Chương 6 nghiên cứu các loại chỉ số, vận dụng, tính toán được các loại chỉ số, các mức độ của hiện tượng kinh tế xã hội là yêu cầu quan trọng của việc tổng hợp, tính toán và phân tích [r]
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIÁO TRÌNH
TRÌNH ĐỘ: TRUNG CẤP
(Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-CĐKTKT ngày tháng năm 20 của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Kinh tế - Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh)
Trang 2ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG KINH TẾ KỸ THUẬT
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
GIÁO TRÌNH
Thành phố Hồ Chí Minh, năm
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Thống kê là một ngành khoa học có vai trò quan trọng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế xã hội Toán thống kê, lý thuyết thống kê theo hướng ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh, là công cụ không thể thiếu được trong hoạt động nghiên cứu và quản lý Toán thống kê đã trở thành một môn học cơ sở trong hầu hết các ngành đào tạo thuộc khối kinh tế
Giáo trình này được biên soạn nhằm mục đích giúp cho bạn đọc am hiểu các vấn
đề về lý thuyết, chuẩn bị cho những tiết thực hành trên máy tính có hiệu quả, là cơ sở quan trọng cho người học tiếp cận các môn học chuyên ngành kinh tế
Để đáp ứng nhu cầu trên, Tác giả thực hiện biên soạn quyển sách giáo trình Toán thống kê Tài liệu này được viết trên cơ sở bạn đọc đã có kiến thức về toán, cho nên cuốn sách không đi sâu về mặt toán học mà chú trọng đến kết quả và ứng dụng trong lĩnh vực kinh tế và quản trị kinh doanh với các ví dụ gần gũi với thực tế
Giáo trình Toán thống kê gồm 6 chương:
Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của Toán thống kê
Chương 2: Điều tra thống kê thu thập thông tin phát triển kinh tế- xã hội và kinh doanh sản xuất- dịch vụ
Chương 3: Phân tổ tổng hợp và trình bày tai liệu điều tra thống kê về hiện tượng kinh tế - xã hội và kinh doanh - sản xuất dịch vụ
Chương 4: Các chỉ tiêu thống kê mức độ khối lượng của hiện tượng kinh tế - xã hội và kinh doanh sản xuất - dịch vụ
Chương 5: Các chỉ tiêu thống kê mức độ tương đối của hiện tượng kinh tế - xã hội
và kinh doanh sản xuất - dịch vụ
Chương 6: Chỉ số
Với kinh nghiệm giảng dạy được tích lũy qua nhiều năm, tham gia thực hiện các
đề tài nghiên cứu trong lĩnh vực kinh tế xã hội; cùng với sự phối hợp và hỗ trợ của đồng nghiệp, Tác giả hy vọng quyển sách này đáp ứng được nhu cầu học tập của các sinh viên
và nhu cầu tham khảo của các bạn đọc có quan tâm đến Toán thống kê trong nghiên cứu kinh tế xã hội
Trong quá trình biên soạn chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, Tác giả rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quí báu của bạn đọc để lần tái bản sau quyển sách được hoàn thiện hơn Xin chân thành cám ơn
TP HCM, ngày……tháng……năm 2020
Chủ biên
Hồ Thanh Phúc
Trang 5MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TOÁN THỐNG KÊ 1
1.1 Khái niệm thống kê 1
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Toán thống kê 1
1.3 quá trình nghiên cứu thống kê 4
1.4 Một số khái niệm và phạm trù thường sử dụng trong thống kê 5
1.4.1 Tổng thể thống kê (Populations) 5
1.4.2 Đơn vị tổng thể thống kê 6
1.4.3 Đơn vị điều tra 6
1.4.4 đơn vị báo cáo 6
1.4.5 Tiêu thức thống kê 7
1.4.6 Lượng biến, tần số, tần suất, tần số tích lũy 7
CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA THỐNG KÊ THU NHẬP THÔNG TIN PHÁT TRIỂN KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ KINH DOANH SẢN XUẤT DỊCH VỤ 9
2.1 Ý nghĩa tác dụng và nhiệm vụ của điều tra thống kê 9
2.2 Các hình thức điều tra thống kê 10
2.2.1 Báo cáo thống kê định kỳ 10
2.2.2 Điều tra chuyên môn 11
2.3 Các loại điều tra thống kê 11
2.3.1 Điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên 11
2.3.2 Điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ 11
2.4 Dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng 13
2.4.1 Dữ liệu định tính 13
2.4.2 Diệu liệu định lượng 13
2.5 Dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp 13
2.5.1 Dữ liệu thứ cấp (Secondary data): 14
2.5.2 Dữ liệu sơ cấp (Primary data): 14
2.6 Các phương pháp điều tra thống kê 15
2.6.1 Phương pháp trực tiếp: là trực tiếp thực hiện việc tiếp xúc, thu thập thông tin .15
2.6.2 Phương pháp gián tiếp: là trực tiếp thực hiện việc tiếp xúc, thu thập thông tin qua các công cụ trung gian .16
CHƯƠNG 3: PHÂN TỔ TỔNG HỢP VÀ TRÌNH BÀY TÀI LIỆU ĐIỀU TRA THỐNG KÊ VỀ HIỆN TƯỢNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KINH DOANH SẢN XUẤT DỊCH VỤ 17
3.1 Khái niệm, ý nghĩa của phân tổ thống kê 17
3.1.1 Khái niệm 17
3.1.2 Ý nghĩa của phân tổ thống kê 17
3.2 Lựa chọn tiêu thức phân tổ thống kê 18
3.2.1 Phân tổ theo một tiêu thức 18
Trang 63.2.2 Phân tổ theo nhiều tiêu thức 18
3.3 Xác định số tổ và khoảng cách tổ 19
3.3.1 Xác định số tổ 19
3.3.2 Xác định khoảng cách tổ 19
3.4 Trình bày kết quả tổng hợp tài liệu điều tra qua phân tổ thống kê 20
3.5 Bài tập chương 3 22
CHƯƠNG 4: CÁC CHỈ TIÊU THỐNG KÊ MỨC ĐỘ KHỐI LƯỢNG CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ -XÃ HỘI VÀ KINH DOANH SẢN XUẤT – DỊCH VỤ 24
4.1 Chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối trong thống kê 24
4.1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa, tác dụng .24
4.1.2 đơn vị tính toán .25
4.1.3 Các loại chỉ tiêu mức độ khối lượng tuyệt đối .25
4.2 Chỉ tiêu mức độ khối lượng bình quân trong thống kê 27
4.2.1 Khái niệm, ý nghĩa, đặc điểm của chỉ tiêu .27
4.2.2 Các loại chỉ tiêu mức độ bình quân và phương pháp xác định 28
4.3 Chi tiêu mức độ khối lượng tăng giảm 34
4.3.1 Chi tiêu mức độ khối lượng tăng giảm tuyệt đối 34
4.3.2 Chỉ tiêu mức độ khối lượng tăng giảm bình quân 35
4.4 Chỉ tiêu mức độ biến thiên của tiêu thức 35
4.4.1 Khái niệm, ý nghĩa, nghiên cứu độ biến thiên của tiêu thức .35
4.4.2 Các chỉ tiêu biểu hiện độ biến thiên của tiêu thức 36
4.5 Bài tập chương 4 37
CHƯƠNG 5: CÁC CHỈ TIÊU THỐNG KÊ MỨC ĐỘ TƯƠNG ĐỐI CỦA HIỆN TƯỢNG KINH TẾ XÃ HỘI VÀ KINH DOANH SẢN XUẤT DỊCH VỤ 39
5.1 Khái niệm, ý nghĩa của các chỉ tiêu mức độ tương đối 39
5.1.1 Khái niệm 39
5.1.2 Ý nghĩa 39
5.2 Đơn vị tính chỉ tiêu mức độ tương đối 39
5.3 Các chỉ tiêu mức độ tương đối 40
5.3.1 Các chỉ tiêu mức độ tương đối động thái .40
5.3.2 Các chỉ tiêu mức độ tương đối kế hoạch .41
5.3.3 Các chỉ tiêu mức độ tương đối kết cấu (tỷ trọng) 42
5.3.4 Các chỉ tiêu mức độ tương đối so sánh (số tương đối không gian) 42
5.4 Bài tập chương 5 43
CHƯƠNG 6: CHỈ SỐ 45
6.1 Khái niệm, ý nghĩa và tác dụng của chỉ số 45
6.1.1 Khái niệm chỉ số 45
6.1.2 Ý nghĩa và tác dụng của chỉ số 45
6.2 Phân loại chỉ số 46
Trang 76.2.1 Căn cứ vào phạm vi tính toán 46
6.2.2 Phân loại theo tính chất của chỉ tiêu nghiên cứu 46
6.2.3 Phân loại theo phương pháp tính toán chỉ số .46
6.3 Phương pháp xây dựng chỉ số và công thức tính 46
6.3.1 Chỉ số tổng hợp 46
6.3.2 Chỉ số bình quân 47
6.4 Hệ thống chỉ số 47
6.4.1 Khái niệm 47
6.4.2 Vận dụng hệ thống chỉ số trong phân tích thống kê 48
6.5 Bài tập chương 6 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 53
Trang 8GIÁO TRÌNH MÔN HỌC Tên môn học: Toán thống kê
Mã môn học: MH2104069
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của môn học:
- Vị trí: Môn học Toán thống kê là môn học bắt buộc nằm trong nhóm môn học cơ sở được bố trí giảng dạy sau khi đã học xong các môn học chung
- Tính chất: Môn học Toán thống kê cung cấp những kiến thức cơ bản về thống kê các hiện tượng kinh tế- xã hội, làm cơ sở cho sinh viên nhận thức môn học thống kê doanh nghiệp và các môn chuyên môn của ngành tài chính doanh nghiệp
- Ý nghĩa và vai trò của môn học:
Thông tin thống kê là một nguồn lực của sản xuất kinh doanh, là nguồn lực vô giá
Nó có thể sử dụng cho nhiều mục tiêu và sử dụng nhiều lần Với các giá trị này, khi sử dụng thông tin cần xử lí thông tin và xây dựng ngân hàng cơ sở dữ liệu cho nề nếp
Thông tin thống kê cũng có các tính chất sau: khách quan, phụ thuộc, lan truyền, cùng hưởng, có hiệu lực, biến động, khuyếch tán và thu gọn
Trong thực tế có rất nhiều thông tin liên quan đến hiện tượng hay quá trình kinh tế
xã hội Tuỳ theo vấn đề và mục tiêu nghiên cứu mà xác định những thông tin hay dữ liệu nào cần thiết Do đó, vấn đề đầu tiên của công việc thu thập thông tin là xác định rõ và cụ thể những dữ liệu nào cần thu thập, thứ tự ưu tiên của các dữ liệu này Nếu không thực hiện được điều này sẽ dẫn đến tình trạng dữ liệu thu thập được rất nhiều nhưng dữ liệu đáp ứng cho mục đích nghiên cứu thì ít hoặc thiếu, gây lãng phí thời gian, tiền bạc
Mục tiêu của môn học:
- Về kiến thức:
Trình bày được các kiến thức cơ bản về phương pháp điều tra, thu thập thông tin, tổng hợp tài liệu điều tra để cung cấp dữ liệu cần thiết trong việc ra quyết định về phát triển kinh tế - xã hội và kinh doanh sản xuất của doanh nghiệp
- Về kỹ năng:
Nhận biết, đọc hiểu, trình bày, tổng hợp, phân tích các tài liệu điều tra thống kê, tính toán được các tiêu chí thống thống kê như số bình quân, số trung vị, số mode, các số tương đối, số tuyệt đối, mức độ hoàn thành kế hoạch, chỉ số,…và dự báo sự phát triển kinh doanh trong doanh nghiệp và nền kinh tế
Trang 9Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
CHƯƠNG 1: ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU CỦA TOÁN THỐNG KÊ
Giới thiệu:
Chương 1 là hệ thống tổng quan các phương pháp và một số khái niệm bao gồm thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu, tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích, dự đoán và ra quyết định
Nội dung chính
1.1 Khái niệm thống kê
Thống kê là một hệ thống các phương pháp (thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu
và tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu) nhằm tìm ra bản chất và tính quy
luật vốn có trong điều kiện thời gian và không gian cụ thể
Bao gồm các hoạt động:
+ Thu thập và xử lý số liệu, điều tra chọn mẫu
+ Nghiên cứu mối liên hệ giữa cá hiện tượng
+ Dự báo
+ Nghiên cứu các hiện tượng trong hoàn cảnh không chắc chắn
+ Ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn
1.2 Đối tượng nghiên cứu của Toán thống kê
Thống kê học là môn khoa học xã hội, nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ chặt
chẽ với mặt chất của các hiện tượng kinh tế- xã hội số lớn, trong điều kiện thời gian và địa điểm cụ thể
Từ nhận định này, chúng ta cần hiểu đúng đối tượng nghiên cứu của thống kê ở các điểm chính sau
- Thống kê học là một môn khoa học xã hội
Trang 10Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
Thống kê học là một môn khoa học xã hội, bởi vì thống kê nghiên cứu các hiện tượng kinh tế - xã hội hay quá trình kinh tế xã hội Các hiện tượng và quá trình đó thường là:
Các hiện tượng về quá trình tái sản xuất mở rộng như cung cấp nguyên liệu, quy trình công nghệ, chế biến sản phẩm
Các hiện tượng về phân phối, trao đổi, tiêu dùng sản phẩm (marketing) như giá
cả, lượng hàng xuất, nhập hàng hoá, nguyên liệu
Các hiện tượng dân số, lao động như tỷ lệ sinh, tử, nguồn lao động, sự phân bố dân cư, lao động
Các hiện tượng về văn hoá, sức khoẻ như trình độ văn hoá, số người mắc bệnh, các loại bệnh, phòng chống bệnh
Các hiện tượng về đời sống chính trị, xã hội, bầu cử, biểu tình
Ngoài ra thống kê còn nghiên cứu ảnh hưởng của các hiện tượng tự nhiên đến sự phát triển của các hiện tượng kinh tế xã hội, như ảnh hưởng của khí hậu, thời tiết, của các biện pháp kỹ thuật tớia quá trình sản xuất nông nghiệp, kết quả sản xuất nông nghiệp
và đời sống nhân dân
- Thống kê nghiên cứu mặt lượng trong mối liên hệ chặt chẽ với mặt chất của số lớn hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội
+ Mặt lượng (những biểu hiện cụ thể, đo lường được):
Quy mô của hiện tượng: Các mức độ to nhỏ, lớn bé, rộng hẹp
Ví dụ: Diện tích canh tác của 1 doanh nghiệp nông nghiệp A năm 2005 là 500 ha, dân số trung bình của Việt Nam 2003 là 80,90 triệu người (Niên giám thống kê 2003),
tổng số sinh viên của 1 lớp năm học 2005 - 2006 là 80 người
Kết cấu của hiện tượng: Hiện tượng tạo nên từ các bộ phận nào, mỗi bộ phận chiếm bao nhiêu %;
Ví dụ: Lớp có 50 học sinh, nam là 40 học sinh, chiếm 80%, nữ là 10, chiếm 20% Tốc độ phát triển của hiện tượng: So sánh mức độ của hiện tượng theo thời gian để thấy mức độ tăng hay giảm của hiện tượng;
Trình độ phổ biến của hiện tượng: Tính cụ thể phạm vi xảy ra hiện tượng, cá biệt hay phổ biến từ đó thấy được ảnh hưởng của nó tới hiện tượng lớn hơn Ví dụ: Tỷ lệ tai nạn giao thông xe máy năm 2004 là 2%, có nghĩa là cứ 100 người đi xe máy thì có 2 người tai nạn Mối quan hệ tỷ lệ giữa các hiện tượng hoặc giữa các tiêu thức của cùng một hiện tượng
+ Liên hệ chặt chẽ với mặt chất của số lớn hiện tượng:
Trang 11Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
Thông qua các mặt lượng của hiện tượng để đánh giá bản chất của hiện tượng như quy mô to nhỏ, bộ phận nào nhiều hay ít, xu hướng tiến lên hay giảm đi, mức độ phổ biến của hiện tượng thế nào nhưng để đánh giá một cách khách quan bản chất của hiện tượng thì mặt lượng của hiện tượng phải được thể hiện ở số lớn đơn vị chứ không phải ở từng đơn vị cá biệt
Ví dụ, đánh giá kết quả học tập 2 sinh viên A, B cần dựa vào kết quả học tập nhiều học kỳ, nhiều môn; dựa vào ý thức phấn đấu, sự tham gia các phong trào đoàn, quan hệ bạn bè Việc làm như vậy người ta gọi là nghiên cứu mặt lượng ở số lớn
Thống kê không nghiên cứu bản chất và quy luật của hiện tượng, mà thông qua mặt lượng có thể đánh giá được bản chất và tính quy luật của hiện tượng
- Thống kê nghiên cứu các hiện tượng và quá trình kinh tế xã hội trong điều kiện địa điểm và thời gian cụ thể
Mỗi hiện tượng, hay quá trình kinh tế xã hội ở thời gian, địa điểm khác nhau thì mặt lượng cũng khác nhau Do đó, đối tượng nghiên cứu của thống kê học cũng cần cụ thể hoá ở thời gian nào, địa điểm nào hay trả lời câu hỏi bao giờ ? và ở đâu ?
Thống kê được ứng dụng vào mọi lĩnh vực, Đặc biệt là trong lĩnh vực kinh tế, xã hôi, tự nhiên, kỹ thuật, thống kê thường quan tâm nghiên cứu các hiện tượng như sau:
+ Các hiện tượng về nguồn tài nguyên, môi trường, của cải tích lũy của đất nước, của một vùng
+ Các hiện tượng về sản xuất: phân phối, lưu thông, tiêu dùng sản phẩm
+ Các hiện tượng về dân số, nguồn lao động, giáo dục, y tế, thể thao…
+ Các hiện tượng về sinh hoạt, chính trị, xã hội
+ Các hiện tượng về kỹ thuật
-Nghiên cứu các hiện tượng trong hoàn cảnh không chắc chắn
Trong thực tế, có nhiều hiện tượng mà thông tin liên quan đến đối tượng nghiên cứu không đầy đủ mặc dù người nghiên cứu đã có sự cố gắng Ví dụ như nghiên cứu về
Trang 12Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
nhu cầu của thị trường về một sản phẩm ở mức độ nào, tình trạng của nền kinh tế ra sao,
để nắm được các thông tin này một cách rõ ràng quả là một điều không chắc chắn
-Điều tra chọn mẫu
Trong một số trường để nghiên cứu toàn bộ tất cả các quan sát của tổng thể là một điều không hiệu quả, xét cả về tính kinh tế(chi phí, thời gian) và tính kiệp thời, hoặc không thực hiện được.chính điều này đã đặc ra cho thống kê xây dựng các phương pháp chỉ cần nghiên cứu một bộ phận của tổng thể mà có thể suy luận cho hiện tượng tổng quát
mà vẫn đảm bảo độ tin cậy cho phép đó là phương pháp điều tra chọn mẫu
-Nghiên cứu mối liên hệ giữa các hiện tượng:
Giữa các hiện tượng thông thường có mối liên hệ với nhau ví dụ: mối liên hệ giữa chi tiêu và thu nhập; mối liên hệ giữa lượng vốn vay và các yếu tố tác động đến lượng vốn vay như chi tiêu, thu nhập, trình độ học vấn; mối liên hệ tốc độ phát triển với tốc độ phát triển của các ngành, lạm phát, tốc độ phát triển dân số sự hiểu biết về mối liên hệ giữa các hiện tượng rất có ý nghĩa, phục vụ cho quá trình dự đoán
Dự đoán dựa vào nội suy và dựa vào ngoại suy:
Dự đoán nội suy là chúng ta dựa vào bản chất của hiện tượng để suy luận Ví dụ như chúng ta xem xét mối liên hệ giữa lượng sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc các yếu tố đầu vào như vốn, lao động và trình độ khoa học kỹ thuật
Dự đoán dựa vào ngoại suy là chúng ta chỉ quan sát sự biến động của hiện tượng trong thực tế, tổng hợp lại thành quy luật và sử dụng quy luật này để suy luận, dự đoán sự phát triển của hiện tượng Ví dụ như để đánh giá kết quả hoạt động của một công ty người ta xem xét kết quả hoạt động kinh doanh của họ qua nhiều năm
Ngoài ra, người ta còn có thể phân chia dự báo thống kê ra thành nhiều loại khác
1.3 quá trình nghiên cứu thống kê
Khái quát quá trình thống kê:
Trang 13Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
Sơ đồ: Quá trình nghiên cứu thống kê
Quá trình nghiên cứu thống kê theo trình tự được khái quát hoá bằng sơ đồ trên Theo sơ đồ này, quá trình nghiên cứu thống kê được chia thành 6 bước theo 3 giai đoạn với trình tự từ trên xuống Hai mũi tên có hướng đi từ dưới lên nhằm chỉ rõ các cộng đoạn cần phải kiểm tra lại, bổ sung thông tin hoặc làm lại nếu dữ liệu chưa đạt yêu cầu
Giai đoạn I: Điều tra thống kê bao gồm thu thập các thông tin ban đầu về các tiêu thức ở
từng đơn vị tổng thể;
Giai đoạn II: Tổng hợp thống kê bao gồm tổng hợp và hệ thống hoá các tài liệu đã thu
thập được từ giai đoạn I;
Giai đoạn III: Phân tích thống kê nhằm sử dụng những phương pháp chuyên môn của
thống kê để phát hiện các vấn đề làm cơ sở đề xuất các giải pháp
Các bước và các giai đoạn này đều có mối liên hệ rất chặt chẽ Kết quả và chất lượng kết quả của bước trước làm cơ sở và có ảnh hưởng đến chất lượng bước sau
1.4 Một số khái niệm và phạm trù thường sử dụng trong thống kê
1.4.1 Tổng thể thống kê (Populations)
-Khái niệm tổng thể: Tổng thể thống kê là tập hợp các đơn vị cá biệt về sự vật, hiện
tượng trên cơ sở một đặc điểm chung nào đó cần được quan sát, phân tích mặt lượng của chúng
Trang 14Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
-Khái niệm đơn vị tổng thể: Các đơn vị, phần tử tạo nên hiện tượng được gọi là các đơn
vị tổng thể
Như vậy, muốn xác định được một tổng thể thống kê, ta cần phải xác định được tất cả các đơn vị tổng thể của nó Thực chất của việc xác định tổng thể thống kê là việc xác định các đơn vị tổng thể
-Phân loại tổng thể:
+ Tổng thể trong đó bao gồm các đơn vị mà ta có thể trực tiếp quan sát hoặc nhận
biết là Tổng thể bộc lộ và ngược lại là tổng thể tiềm ẩn Ví dụ: tổng thể sinh viên 1
trường, tổng thể doanh nghiệp trong 1 địa bàn là tổng thể bộc lộ ví dụ: tổng thể các cá nhân đồng ý vấn đề, hay tổng thể các cá nhân yêu thích âm nhạc là tổng thể tiềm ẩn Trong nhiều trường hợp, các đơn vị của tổng thể được biểu hiện một cách rõ ràng, dễ xác định Ta gọi nó là tổng thể bộc lộ Ngược lại, một tổng thể mà các đơn vị của nó không được nhận biết một cách trực tiếp, ranh giới của tổng thể không rõ ràng được gọi là tổng thể tiềm ẩn
Đối với tổng thể tiềm ẩn, việc tìm được đầy đủ, chính xác gặp nhiều khó khăn Việc nhầm lẫn, bỏ sót các đơn vị trong tổng thể dễ xảy ra Ví dụ như tổng thể là những người mê nhạc cổ điển, tổng thể là những người mê tín dị đoan,
+ Ngoài ra còn phương pháp phân biệt: sự giống nhau ở các phẩn tử gọi là tổng thể đồng chất, và tổng thể không đồng chất Ví dụ: đối tượng nghiên cứu là tìm hiểu về
hiệu quả sử dụng vốn trong doanh nghiệp dệt trên 1 địa bàn là tổng thể đồng chất
1.4.2 Đơn vị tổng thể thống kê
Là xuất phát điểm trong quá trình nghiên cứu thống kê, vì nó chứa đựng những thông tin ban đầu cho quá trình nghiên cứu
1.4.3 Đơn vị điều tra
Mẫu là một bộ phận của tổng thể, đảm bảo được tính đại diện và được chọn ra để quan sát và dùng để suy diễn cho toàn bộ tổng thể Như vậy, tất cả các phần tử của mẫu phải thuộc tổng thể, nhưng ngược lại các phần tử của tổng thể thì chưa chắc thuộc mẫu Điều này tưởng chừng là đơn giản, tuy nhiên trong một số trường hợp việc xác định mẫu cũng có thể dẫn đến nhầm lẫn, đặc biệt là trong trường hợp tổng thể chúng ta nghiên cứu
là tổng thể tiềm ẩn
Ngoài ra, chọn mẫu như thế nào để làm cơ sở suy diễn cho tổng thể, tức là mẫu phải mang tính chất đại diện cho tổng thể Điều này thực sự không dễ dàng, ta chỉ có thể
cố gắng hạn chế tối đa sự sai biệt này mà thôi chứ không thể khắc phục được hoàn toàn
1.4.4 đơn vị báo cáo
Trang 15Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
đơn vị tính được ghi bên góc phải của bảng
- Đơn vị tính theo từng chỉ tiêu trong cột, trong trường hợp này đơn vị tính sẽ được đặt dưới chỉ tiêu của cột
- Đơn vị tính theo từng chỉ tiêu trong hàng, trong trường hợp này đơn vị tính sẽ được đặt sau chỉ tiêu theo mỗi hàng hoặc tạo thêm một cột ghi đơn vị tính
- Đơn vị tính chỉ tiêu mức độ tương đối: số lần, số phần trăm(%), số phần ngàn(%0), đơn vị kép (người/km)……
1.4.5 Tiêu thức thống kê
Các đơn vị tổng thể thường có nhiều đặc điểm khác nhau, tuy nhiên trong thống kê người ta chỉ chọn một số đặc điểm để nghiên cứu, các đặc điểm này người ta gọi là tiêu thức thống kê Như vậy, tiêu thức thống kê là khái niệm chỉ các đặc điểm của đơn vị tổng thể Mỗi tiêu thức thống kê đều có các giá trị biểu hiện của nó, dựa vào sự biểu hiện của
nó người ta chia ra làm hai loại:
-Tiêu thức thuộc tính: là tiêu thức phản ánh loại hoặc tính chất của đơn vị Ví dụ như
ngành kinh doanh, nghề nghiệp
-Tiêu thức số lượng: là đặc trưng của đơn vị tổng thể được thể hiện bằng con số Ví dụ
như năng suất của một loại cây trồng
Tiêu thức số lượng lại được chia ra làm hai loại:
- Loại rời rạc: là loại các giá trị có thể của nó là hữu hạn hay vô hạn và có thể đếm được
- Loại liên tục: là loại mà giá trị của nó có thể nhận bất kỳ một trị số nào đó trong một
khoản nào đó
1.4.6 Lượng biến, tần số, tần suất, tần số tích lũy
Lượng biến là biểu hiện cụ thể về lượng của các đơn vị tổng thể theo tiêu thức số lượng
Ví dụ: Độ tuổi 3, 4, 5, 10, 20 tuổi là lượng biến của tiêu thức độ tuổi, biểu hiện mức độ của tiêu thức số lượng
Có hai loại lượng biến Lượng biến rời rạc và lượng biến liên tục
- Lượng biến rời rạc là lượng biến mà các giá trị có thể có của nó là hữu hạn hay vô hạn nhưng có thể đếm được
Thí dụ: Số công nhân trong một doanh nghiệp; số sản phẩm sản xuất ra trong một ngày của 1 phân xưởng may
- Lượng biến liên tục: Là lượng biến mà các giá trị có thể có của nó được lấp kín cả một khoảng trên trục số
Thí dụ: năng suất cây trồng; giá bán hàng hoá
Trang 16Toán thống kê Chương 1: Đối tượng nghiên cứu của nguyên lý thống kê
- Sau khi phân tổ chúng ta có thể trình bày số liệu bằng cách sử dụng bảng phân phối tần
số để biết được một số tính chất cơ bản của hiện tượng nghiên cứu
+ Lượng biến (xi): là các trị số nói lên biểu hiện cụ thể của tiêu thức số lượng
+ Tần số (fi): là số lần xuất hiện của các lượng biến
+ Tần suất (di): tỉ trọng số đơn vị của từng tổ trong tổng thể, tính bằng đơn vị lần hay %
di =f1/ ∑fi
Ý nghĩa: Cho biết số đơn vị mỗi tổ chiếm bao nhiêu % trong toàn bộ tổng thể
+ Tần số tích lũy (Si): là tần số cộng dồn từ trên xuống
Trang 17Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
CHƯƠNG 2: ĐIỀU TRA THỐNG KÊ THU NHẬP THÔNG TIN PHÁT TRIỂN
KINH TẾ- XÃ HỘI VÀ KINH DOANH SẢN XUẤT DỊCH VỤ
Giới thiệu:
Chương 2 là một hệ thống các phương phápđiều tra, ý nghĩa và tác dụng của điều
tra, hình thức điều tra, các loại điều tra thống kê để thu thập, tổng hợp, trình bày số liệu,
tính toán các đặc trưng của đối tượng nghiên cứu nhằm phục vụ cho quá trình phân tích,
dự đoán và ra quyết định
Mục tiêu:
- Trình bày được ý nghĩa và tác dụng của điều tra thống kê
- Phân biệt được các hình thức điều tra thống kê và phạm vi ứng dụng
- Phân biệt được các loại điều tra thống kê và phương pháp ghi chép áp dụng trong
từng loại điều tra thống kê
- Trình bày được cá nguyên nhân dẫn đến sai sót trong điều tra thống kê và các
phương pháp khắc phục sai số trong điều tra thống kê
Nội dung chính
2.1 Ý nghĩa tác dụng và nhiệm vụ của điều tra thống kê
- Khái niệm:
Thông tin là gì? Thông tin là một phạm trù được dùng để mô tả các tin tức của một
hiện tượng, một sự vật, một sự kiện, một quá trình… đã xuất hiện ở mọi lúc, mọi nơi
trong các hoạt động kinh tế- xã hội của con người
Thông tin thống kê là gì? Thông tin thống kê là tin tức của hiện tượng hay quá
trình kinh tế- xã hội do cơ quan thống kê thu thập trong điều kiện thời gian và không gian
cụ thể
Như vậy, thông tin thống kê là một trong các loại thông tin, nên nó cũng mang
những đặc trưng và giá trị của thông tin nói chung như: nội dung mới (không có cái mới
thì không có thông tin); hình thức biểu hiện đa dạng (ngôn ngữ, con số, chữ viết); vật dẫn
thông tin (sóng âm, trang giấy, băng đĩa từ) và có nội dung tin tức (thể hiện ý định, biểu
đạt)
-Ý nghĩa tác dụng và nhiệm vụ của điều tra thống kê:
Thông tin thống kê là một nguồn lực của sản xuất kinh doanh, là nguồn lực vô giá
Nó có thể sử dụng cho nhiều mục tiêu và sử dụng nhiều lần Với các giá trị này, khi sử
dụng thông tin cần xử lí thông tin và xây dựng ngân hàng cơ sở dữ liệu cho nề nếp
Thông tin thống kê cũng có các tính chất sau: khách quan, phụ thuộc, lan truyền,
cùng hưởng, có hiệu lực, biến động, khuyếch tán và thu gọn
Trang 18Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
Thông tin cần thu thập là gì?
Thông tin cần thu thập là những thông tin phục vụ cho vấn đề và mục đích cần
nghiên cứu
Xác định thông tin cần thu thập là xác định rõ những dữ liệu nào, thứ tự ưu tiên
của các dữ liệu này và phạm vi dữ liệu cần thu thập
Trong thực tế có rất nhiều thông tin liên quan đến hiện tượng hay quá trình kinh tế
xã hội Tuỳ theo vấn đề và mục tiêu nghiên cứu mà xác định những thông tin hay dữ liệu
nào cần thiết Do đó, vấn đề đầu tiên của công việc thu thập thông tin là xác định rõ và cụ
thể những dữ liệu nào cần thu thập, thứ tự ưu tiên của các dữ liệu này Nếu không thực
hiện được điều này sẽ dẫn đến tình trạng dữ liệu thu thập được rất nhiều nhưng dữ liệu
đáp ứng cho mục đích nghiên cứu thì ít hoặc thiếu, gây lãng phí thời gian, tiền bạc
Thí dụ: Nghiên cứu mối liên hệ giữa tình hình tự học và kết quả học tập của sinh viên ,
hai nhóm dữ liệu cần thu thập là: tình hình tự học và kết quả học tập Về nhóm dữ liệu
tình hình tự học, có thể thu thập các dữ liệu sau:
1 Có tự học ở nhà không?
2 Thời gian dành cho tự học ở nhà thế nào? (hàng ngày, hàng tuần)
3 Phương pháp sử dụng thời gian tự học ở nhà thế nào?
4 Mục đích tự học?
5 Hình thức tự học: học một mình, học nhóm?
6 Khó khăn và thuận lợi khi tự học?
7 Kết quả và hiệu quả tự học?
8 Các yếu tố ảnh hưởng đến tự học
Có nhiều dữ liệu khác có liên quan đến tự học, nhưng không liên quan lắm đến mục đích
nghiên cứu “mối liên hệ giữa tự học với kết quả học tập” thì không nhất thiết phải thu
thập Thí dụ:
- Bạn thường mặc quần áo gì khi tự học?
- Người cùng học với bạn quê ở đâu?
- Bạn có uống nước hay ăn gì trong giờ tự học không?
- Ai nhắc nhở bạn tự học?
2.2 Các hình thức điều tra thống kê
2.2.1 Báo cáo thống kê định kỳ
- Báo cáo thống kê định kỳ: là một hình thức điều tra thống kê thường xuyên, có
định kỳ, theo nội dung, phương pháp và chế độ báo cáo thống nhất của cơ quan thẩm
quyền quy định
Trang 19Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
- Báo cáo thống kê định kỳ là hình thức tổ chức điều tra theo con đường hành
chính bắt buột, bắt đơn vị báo cáo phải thực hiện đúng quy định, nếu sai là vi phạm kỹ
luật báo cáo
2.2.2 Điều tra chuyên môn
- Điều tra chuyên môn là hình thức tổ chức điều tra không thường xuyên, được
tiến hành theo một kế hoạch và phương pháp quy định riêng cho mỗi lần điều tra Chẳng
hạn, điều tra dư luận xã hội là hình thức tổ chức điều tra chuyên môn
2.3 Các loại điều tra thống kê
Tùy theo tính phức tạp của hiện tượng kinh tế - xã hội, mục đích nghiên cứu thống
kê và khả năng thu thập tài liệu mà người ta áp dụng loại hình điều tra thống kê thích
hợp
2.3.1 Điều tra thường xuyên và điều tra không thường xuyên
Tùy theo yêu cầu phản ánh tình hình các cá thể của tổng thể một cách liên tục hay
không liên tục, người ta áp dụng điều tra thường xuyên hay không thường xuyên
- Điều tra thường xuyên : tiến hành thu thập tài liệu của các cá thể của tổng thể
một cách liên tục, theo sát với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng nghiên cứu
Ví dụ : người ta thường xuyên ghi chép biến động nhân khẩu (sinh, tử, số người chuyển
đi, chuyển đến), đăng ký biến động đất đai
Điều tra thường xuyên tạo ra khả năng theo dõi được tỷ mỉ tình hình biến động
của hiện tượng theo thời gian, thường dùng trong các đơn vị sản xuất, kinh doanh, lưu
thông, dịch vụ
- Điều tra không thường xuyên tiến hành thu thập các tài liệu của các cá thể trong
tổng thể không liên tục, không gắn với quá trình phát sinh, phát triển của hiện tượng Tài
liệu của điều tra không thường xuyên chỉ phản ánh trạng thái của hiện tượng ở một thời
gian nhất định Chẳng hạn, các cuộc điều tra năng suất, sản lượng cây trồng, điều tra vật
tư hàng hóa tồn kho là điều tra không thường xuyên
Như vậy, điều tra không thường xuyên đáp ứng cho những trường hợp hiện tượng
xảy ra không thường xuyên, cho những trường hợp không cần theo dõi thường xuyên
hoặc điều kiện vật chất không cho phép điều tra thường xuyên
2.3.2 Điều tra toàn bộ và điều tra không toàn bộ
Trang 20Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
Tùy theo mục đích điều tra phản ánh toàn bộ hay một bộ phận của tổng thể, có thể
phân loại điều tra thống kê theo sơ đồ sau:
Trước tiên điều tra thống kê phân thành 02 loại : điều tra toàn bộ, điều tra không toàn bộ
- Điều tra toàn bộ: (hay còn gọi là tổng điều tra) tiến hành thu thập tài liệu về
toàn bộ các cá thể của tổng thể, không bỏ sót bất cứ cá thể nào Chẳng hạn, tổng điều tra
dân số, tổng điều tra nông nghiệp, nông thôn, tổng kiểm kê đất đai,… là các cuộc điều tra
toàn bộ
- Điều tra không toàn bộ: tiến hành thu thập tài liệu của một số cá thể được chọn
ra từ tổng thể chung Tùy theo mục đích nghiên cứu, điều tra không toàn bộ được phân
loại như sau : điều tra chọn mẫu, điều tra trọng điểm, điều tra chuyên đề
+ Điều tra chọn mẫu chỉ tiến hành điều tra một số cá thể được chọn ra từ tổng thể
Những cá thể được lựa chọn được gọi là mẫu điều tra, phải đại diện được cho tổng thể
Kết quả trên mẫu điều tra được tính toán suy rộng cho toàn bộ tổng thể Chẳng hạn điều
tra năng suất, sản lượng lúa,…
+ Điều tra trọng điểm chỉ điều tra ở bộ phận chủ yếu của tổng thể, khác với điều
tra chọn mẫu điều tra trọng điểm không dùng để đại diện được cho toàn bộ tổng thể, chỉ
cho phép nhận thức được tình hình cơ bản của tổng thể Chẳng hạn, trong nông nghiệp có
một số cây trồng tập trung thành vùng chuyên canh, đối với điều tra năng suất, sản lượng
người ta tiến hành điều tra trọng điểm ở một số địa điểm cụ thể nào đó
+ Điều tra chuyên đề chỉ tiến hành ở một số ít đơn vị, thậm chí chỉ trên một cá thể
của tổng thể, nhưng lại đi sâu nghiên cứu rất nhiều đặc điểm của chúng Mục đích của
điều tra chuyên đề là nghiên cứu các nhân tố mới, xu hướng phát triển của hiện tượng, rút
ra các bài học cho công tác quản lý, chỉ đạo
Điều tra thống kê
Điều tra toàn bộ Điều tra không toàn bộ
Điều tra chọn mẫu
Điều tra trọng điểm
Điều tra chuyên
đề
Trang 21Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
2.4 Dữ liệu định tính và dữ liệu định lượng
Có nhiêu tiêu chí để phân loại thông tin Tuỳ thuộc vào mục đích, ý nghĩa và phạm
vi ứng dụng mà người ta có thể lựa chọn những tiêu thức phù hợp Ở đây trình bày một
số phân loại thông tin được sử dụng chủ yếu trong nghiên cứu thống kê
2.4.1 Dữ liệu định tính
là dữ liệu phản ánh tính chất và sự hơn kém về tính chất của đối tượng nghiên cứu
Thí dụ như giới tính của sinh viên (nam, hay nữ); thời gian tự học ở nhà dài hay ngắn
(dưới 2 giờ; từ 2 đến 4 giờ; trên 4 giờ)
Dữ liệu định tính được thu thập dễ hơn và người ta thường dùng các thang đo định
danh hay thứ bậc để xác định
2.4.2 Diệu liệu định lượng
Dữ liệu định lượng là dữ liệu phản ánh mức độ hay mức độ hơn, kém theo một
tiêu thức số lượng nào đó của đối tượng nghiên cứu Thí dụ như độ tuổi của sinh viên,
thời gian tự học 1 ngày, 1 tuần
Dữ liệu định lượng trong nghiên cứu thống kê thường gặp nhiều hơn, dễ áp dụng
những phương pháp tính toán, phân tích hơn Khi xác định các dữ liệu định tính, người ta
thường dùng thang đo khoảng cách hay thứ bậc
Mục đích của cách phân loại này nhằm giúp cho người nghiên cứu xác định trước
các phương pháp xử lý, tổng hợp và phân tích cần sử dụng cho từng loại dữ liệu sao cho
phù hợp và đáp ứng mục tiêu nghiên cứu đặt ra
chung học tập / sinh viên
2.5 Dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp
Khi nghiên cứu một hiện tượng cụ thể, người nghiên cứu có thể sử dụng từ
nguồn số liệu đã có sẵn đã được công bố hay chưa công bố hay tự mình thu thập các
dữ liệu cần thiết cho nghiên cứu Dựa vào cách thức này người ta chia dữ liệu thành 2
nguồn: dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp
Trang 22Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
2.5.1 Dữ liệu thứ cấp (Secondary data):
Dữ liệu thứ cấp là các thông tin đã có sẵn và đã qua tổng hợp, xử lý Loại dữ
kiện này có thể thu thập từ các nguồn sau:
-Số liệu nội bộ: là loại số liệu đã được ghi chép cập nhật trong đơn vị hoặc được
thu thập từ các cuộc điều tra trước đây
-Số liệu từ các ấn phẩm của nhà nước: Các dữ liệu do các cơ quan thống kê nhà
nước phát hành định kỳ như niên giám thống kê, các thông tin cập nhật hàng năm về
tình hình dân số lao động, kết quả sản xuất của các ngành trong nền kinh tế, số liệu về
văn hoá xã hội
-Báo, tạp chí chuyên ngành: Các báo và tạp chí đề cập đến vấn đề có tính chất
chuyên ngành như tạp chí thống kê, giá cả thị trường
-Thông tin của các tổ chức, hiệp hội nghề nghiệp: Viên nghiên cứu kinh tế,
phòng thương mại
-Các công ty chuyên tổ chức thu thập thông tin, nghiên cứu và cung cấp thông
tin theo yêu cầu
Số liệu thứ cấp có ưu điểm là có thể chia sẻ chi phí, do đó nó có tính kinh tế
hơn, số liệu được cung cấp kịp thời hơn Tuy nhiên, dữ liệu thứ cấp thường là các
thông tin cơ bản, số liệu đã được tổng hợp đã qua xử lý cho nên không đầy đủ hoặc
không phù hợp cho quá trình nghiên cứu Số liệu thứ cấp thường ít được sử dụng để
dự báo trong thống kê, số liệu này thường được sử dụng trong trình bày tổng quan nội
dung nghiên cứu, là cơ sở để phát hiện ra vấn đề nghiên cứu Ngoài ra, số liệu thứ cấp
còn được sử dụng để đối chiếu lại kết quả nghiên cứu để nhằm kiểm tra lại tính đúng
đắn hoặc phát hiện ra những vấn đề mới để có hướng nghiên cứu tiếp
2.5.2 Dữ liệu sơ cấp (Primary data):
Là các thông tin thu thập từ các cuộc điều tra Căn cứ vào phạm vi điều tra có
thể chia thành 2 loại: Điều tra toàn bộ và điều tra chọn mẫu
*Điều tra toàn bộ: Là tiến hành thu thập thông tin trên tất cả các đơn vị thuộc tổng
thể nghiên cứu
Ưu điểm của điều tra toàn bộ là thu thập được thông tin về tất cả các đơn vị
tổng thể Tuy nhiên, loại điều tra này thường gặp phải một số trở ngại sau:
-Số lượng đơn vị thuộc tổng thể chung thường rất lớn cho nên tiến hành điều tra
toàn bộ mất nhiều thời gian và tốn kém
-Trong một số trường hợp do thời gian kéo dài dẫn đến số liệu kém chính xác do
hiện tượng tự biến động qua thời gian
-Trong một số trường hợp điều tra toàn bộ sẽ không thực hiện được, ví dụ như
Trang 23Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
*Điều tra chọn mẫu:
Để nghiên cứu tổng thể, ta chỉ cần lấy ra một số phần tử đại diện để nghiên cứu
và từ đó suy ra kết quả cho tổng thể bằng các phương pháp thống kê
Điều tra chọn mẫu thường được sử dụng vì các lý do sau:
-Tiết kiệm chi phí
-Cung cấp thông tin kịp thời cho quá trình nghiên cứu
-Đáng tin cậy Đây là yếu tố rất quan trọng, nó làm cho điều tra chọn mẫu trở nên có
hiệu quả và được chấp nhận Tuy nhiên, để có sự đáng tin cậy này chúng ta phải có
phương pháp khoa học để đảm bảo tính chính xác để chỉ cần chọn ra một số quan sát
mà có thể suy luận cho cả tổng thể rộng lớn – đó là nhờ vào các lý thuyết thống kê
Việc sử dụng điều tra toàn bộ hay điều tra chọn mẫu phụ thuộc vào nhiều yếu tố
có liên quan: kích thước tổng thể, thời gian nghiên cứu cứu, khả năng về tài chính và
nguồn lực, đặc điểm của nội dung nghiên cứu
2.6 Các phương pháp điều tra thống kê
Để thu thập dữ liệu ban đầu, tuỳ theo nguồn kinh phí và đặc điểm của đối
tượng cần thu thập thông tin, ta có chia các phương pháp thành phương pháp trực tiếp
và phương pháp gián tiếp
2.6.1 Phương pháp trực tiếp: là trực tiếp thực hiện việc tiếp xúc, thu thập thông tin
Bao gồm: quan sát, phỏng vấn trực tiếp
-Quan sát: Là phương pháp thu thập dữ liệu bằng cách quan sát hành động,
hành vi thái độ của đối tượng được điều tra Ví dụ, nghiên cứu trẻ con yêu thích màu
sắc nào, quan sát thái độ khách hàng khi dùng thử loại sản phẩm Phương pháp này tỏ
ra hiệu quả đối với các trường hợp đối tượng khó tiếp cận và tăng tính khách quan của
đối tượng Tuy nhiên, phương pháp này tỏ ra khá tốn kém nhưng lượng thông tin thu
thập được ít
-Phỏng vấn trực tiếp:
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thích hợp cho những cuộc điều tra cần thu thập
nhiều thông tin, nội dung của thông tin tương đối phức tạp cần thu thập một cách chi
tiết Phương pháp phỏng vấn trực tiếp cho 2 hình thức:
+ Phỏng vấn cá nhân Nhân viên điều tra tiếp xúc với đối tượng cung cấp thông tin
thường tại nhà riêng hoặc nơi làm việc Thông thường phỏng vấn trực tiếp được áp
dụng khi chúng ta cho tiến hành điều tra chính thức
+ Phỏng vấn nhóm Nhân viên điều tra phỏng vấn từng nhóm để thảo luận về một vấn
đề nào đó Trường hợp này người ta thường sử dụng khi điều tra thử để kiểm tra lại
nội dung của bảng câu hỏi được hoàn chỉnh chưa hoặc nhằm tìm hiểu một vấn đề phức
tạp mà bản thân người nghiên cứu chưa nắm được một cách đầy đủ mà cần phải có ý
Trang 24Toán thống kê Chương 2: Điều tra thống kê tttt phát triển kinh tế- xh và kd sx- dịch vụ
kiến cụ thể từ những người am hiểu
2.6.2 Phương pháp gián tiếp: là trực tiếp thực hiện việc tiếp xúc, thu thập thông tin
qua các công cụ trung gian
-Phương pháp gởi thư: Theo phương pháp này nhân viên điều tra gởi bảng câu
hỏi đến đối tượng cung cấp thông tin qua đường bưu điện Phương pháp gởi thư có
thể thu thập thông tin với khối lượng lớn, tiết kiệm chi phí so với các phương pháp
khác Tuy nhiên tỷ lệ trả lời bằng phương pháp này tương đối thấp, đây là một nhược
điểm rất lớn của phương pháp này
-Phỏng vấn bằng điện thoại: Phương pháp thu thập thông tin bằng cách phỏng
vấn qua điện thoại Phương pháp này thu thập được thông tin một cách nhanh chóng,
tuy nhiên phương pháp này có nhược điểm: tốn kém, nội dung thu thập thông tin bị
hạn chế
Tổng hợp, mỗi phương pháp có những ưu nhược điểm, mà người thu thập cần biết để
sử dụng phương pháp tốt nhất trong từng hoàn cảnh
Sau đây ta có bảng tổng hợp một số ưu nhược điểm của các phương pháp thu thập
Phỏng vấn trực tiếp
Trang 25Toán thống kê Chương 3: Phân tổ th và trình bày tlđt thống kê về ht kt - xh và kd - sxdvụ
CHƯƠNG 3: PHÂN TỔ TỔNG HỢP VÀ TRÌNH BÀY TÀI LIỆU ĐIỀU TRA
THỐNG KÊ VỀ HIỆN TƯỢNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ KINH DOANH SẢN
XUẤT DỊCH VỤ
Giới thiệu:
Chương 3 là sắp xếp thông tin ban đầu có tính rời rạc, dữ liệu hỗn độn không theo
một trật tự nào và có thể quá nhiều nếu nhìn vào đây chúng ta không thể phát hiện được
điều gì để phục vụ cho quá trình nghiên cứu Do đó, chúng ta cần phải trình bày một cách
có thể thống với hai mục đích là làm cho bảng dữ liệu gọn lại, hai là thể hiện được tính
chất của nội dung nghiên cứu
Mục tiêu:
- Trình bày được khái niệm, ý nghĩa của phân tổ thống kê
- Trình bày được tiêu thức phân tổ thống kê
-Xác định và tính toán được số tổ thống kê, khoảng cách tổ từng trường hợp cụ
thể
- Trình bày được kết quả tổng hợp tài liệu điều tra thống kê
Nội dung chinh:
3.1 Khái niệm, ý nghĩa của phân tổ thống kê
Thông tin ban đầu có tính rời rạc, dữ liệu hỗn độn không theo một trật tự nào
và có thể quá nhiều nếu nhìn vào đây chúng ta không thể phát hiện được điều gì để
phục vụ cho quá trình nghiên cứu Do đó, chúng ta cần phải trình bày một cách có thể
thống với hai mục đích là làm cho bảng dữ liệu gọn lại, hai là thể hiện được tính chất
của nội dung nghiên cứu
3.1.1 Khái niệm
Phân tổ còn được gọi là phân lớp thống kê là căn cứ vào một hay một số tiêu thức
để chia các đơn vị tổng thể ra thành nhiều tổ (lớp, nhóm) có tính chất khác nhau
Phân tổ thống kê đảm bảo nguyên tắc:
Một cách tổng quát tổng thể phải được phân chia một cách trọn vẹn, tức là một đơn vị
của tổng thể chỉ thuộc một tổ duy nhất và một đơn vị thuộc một tổ nào đó phải thuộc
tổng thể
3.1.2 Ý nghĩa của phân tổ thống kê
-Phân tổ thống kê là phương pháp cơ bản để tiến hành tổng hợp thống kê.Bởi vì ta
sẽ không thể hệ thống hóa một cách khoa học các tài liệu điều tra nếu không sử dụng
phương pháp này
-Là một trong những phương pháp quan trọng của phân tích thống kê, đồng thời là
cơ sở để vận dụng các phương pháp phân tích thống kê.Chỉ sau khi đã phân tổng thể
Trang 26Toán thống kê Chương 3: Phân tổ th và trình bày tlđt thống kê về ht kt - xh và kd - sxdvụ
nghiên cứu thành các tổ có quy mô và đặc điểm khác nhau thì việc tính các chỉ tiêu phản
ánh mức độ,tình hình biến động,mối liên hệ giữa các hiện tượng mới có ý nghĩa đúng
đắn
-Phân tổ thống kê còn được vận dụng ngay trong giai đoạn điều tra thống kê,nhằm
phân tổ đối tượng điều tra thành các bộ phận có đặc điểm tính chất khác nhau từ đó chọn
các đơn vị điều tra sao cho có tính đại biểu cho tổng thể chung
3.2 Lựa chọn tiêu thức phân tổ thống kê
*Khái niệm
Tiêu thức phân tổ là tiêu thức biến động được chọn làm căn cứ để tiến hành
phân tổ thống kê
*Ý nghĩa
Tiêu thức phân tổ phản ánh đúng bản chất của hiện tượng mà mục đích nghiên
cứu đề ra.Sở dĩ như vậy là vì mỗi đơn vị tổng thể như chúng ta đã biết gồm nhiều tiêu
thức khác nhau,tiêu thức nào cũng có thể dùng để phân tổ được xong mỗi tiêu thức có ý
nghĩa khác nhau.Nhưng cùng một nguồn tài liệu nếu chọn tiêu thức phân tổ khác nhau có
thể đưa đến kết luận khác nhau, hoặc chọn tiêu thức phân tổ không đúng với mục đích
nghiên cứu thì sẽ có những nhận xét khác nhau,không đúng về thực tế của hiện tượng
*Nguyên tắc xác định đúng tiêu thức phân tổ
-Thứ nhất: Phải dựa trên cơ sở phân tích lý luận một cách sâu sắc,nắm vững bản
chất và quy luật phát triển của hiện tượng kinh tế xã hội cần nghiên cứu để chọn ra tiêu
nêu rõ bản chất của hiện tượng,phản ánh đặc trưng cơ bản của hiện tượng trong hoàn
cảnh thời gian và địa điểm cụ thể
Ví dụ: Điểm thi là tiêu thức phản ánh bản chất kết quả học của sinh viên,chứ còn thời
gian tự học chỉ phản ánh một phần nguyên nhân của kết quả học
-Thứ hai: Phải căn cứ vào điều kiện lịch sử cụ thể của hiện tượng nghiên cứu để
lựa chọn tiêu thức phân tổ thích hợp.Bởi vìcùng một hiện tượng nhưng ở các điều kiện
lịch sử khác nhau thì tiêu thức phân tổ cũng mang ý nghĩa khác nhau
Ví dụ về kết quả học tập: Khi sinh viên còn đang học ở trường thì tiêu thức phản ánh
đúng đắn nhất kết quả học tập là điểm thi trung bình.Còn khi sinh viên đã làm việc thì
điểm thi không phản ánh đúng kết quả làm việc
-Thứ ba: Phải tùy vào mục đích nghiên cứu và điều kiện tài liệu thực tế mà quyết
định phân tổ hiện tượng theo một hay nhiều tiêu thức
3.2.1 Phân tổ theo một tiêu thức
Trường hợp tiêu thức thuộc tính chỉ có một vài biểu hiện thì mỗi biểu hiện của
tiêu thức thuộc tính có thể chia thành một tổ Ví dụ, tiêu thức giới tính
3.2.2 Phân tổ theo nhiều tiêu thức
Trường hợp tiêu thức thuộc tính có nhiều biểu hiện, ta ghép nhiều nhóm nhỏ lại
Trang 27Toán thống kê Chương 3: Phân tổ th và trình bày tlđt thống kê về ht kt - xh và kd - sxdvụ
với nhau theo nguyên tắc các nhóm ghép lại với nhau có tính chất giống nhau hoặc
gần giống nhau Ví dụ phân tổ trong công nghiệp chế biến: Thực phẩm và đồ uống,
thuốc lá, dệt,
3.3 Xác định số tổ và khoảng cách tổ
-Trường hợp tiêu thức số lượng có ít biểu hiện, thì cứ mỗi một lượng biến có thể
thành lập một tổ Ví dụ: phân tổ công nhân trong một xí nghiệp dệt theo số máy do
mỗi công nhân thực hiện
Số máy/Công nhân
Số công nhân
- Giới hạn trên: lượng biến nhỏ nhất của tổ
- Giới hạn dưới: lượng biến lớn nhất của tổ
Tuỳ theo mục đích nghiên cứu, người ta phân ra 2 loại phân tổ đều và phân tổ không
đều
Phân tổ đều: Là phân tổ có khoảng cách tổ bằng nhau Thông thường nếu chỉ vì mục
đích nghiên cứu phân phối của tổng thể hoặc làm cho bảng thống kê gọn lại thì ta
thường dùng phương pháp này
Để xác định số tổ hình như không có một tiêu chuẩn tối ưu nó phụ thuộc vào kinh
nghiệm Dưới đây là một cách phân chia tổ mang tính chất tham khảo
Trang 28Toán thống kê Chương 3: Phân tổ th và trình bày tlđt thống kê về ht kt - xh và kd - sxdvụ
-Xác định tần số (Frequency) của mỗi tổ: bằng cách đếm các quan sát rơi vào giới hạn
của tổ đó
Một số qui ước khi lập bảng phân tổ:
Trường hợp phân tổ theo tiêu thức số lượng rời rạc thì giới hạn trên và giới hạn dưới
của 2 tổ kế tiếp nhau không được trùng nhau
Ví dụ 1.2: Các xí nghiệp ở tỉnh X được phân tổ theo tiêu thức số lượng công nhân:
Số lượng công nhân
Số xí nghiệp
-Trường hợp phân tổ theo tiêu thức số lượng loại liên tục, thường có qui ước sau:
+Giới hạn trên và giới hạn dưới của 2 tổ kế tiếp trùng nhau
+Quan sát có lượng biến bằng đúng giới hạn trên của một tổ nào đó thì đơn vị đó được
xếp vào tổ kế tiếp
Ví dụ 1.3: phân tổ các tổ chức thương nghiệp theo doanh thu
3.4 Trình bày kết quả tổng hợp tài liệu điều tra qua phân tổ thống kê
Sau khi tổng hợp các tài liệu điều tra thống kê, muốn phát huy tác dụng của nó
đối với phân tích thống kê, cần thiết phải trình bày kết quả tổng hợp theo một hình
thức thuận lợi nhất cho việc sử dụng sau này
*Khái niệm
Bảng thống kê là một hình thức trình bày các tài liệu thống kê một cách có hệ thống,
Trang 29Toán thống kê Chương 3: Phân tổ th và trình bày tlđt thống kê về ht kt - xh và kd - sxdvụ
cứu Đặc điểm chung của tất cả các bảng thống kê là bao giờ cũng có những con số
của từng bộ phận và có mối liên hệ mật thiết với nhau
*Tác dụng bảng thống kê
-Phản ánh đặc trưng cơ bản của từng tổ và cả tổng thể
-Mô tả mối quan hệmật thiết giữa các số liệu thống kê
-Là cơ sở áp dụng phương pháp phân tích thống kê cho phù hợp
*Cấu thành bảng thống kê
Về mặt hình thức: bảng thống kê bao gồm các hàng ngang và cột dọc, các tiêu đề
và số liệu Hàng và cột phản ánh quy mô của mỗi bảng, còn tiêu đề phản ánh nội dung
của bảng và từng chi tiết trong bảng, số liệu được ghi vào trong các ô của bảng, mỗi con
số phản ánh đặc trưng về mặt lượng của hiện tượng nghiên cứu Về mặt nôi dung: bảng
thống kê gồm phần chủ từ và phần giải thích Phần chủ từ nêu lên tổng thể hiện tượng
được trình bày trong bảng, phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của
hiện tượng nghiên cứu
+ Bảng thống kê gồm 2 phần: Phần chủ đề và phần giải thích
Phần chủ đề nói lên tổng thể được trình bày trong bảng thống kê, tổng thể này được
phân thành những đơn vị, bộ phận Nó giải đáp: đối tượng nghiên cứu là những đơn vị
nào, những loại hình gì Có khi phần chủ đề phản ánh các địa phương hoặc các thời
gian nghiên cứu khác nhau của một hiện tượng
Phần giải thích gồm các chỉ tiêu giải thích các đặc điểm của đối tượng nghiên cứu, tức
là giải thích phần chủ đề của bảng
Phần chủ đề thường được đặt bên trái của bảng thống kê, còn phần giải thích được đặt
ở phía trên của bảng Cũng có trường hợp ta thay đổi vị trí
Cấu thành của bảng thống kê có thể biểu hiện bằng sơ đồ sau:
Phần giải thích Phần chủ đề
Các chỉ tiêu giải thích (tên cột)
Tên chủ đề
*Các yêu cầu và qui ước xây dựng bảng thống kê
Qui mô của bảng thống kê:
không nên quá lớn, tức là quá nhiều hàng, cột và nhiều phân tổ kết hợp Một bảng
thống kê ngắn, gọn một cách hợp lý sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho việc phân tích Nếu thấy
cần thiết nên xây dựng hai, ba, bảng thống kê nhỏ thay cho một bảng thống kê quá lớn
Số hiệu bảng: nhằm giúp cho người đọc dễ dàng xác định vị trí của bảng khi tham
Trang 30Toán thống kê Chương 3: Phân tổ th và trình bày tlđt thống kê về ht kt - xh và kd - sxdvụ
khảo, đặc biệt là đối với các tài liệu nghiên cứu người ta thường lập mục lục biểu bảng
để người đọc dễ tham khảo và người trình bày dễ dàng hơn Nếu số biểu bảng không
nhiều thì chúng ta chỉ cần đánh số theo thứ tự xuất hiện của biểu bảng, nếu tài liệu
được chia thành nhiều chương và số liệu biểu bảng nhiều thì ta có thể đánh số theo
chương và theo số thứ tự xuất hiện của biểu bảng trong chương Ví dụ, Bảng II.5 tức
là bảng ở chương II và là bảng thứ 5
Tên bảng: yêu cầu ngắn gọn, đầy đủ, rõ ràng, đặt trên đầu bảng và phải chứa đựng nội
dung, thời gian, không gian mà số liệu được biểu hiện trong bảng Tuy nhiên yêu cầu
này chỉ mang tính chất tương đối không có tiêu chuẩn rõ ràng nhưng thông thường
người ta cố gắng trình bày trong một hàng hoặc tối đa là hai hàng
Đơn vị tính:
-Đơn vị tính dùng chung cho toàn bộ số liệu trong bảng thống kê, trường hợp này đơn vị
tính được ghi bên góc phải của bảng
-Đơn vị tính theo từng chỉ tiêu trong cột, trong trường hợp này đơn vị tính sẽ được đặt
dưới chỉ tiêu của cột
-Đơn vị tính theo từng chỉ tiêu trong hàng, trong trường hợp này đơn vị tính sẽ được
đặt sau chỉ tiêu theo mỗi hàng hoặc tạo thêm một cột ghi đơn vị tính
Cách ghi số liệu trong bảng:
-Số liệu trong từng hàng (cột) có đơn vị tính phải nhận cùng một số lẻ, số liệu ở
các hàng (cột) khác nhau không nhất thiết có cùng số lẻ với hàng (cột) tương ứng
-Một số ký hiệu qui ước:
+ Nếu không có tài liệu thì trong ô ghi dấu gạch ngang “-“
+ Nếu số liệu còn thiếu, sau này sẽ bổ sung sau thì trong ô ghi dấu ba chấm “ ”
+ Ký hiệu gạch chéo “x” trong ô nào đó thì nói lên hiện tượng không có liên quan đến chỉ
tiêu đó, nếu ghi số liệu vào đó sẽ vô nghĩa hoặc thừa
Phần ghi chú ở cuối bảng: được dùng để giải thích nội dung chỉ tiêu trong bảng, nói rõ
nguồn tài liệu, sử dụng hoặc cá chi tiết khác