Để cho học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn, ngoài việc có đủ trình độ,kiến thức thì mỗi giáo viên phải luôn biết tìm tòi, sáng tạo, thay đổi các hình thức tổchức dạy học.. Xuất p
Trang 1và trách nhiệm công dân chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên Trung học cơ sở".
Nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường nói chung và của bậcTiểu học nói riêng, hiện nay vấn đề cải cách giảng dạy không phải là mối quan tâmcủa một cá nhân nào, mà đó là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Chính sự đổi mớiphương pháp giáo dục bậc Tiểu học sẽ góp phần tạo con người mới một cách có hệthống và vững chắc
Để cho học sinh lớp 2 học tốt phân môn Tập làm văn, ngoài việc có đủ trình độ,kiến thức thì mỗi giáo viên phải luôn biết tìm tòi, sáng tạo, thay đổi các hình thức tổchức dạy học Giáo viên phải đưa được các hoạt động vui nhộn vào bài học để truyềntải các kiến thức đến gần học sinh hơn, giúp học sinh nắm bắt kiến thức về Tập làmvăn được tốt hơn
Xuất phát từ thực tế và yêu cầu cần thiết của xã hội hiện nay, là giáo viên Tiểuhọc, tôi luôn băn khoăn trăn trở, làm thế nào để các tiết dạy học Tập làm văn thật sự
có hiệu quả, làm thế nào để tìm lại sự yêu thích môn học cho học sinh, đáp ứng đượcmục của tiêu Giáo dục & Đào tạo, tạo ra con người mới, con người toàn diện phục vụcho bản thân, gia đình và xã hội
Với những lý do nêu trên, sau 1 năm nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn, tôi xin được
đề xuất: Một số kinh nghiệm dạy học phân môn Tập làm văn cho học sinh lớp 2 ở trường Tiểu học Nga Điền 2 huyện Nga Sơn.
1 2 Mục đích nghiên cứu:
Mục đích của đề tài:
Đề xuất một số biện pháp giúp học sinh học tốt phân môn tập làm văn lớp 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh khối 2 Trường Tiểu học Nga Điền II, huyện Nga Sơn
- Kĩ năng thực hành về nghi thức lời nói, kỹ năng diễn đạt trong Tập làm văn
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp quan sát sư phạm
- Phương pháp điều tra khảo sát
Trang 22 NỘI DUNG CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Phân môn Tập làm văn có tính chất thực hành, toàn diện, tổng hợp và sáng tạo,
sử dụng toàn bộ các kỹ năng được hình thành và phát triển do nhiều phân môn kháccủa môn Tiếng Việt đảm nhiệm (kỹ năng đọc, nghe nói, viết chữ, viết chính tả, dùng
từ đặt câu ) Tập làm văn còn đòi hỏi học sinh huy động vôn kiến thức nhiều mặt: từhiểu biết về cuộc sống đến tri thức về văn học, khoa học thường thức có liên quanđến đề bài
Bài Tập làm văn là sản phẩm tổng hợp của vốn sống, vốn văn học, năng lực tưduy, năng lực giao tiếp, sự thành thạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, sự sáng tạo của cánhân học sinh Qua bài Tập làm văn (kết quả học tập phân môn Tập làm văn) ta sẽthấy được trình độ sử dụng Tiếng Việt, những tri thức và hiểu biết về cuộc sống củahọc sinh
Đối với lớp 2, dạy Tập làm văn trước hết là rèn luyện cho học sinh các kĩ năngphục vụ học tập và giao tiếp hằng ngày cụ thể là: Nội dung chương trình sách giáokhoa sắp xếp các loại bài Tập làm văn được bố trí xen kẽ, trong từng phần, góp phần
tô đậm nội dung chủ điểm học tập của từng tuần:
* Dạy các nghi thức lời nói tối thiểu như: chào hỏi, tự giới thiệu, cảm ơn, xinlỗi, nhờ cậy, yêu cầu,tán thành, từ chối, chia vui, chia buồn, giúp học sinh biết sửdụng chúng trong một số tình huống giao tiếp ở gia đình, trong trường học và nơicông cộng,…
* Dạy một số kĩ năng phục vụ học tập và đời sống hằng ngày: khai bản tự thuậtngắn, viết thư ngắn để nhắn tin, chia vui hoặc chia buồn, nhận và gọi điện thoại, đọc
và lập danh sách học sinh, tra mục lục sách, đọc thời khóa biểu, đọc và lập thời gianbiểu,…
* Bước đầu dạy cách tổ chức đoạn văn, bài văn thông qua nhiệm vụ kể một sựviệc đơn giản hoặc tả sơ lược về người, vật xung quanh theo gợi ý bằng tranh, bằngcâu hỏi
Bên cạnh đó, do quan niệm tiếp thu văn bản cũng là một loại kỹ năng về vănbản cần được rèn luyện trong các tiết Tập làm văn từ giữa học kì II trở đi, nội dungchương trình sách giáo khoa tổ chức rèn luyện kĩ năng nghe cho học sinh thông quahình thức nghe kể chuyện – trả lời câu hỏi theo nội dung câu chuyện
Dựa vào các loại bài và yêu cầu cụ thể trong sách giáo khoa, giáo viên tổ chứccho học sinh làm miệng, làm viết theo nhóm, làm cá nhân trong vở nháp họăc vở bàitập Tiếng Việt,…Giáo viên có thể vận dụng các phương pháp áp dụng dạy các loại bàitrên như phương pháp đàm thoại vấn đáp, phương pháp đóng vai, phương pháp xử lítình huống, phương pháp giao tiếp và phương pháp trực quan
Tùy theo từng loại bài mà giáo viên lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợpvới đối tượng học sinh
Thật vậy, cũng như các phân môn và môn học khác, phân môn Tập làm văn,thông qua nội dung dạy học giáo viên có nhiệm vụ trau dồi cho học sinh thái độ ứng
Trang 3xử có văn hóa, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những tình cảm lànhmạnh, tốt đẹp cho các em.
2 2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
* Về phía giáo viên:
- Giáo viên có nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và công tác chủ
nhiệm
- Được đào tạo chuẩn hoá về chuyên môn
- Được sự giúp đỡ của đồng chí, đồng nghiệp trong công tác giảng dạy
- Cơ sở vật chất cũng như đồ dùng dạy học cũng được nhà trường trang bị đầy đủphục vụ cho việc dạy và học
- Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên chưa đầu tư vào nghiên cứu kĩ bài, sử dụngphương pháp và hình thức chưa hợp lý vì vậy giờ học Tập làm văn còn đơn điệu,nhàm chán, thụ động Lập dàn bài rập khuôn dẫn đến bài làm của học sinh giống nhau
về ý tưởng, nội dung
- Chưa rèn cho học sinh có thói quen đọc các bài văn mẫu, văn hay từ đó rút ra ýhay, ngược lại một số giáo viên còn cho học sinh thuộc những bài văn mẫu điều đó đãlàm mất đi sự sáng tạo và óc tưởng tượng phong phú của học sinh
- Học sinh thường chưa chăm đọc sách báo hoặc tìm tòi sưu tầm những tài liệuphục vụ cho kiến thức có liên quan đến môn học dẫn đến nghèo vốn từ, nghèo vốnsống để có thể đưa bài văn vào viết
- Mặc dù trong quá trình dạy học bản thân tôi đã tìm tòi, học hỏi và thườngxuyên trao đổi với bạn bè đồng nghiệp để tìm ra những phương pháp dạy học phù hợpvới đối tượng học sinh nhất nhưng kết quả cũng chưa được như mong muốn Cụ thểđạt được như sau:
Khảo sát chất lượng học sinh lớp 2A cuôi năm học năm học 2016 – 2017
Số HS chưa hoàn thànhkiến thức, kĩ năng môn học
Chất lượng học sinh hoàn thành tốt kiến thức kĩ năng còn thấp Số học sinh chưahoàn thành kiến thức kĩ năng còn cao, đa số học sinh mới dừng ở mức hoàn thànhkiến thức, kĩ năng môn học Sở dĩ kết quả chưa cao là do một số nguyên nhân sau:
Trang 4- Giáo viên chưa chú trọng việc rèn kĩ năng thực hành về nghi thức lời nói nênnhững em nhút nhát không dám nói ra những điều mà các em suy nghĩ trong đầu.
- Việc rèn kỹ năng phục vụ học tập và đời sống hàng ngày chưa được giáo viêncoi trọng, các em ít được tiếp xúc, chưa biết cách sử dụng những kiến thức đã họcđược mà áp dụng vào cuộc sống hàng ngày
- Giáo viên chưa dành nhiều thời gian cho học sinh thực hành rèn luyện về kỹnăng diễn đạt (nói, viết ) dẫn đến các em còn lúng túng khi trả lời các câu hỏi thôngqua việc quan sát tranh và hệ thống câu hỏi gợi ý, diễn đạt câu còn lủng củng, còn lặp
từ khi viết đoạn văn ngắn từ 3 – 5 câu
Qua một năm nghiên cứu và áp dụng, tôi xin đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao chất lượng học tập môn Tập làm văn lớp 2 như sau:
2.3 Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Biện pháp 1: Hướng dẫn học sinh thực hành về nghi thức lời nói.
Tất cả những nghi thức lời nói luôn xảy ra trong đời sống hàng ngày Tuynhiên, có em mạnh dạn thì hay nói còn những em nhút nhát thì ít nói Bởi vậy, giáoviên phải dùng những biện pháp tích cực để các em nhút nhát nói ra những điều màcác em suy nghĩ trong đầu Có thể tổ chức trò chơi sắm vai với những tình huống cụthể để mỗi học sinh được tự do bộc lộ suy nghĩ, cách diễn đạt của mình
1.1 Luyện nói cá nhân:
Giáo viên định hướng cho học sinh luyện nói cá nhân theo các bước sau:
- Xác định yêu cầu của bài
- Xác định rõ đối tượng để thực hành nói cho phù hợp
- Tập nói theo yêu cầu: Cố gắng tìm được nhiều cách diễn đạt khác nhau
- Phát biểu trước lớp đối thoại ( nhiều học sinh nói)
- Học sinh khác nhận xét , bổ sung, bình chọn người nói đúng và hay nhất
Ví dụ:
Bài tập 1: Nói lời cảm ơn trong trường
hợp: bạn cùng lớp cho đi chung áo mưa
- Tổ chức cho học sinh thực hành và nói
- Ôi may quá! Tớ cảm ơn bạn nhé!
- Tớ cảm ơn bạn nếu không hôm nay tớ
sẽ bị ướt hết rồi!
- Tớ cảm ơn bạn nhiều nhé!
Lưu ý: Khi nói lời cảm ơn cần thể
hiện sự chân thành, biết ơn để người
nghe dễ cảm nhận được
Bài tập 2: Nói lời xin lỗi của em trong trường hợp: Em mải chơi, quên làm việc me
đã dặn
- Con sai rồi, con xin lỗi mẹ, lần sau con không thế nữa
Học sinh thực hành luyện nói khi đi chung
áo mưa cùng bạn.
Trang 5- Mẹ ơi! Con biết mình sai rồi, con xin lỗi mẹ ạ!
- Mẹ tha lỗi cho con, lần sau con sẽ làm tốt lời mẹ dặn
Lưu ý: Nói lời xin lỗi cần thể hiện rõ thái độ biết lỗi Người nói phải hạ giọng,nói nhỏ nhẹ nhưng thành khẩn để người nghe dễ dàng tha lỗi cho mình
1.2 Luyện nói theo cặp:
- Hai HS ngồi cùng bàn xác định yêu cầu của bài, thảo luận, phân công: một
HS nêu tình huống, một HS nêu lời đáp rồi làm ngược lại
Chú ý: Hai HS có thể thảo luận để tìm ra nhiều cách diễn đạt khác nhau (về lờinói, cử chỉ, nét mặt ) để sửa và bổ sung cho nhau
- Cho đại diện các cặp lên trình bày trước lớp
- Đại diện các cặp khác nhận xét, bổ sung, bình chọn người nói đúng và haynhất
Ví dụ: Đáp lời chào, lời tự giới thiệu -Tuần 19
- Trước tiên, tôi cho HS thấy được sự cần thiết của lời chào: Lời chào khi mớigặp nhau cũng như trước khi chia tay là phép lịch sự, thể hiện người có văn hóa trongtiếp xúc, khiến cho mọi người thấy thân mật, gần gũi nhau hơn Khi chào hỏi hoặc tựgiới thiệu: Lời nói, giọng nói, vẻ mặt, ánh mắt, nụ cười phài tùy từng đối tượng mìnhgặp gỡ và những điều này cũng chứa dựng nội dung tiếp xúc Cách chào hỏi, cáchxưng hô phải phù hợp với từng người, từng hoàn cảnh cụ thể Lời chào hỏi cần tựnhiên, lịch sự, cử chỉ thân mật
Học sinh thực hành luyện nói Bài tập 2 như sau:
- Có một người lạ đến nhà em gõ cửa và tự giới thiệu: Chú là bạn của bố cháu, chúđến thăm bố cháu Em sẽ nói thế nào?
a, Nếu bố mẹ em có nhà?
b, Nếu bố mẹ em đi vắng?
+ Trường hợp thứ nhất (bố mẹ em có
nhà)
“ Cháu chào chú, bố cháu đang ở nhà,
chú chờ chút xíu, cháu vào gọi bố cháu
ra ngay ạ!”
+ Trường hợp thứ hai (bố mẹ em đi
vắng)
Cháu chào chú, Bố mẹ cháu đi
vắng cả Trưa chú quay lại chú nhé!
Thưa chú… chú tên gì ? Chú cho cháu
biết để cháu về nói lại với bố mẹ cháu
có chú…đến thăm Học sinh thực hiện đóng vai tại lớp.
Trang 6Lưu ý: Khi luyện nói theo cặp phải chắc chắn cả hai bạn trong nhóm đều được
nói để rèn kĩ năng nói một cách toàn diện cho học sinh
1.3 Luyện nói theo nhóm:
Đối với các nghi thức lời nói cần nhiều lời đáp (lời nói của nhiều nhân vật) nên
áp dụng theo hình thức sắm vai đơn giản
- Tuỳ theo từng trường hợp cụ thể mà GV phân thành nhóm 3, 4 hay 5,6 họcsinh
- HS trong nhóm thảo luận về yêu cầu của tình huống, phân công vai cho phùhợp, thảo luận cách ứng xử (tìm ra nhiều phương án và chọn lựa phương án tối ưu đểthực hiện )
- Đại diện các nhóm lên sắm vai trước lớp
- Đại diện các nhóm khác nhận xét, bổ sung, bình chọn người nói đúng và haynhất
Ví dụ:
* Đóng vai chúc mừng nhau:
Đáp lời chia vui -Tuần 28
Bài tập 1: Nói lời đáp của em trong trường hợp sau: Bạn tặng hoa chúc mừng
sinh nhật
- Luyện tập cách nói lịch sự khi chúc mừng
người khác và đáp lại lời người khác chúc
mừng mình
- Rèn thói quen lịch sự trong giao tiếp và
sinh hoạt hằng ngày; tập chúc mừng bằng
(- Xin cảm ơn các bạn, mình rất vui.)
Hình thức này tôi sử dụng rất nhiều và mang lại hiệu quả cao, các em rất tíchcực học tập, suy nghĩ tìm tòi nhiều cách trả lời hay và khác nhau Tôi luôn khuyếnkhích động viên các em bằng lời khen “Tuyệt quá”, “Rất hay” đối với những lời diễnđạt sáng tạo của các em
Kết luận: Trong quá trình dạy học, nếu chúng ta thật sự quan tâm đến việc rèn
kĩ năng thực hành về nghi thức lời nói cho học sinh, động viên các em thường xuyên
sử dụng lời nói, nói đúng câu, đúng từ, có sắc thái biểu cảm thì chắc chắn học sinh sẽhọc rất tốt các nội dung trong chương trình Tập làm văn lớp 2
Biện pháp 2: Hướng dẫn học sinh viết bản tự thuật, viết nhắn tin và lập thời gian biểu học tập.
Học sinh thực hành nói lời chúc
mừng sinh nhật
Trang 7- Mặc dù đây là những kỹ năng phục vụ cho học tập và đời sống hàng ngàynhưng các em lại ít được tiếp xúc Bởi vậy, giáo viên cần cho các em thấy một cáchtrực quan, thật rõ ràng Khi dạy bản khai tự thuật, danh sách học sinh, mục lục sách,thời gian biểu Giáo viên phải có một bản mẫu thật to để các em được nhìn và nghiêncứu Giáo viên phải chỉ rõ cách xem, cách lập, từ đó các em mới biết cách sử dụngnhững kiến thức đã học được mà áp dụng vào cuộc sống hàng ngày
2.1 Viết bản tự thuật ngắn:
* Mục tiêu
Mục tiêu của bài tập là nhằm giúp học sinh biết cách tự giới thiệu với thầy cô,bạn bè hoặc người xung quanh về mình
a) Hướng dẫn học sinh chuẩn bị:
- Xác định yêu cầu: Viết bản tự thuật theo mẫu ( SGK)
- Đọc từng dòng mẫu tự thuật trong SGK để nắm được những nội dung cần viết
b) Hướng dẫn học sinh làm bài:
Với loại bài này, giáo viên cần giúp học sinh hiểu văn bản (tự thuật) này baogồm những phần nào Nội dung của mỗi mục thể hiện hình thức trình bày ra sao Giáoviên cần vận dụng các phương pháp dạy học như phương pháp trực quan (học sinhđược quan sát văn bản mẫu), phương pháp phân tích ngôn ngữ (phân tích cấu trúc,đặc điểm của các văn bản mẫu), phương pháp rèn luyện theo mẫu (học sinh được dựatheo văn bản mẫu để tạo lập văn bản tương tự)
Cần trình bày bài viết sạch sẽ, đúng chính tả ( chú ý viết hoa những tên riêng vàcác con chữ đầu tiên của mỗi dòng cần ghi thẳng hàng dọc với nhau cho đẹp)
Ví dụ:
- Họ và tên: Nguyễn Hải Nam
- Nam, nữ: Nam
- Ngày sinh: 10 - 11 - 2010
- Nơi sinh: Nga Điền
- Quê quán: Nga Điền, Nga Sơn, Thanh Hóa
- Nơi ở hiện nay: Xóm 4, Nga Điền, Nga Sơn, Thanh Hóa
- Học sinh lớp: 2A
- Trường: Tiểu học Nga Điền II, huyện Nga Sơn, tỉnh Thanh Hóa
Nga Điền ngày 10 tháng 2 năm 2018
Người tự thuật
Nguyễn Hải Nam
Trang 82.2: Viết nhắn tin:
Trước hết, giáo viên cho học sinh hiểu:
Khi muốn nói với ai điều gì mà không gặp được người đó ta có thể viết nhữngđiều cần nhắn vào giấy để lại Nội dung lời nhắn cần ngắn gọn mà đủ ý, dễ hiểu
a) Hướng dẫn chuẩn bị:
- Xác định yêu cầu: Viết một vài câu nhắn lại cho bố mẹ biết, khi bà đến nhàđón em đi chơi
- Xem lại bài tập đọc: Nhắn tin để nắm được cách viết nhắn tin: Nhắn cho ai?
Cần nói gọn và rõ nội dung gì? (ví dụ: đi đâu, làm gì, cùng với ai, bao giờ về)
- Nhớ ghi thời điểm viết nhắn tin
- Đọc đề bài, xác định nội dung đoạn nhắn tin theo gợi ý sau:
+ Em nhắn tin cho ai? (ví dụ: Nhắn tin cho ba mẹ hoặc bạn) biết
+ Em muốn nhắn lại điều gì để bố mẹ hoặc bạn biết? (ví dụ: Bà đến chơi, chờmãi mẹ chưa về, bà đưa con tới nhà cô Phương chơi)
+ Để mẹ yên tâm, em cần nhắn thêm điều gì? ( ví dụ: Hẹn mấy giờ em sẽ về)
b) Hướng dẫn bài làm:
- Viết nhắn tin của em cho ba hoặc mẹ
- Chú ý: Trình bày cho sạch sẽ, viết đúng chính tả, đầy đủ nội dung
* Chú ý cách ghi nhắn tin:
- Đầu tiên ghi giờ, ngày, tháng, năm
- Dòng đầu ghi nhắn tin cho ai?
- Tiếp theo ghi nội dung nhắn tin
- Cuối cùng kí tên em
Ví dụ:
3 giờ ngày 20 – 10 - 2017
Mẹ ơi!
Chiều nay bà nội đến chơi, bà đợi mãi mà mẹ chưa về Bà đưa con sang nhà
cô Phương chơi Khoảng 8 giờ tối bà sẽ đưa con về
Con trai: Khánh Nguyên
Lưu ý: Tùy vào điều kiện từng vùng, từng địa phương, giáo viên có thể lưu ý cho
học sinh viết tin nhắn trên điện thoại, máy tính, thư tay khi cần thiết giúp các em cóthể thông tin cho người thân khi đang ở xa và cũng giúp các em sớm tiếp cận với côngnghệ thông tin trong thời đại mới
1.3: Lập thời gian biểu:
Dạy học sinh lập thời gian biểu là một biện pháp hình thành ở các em thái độtích cực, chủ động, tính kế hoạch và khả năng sắp xếp cuộc sống riêng.Thời gian biểu
là lịch sinh hoạt, làm việc, nghỉ ngơi trong một ngày,gồm cả sáng, trưa, chiều, tối.Thời gian biểu rất cần thiết vì nó giúp chúng ta làm việc tuần tự, hợp lý và không bỏsót công việc
- Đề bài yêu cầu học sinh lập thời gian biểu buổi tối
Trang 9a) Hướng dẫn học sinh chuẩn bị:
- Xác định yêu cầu: Lập thời gian biểu buổi tối của em
- Xem lại bài tập đọc “Thời gian biểu”để biết cách trình bày: nhớ lại thời gian
và công việc buổi tối của em để lập thời gian biểu (từ khoảng 18 giờ 30 đến 19 giờ
em làm gì? Thời gian tiếp theo, em làm tiếp việc gì? Cho đến khi đi ngủ)
b) Hướng dẫn học sinh làm bài:
- Em có thể viết hoặc kẻ bảng ghi thời gian biểu buổi tối của mình theo thứ tựthời gian và công việc (nhớ ghi rõ họ tên và địa chỉ lớp); cố gắng ghi đủ các việc cụthể cần làm và thời gian làm mỗi việc đó
Ví dụ: Thời gian biểu buổi tối.
Họ và tên: Nguyễn Việt Anh
Lớp: 2A Trường Tiểu học Nga Điền II
- 18 giờ 30 – 19 giờ : ăn cơm
- 19 giờ – 19 giờ30: nghỉ ngơi, xem ti vi
- 19 giờ 30 – 20 giờ30: học bài
- 20 giờ 30 – 21 giờ: vệ sinh cá nhân
- 21 giờ: đi ngủ
Kết luận:
Khi hướng dẫn học sinh viết bản tự thuật, viết nhắn tin và lập thời gian biểuhọc tập, giáo viên phải luôn nhắc học sinh lựa chọn ngôn ngữ ngắn gọn, xúc tíchkhông rườm rà, dài dòng nhưng phải thể hiện rõ mọi thông tin cần thiết để nội dungcần thông báo không bị khó hiểu dẫn tới người đọc hiểu sai thông tin
Biện pháp 3: Rèn luyện kỹ năng diễn đạt (nói, viết ) qua các dạng bài trả lời câu hỏi hoặc qua quan sát tranh ảnh người, sự vật cho học sinh.
Thực hành rèn luyện kỹ năng diễn đạt (nói, viết) là dạng bài nòng cốt trongmôn Tập làm văn Nó đòi hỏi ở người học sinh vốn sống hàng ngày, vốn từ phongphú, đôi mắt quan sát tinh tường, óc tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật Bởi vậy, khidạy dạng bài này, giáo viên cần nắm rõ tâm lý lứa tuổi học sinh Ở lứa tuổi này, họcsinh nhìn nhận sự vật thế nào? Tính tình của từng học sinh ra sao? Có em rất tỉ mỉquan sát, có em chỉ hời hợt qua loa Bởi vây, giáo viên phải nhấn mạnh để học sinh
rõ, muốn tả bất cứ cái gì thì các em phải hiểu rõ về cái đó Các em phải tìm hiểu thôngtin về cái đó Có thể hỏi bạn bè, gia đình, thầy cô hay quan sát thực tế, qua đọc sách,đọc báo, … Giáo viên cần phối hợp nhiều phương pháp và hình thức dạy sao cho bảođảm với mục tiêu
- Giáo viên yêu cầu và hướng dẫn học sinh có thói quen quan sát những sự vậthiện tượng xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết Ngoài ra giáoviên cần sưu tầm những hình ảnh để các em quan sát hoặc có thể trình chiếu, cho các
em quan sát vật thật, tham quan dã ngoại … nhằm giúp HS nắm được rõ hơn về cáchình ảnh của các sự vật Từ đó giúp các em hào hứng học tập và kể sinh động, chínhxác Khi học sinh kể thì chú ý hướng dẫn các em dùng những từ ngữ có hình ảnh, màusắc để kể nhằm làm cho bài văn thêm sinh động
Trang 10- Trong các tiết dạy, giáo viên nên tập cho học sinh trả lời thành câu đủ ý vàchú ý đến những bài tập đọc có liên quan đến tiết tập làm văn Từ đó học sinh có thểrút ra những câu văn hay, hình ảnh đẹp và ghi nhớ sau này vận dụng Để dạy tốt bàitập làm văn dạng viết một đoạn văn ngắn kể về người thân, con vật, loài vật, câycối…giáo viên cần tạo cho các em thói quen làm văn phải có bố cục 3 phần: mở bài(giới thiệu), thân bài (nội dung), kết luận (tình cảm); nói, viết phải thành câu rõ ý,đúng ngữ pháp Khi viết xong các em đọc lại toàn bộ, gắn bó các câu với nhau để ýsau, ý trước nối tiếp thành đoạn văn, bài văn xuôi nghĩa Tôi xin giới thiệu cáchhướng dẫn học sinh viết đoạn văn ngắn với một số chủ đề sau:
3.1 Trả lời câu hỏi:
a Quan điểm về dạng bài:
Trả lời câu hỏi là loại bài tập làm văn trả lời đúng và đủ các câu hỏi (SGK)thành câu rõ, gọn và có hình ảnh về một việc, một hoàn cảnh, một chuyện Các câu trảlời lần lượt ghép thành đoạn văn, bài văn rõ đề bài
b Cách làm bài văn trả lời câu hỏi:
- Đọc kĩ các bài Tập đọc có liên quan đến bài tập (nếu có)
- Đọc đi đọc lại từng câu hỏi rồi đọc vài lượt toàn bộ câu hỏi theo đúng thứ tựtrong SGK, vừa đọc vừa nhẩm xem câu hỏi hỏi gì và mình sẽ trả lời thế nào?
- Lần lượt trả lời từng câu theo thứ tự các bước:
+ Câu đó hỏi điều gì?
+ Suy nghĩ, cân nhắc để tìm ý trả lời cho đủ, cho đúng Câu trả lời phải rõ ràng,gẫy gọn và mạch lạc ( ý trước, ý sau nối tiếp nhau chặt chẽ )
+ Sắp xếp, ghép các câu trả lời theo thứ tự để tất cả các câu hợp thành đoạnvăn, bài văn trọn vẹn
Ví dụ: Bài: Mời, nhờ, yêu cầu, đề nghị Kể ngắn theo câu hỏi (Tuần 8)
Bài tập 2: Trả lời câu hỏi ( theo SGK)
* Hướng dẫn học sinh chuẩn bị:
- Xác định yêu cầu: Trả lời câu hỏi (theo sách giáo khoa)
- Nhớ lại: Tên cô giáo (thầy giáo) dạy em ở lớp 1; Tình cảm của cô giáo (thầygiáo) đối với em và các bạn trong lớp; điều mà em đáng nhớ nhất ở cô giáo (thầygiáo); tình cảm của em đối với cô giáo ( thầy giáo)
- Điều đáng nhớ nhất có thể là: Khi em mắc khuyết điểm, cô giáo (thầy giáo) âncần khuyên bảo em như thế nào? Lúc em viết sai, cô giáo (thầy giáo) đã uốn nắn cho
em từng nét chữ như thế nào?
* Hướng dẫn học sinh làm bài:
- Em lần lượt trả lời từng câu hỏi trong SGK để kể về cô giáo (thầy giáo) củamình Chú ý dùng từ đúng, nói thành câu đủ ý và thể hiện được tình cảm chân thànhcủa em đối với cô giáo (thầy giáo)
Ví dụ:
a, Cô giáo ( hoặc thầy - Cô giáo lớp Một của em là cô Hòa
Trang 11giáo) lớp Một của em tên
là gì?
b, Tình cảm của cô (hoặc
thầy) đối với học sinh
như thế nào?
c, Em nhớ nhất điều gì ở
cô (hoặc thầy)?
d, Tình cảm của em đối
với cô giáo (hoặc thầy
giáo) như thế nào ?
- Cô Hòa là cô giáo dạy em hồi lớp Một
- Cô rất thương yêu và quan tâm, chăm sóc chúng em
- Cô luôn chăm lo, săn sóc cho chúng em từng li, tưngtí
- Em nhớ nhất lần đầu tiên cô cầm tay giúp em viếttừng nét chữ
- Em nhớ mãi lần em bị ốm sốt cao cô đã ân cần đưa
em xuống phòng y tế của nhà trường và động viênem,
- Em sẽ nhớ mãi cô giáo Hòa
- Dù đã lên lớp Hai, không được học cô Hòa nữa,nhưng hình ảnh cô vẫn còn in đậm trong tâm trí em
3.2 Kể về người thân hoặc người quen biết.
* Hướng dẫn chung về kể người:
- Giới thiệu về người mà mình muốn kể
- Kể về hình dáng (cao- thấp, béo- gầy, thon thả - mập mạp, )
- Kể về những đặc điểm nổi bật ( mái tóc, khuôn mặt, nước da, đôi mắt, hàmrăng, )
- Kể về tính tình (hiền, vui vẻ, phúc hậu, )
- Kể về hoạt động: Làm việc gì?
- Tình cảm của em đối với người em kể
* Kể về người thân trong gia đình:
a) Hướng dẫn học sinh chuẩn bị:
- Xác định yêu cầu: Kể về ông, bà (hoặc một người thân ) của em
Chú ý: Người thân trong gia đình có thể là ông ( bà) nội (ngoại), bố mẹ, anh(chị, em)
- Điều gì chưa biết rõ, có thể hỏi lại người thân ( như: tuổi tác, nghề nghiệp,những việc làm hằng ngày)
- Để trả lời câu hỏi: Ông ( bà, bố, mẹ …) của em yêu quý, chăm sóc em như thếnào? Em cần nhớ lại những lời nói, cử chỉ, hành động, cho thấy tình cảm yêu quý,thái độ quan tâm, chăm sóc của người thân đối với em ( như: đưa đón em đi học, kểchuyện cho em nghe, nhắc nhở em học bài.)
b) Hướng dẫn học sinh làm bài:
Em kể về người thân của mình theo các câu hỏi gợi ý trong SGK