao đẹp Các thiền sưnhờ công phu tu tập mà có những khả năng phi thường có thể hữu ích cho nhân

dân Nhiều truyện về thiền sư trong Thiền uyển tập anh và Tam tổ thực lục thường

nhấn mạnh vào phép lạ kỳ dị, phi thường của thiền sư, nhất là những vị tu theo

phái Mật tông Thiền sư Ma Ha từng chuyên tụng niệm kinh Đại bi tâm chú, có

khả năng niệm chú chữa những bệnh hiểm nghèo như bệnh hủi cho nhân dân, cóthể thoát ra ngoài sự giam giữ cẩn mật của nhà vua Thiền sư Đạo Hạnh cũng

chuyên tụng Đại bi tâm Đà la ni nên có pháp thuật cao cường, vứt gậy xuống

dòng nước chảy xiết mà gậy trôi ngược dòng, “có thể khiến rắn rết, muông thúđến chầu phục, đốt ngón tay cầu mưa, phun nước phép chữa bệnh, không việc gìkhông ứng nghiệm” Điển hình nhất của pháp thuật là khả năng thác sinh của TừĐạo Hạnh để trở thành vua Lý Thần Tông Thiền sư Đạo Huệ chuyên sâu phépTam quán Tam ma địa, khi đọc kinh cảm hóa cả khỉ vượn trong núi, kéo nhauhàng đàn đến nghe kinh Khi hoàng phi của Lý Anh Tông bị ốm, sư vào cungxem bệnh, vừa đến cửa phòng thì bệnh của phi khỏi Huyền Quang thiền sư nổitiếng không chỉ vì đạo đức và trí tuệ mà còn là người có tầm vóc vũ trụ Khi ngài

về kinh đô, đến chùa Báo Ân giảng kinh Thủ Lăng, chiều quay về tăng phòng

“chợt thấy một đôi chim thước trắng không biết từ đâu bay đến đậu ở cành câygiữa sân, rồi lại bay liệng vừa hót, dường như có ý chúc mừng” Sư còn có khảnăng phù phép, cảm thông được trời đất, có thể hô gió gọi mây “bỗng một đámmây đen hiện ra ở phương nam, gió thổi cát bụi tung bay mờ mịt bầu trời, mộtlát thì tan hết” Có thể nói những chi tiết trên khiến cho các truyện về danh nhânmang một dáng vẻ huyền bí, cao xa nhưng cũng đầy hấp dẫn, nhất là nhìn từ góc

độ quan niệm về các bậc thánh nhân, thần phật của người xưa Cũng cần nhậnxét thêm là cái kỳ ảo cấp cho khả năng hư cấu tưởng tượng một không gian khárộng rãi, tức là có vai trò kích thích sự sáng tạo của tác giả Có thể lấy ví dụ bằng

cách so sánh cùng một tình tiết đã được chép khác nhau Thiền uyển tập anh kể

chuyện đua tài của thiền sư Giác Hải và đạo sĩ Thông Huyền Có hai con tắc kèkêu inh ỏi trên điện và vua Lý Nhân Tông yêu cầu hai người bắt chúng phải imlặng Thông Huyền niệm chú buộc một con rơi xuống, Giác Hải nhìn chằm chằmvào con thứ hai khiến nó cũng rơi xuống Chuyện này được kể khác đi

trong Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng Hai người (danh tăng Giác Hải

và đạo sĩ Thông Huyền) trổ tài yểm trừ yêu quái trên tường cung điện: Giác Hảilấy mấy hạt châu gõ vào nóc nhà, tiếng kêu khóc liền im bặt Thông Huyền dùnglệnh bài đập vào cột, bỗng thấy một bàn tay to tướng lộ ra trên tường nhà, cầm

Trang 13

một con rắn mối vứt xuống đất, yêu quái bèn hết Điều này cho thấy, các sự kiện

ly kỳ được chép không phải với tinh thần “thực lục” mà mang tính chất tưởngtượng, hư cấu Vẫn là sự kiện dùng pháp thuật để trấn yểm con tắc kè (rắn mối)nhưng cách kể của hai tác giả khác nhau Hồ Nguyên Trừng cho xuất hiện thêmmột bàn tay vứt con rắn mối xuống đất làm cho không khí thêm thần bí Thậtkhó kết luận cách kể nào gần với sự thật hơn vì đơn giản là cả hai đều là sảnphẩm hư cấu, cũng có thể là ghi chép lại lời kể lưu truyền trong dân gian Haitruyện đều kết thúc bằng bài tán của nhà vua ứng khẩu đọc ngay lúc đó Bài thơ

có thể có thật, ra đời trong một hoàn cảnh nào đó chưa rõ, còn các tình tiết kia là

hư cấu Nếu chứng minh được chắc chắn Nam ông mộng lục ra đời sau Thiền uyển

tập anh thì thấy rõ là tác giả có ý thức đổi mới cách kể cho chuyện hấp dẫn hơn.

Nói cách khác, cái kỳ ảo ở đây là thủ pháp nghệ thuật nhiều hơn là thế giới quan.Trong mô hình nhân cách lý tưởng của phương Đông truyền thống, bậc thần,thánh, phật, tiên, chính nhân quân tử là bậc phi phàm, thoát tục Đó là những bậcsiêu thoát khỏi các cám dỗ vật chất tầm thường Ăn uống , sinh hoạt không đượccác bậc thánh nhân đề cao mà trái lại, thái độ đối với chuyện ăn uống sinh hoạtđược coi là thước đo của nhân cách cao quí Nguyễn Trãi “cơm ăn chẳng quảndưa muối, áo mão nài chi gấm là”, đề cao các giá trị tinh thần, đạo lý hơn là cácgiá trị vật chất của đời thường phàm nhân Nhiều truyện viết về các thánh nhân,

quân tử thể hiện phẩm chất chung đó Nam Ông mộng lục có “Truyện Nghệ

vương” kể vương (tức Trần Nghệ Tông) khi còn làm vương tử, để tang cha “mắtkhông lúc nào ráo lệ” Đoạn tang, “quần áo không sắm các thứ tơ lụa màu mè; ănkhông cần ngon; quả muỗm, cá hồng là những thứ ăn quí ở phương Nam từ đấytuyệt nhiên không tới miệng” Thế giới của họ là vùng đất “tịnh thổ”, nơi cáccám dỗ vật chất, dục vọng nhất là sắc dục của thế giới phàm tục bị truy đuổi gắt

gao Trần Thái Tông tuyên ngôn trong Khóa hư lục rằng thân xác là nguồn gốc của

nỗi khổ Tức là để giải thoát khỏi nỗi khổ, cần phải vượt thoát khỏi các cám dỗ

thân xác, bản năng, phải khinh miệt bản năng Mẫu người lý tưởng là người cóthể chế ngự, khắc phục bản năng Nếu như có môtip sắc dục trong truyện cácdanh nhân thì vai trò của nó chỉ là để tô đậm thêm những phẩm chất phi thườngcủa nhân vật đó Xuất hiện trong trường hợp này, môtip sắc dục đóng vai trò củanhân tố thử thách nhân cách thánh thiện của bậc thánh nhân Như vậy, khôngchỉ có yếu tố kỳ ảo mà cả yếu tố trần thế, hiện thực đã tham gia vào cốt truyện

kể về các danh nhân Truyện kể về Huyền Quang kiên trì đức tu cũng như sự

thất bại của nàng Điểm Bích muốn đem sắc đẹp cám dỗ trong Tam tổ thực lục là

một ví dụ điển hình cho đặc điểm này Nhưng môtip thử thách của sắc dục loạinày thường đặt nhân vật đứng trên một vị trí rất chêng vênh, dễ bị nghi ngờ.Dường như nghi ngờ bản lĩnh diệt dục của Trúc lâm đệ tam tổ Huyền Quang

nên đến thế kỷ XVIII, tác giả Sơn cư tạp thuật đã đặt lại vấn đề và kể lại câu

chuyện rằng Huyền Quang không kìm nén được lửa dục đã “thông dâm” với

Trang 14

Điểm Bích, kết cục là phải thừa nhận sự thật Hiện tượng “đọc lại” truyền thuyết

Huyền Quang – Điểm Bích như trong Sơn cư tạp thuật cho thấy tầm quan trọng

và sự “nhạy cảm” của môtip diệt dục đối với truyện danh nhân nói chung thờitrung đại Nếu sự việc kiên trì lòng đạo không có thật hoặc đặt dưới sự hoàinghi thì toàn bộ nhân cách cao thượng sụp đổ hoàn toàn Do đó, ta thấy khôngphổ biến môtip này trong loại truyện danh nhân Thay vì kể các chuyện kiên trìcủa lòng tu đạo trước cám dỗ thân xác tương tự, các tác giả trung đại thường nétránh việc đề cập đến đời sống tình dục của nhân vật lịch sử

Đối với người phương Đông nói chung, người Việt Nam nói riêng, cái chết làmột dịp hết sức quan trọng để đánh giá sự nghiệp của người đã khuất Việc làmđám tang, từ cỗ áo quan đến đám tang, phần mộ, việc thờ tự hương hỏa sau khimất, việc được triều đình ban sắc phong do đó được các tác giả quan sát khá kỹ

và hầu như cái chết của các nhân vật lý tưởng, các danh nhân đều được soi rọidưới ánh sáng quan niệm này Nhiều truyện ngắn viết về các danh nhân đều đềcập tới cái chết của họ Môtip hiển linh, linh ứng, phong thần, được tế tự khóihương… được những truyện vào loại đầu tiên của truyện ngắn trung đại sửdụng để đưa ra sự đánh giá tích cực về công đức người đã mất và hiện tượngnày kéo dài cho hết thời trung đại Đây là phần có nhiều chi tiết kỳ ảo, thần dịhơn cả trong toàn bộ kết cấu của nhóm truyện này Truyện Bố Cái đại vương

(Việt điện u linh) viết: “Khi Hưng mới chết đã hiển linh, thường hiện hình trong

đám dân quê Nghìn xe vạn ngựa bay trên khoảng ngọn cây nóc nhà Mọi ngườingẩng lên thì thấy rực rỡ như mây kết năm màu, văng vẳng tiếng đàn tiếng sáo ởtrên trời, lại có tiếng hò hét, kiệu cáng sáng rực, tất cả đều nhìn thấy được rànhrành”, nhân dân lập miếu thờ cúng, không điều gì không ứng nghiệm NgôQuyền đã xuống chiếu lập đền thờ to hơn cũ và đến đời Trần thì bắt đầu ban sắcphong Khuôn mẫu liệt kê nếu đầy đủ là: hiển linh, ứng nghiệm, được thờ tự vàđược triều đình các đời sắc phong Nhưng cũng có nhiều trường hợp chỉ liệt kêmột trong các khuôn mẫu đó, nhưng không thể thiếu việc thờ tự (hoặc một biếnthể của thờ tự là sự ngưỡng mộ của hậu thế đối với nhân cách đạo đức và tàinăng người đã mất) như là dấu hiệu trân trọng nhất đối với nhân vật lịch sử Một

số truyện có thể có thêm sự liệt kê thơ, câu đối, thơ viếng của hậu thế ca ngợinhân vật đó

Đối với các thiền sư, môtip đọc một bài kệ trước khi vị thiền sư đi vào cõi tịchdiệt là một môtip phổ biến Kệ là một dạng triết lý của thiền sư thường đề cậpđến đề tài sinh tử, lẽ sắc không được thực hiện dưới dạng bài thơ vào thời điểmnhà sư sắp từ giã cõi trần Dạng thức thơ ca nhằm mục tiêu truyền bá sâu rộngtriết lý mà chỉ có trả giá bằng cả một đời tu hành thiền sư mới thể ngộ được Do

đó, bài kệ không chỉ thể hiện dũng khí vô úy của nhà tu hành mà còn khẳng địnhtính chân lý sâu sắc của lời kệ Nói cách khác, nếu nhân vật lý tưởng của nho giatiếp tục được thờ phụng hương hỏa thì nhân vật thiền sư tiếp tục sống trong cõi

Trang 15

mai hậu thông qua việc các đệ tử tiếp tục tu trì, chứng nghiệm lời kệ mà vị thiền

sư đã đọc phút lâm chung Đó là lý do giải thích tại sao các lời kệ thường là lời

dạy đệ tử (Thị đệ tử) Lý tưởng tu tâm được đệ tử tiếp tục không dứt cũng có

nghĩa là việc hương khói không bao giờ ngừng trên bàn thờ

Trong kết cấu ba phần của một truyện danh nhân mà ta đã sơ bộ khảo sát trênđây, phần sự kiện, tình tiết là quan trọng nhất Không ít trường hợp, phần giớithiệu chung (exposition) và epilogue (lời kết) ẩn kín sau các sự kiện và tình tiết,nhưng nếu thiếu sự kiện và tình tiết thì không thể có truyện Có thể lấy lời bình

luận nhân vật trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo trong Lan Trì kiến văn lục của Vũ

Trinh để hiểu hiện tượng tỉnh lược hai phần đầu và cuối (hoặc một trong haiphần này) là hai phần vốn không thể thiếu trong một truyện điển hình Trongtruyện kể về Nguyễn Đăng Đạo, tác giả đi ngay vào một sự kiện nổi bật nhất cókhả năng làm rõ nét phi thường của nhân vật này Và đây cũng là một nét phithường khá bất ngờ đối với cách đọc thông thường: Chàng thư sinh NguyễnĐăng Đạo dám trèo tường chui vào ngủ chung với con gái quan tể tướng, đặt côgái và quan tể tướng vào tình thế phải lựa chọn mình, nhưng đồng thời cũngdám đương đầu với cái chết nếu không được tể tướng chấp nhận Quả nhiên

quan tể tướng nổi giận sai trói chàng lại Có vị đồng liêu bàn: “Có chuyện khác

thường ắt có tài khác thường, có thể hắn sẽ có hoài bão lớn Bây giờ cứ thử ngay

trước mặt, nếu quả nó tài thì nên tác thành (gả con gái), nếu không thì cứ theoluật trừng trị, việc gì phải nổi giận” Nhờ đó mà chàng trai Nguyễn Đăng Đạo có

cơ hội trổ tài Thế là chàng được quan cấp tiền ăn học, được gả con gái, và đi thi

đỗ Trạng Nguyên, một quang vinh tột bậc theo quan niệm người xưa Như vậy,câu chuyện được kể từ cách thể hiện, cách minh chứng phẩm chất khác thườngchứ không cần lời giới thiệu dẫn dắt trước Lời bàn của Lan Trì ngư giả chotruyện này như sau: “Trèo tường khoét ngạch, đó là việc xấu xa, kẻ sĩ không làm.Thế mà bậc danh sĩ lại làm việc đó Có người nói: “có tài như ông, thì có thể làmnhững việc như ông!” Tôi cho rằng: “Sao bằng có tài như ông, mà không chơibời du đãng như vậy Tài năng và đức hạnh làm sao có thể che lấp lẫn nhau?Dẫu sao, đó cũng là hào khí phi thường vậy” Các hành vi lạ lùng như trênkhông thần thánh hóa nhân vật lịch sử mà trái lại có vai trò làm cho họ gần gũivới cuộc sống, tính chất logich của các sự kiện bắt đầu xuất hiện, gắn liền vớitính cách nhân vật nhờ có các hành vi đó Mặt khác, quan niệm mới trong việcchọn sự kiện bộc lộ sự phi thường của nhân vật lịch sử của tác giả đã tỏ ra thànhcông, tạo nên sự tranh luận nho nhỏ của người đọc đương thời Xu hướng nàyđược gia tăng trong truyện ngắn thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX, tạo nên nhữngnhân vật phàm trần Điều này ta sẽ nhắc lại trong phần viết sau

Nhìn chung, các môtip liên quan đến sự kỳ vĩ, phi thường của nhân vật lịch sửrất đa dạng nhưng tựu trung thuộc về những môtip thần bí và những môtiphiện thực Những môtip thần bí thường không khắc họa tính cách nhưng có thể

Trang 16

hấp dẫn vì ly kì, phù hợp với quan niệm tâm linh về nhân tài thời trung đại.Những môtip hiện thực tuy cũng ly kỳ nhưng có thể góp phần khắc họa tínhcách nhân vật và tạo nên sự tranh luận ở người đọc1

II 1.2 KHÔNG GIAN VÀ THỜI GIAN NGHỆ THUẬT CỦA TRUYỆN DANHNHÂN

Những danh nhân, nhân vật lịch sử là những con người của trời đất, của thiên

hạ Do đó các dạng thức không gian của loại truyện này thường là loại khônggian vĩ mô, mang tầm vóc vũ trụ Nhân vật hoạt động trên phạm vi vùng (đánhdẹp các cuộc nổi loạn ở các vùng), phạm vi không gian quốc gia (trấn thủ trịnhậm một vùng nào đó, đảm nhận công việc triều chính liên quan đến quốc kếdân sinh), không gian liên quốc gia (đi sứ Trung Quốc) Rất hiếm bắt gặp loạikhông gian vi mô kiểu như mảnh vườn, con đường, bến đò, mái nhà vốn gắnliền với cuộc sống riêng tư nhiều hơn là hoạt động chính trị xã hội Nói chung cáinhìn không gian trong truyện loại này mang đậm nét quan niệm của nho gia về

“thiên hạ”, về “tam tài”: “thiên – địa- nhân”

Thiên hạ (không gian dưới trời) là khái niệm đặc thù thời xưa chỉ không gian xãhội dưới sự trị vì của thiên tử (con trời) là kẻ nhận được thiên mệnh Các hoạtđộng của nhân vật lịch sử, nói theo ngôn từ của tuồng, đều vì “quân quốc”- nướckhông tách rời vua Các triều đại vừa là không gian vừa là thời gian tồn tại củanhân vật lịch sử thường được viện dẫn để xác định tọa độ của sự tồn tại nhânvật Trung với vua, dẹp yên loạn, trị nhậm thanh liêm, sáng suốt, được vua khenthưởng, được phong vương tước, phong thần, được lập đền thờ, được xây mộsau khi mất, đó là những dạng thức hoạt động trong không gian thiên hạ Dựkhoa thi do triều đình mở rồi ra làm quan (không gian trường thi), công việctrong không gian quan phương (triều đình, phủ đường), từ không gian ẩn dật, tuhành trên núi xuống đồng bằng, về triều nội (đến như các thiền sư cũng khôngthể từ chối lời mời của các triều đại ra làm quốc sư hay xuống núi chữa bệnh chohoàng tộc), đó cũng là những dạng thức không gian hoạt động của nhân vật lịch

sử Không phải ngẫu nhiên mà hầu như tất cả các truyện danh nhân đều đượcxác định niên đại cụ thể Chẳng hạn như chuyện xẩy ra vào đời vua nào, triều

đại nào, niên hiệu nào, năm nào là điều quan tâm của tác giả Việt điện u

linh và Lĩnh Nam chích quái Tô Lịch được Lý Thái Tổ phong thành hoàng Thăng

Long, đời Trần, năm Trùng Hưng thứ nhất sắc phong thêm hai chữ “bảo quốc”,năm Trùng Hưng thứ tư thêm hai chữ “hiển linh”, năm Hưng Long thứ hai mốt

lại gia phong hai chữ “Định Bang” (Việt điện u linh) Đổng Thiên Vương có từ đời Hùng Vương, sau đến đời Lý Thái Tổ được phong Xung thiên thần vương Phần

lớn các truyện kể danh nhân lịch sử ở các giai đoạn sau đều theo khuôn mẫu này

Nhiều nhà nghiên cứu cắt nghĩa đây là biện pháp lịch sử hóa thần thoại và truyền

thuyết, là áp lực của bút pháp chép sử biên niên đối với tiểu thuyết và truyệnngắn trung đại Những sáng tác trong giai đoạn đầu của lịch sử văn xuôi chữ

Trang 17

Hán chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của văn chép sử Lý Tế Xuyên đã lấy 9 truyện

từ Sử ký của Đỗ Thiện (vốn được viết theo lối kỷ truyện của Tư Mã Thiên) để viết các nhân vật của Việt điện u linh(13) Những nhận định về nguồn gốc sử học củatruyện kể trung đại là có căn cứ

Nhưng nhìn từ góc độ không gian chính trị – xã hội thì đây là yếu tố không thểthiếu của bất cứ một hoạt động xã hội nào Người xưa không thể hình dung một

sự kiện liên quan đến những đấng bậc, những danh nhân lại nằm ngoài khônggian thiên hạ, tức là nằm ngoài không gian của một triều đại nào đó Phần lớncác truyện ngắn trung đại đều chỉ rõ quê quán nhân vật hay địa điểm diễn ra sựkiện liên quan đến nhân vật bằng cách xác định địa danh hành chính chính xác(làng, xã, huyện, tỉnh tùy theo sự biến thiên của các đơn vị hành chính mỗi thời)thay vì nói đến không gian theo nguyên tắc topo học (địa lý học) Dễ hiểu là cácbiện pháp đó nhằm tạo ra cảm tưởng đây là những chuyện có thật, tác giả làngười biết tất cả và kể lại “trung thực” tất cả vì nhân vật, địa điểm và thời gianxẩy ra sự kiện đều có thể kiểm chứng Đây cũng là những dấu ấn ảnh hưởng củalối văn chép sử

Quan hệ chính trị – văn hóa Trung – Việt cũng để lại dấu ấn trong không giannghệ thuật của truyện ngắn trung đại Do thực tế lịch sử quan hệ Trung – Việt

mà hầu như không đời nào quan hệ hai quốc gia lại gián đoạn Vì thế mà khônggian hoạt động từ phạm vi “thiên hạ” của Đại Việt được mở rộng ra cả đất nướcTrung Hoa Hành động chiến tranh, nhất là các cuộc đi sứ làm phong phú thêmcác sự kiện cuộc đời một nhân vật lịch sử Các tác giả kể về chuyện đối đáp khi

đi sứ, thậm chí không ngại ngần hư cấu sự kiện người Việt đỗ Trạng nguyên ởTrung Quốc Chi tiết hơn, có thể nhắc đến các câu đối, các bài thơ được sáng táctrong không gian đi sứ Truyện Trịnh Thiết Tường (thế kỷ XV) đi sứ Trung Quốc

là một truyện tiêu biểu Ông này đỗ Bảng nhãn đời Lê Nhân Tông, cùng Trạngnguyên Nguyễn Trực đi sứ Trung Quốc, nhằm đúng vào lúc ở thiên triều đang

có thi Hội Vua Minh sai bồi thần các nước cùng vào thi với các cử nhân TrungQuốc Trịnh Thiết Tường nhường Nguyễn Trực vì ở trong nước Nguyễn Trực đỗ

cao hơn ông Do đó, ông viết chữ Mã thiếu một chấm (chữ mã phải có bốn chấm).

Các khảo quan cho rằng ông coi khinh ngựa của thiên triều (chỉ có ba chân) nêngiáng một bậc Khoa này, Nguyễn Trực được lấy đỗ Trạng nguyên còn ông lạiđược phong Bảng nhãn Một người trở thành Lưỡng quốc Trạng nguyên, mộtngười thành Lưỡng quốc Bảng nhãn Tiếp theo chuyện thi cử là các thử tháchkhác làm vẻ vang trí tuệ Việt Nam Kết thúc, tác giả viết: “Danh tiếng hai ôngđồn khắp Bắc quốc, làm rõ rệt nước ta là một nước văn hiến” Kỳ thực, không cóchuyện đỗ Trạng nguyên hay Bảng nhãn (thủ khoa và á nguyên kỳ thi Hội) ởTrung Quốc, nhưng logich của quan hệ văn hóa – chính trị Trung – Việt qui địnhtruyện kể kiểu đó Không ai đặt vấn đề xác minh tính chất xác thực của câuchuyện, người ta tin rằng không gian văn hiến Đại Việt cũng sinh ra nhân tài hệt

Trang 18

như Trung Hoa Quan niệm truyền thống về nhân kiệt địa linh đã mở rộngkhông gian hoạt động của nhân vật lịch sử trong nhiều truyện ngắn trung đại.Ngoài không gian “thiên hạ”, như đã nói, trong truyện danh nhân còn tồn tạidạng không gian tam tài (thiên-địa-nhân), trong đó, theo quan niệm truyềnthống, các đấng bậc là kết tinh tú khí của vũ trụ, đứng ở vị trí liên thông với trờiđất, nối trời với người Rất nhiều tác phẩm bàn luận về mạch đất, thế đất, hình

thế núi sông theo tinh thần của loại sách Dư địa chí Phạm Đình Hổ trong Vũ

trung tùy bút, mục Xét địa mạch và nhân vật đã nhìn không gian theo quan điểm

này Sau khi trình bày thế đất Việt Nam và Trung Quốc, ông viết: “Địa thế nước

ta, toàn thể cũng giống nước Trung Quốc, chỉ có nhỏ hơn thôi”, các nhân vật

“đều là tinh anh của non sông đúc lại” Nhìn tổng quát, niềm tự hào về mạchđất nước Việt chi phối cách cảm nhận thế so sánh Trung – Việt Người Việt có thể

tổ chức nơi ở như thế nào đấy để tích hợp được những khí tốt đẹp của trời đất.Trâu Canh được một thầy địa lý Trung Quốc chỉ cho một thế đất đẹp bên cạnh

một hòn đá hình cóc tía, nếu làm nhà ở thì sẽ phát giàu sang (Công dư tiệp ký).

Kiểu truyện như thế phải chăng đã ám ảnh, thúc đẩy nhiều người đi tìm đất đặt

mồ mả, chọn hướng nhà cho mãi đến nay?

Mặt khác, việc liên thông với thế giới Trời Đất được thực hiện bằng nhữngphương cách xác định Như trên đây đã nói đến motip phong thủy trong nhiềutruyện danh nhân, liên quan đến thuật phong thủy là cái không gian tạm gọi lànghĩa địa, mồ mả tức là thế giới của người chết Đây là thế giới rất phổ biến,dường như tồn tại bên cạnh thế giới người sống, có tác động rõ rệt đối với cuộcsống của người đang sống Không gian mồ mả này hoàn toàn không gợi nên cảm

giác ma quái trong loại truyện thần ma như ở Truyền kỳ mạn lục mà trái lại, gây

ấn tượng thân thiện vì đem lại phúc lộc cho người sống Rất có thể đây là biếnthể của tín ngưỡng thờ tổ tiên cổ xưa kết hợp với quan niệm tam tài của triết họcTrung Quốc cổ Nhưng sự có mặt phổ biến của nhân vật thầy địa lý Trung Quốctrong các truyện kiểu này chứng tỏ ảnh hưởng hiển nhiên của văn hóa TrungQuốc đến văn hóa Việt (cũng có trường hợp ngoại lệ, tất nhiên rất hãn hữu, nhà

sư từ xứ Ai Lao tới, chứ không phải thầy Tàu, đã chỉ một huyệt đế vương cho Lê

Lợi để ông táng mộ cha, nhờ đó mà Lê Lợi đã thành công (Lam Sơn thực lục) Sau

khi táng mộ xong thì nhà sư biến lên trời – vậy tức là nhà sư cũng không phải làngười một nước nào, xứ nào mà là bậc thiên sứ báo trước sự hợp hiến, hợp phápcủa đế quyền Lê Lợi sau này

Về thời gian, có thể thấy loại truyện danh nhân chỉ kể về những nhân vật lịch sử

có thực của quá khứ Dễ hiểu là người kể đã biết về cả cuộc sống và thân thếngười đó sau khi chết Hình thức thời gian phổ biến đã qui định kết cấu của hầuhết các truyện là thời gian tuyến tính, diễn ra theo diễn biến của sinh mệnh đời

người: mô hình sinh, lão, bệnh, tử đối với truyện thiền sư, mô hình hành trạng và

chết đối với các nhân vật lịch sử theo quan niệm nho giáo Thời gian cá nhân rất

Ngày đăng: 05/01/2021, 13:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w