Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, tro
Trang 1I/ PHẦN MỞ ĐẦU:
I.1 Lý do chọn đề tài, sáng kiến, giải pháp:
- Tập làm văn là phân môn có tính tổng hợp, sáng tạo, thực hành và thể hiện được đậm nét dấu ấn cá nhân Phân môn Tập làm văn có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học bởi vì:
- Phân môn Tập làm văn rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh ra văn bản Nhờ vậy, Tiếng Việt không chỉ là hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng phân môn mà nó trở thành một công cụ sinh động trong quá trình giao tiếp, tư duy, học tập Nói cách khác, phân môn Tập làm văn đã góp phần thực hiện hóa mục tiêu quan trọng bậc nhất của việc dạy và học Tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng Tiếng Việt trong đời sống sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học…
- Dạy học Tập làm văn lớp 5 nhằm trang bị kiến thức và rèn luyện các kĩ năng làm văn; góp phần cùng các môn học khác mở rộng vốn sống, rèn luyện tư duy lô gích, tư duy hình tượng, bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc thẩm mĩ, hình thành nhân cách cho học sinh Để làm được một bài văn nói hoặc viết, người làm phải hoàn thiện các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết phải vận dụng các hiểu biết kiến thức về Tiếng Việt Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó được hoàn thiện và nâng cao dần
- Trong chương trình Tập làm văn lớp 5, các bài làm văn gắn với chủ điểm của đơn vị học Quá trình thực hiện các kĩ năng phân tích đề, tìm ý, quan sát, viết đoạn là những cơ hội giúp trẻ mở rộng hiểu biết về cuộc sống theo các chủ đề đã học Việc phân tích dàn bài, lập dàn ý chia đoạn bài kể chuyện, miêu
tả, biên bản,… góp phần phát triển khả năng phân tích, tổng hợp, phân loại của học sinh Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện nhờ vận dụng các biện pháp so sánh nhân hoá khi miêu tả cảnh, tả người, miêu tả nhân vật, miêu tả đồ vật; nhờ huy động vốn sống, huy động trí tưởng tượng đẻ xây dựng cốt truyện Khi học các tiết tập làm văn, học sinh cũng có điều kiện tiếp cận với vẻ đẹp của con người, thiên nhiên qua các bài văn, đoạn văn điển hình Khi phân tích đề tập làm văn, học sinh lại có dịp hướng cái chân, cái thiện, cái mĩ được định hướng trong các đề bài Khi quan sát đồ vật trong văn miêu tả, học sinh được rèn luyện cách nhìn đối tượng trong quan hệ gần gũi giữa người và vật Các bài luyện tập, làm báo cáo thống kê, làm đơn, làm biên bản, lập chương trình hoạt động, viết thư, trao đỏi với người thân, giới thiệu địa phương, tóm tắt tin tức,…cũng tạo cơ hội cho học sinh thể hiện mối quan hệ với cộng đồng Những cơ hội đó làm cho tình yêu mến, gắn bó với thiên nhiên, với người và vật xung quanh của trẻ nảy nở; tâm hồn tình cảm của trẻ thêm phong phú Đó là những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp của trẻ
Có thể nói, bàn đến việc dạy Tiếng Việt nói chung và dạy Tập làm văn nói riêng theo tinh thần đổi mới phương pháp, không áp đặt, không làm thay, chỉ gợi
mở để học sinh sắp xếp ý, viết câu, lập dàn bài, giáo viên thường gặp khó khăn, kết
Trang 2quả học tập của học sinh còn nhiều hạn chế Thực tế cho thấy, bình thường các em nói chuyện với nhau rất dễ dàng với đủ cách nói mọi lúc mọi nơi nhưng đến giờ tập làm văn thì các em lại tỏ ra lúng túng về chọn ý và diễn đạt thành câu văn Rõ ràng học sinh vẫn chưa phát huy hết khả năng và tính chủ động của mình trong học tập, khả năng diễn đạt bằng ngôn ngữ văn học của các em còn nhiều hạn chế Đây
là thực trạng rất phổ biến ở các lớp học, nhất là các lớp ở vùng khó khăn về điều kiện sống, phương tiện, cơ sở vật chất Vậy ngay trong nhà trường phải dạy như thế nào để các em có thể lĩnh hội môn này một cách tốt nhất, làm sao để phát huy khả năng của học sinh, phát huy ngôn ngữ của học sinh đó là một vấn đề mà mỗi người giáo viên chúng ta cần phải suy nghĩ và tổ chức dạy học như thế nào để có chất lượng Để giúp các thầy cô giáo giảng dạy tốt hơn phân môn tập làm văn và
giúp các em học sinh lớp 5 học tập tốt hơn phân môn này, tôi xin đưa ra “ Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn tập làm văn lớp5”.
I.2 Điểm mới của đề tài, sáng kiến, giải pháp.
Nhiệm vụ của việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng dạy Tập làm văn lớp 5 với mục tiêu chính là bồi dưỡng lẽ sống, tâm hồn, khả năng tư duy và năng lực ngôn ngữ, cảm thụ văn chương cho học sinh, góp phần hình thành nhân cách con người Việt Nam hiện đại Góp phần phát triển bốn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt cho học sinh Các hoạt động dạy học phân môn tập làm văn rất gần với cuộc sống thực, do đó các kỹ năng nghe- nói- đọc- viết được vận dụng, rèn luyện và nâng cao, các tri thức Tiếng Việt được kiểm nghiệm trong thực tiễn giúp học sinh hiểu
rõ hơn, sâu hơn Góp phần khơi dậy, nuôi dưỡng hứng thú học tập môn Tiếng Việt Có nhiều nguyên nhân cần khắc phục trong đó có một nguyên nhân chúng
ta chưa coi trọng đó là: Dạy lý thuyết hoạt động giao tiếp với việc day tập làm văn trong Tiếng Việt lớp 5 Trong giao tiếp, nội dung một ngôn bản sẽ được xác định từ hai góc độ: Từ sự kết hợp các yếu tố theo đúng quy tắc ngôn ngữ, sự lý giải ngôn bản của người tiếp nhận, xét dưới góc độ quy tắc ngôn ngữ, ngôn bản là một hệ thống khép, nhưng xét dưới góc độ người tiếp nhận nội dung ngôn bản lại
là một hệ thống mở Người mang thông tin cuối cùng trong hoạt động giao tiếp phải là người nghe, người đọc chứ không phải là bản thân ngôn bản Bởi thế, việc
xử lí mối quan hệ giữa cách thức tổ chức ngôn ngữ trong ngôn bản với các nhân
tố ngoài ngôn ngữ, mà trước hết đối với đối tượng giao tiếp là hết sức cần thiết Điều này đòi hỏi người tạo ngôn bản phải xác định vai của mình trong hoạt động giao tiếp, phải có những hiểu biết về thói quen sử dụng ngôn ngữ, hoàn cảnh sống, nhu cầu, hứng thú về đặc điểm tâm, sinh lý của đối tượng giao tiếp thì mới tao ra được một ngôn bản tốt Làm văn là một hoạt động giao tiếp Vì vậy, việc rèn luyện kĩ năng làm văn vừa cần phải đúng qui tắc ngôn ngữ, hay nói rộng hơn
là đúng với những vấn đề kí mã, vừa cần phải đúng qui tắc giao tiếp
Để đạt được mục tiêu trên, việc bồi dưỡng nâng cao chất lượng dạy TLV cho
HS lớp 5 cần đặt cho mình những nhiệm vụ sau:
- Bồi dưỡng vốn sống, bổ sung vốn từ ngữ cần dùng ở từng thể loại giúp các
em có một số vốn từ cơ bản Bồi dưỡng cảm thụ văn học cho các em
Trang 3- Bồi dưỡng hứng thú học TLV và bồi dưỡng kiến thức, kĩ năng làm văn cho học sinh
Hiệu quả của việc dạy học không chỉ phụ thuộc vào nội dung dạy học mà còn phụ thuộc vào phương pháp dạy học Bởi vậy người giáo viên phải có nhiệm vụ giúp các em nối tiếp một cách tự nhiên các bài khác nhau trong môn Tiếng Việt như tập đọc, chính tả, ngữ pháp, kể chuyên nhằm giúp các em có năng lực nói, viết Nhờ năng lực này, các em biết sử dụng Tiếng Việt làm công cụ tư duy, giao tiếp, học tập Giúp các em bổ sung kiến thức, rèn luyện tư duy và qua đó hình thành nhân cách cho các em Để cung cấp và giúp các em có những kiến thức Tiếng Việt, người giáo viên phải có phương pháp dạy Tập làm văn cụ thể, lô gich qua các chi tiết:
- Tăng cường tích hợp kiến thức từ các phân môn Tiếng Việt - cung cấp vốn
từ ngữ cho học sinh
- Nâng cao năng lực cảm thụ văn học, nhất là thông qua các tiết Tập đọc
- Tăng cường vốn hiểu biết từ thực tế cuộc sống
- Tập cho học sinh quan sát - tìm ý
- Rèn kỹ năng viết văn cho học sinh (đoạn văn, bài văn)
Trong nội dung nêu trên có sự liên quan chặt chẽ, không được coi nhẹ nội dung nào Đây là một môn học khó, làm thế nào để học sinh biết làm một bài Tập làm văn đúng thể loại, đủ ý, câu văn lưu loát, có hình ảnh, có tình cảm không sai lỗi, trình bày đẹp, tôi đã suy nghĩ rất nhiều năm Vì vậy, bên cạnh đúc rút kinh nghiệm của đồng nghiệp, bản thân tôi đã vạch ra cho mình những phương pháp riêng khi dạy Tập làm văn lớp 5
I.3 Phạm vi áp dụng đề tài, sáng kiến, giải pháp:
Được thực hiện tại lớp 5B của Trường Tiểu học mà tôi đang công tác, trong năm học 2014-2015
Với nội dung chủ yếu đúc rút kinh nghiệm thực hiện các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập làm văn lớp 5
II/ NỘI DUNG
II.1.Thực trạng của vấn đề mà đề tài, sáng kiến, giải pháp cần gải quyết.
Nhìn một cách bao quát, việc giảng dạy phân môn TLV lớp 5 hiện nay ở nhà trường chúng tôi đã có một số chuyển biến tích cực so với khoảng ba, bốn năm trước đây Trước hết, các qui định, nền nếp về chuyên môn đã được các giáo viên thực hiện nghiêm túc hơn với một không khí lao động tích cực, nhiệt tình, trách nhiệm trong giảng dạy Chất lượng giờ lên lớp, việc đánh giá chất lượng học sinh
đã có những tiến bộ nhất định Đặc biệt, một bộ phận giáo viên- nhất là những người vừa có trình độ, vừa có tâm huyết với nghề đã có ý thức tìm tòi, thể hiện phương pháp giảng dạy mới, và ít nhiều họ đã gặt hái được những thành quả bước đầu rất đáng trân trọng Việc sinh hoạt chuyên môn ở các tổ khối đã đi vào nề nếp, dần dần đã có những hiệu quả thiết thực Phong trào thi GV dạy giỏi, đúc rút kinh
Trang 4nghiệm được nhà trường tiến hành thường xuyên và đem lại những kết quả khá khả quan Cùng với yêu cầu đổi mới hiện nay, giáo viên phải tạo môi trường khuyến khích học sinh chủ động và tích cực học tập, thể hiện năng lực từng cá nhân nhằm khơi dậy trong học sinh tính tò mò, tự khám phá để tìm ra những kiến thức mới Học sinh là nhân vật trung tâm của quá trình dạy học còn giáo viên có quyền lựa chọn phương pháp cho từng bài học khắc phục dần tình trạng giáo viên nói nhiều, làm thay học sinh; giáo viên thể hiện ngày càng rõ hơn vai trò tổ chức, hướng dẫn trong các hoạt động dạy học
Trong những năm qua, nhờ chất lượng giảng dạy của GV và sự nỗ lực học tập của HS, việc giảng dạy phân môn TLV nhìn chung cũng có một số tiến bộ đáng mừng Đa phần các em chăm học, số HS thích thú học TLV đã tăng ít nhiều so với những năm học trước Những học sinh đại trà, học sinh giỏi đã có dấu hiệu chuyển biến phần nào so với trước Đọc một số bài văn của các em trong các lần kiểm tra định kì gần đây, thấy đa phần học sinh nắm được các thể loại về tập làm văn; ít có
em làm lạc đề; thể hiện rõ bố cục của một bài văn; có phần giảm được lỗi về chính
tả, lỗi diễn đạt, lỗi về cách dùng từ, ngữ pháp hơn những năm trước
Những chuyển biến tích cực trong việc giảng dạy phân môn TLV xuất phát
từ nhiều nguyên nhân quan trọng nhất đó là:
Trước hết, phải kể đến sự tiến bộ trong giảng dạy TLV còn trực tiếp bắt
nguồn từ chương trình, SGK được biên soạn để đổi mới phương pháp giảng dạy Nhìn bao quát, tuy còn có những hạn chế nhất định cần phải được điều chỉnh
nhưng chương trình và SGK môn Tiếng Việt được biên soạn đã có sự tiến bộ rất xa
so với SGK trước đó Ngoài ra, bằng tình yêu nghề, ý thức trách nhiệm đối với HS thân yêu, nhiều Gv đã tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp
vụ để đáp ứng những yêu cầu mới của chương trình hiện nay
Tuy nhiên, trước những yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, so với nhiệm vụ chung của ngành giáo dục, việc dạy và học phân môn TLV còn nhiều hạn chế Tôi cho rằng cần phải nhìn thẳng vào sự thật để phân tích một cách thấu đáo điều này Bởi lẽ, nó có ý nghĩa về nhiều phương diện, nhất là xác định những biện pháp cụ thể để nâng cao chất lượng dạy và học Qua khảo sát
ở một số lớp, cho thấy không ít HS chưa thật hứng thú, thích học phân môn Tập làm văn Lẽ ra làm văn phải là cơ hội tốt để các em tiếp xúc được cái hay, cái đẹp của tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, để có thể lớn khôn lên về trí tuệ, đặc biệt là về tâm hồn tư tưởng, hình thành một nhân cách cao đẹp, thì có khi nó lại bị biến thành những giờ học nặng nề, khô khan, dẫn đến một số em nhàm chán, không thích học TLV là phân môn thực hành tổng hợp, nhưng không ít GV lại dạy thiên về lí thuyết, cho học sinh chép văn mẫu Để có được một kĩ năng, thông thường buộc phải trải qua nhiều bước luyện tập từ thấp đến cao, lúc đầu phải làm theo mẫu, sau
đó mới có thể vận dụng sáng tạo Nhưng trên thực tế, HS thường bỏ qua một số bước quan trọng, phần tập và phần luyện thường bị coi nhẹ Bên cạnh đó lại phải học những bài, những văn bản trùng lặp một cách đáng tiếc.Việc ra đề, đánh giá chất lượng học sinh theo tinh thần thông tư 30/TT của Bộ giáo dục & đào tạo vẫn còn những hạn chế nhất định
Việc ghi nhận xét chưa thật tường minh, còn ít tác dụng; quan tâm đến học
Trang 5sinh có học lực hạn chế chưa thật đúng mức Do áp lực phải đạt tỷ lệ cao về chất lượng, ngay trong một số bài kiểm tra cuối kì đã xuất hiện một số “bài văn mẫu” cho học sinh học thuộc, nên các em quá lệ thuộc, ít có những sáng tạo Việc đổi mới phương pháp giảng dạy tuy đã được phát động từ rất nhiều năm nay nhưng về căn bản một số GV vẫn dạy theo phương pháp cũ Đây là một khó khăn không nhỏ trong quá trình nâng cao chất lượng giảng dạy Hơn nữa, số HS say mê học phân môn TLV chưa nhiều, chất lượng học phần TLV ở một số bộ phận HS vẫn còn nhiều hạn chế, đó là:
Nhiều em không biết bắt đầu từ đâu, phải nói và viết những gì, viết như thế nào Chính vì vậy mà trong các tiết học phân môn này các em thường rất lúng túng, viết lan man, khôn mạch lạc, không đúng trọng tâm đề yêu cầu, ý văn nghèo nàn, dùng từ không chính xác, sử dụng ngôn ngữ địa phương còn nhiều Một số em
có thói quen nói như thế nào viết như thế ấy Học sinh tuy có sự hiểu biết nhưng các em chưa diễn đạt được ý mình muốn nói Trong khi làm bài văn cách diễn đạt văn phong của các em còn thiếu tự nhiên, kĩ năng diễn đạt còn yếu, ngôn ngữ chưa trau chuốt Bài viết chỉ mang tính liệt kê khô khan, không biết liên kết câu và lồng cảm xúc của người viết vào Một số em viết câu còn sai ngữ pháp, ít khi sử dụng câu văn giàu hình ảnh, cảm xúc, gợi tả, gọi cảm Bố cục bài viết chưa cân đối giữa các phần Vẫn còn một số em phân biệt chưa rõ các phần của bài văn dẫn đến bài viết khô khan, sơ sài đạt điểm thấp chẳng nói lên được điều gì, có chăng chỉ là một vài câu nhận xét là: lạc đề, văn nghèo ý, không biết liên hết câu, bài viết lan man không mạch lạc, chưa phong phú từ phía giáo viên mà thôi Điều đó đã làm cho các em ngày càng chán nản, lo sợ, mất tự tin, ngại học và cuối cùng là học yếu môn này
Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy cũng như qua dự giờ đồng nghiệp, bản thân tôi nhận thấy có những khó khăn nhất định so với yêu cầu đổi mới hiện nay trong môn Tiếng Việt Nguyên nhân chủ yếu là:
Về phía học sinh:
Đa số các em rất ngại học phân môn Tập làm văn vì đây là môn học đòi hỏi phải dùng ngôn ngữ viết để trình bày bài làm của mình nhưng vốn từ ngữ của các
em còn rất hạn chế
Tập làm văn là một môn học đòi hỏi học sinh phải thực sự có năng khiếu mới có kĩ năng viết văn nhưng thực tế học sinh rất ít em có khả năng làm được điều đó Bài viết của các em còn khô khan, trình tự sắp xếp còn lộn xộn, bố cục thiếu chặt chẽ, bài văn chưa có trọng tâm
Mặt khác, khả năng cảm thụ văn học của các em chưa cao Chưa biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật vào trong bài viết của mình nên hầu hết các bài văn đều chưa có cảm xúc và chưa lôi cuốn người đọc
Một số học sinh còn phụ thuộc vào bài văn mẫu, áp dụng một cách máy móc, chưa biết vận dụng bài mẫu để hình thành lối hành văn của riêng mình Phần lớn học sinh thường dùng lời cô hướng dẫn để viết thành bài văn của mình
Qua khảo sát chất lượng đầu năm học (theo chuẩn kiến thức-kỹ năng), chất lượng môn Tập làm văn của lớp tôi phụ trách như sau:
Trang 6- Kỹ năng về quan sát- tìm ý và sắp xếp ý: mức đạt yêu cầu : 23/33 em (tỷ lệ 69,7%)
- Kỹ năng tập làm văn nói: mức đạt yêu cầu: 27/33 em (tỷ lệ: 78.8%)
- Kỹ năng viết đọan văn: mức đạt yêu cầu: 28/33 em (tỷ lệ 84,8)
- Kỹ năng viết bài văn (đầy đủ các phần): mức đạt yêu cầu: 25/33 em (tỷ lệ 75,8%)
- Trước thực trạng đó, tôi thiết nghĩ mình cần phải thay đổi cách thức dạy học mới để góp phần nâng cao chất lượng phân môn Tập làm văn của lớp
Về phía giáo viên:
Tiếng Việt là môn học khó, nhất là phân môn Tập làm văn đòi hỏi người giáo viên phải có kiến thức sâu rộng, phong phú, phải có vốn sống thực tế
Trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5, giữa Tập đọc và Tập làm văn có mối quan hệ mật thiết với nhau Cụ thể trong cùng một tuần, cứ sau hai tiết Tập đọc là đến tiết Tập làm văn Các bài Tập làm văn thường gắn với chủ điểm đang học ở các bài Tập đọc Trong những bài văn, bài thơ, đoạn văn mẫu trong phân môn Tập đọc, phân môn Tập làm văn, tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ, đảo ngữ, điệp ngữ, điệp từ,… nhưng một
số giáo viên chưa hiểu hết tác dụng của nó
Hầu hết giáo viên dạy Tập đọc chỉ dừng lại ở mục tiêu cơ bản của tiết dạy là luyện đọc và trả lời câu hỏi theo yêu cầu sách giáo khoa chưa đi sâu vào hướng dẫn các em cảm thụ hết cái hay cái đẹp từ các biện pháp nghệ thuật mà tác giả đã
sử dụng để làm toát lên nội dung của bài Chưa hướng dẫn học sinh nhận dạng xem bài Tập đọc đó thuộc thể loại văn gì
Không ít giáo viên chưa hiểu hết tầm quan trọng của phân môn Tập đọc và Tập làm văn, còn xem nhẹ môn học này nên trong các buổi học chính khoá cũng như các tiết học tăng thêm vào buổi chiều, nhiều giáo viên chưa đầu tư nội dung bài soạn
Một số giáo viên xây dựng kế hoạch dạy học cho các tiết học tăng thêm vào buổi thứ hai và lên kế hoạch bồi dưỡng học sinh giỏi vào các tiết học ở buổi ngoại khóa nhưng không biết dạy nội dung gì? Dạy như thế nào?
II.2 Nội dung đề tài, sáng kiến, giải pháp (mô tả cụ thế đề tài, sáng kiến, giải pháp, nêu cách áp dụng vào thực tiển và hiệu quả của đề tài, sáng kiến, giải pháp về năng suất chất lượng, hiệu quả (nếu có) so với thực trạng khi chưa ap dụng.
1/ Tăng cường kiến thức, vốn sống thực tế cho học sinh:
a) Tăng cường kiến thức tích hợp từ các phân môn Tiếng Việt:
Trang 7Trong tác phẩm “Dạy Tập làm văn ở Tiểu học” - Tiến sĩ Nguyễn Trí viết:
“Phân môn Tập làm văn có tính chất tổng hợp, có quan hệ chặt chẽ với việc dạy học Tập đọc, Kể chuyện, Luyện từ và câu Đây là nơi tiếp nhận và cũng là nơi luyện tập càng ngày càng nhuần nhuyễn các kĩ năng và kiến thức các phân môn trên Bài tập làm văn trở thành sản phẩm tổng hơp, là nơi trình bày kết quả đích thực nhất của việc học Tiếng Việt
Mục đích cuối cùng của việc dạy học phân môn Tập làm văn ở trường Tiểu học là tổ chức cho học sinh được thực hành, vận dụng các kiến thức mang tính tổng hợp từ các phân môn khác như: Tập đọc, Chính tả, Luyện từ và câu, thông qua việc thực hiện dùng từ, đặt câu, diễn đạt ý một cách trôi chảy, mạch lạc, gãy gọn, khúc chiết, sinh động, phong phú, gợi tả, gợi cảm để hình thành nên đoạn văn, phát triển thành bài văn hoàn chỉnh
Để đạt được điều đó, tôi thấy rằng mình phải biết tổ chức cho học sinh được tham gia các hoạt động dưới nhiều hình thức mang tính đồng bộ và lồng ghép một cách thường xuyên trong các tiết học Chẳng hạn:
* Về khắc phục viết câu đúng ngữ pháp:
Ngay từ các lớp nhỏ, các em đã được học: “Khi nói và viết phải thành câu thì người nghe và người đọc mới hiểu được” Vậy mà các em vẫn cứ viết sai ngữ pháp, câu què, cụt khi thì thiếu chủ ngữ hoặc vị ngữ thậm chí có khi thiếu cả hai thành phần chính Bởi vậy, giáo viên thường khắc phục hiện tượng này trong tiết trả bài tập làm văn Giáo viên đưa ra những câu văn học sinh viết còn sai lên bảng
và hướng dẫn học sinh tìm cách sửa chữa, điều chỉnh cho đúng Bản thân thiết nghĩ khi giáo viên hướng dẫn cả lớp sửa, thường những em viết sai lại không biết mình viết sai, không biết câu văn mà giáo viên đưa ra đó mình phải sửa thế nào Vì thế, các em không có sự tập trung cao độ vào việc nhận thức được những lỗi sai và nắm cách sửa chữa, dẫn đến việc khắc phục viết sai ngữ pháp cho học sinh kém hiệu quả Do vậy, tôi thường làm như sau: Trước khi cho học sinh cả lớp sửa, tôi gặp riêng từng em có câu văn sai, hướng dẫn, chỉ bảo nhẹ nhàng, giúp các em hiểu và nắm được cách khắc phục nhược điểm của mình, đồng thời tôi động viên, nhắc nhở các em ghi nhớ để lần sau không mắc phải nữa Đến khi đưa ra cho cả lớp sửa, các
em lại được học hỏi và rút kinh nghiệm thêm một lần nữa, lúc này những biện pháp đưa ra khắc phục, sửa chữa lại càng có sức thuyết phục đối với các em và làm cho các em có càng khắc ghi những lỗi đó mà không lặp lại lần sau Tôi yêu cầu những em viết sai ngữ pháp về nhà ôn lại, học thuộc phần ghi nhớ về chủ ngữ - vị ngữ ở lớp Bốn Quan điểm của tôi ở phần này là không đợi đến khi học sinh viết sai rồi mới khắc phục sửa chữa, mà giáo viên cần giúp các em khắc phục tận gốc việc dẫn đến viết sai ngữ pháp của học sinh Đó là phải thường xuyên tổ chức cho học sinh ôn tập, củng cố để “lấp chỗ hỏng” kiến thức cho các
em Bởi lẽ các em không nắm hoặc nắm không chắc những kiến thức, kĩ năng cơ bản về câu ở các lớp dưới dẫn đến việc các em viết sai ngữ pháp, không diễn đạt được một ý trọn vẹn Vì thế, hằng ngày trong việc dạy Tiếng Việt, tôi thường xuyên tổ chức cho học sinh lĩnh hội kiến thức, kĩ năng của bài mới kết hợp với
Trang 8việc ôn luyện kiến thức, kĩ năng đã học một cách linh hoạt, sáng tạo Thực tế chứng minh, chỉ khi học sinh nắm vững những kiến thức, kĩ năng đã học thì các
em mới có điều kiện thuận lợi để tiếp thu bài mới được dễ dàng và hiệu quả Bởi vậy, ở bất kì phân môn nào của môn Tiếng Việt hay bất kì tiết học nào có vận dụng kiến thứccũ và liên quan đến kĩ năng viết của học sinh, tôi cũng có thể cho các em
ôn luyện lại những kiến thức mà các em đã học từ các lớp dưới
Trong suốt quá trình dạy tập làm văn cho học sinh, bên cạnh việc hướng dẫn, nhắc nhở học sinh khi đặt câu phải có đủ hai bộ phận chính đó là chủ ngữ và
vị ngữ, tôi còn luôn động viên, khuyến khích các em cần thêm những thành phần phụ như trạng ngữ, bổ ngữ, định ngữ…Để câu văn tránh được sự khô khan, cứng nhắc và trở nên mượt mà, sinh động hơn, dễ đi vào lòng người hơn Tôi còn chú tâm đến việc tạo cho học sinh một bầu không khí học tập vui tươi, tích cực và sáng tạo thông qua các hình thức: Thi đua, trò chơi, làm bài tập trắc nghiệm… Nhằm kích thích học sinh hứng thú, ham thích học phân môn Tập làm văn
* Cung cấp thêm một số vốn từ ngữ theo chủ đề:
Đối chiếu SGK Tiếng Việt 5 ta thấy: Khi dạy một thể loại TLV thì nội dung của phân môn Tập đọc, Từ ngữ tương ứng nhằm cung cấp cho HS vốn từ ngữ học thể loại này là rất ít Tất nhiên chúng ta đều biết rằng vốn từ ngữ của các em được tích luỹ từ lứa tuổi nhà trẻ, mẫu giáo và cả suốt những năm đầu ở bậc Tiểu học Nhưng vốn từ ấy thực sự vẫn chưa đủ để các em làm tốt bài TLV nếu không được cung cấp thêm các từ ngữ theo chủ đề
Để hỗ trợ HS, GV cần soạn thêm vốn từ ngữ giúp các em tham khảo để làm văn
Ví dụ: Từ thường dùng khi làm bài văn tả người:
- Tả thân hình, dáng người: Cao, lùn, gầy gò, ốm yếu, nho nhỏ, nhỏ thó, tầm thước, xương xương, mảnh khảnh, dong dỏnh, thon thả, đẫy đà, yểu điệu, béo phệ, mập mạp, lực lưỡng, vạm vỡ, trẻ trung, quắc thước, cân đối, gầy guộc, mảnh mai,
cường tráng, bệnh hoạn, tiều tuỵ, lụ khụ, uể oải, bụ bẫm…
- Tả khuôn mặt, diện mạo: Bầu bĩnh, trẻ măng,hồng hào, đen sạm, rám nắng, xanh xao, tái met, xanh tái như chàm, không còn chút máu, vuông vắn, vuông chữ điền, trái xoan, hốc hác, vô tư, đần độn, thông minh sáng sủa, khôi ngô, khả ái, xấu
xí, rỗ như tổ ong, tươi tỉnh, niềm nở, hớn hở, ủ rũ, cau có, bơ phờ, hung tợn, ngờ nghệch khờ khạo, lầm lì, là lạ, đạo mạo, thơ ngây, nhăn nheo, thờ thẫn, đăm chiêu, thiểu não, hiền hậu, dễ thương,…
- Tả làn da: Nhăn nheo, xanh như tàu lá, bạch tạng, trắng nõn, trắng trẻo, nõn
nà, mịn màng, chai cứng, nứt nẻ, có nhiều vết xẹo, sần sùi, tái mét, xanh xao, xanh lét, hồng hào, đỏ thắm, mốc thếch, đen sạm, da bánh mật, ngăm ngăm, ngăm đen, đen đủi,…
Trang 9- Tả mắt: Đen huyền, đen láy, trong sang, u buồn, thâm quầng, trắng đục, đỏ ngầu, mù loà, sang, lồi, tròn vo,xếch, một mí, mất ốc bươu, trao tráo, ti hí, mắt bồ câu,…
- Tả cái nhìn của đôi mắt: Đăm đắm, đắm đuối, dáo dác, trìu mến, mơ màng, chòng chọc, chăm chú, ngơ ngác, hằn học,…
- Tả tính tình/tính cách: Nóng nảy, khoác lác, ba hoa, nham hiểm, xảo quyệt, tham lam, ích kỉ, ưa giễu cợt, cau có, gắt gỏng, hấp tấp, khắt khe, láu táu, ít nói, nhã nhặn, bạo dạn, vị tha, hời hợt, lười nhác, lì lợm, trầm tính, đứng đắn, thật thà,
ôn hoà, hiền hậu, vui vẻ, nhút nhát, nghiêm nghị, dè dặt, siêng năng, thận trọng, lỗ mãng,…
- Diễn tả thái độ: Vui sướng, hớn hở, hân hoan, hả hê, thoả thích, sảng khoái, khoái chí, vui nhộn, vui đáo để, vui mừng, đắc chí,…
* Bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học - nhất là thông qua dạy học các
bài tập đọc:
Cảm thụ văn học là một quá trình hoạt động nhận thức thẩm mĩ rất đặc biệt, phức tạp và có tính sang tạo Quá trình cảm thụ văn học là quá trình nhận thức cái đẹp được chứa đựng trong thế giới ngôn từ hệ thống hoá tín hiệu thứ hai của loài người Quá trình này còn mang tính chất chủ quan vì nó phụ thuộc vào vốn sống, vốn kinh nghiệm, hiểu biết riêng của người cảm thụ văn học Hiểu một cách đơn giản, cảm thụ văn học là sự cảm nhận những giá trị nổi bật, những điều sâu sắc, tế nhị và đẹp đẽ của văn học thể hiện trong tác phẩm (cuốn truyện, bài văn, bài thơ,…) hay một bộ phận của tác phẩm (đoạn văn, đoạn thơ, thậm chí một từ ngữ có giá trị trong câu văn, câu thơ) Cảm thụ văn học phụ thuộc rất nhiều vào vốn sống của HS nên bồi dưỡng năng lực cảm thụ văn học trước hết là cần tạo điều kiện để HS tiếp xúc với tác phẩm, cần tôn trọng nhưỡng suy nghĩ cảm xúc thực,thơ ngây của trẻ em và nâng chúng lên ở chất lượng cao hơn Cần trang bị cho các em một số kiến thức về văn học như hình ảnh, chi tiết kết cấu tác phẩm, các đặc trưng ngữ nghệ thuật, một số biện pháp tu từ…Một trong những biện pháp có hiệu quả để bồi dưỡng cảm thụ văn học là rèn luyện cách đọc diễn cảm có sáng tạo Nó giúp HS nâng cao khả năng cảm xúc thẩm mĩ, kích thích các
em khám phá ra cái hay, cái đẹp của văn chương Đọc diễn cảm là hình thức tái sản sinh tác phẩm nghệ thuật, là khám phá ra nhữnh gì ẩn dưới các dòng chữ để cho chúng được vang lên, giúp cho việc học làm văn ngày càng tốt hơn
Để trau dồi năng lực cảm thụ văn học ở HS lớp 5, GV cần giúp HS nắm vững kiến thức cơ bản trong chương trình môn Tiếng Việt lớp 5 Có hiểu biết về ngữ âm và chữ viết tiếng việt, HS mới dễ dàng cảm nhận được vẻ đẹp của câu thơ tả cảnh mùa hạ của Nguyễn Du:
Dưới trăng quyên mới gọi hè
Đầu tường lửa lựu lập loè đâm bông
Lửa lựu lập loè - bốn phụ âm đầu L được lặp lại, các thanh điệu hài hoà, từ láy lập loè có một tiếng láy mang vần ấp( thường gợi nét nghĩa: một trạng thái không ổn định, lúc mờ lúc tỏ, lúc mạnh lúc yếu, lúc cao lúc thấp…tương tự các
Trang 10từ láy: gập ghềnh,nhấp nhô, thập thò…) những hiểu biết đó giúp HS thấy rõ hình ảnh hoa lựu đỏ như sắc lửa khi ẩn, khi hiện, báo hiệu không khí oi bức của mùa
hạ đang tới gần Nắm vững kiến thức ngữ pháp tiếng việt, HS sẽ không thể chỉ nói- viết tốt mà còn có thể cảm nhận được nét đẹp của nội dung qua những hình thức diễn đạt sinh động và sáng tạo
Ngoài những kiến thức về ngữ âm, từ ngữ, ngữ pháp, qua các giờ tập đọc,
kể chuyện, TLV ở lớp 5 người GV cần cho HS làm quen và cảm nhận bước đầu
về một số khái niệm như: hình ảnh, chi tiết, bố cục…khi tìm hiểu một văn bản trên lớp, để tìm hiểu nội dung, ý nghĩa của bài văn, bài thơ, cảm thụ văn học tốt hơn GV cần hướng dẫn về một số biện pháp nghệ thuật tu từ thuộc yêu cầu chương trình lớp 5 như: so sánh, nhân hoá, điệp ngữ, đảo ngữ…
Ví dụ ở bài thơ: Ngày em vào đội” (TV5 tập 1) tôi đã hướng dẫn cho các
em thấy về cách dùng từ ngữ, hình ảnh hay, phân tích tâm trạng cảm xúc của nhân
vật qua các bài văn « Nắng vườn trưa mênh mông/ Bướm bay như lời hát/ Con tàu
là đất nước/ Đưa ta tới bến xa ” Tôi đã cho các em nhận xét các hình ảnh đẹp
trong khổ “Nắng trưa” “Bướm bay” “Con tàu” và các em biết tác giả đã dùng hình ảnh so sánh: Bướm bay - lời hát; Con tàu - đất nước
Khi dạy bài “Vè miền đất đỏ” tôi đã phân tích về bố cục và cách tường thuật
Dạy bài “Buổi sáng mùa hè trên thung lũng” tôi đã khắc sâu cho các em về nghệ thuật miêu tả dùng từ láy, thứ tự miêu tả, bố cục của bài văn qua đó học sinh học tập được cách quan sát, sắp xếp ý của tác giả
Khi tìm hiểu nội dung bài “Đêm trăng hành quân về đồng bằng” học sinh tìm hiểu được từ cách miêu tả cảnh bộ đội hành quân trong một đêm trăng đẹp đến việc khai thác tâm trạng của các anh bộ đội khi tiến về giải phóng đồng bằng
Học đến bài “Tiếng hát mùa gặt”, “Hạt gạo làng ta” tôi cung cấp thêm cho học sinh nghệ thuật tu từ, cách miêu tả giàu cảm xúc và sử dụng các hình ảnh đối lập Qua đó học sinh biết cách quan sát tinh tế có chọn lọc khi miêu tả
* Tăng cường vốn hiểu biết về cuộc sống thực tế cho học sinh
Hiện nay, nhiều GV khi dạy làm văn cho HS thường thiên về dạy các kĩ thuật làm bài mà không cung cấp các chất liệu sống, cái tạo nên nội dung bài viết