1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

PP day hoc phan mon tap lam van

7 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 89,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Với chức năng cao, hiểu bíêt toàn diện, trang bị thêm những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn người viết và rèn luyện năng lực xúc cảm thẩm mĩ trước những vẻ đẹp của cuộc sống, tập làm văn

Trang 1

Dạy học phõn mụn Tập Làm Văn

A Đặt vấn đề

Tập làm văn là phân môn quan trọng trong chương trình Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp Với chức năng cao, hiểu bíêt toàn diện, trang bị thêm những phẩm chất tốt đẹp trong tâm hồn người viết và rèn luyện năng lực xúc cảm thẩm

mĩ trước những vẻ đẹp của cuộc sống, tập làm văn đã góp phần bồi dưỡng nhân cách và tư duy sáng tạo cho học sinh Chính vì vậy, thực hành tốt phân môn tập làm văn là mục đích cao của người dạy lẫn người học sau phần văn bản và tiếng Việt

Đối với học sinh lớp 7, các em đã có kiến thức về văn tự sự và miêu tả ở lớp trước Để tận dụng các yếu tố này, đồng thời giúp các em mở rộng phạm vi thể loại, tiếp tục hình thành các kĩ năng mới, môn Ngữ văn 7 giới thiệu dạng bài văn biểu cảm Khác với biểu cảm trong thực tế là biểu hiện những trạng thái tâm lí vui buồn, biểu cảm văn học đòi hỏi mượn các phương tiện ngôn ngữ, hình ảnh

để diễn đạt tư tưởng, tình cảm Bởi thế, kết quả của những bài văn đúng và hay chỉ có thể được tạo thành từ quá trình nắm vững lí thuyết cơ bản đến thực hành nói và viết

Xuất phát từ yêu cầu của phân môn và đặc điểm thể loại, sau một thời gian trực tiếp giảng dạy, tôi xin đóng góp một vài kinh nghiệm của bản thân đẻ nâng cao hiệu quả học tập cho học sinh về văn biểu cảm

B Phần nội dung

(Các biện pháp ứng dụng để giải quyết vấn đề.)

I Về lí thuyết

Qua các bài học trong sách giáo khoa, giáo viên cần giúp học sinh nắm vững những kiến thức sau:

1 Đặc diẻm của văn biểu cảm

Trang 2

Biểu cảm - như tên gọi của nó - phần nào đã thể hiện đặc trưng là bộc lộ suy nghĩ, cảm xúc, đánh giá của con người về thế giới xung quanh (Bao gồm con người, sự vật, những kỉ niệm, hồi ức ) Do vậy, khi làm văn biểu cảm phải trình bày được cảm xúc mà người viết thấy ở trong lòng, những ấn tượng thầm kín, những thái độ yêu, ghét, mến, thân đối với cuộc đời Làm sao để người đọc cảm nhận được và có sự đồng cảm với người viết Đặc điểm này quy định tình cảm trong văn biểu cảm phải loại trừ những sắc thái tầm thường, nhỏ nhen, ích kỉ và dung nạp những phẩm chất cao thượng, nhân ái, vị tha Cho nên muốn viết tốt văn biểu cảm, học sinh phải tu dưỡng đạo đức cho trong sáng, cao đẹp Đặt sau thể loại tự sự và miêu tả, văn biểu cảm sử dụng những yếu tố này nhằm gợi ra đối tượng và gửi gắm cảm xúc chứ không nhằm kể hay tả hoàn chỉnh sự việc, phong cảnh Vì thế người viết cần phân biệt được và chỉ chọn những chi tiết, thuộc tính nào đó có khả năng gợi cảm để biểu hiện tư tưởng, tình cảm mà thôi

Đối tượng của văn biểu cảm rất rộng: từ người thân trong gia đình đến bạn

bè, thầy cô; từ đồ vật, phong cảnh làng quê đến quê hương, Tổ quốc; từ các giá trị đạo đức đến văn học nghệ thuật Chung quy lại, có thể khái quát thành hai nhóm: biểu cảm về sự vật, con người và biểu cảm về tác phẩm văn học Với từng nhóm đối tượng, học sinh phải có cách làm cho phù hợp, dù cùng nằm trong một phương thức là bộc lộ cảm xúc

2 Cách làm bài văn biểu cảm

Thao tác mà bất kì một bài văn nào cũng phải trải qua là: tìm hiểu đề, tìm

ý, viết bài và sửa chữa Trong văn biểu cảm, khâu tìm hiểu đề giúp học sinh xác

định rõ đối tượng làm bài để có dàn ý tương ứng Khâu tìm ý có tác dụng hệ thống các ý cơ bản cho phần thân bài Và lập dàn ý nhằm cụ thể hoá những ý vừa tìm đó, việc lập dàn ý sẽ khắc phục tình trạng bố cục bài làm không đầy đủ

Trang 3

Dựa trên đặc điểm đối tượng, có thể triển khai dàn ý bài văn biểu cảm theo bảng sau:

Biểu cảm về sự vật,

con người

Đối tượng/

bố cục

Biểu cảm về tác phẩm văn học

- Giới thiệu sự vật(

con người)

- Tình cảm của học

sinh với sự vật( con

người) đó

Mở bài

- Giới thiệu tác phẩm

và hoàn cảnh tiếp xúc với tác phẩm của học sinh

- ấn tượng của học sinh

về tác phẩm

- Trình bày cảm xúc

về hình dáng bên

ngoài của đối tượng

thông qua yếu tố

miêu tả.( Quan sát)

- Cảm nghĩ về phẩm

chất( nếu là con

người) hay công

dụng(nếu là sự vật)

của đối tượng thông

qua yếu tố tự sự.( Hồi

ức, kỉ niệm )

- Khái quát chung

Thân bài

- Nêu ấn tượng tổng thể

về tác phẩm, về nhân vật chính hoặc phong cảnh, tình huống để nói lên cảm xúc, suy nghĩ

- Kể lại sự việc hoặc miêu tả cảnh tượng trong tác phẩm thông qua khai thác các yếu

tố ngôn từ và nghệ thuật được sử dụng để làm cơ sở phát biểu cảm nghĩ

- Khái quát chung

- Khẳng định tình

cảm với đối tượng Kết bài

- Tình cảm, ấn tượng với tác phẩm

Trang 4

- Liên hệ bản thân - Liên hệ bản thân

Để dạy tốt phần lý thuyết này, giáo viên cần sáng tạo cách vào bài hấp dẫn và có sự nối kết Tận dụng tối đa ngữ liệu SGK mà phân tích, dẫn dắt đến kiến thức trọng tâm nhưng lưu ý không nên mất quá nhiều thời gian Phải tập chung cho học sinh luyện tập nhiều Và từ tiết học Tập làm văn tuần trước dẫn

đến tuần sau, giáo viên không được bỏ qua việc kiểm tra bài cũ, vừa để học sinh nhớ lý thuyết, vừa giúp cho các em tiếp thu kiến thức có hệ thống

II Về thực hành

Thực hành là công đoạn quan trọng nhất đánh giá kết quả hiểu bài của học sinh Có nhiều hình thức thực hành: nói và viết, trên lớp và ở nhà Song có thể

áp dụng kết hợp dưới hai bình diện theo trình tự sau:

1 Viết bài

* Về phía học sinh: quá trình viết bài được bắt đầu trên lớp, tuy thời gian

ngắn nhưng rất cần thiết để rèn kĩ năng cơ bản Do đó, học sinh cần cố gắng ngay từ những nét bút đầu tiên Bài viết ở nhà sẽ phục vụ cho yêu cầu định kì khi giáo viên ra đề thêm hoặc dùng để chuẩn bị cho bài luyện nói Vậy một bài văn hay cần đảm bảo những yếu tố gì? Chính là phải đúng hướng, đủ bố cục, đặc biệt trong từng phần phải chú ý:

Thứ nhất: phần mở bài phải ngắn gọn, đầy đủ, độc đáo và tự nhiên Học sinh có thể dẫn dắt từ những vấn đề gần gũi, liên quan đến đối tượng Tránh dẫn dắt dài dòng, vòng vo, không giới thiệu được vấn đề

Thứ hai: trong phần thân bài cần sử dụng giọng văn truyền cảm nhưng phải linh hoạt trong cách hành văn Không nên viết một giọng đều đều từ đầu đến cuối tạo cảm giác đơn điệu Cách dùng từ phải phong phú, đúng nghĩa, tránh lặp

từ Câu văn viết vừa phải, có dấu ngắt câu Cách lập ý: hồi tưởng, suy nghĩ, mơ

ước, tưởng tượng cần vận dụng phù hợp với từng đoạn

Trang 5

Thứ ba: ở phần kết bài, học sinh chủ yếu nêu ý khái quát, nhấn mạnh lại cảm xúc vừa trình bày Học sinh có thể kết bài theo hướng liên hệ bản thân hay hướng mở chứ không được lặp phần thân bài hoặc mở bài

* Về phía giáo viên: để giúp học sinh rèn kĩ năng viết, ngay từ khâu ra đề,

giáo viên nên chọn những đối tượng cụ thể, quen thuộc, dễ bộc lộ cảm xúc với các em như: cảm nghĩ về người thân, con vật nuôi yêu thích, một đồ chơi, loài cây, bốn mùa Khi các em viết đúng phương pháp, giáo viên mới mở rộng phạm vi ra nhiều đối tượng khác Với tác phẩm văn học cũng vậy, giáo viên cần bắt đầu cho học sinh cảm nhận từ những bài trong sách giáo khoa, tập trung vào các bài khơi gợi những tình cảm gần gũi như yêu quê hương, đất nước (Côn Sơn

ca, Thiên Ttrường vãn vọng, Tĩnh dạ tứ ) yêu thiên nhiên (Cảnh khuya, Rằm tháng giêng, Mùa xuân của tôi )

Quá trình viết, ở trên lớp giáo viên chỉ nên cho học sinh viết trọn vẹn phần

mở bài và kết bài Riêng phần thân bài thì chia đoạn cho từng tổ khác nhau Sau

đó, học sinh đọc, nhận xét chéo và giáo viên chữa để xây dựng một dàn ý hoàn chỉnh Còn ở nhà, mỗi tuần giáo viên yêu cầu học sinh làm một đề về nhà, thu vào đầu tuần sau và chấm trả, sửa lỗi trong các giờ buổi chiều Như vậy, học sinh vừa được thực hành nhiều đề ngoài định hướng trong sánh giáo khoa và luyện kĩ năng viết thường xuyên Chỉ có viết mới là cánh rèn luyện tốt nhất Song song với quá trình viết, giáo viên cũng cần tổ chức xen kẽ các giờ luyện nói để học sinh phát triển toàn diện

2 Luyện nói:

Muốn nói tốt học sinh phải chuẩn bị dàn ý chi tiết ở nhà Nghĩa là không phải đề bài mới hoàn toàn Nhưng hình thức bài luyện nói đòi hỏi có thêm một

nghi thức "thưa - gửi"; không nhất thiết phải dùng câu dài; có thể nêu câu hỏi

rồi tự trả lời và cần sử dụng lợi thế của ánh mắt, cử chỉ, giọng nói để biểu hiện cảm xúc, tình cảm và lôi cuốn người nghe

Trang 6

Vì học sinh có thể thiếu mạnh dạn nên giáo viên cần tập cho các em tự tin trong một không khí thận mật Giáo viên nên chia tổ- nhóm cho các em phát biểu với nhau trước rồi mới nói trực tiếp Sau khi học sinh nhận xét chéo, giáo viên đánh giá và sửa lỗi thì nên động viên, khuyến khích, tạo sắc thái tươi vui cho các em Lỗi về nói là sửa câu cụt, sửa ngữ pháp, sửa nói nắp, nói ngọng hay

từ chưa đúng

Việc luyện nói chiếm thời lượng nhỏ trong phân phối chương trình nên giáo viên có thể sắp xếp thêm vào các giờ buổi chiều vừa để thay đổi không khí vừa rèn kĩ năng

Nói tóm lại, để dạy tốt văn biểu cảm, giáo viên cần vận dụng nhiều

phương pháp phù hợp với đặc điểm của bài lí thuyết hay thực hành Trong đó cần đặc biệt chú trọng việc rèn kĩ năng viết cho học sinh Sự định hướng đúng

đắn và kịp thời ở giáo viên sẽ giúp học sinh từ viết yếu đến viết đúng và hay

C Phần kết luận

Trong các yêu cầu phân môn, văn biểu cảm phục vụ tốt nhất cho nhiệm vụ hình thành ở học sinh năng lực xúc cảm thẩm mĩ Do vậy, cần thiết cả giáo viên đều

Trang 7

cố gắng giảng dạy và tiếp nhận để có kết quả cuối cùng là những bài viết hay, giàu cảm xúc

Thực tế, qua quá trình giảng dạy, tôi đã áp dụng cách thức trên và đem lại

hiệu quả Xin đóng góp như một vài kinh nghiệm thực tiễn để cùng xây dựng

phương pháp dạy văn biểu cảm cho học sinh lớp 7

Thọ Nghiệp, ngày 15 tháng 04 năm 2009

Người viết sáng kiến

Nguyễn Thị Bích Thuỷ

Đánh giá xếp loại của cơ quan đơn vị

Ngày đăng: 31/01/2021, 19:45

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w