1. Trang chủ
  2. » Sinh học lớp 12

Phân tích kinh doanh

179 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 179
Dung lượng 1,35 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ví dụ: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động tài chính, phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả của khối lượng và chất lượng sản xuất kinh doanh… - Phân tích chuyên đề (phâ[r]

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2018

THS VÕ THỊ PHƯƠNG NHUNG THS TRẦN HOÀNG LONG

PH¢N TÝCH KINH DOANH

Trang 2

THS VÕ THỊ PHƯƠNG NHUNG, THS TRẦN HOÀNG LONG

BÀI GIẢNG PHÂN TÍCH KINH DOANH

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP - 2018

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÂN TÍCH KINH DOANH 3

1.1 Đối tượng và nhiệm vụ phân tích kinh doanh 3

1.1.1 Khái niệm phân tích kinh doanh 3

1.1.2 Đối tượng phân tích kinh doanh 4

1.1.3 Nội dung và nhiệm vụ phân tích kinh doanh 5

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng trong phân tích kinh doanh 6

1.2 Các phương pháp phân tích kinh doanh 8

1.2.1 Phương pháp so sánh 8

1.2.2 Phương pháp phân tích chi tiết 13

1.2.3 Phương pháp loại trừ 15

1.2.4 Phương pháp tương quan hồi quy 19

1.2.5 Phương pháp liên hệ 21

1.3 Tổ chức phân tích kinh doanh 22

1.3.1 Khái quát chung về tổ chức phân tích kinh doanh 22

1.3.2 Các loại hình phân tích kinh doanh 23

1.3.3 Quy trình tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh 25

Chương 2.PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP 27

2.1 Phân tích môi trường kinh doanh, thị trường và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp 27

2.1.1 Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp 27

2.1.2 Phân tích thị trường 28

2.1.3 Chiến lược kinh doanh 30

2.2 Phân tích kết quả sản xuất 31

2.2.1 Phân tích về quy mô sản xuất 31

2.2.2 Phân tích tốc độ tăng trưởng sản xuất 36

2.2.3 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch mặt hàng 36

2.2.4 Phân tích chất lượng sản phẩm 38

Chương 3 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH SỬ DỤNG CÁC YẾU TỐ SẢN XUẤT 49

3.1 Phân tích tình hình sử dụng lao động 49

3.1.1 Phân tích tình hình sử dụng số lượng lao động 50

3.1.2 Phân tích sử dụng lao động theo kết cấu 52

Trang 5

3.1.3 Phân tích tình hình phân bổ lao động 54

3.1.4 Phân tích sử dụng thời gian lao động 55

3.1.5 Phân tích năng suất lao động 57

3.2 Phân tích tình hình sử dụng tài sản cố định 62

3.2.1 Tài sản cố định và yêu cầu phân tích 62

3.2.2 Phân tích tình hình trang bị TSCĐ 62

3.2.3 Phân tích biến động tài sản cố định 63

3.2.4 Phân tích hiệu quả sử dụng TSCĐ 65

3.2.5 Phân tích tình hình sử dụng năng lực của thiết bị sản xuất 66

3.3 Phân tích tình hình sử dụng vật tư 69

3.3.1 Phân tích tình hình cung ứng vật tư 70

3.3.2 Phân tích tình hình dự trữ vật tư 74

3.3.3 Phân tích tình hình sử dụng vật tư 76

Chương 4 PHÂN TÍCH CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 82

4.1 Phân tích chi phí sản xuất kinh doanh 82

4.1.1 Khái niệm về chi phí sản xuất kinh doanh 82

4.1.2 Phân loại chi phí sản xuất 83

4.1.3 Phân tích chi phí sản xuất 84

4.2 Phân tích tình hình thực hiện giá thành 90

4.2.1 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch giá thành toàn bộ sản phẩm hàng hóa91 4.2.2 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch hạ giá thành sản phẩm so sánh được 92 4.2.3 Phân tích một số khoản mục chủ yếu trong giá thành sản phẩm 98

Chương 5 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TIÊU THỤ VÀ LỢI NHUẬN 106

5.1 Phân tích tình hình tiêu thụ 106

5.1.1 Ý nghĩa, nhiệm vụ phân tích tình hình tiêu thụ 106

5.1.2 Phân tích độ co dãn cung cầu 106

5.1.3 Phân tích nhân tố ảnh hưởng đến kết quả tiêu thụ 108

5.1.4 Phân tích khối lượng sản phẩm tiêu thụ theo điểm hòa vốn 111

5.1.5 Phân tích tình hình thực hiện kế hoạch tiêu thụ mặt hàng chủ yếu 114

5.1.6 Phân tích kỳ hạn tiêu thụ sản phẩm 115

5.2 Phân tích lợi nhuận 116

5.2.1 Khái niệm, ý nghĩa 116

5.2.2 Nội dung cấu thành lợi nhuận của doanh nghiệp 117

5.2.3 Phân tích chung tình hình lợi nhuận doanh nghiệp 119

Trang 6

5.2.4 Phân tích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh 124

5.2.5 Phân tích lợi nhuận từ hoạt động tài chính và hoạt động khác 126

5.2.6 Phân tích tỷ suất lợi nhuận 127

Chương 6 PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA DOANH NGHIỆP 130

6.1 Mục đích, ý nghĩa và nội dung phân tích tình hình tài chính doanh nghiệp 130

6.1.1 Mục đích, ý nghĩa phân tích tình hình tài chính 130

6.1.2 Nội dung phân tích tình hình tài chính 131

6.2 Tài liệu phục vụ phân tích tình hình tài chính 132

6.3 Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp 134

6.3.1 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp 134

6.3.2 Phân tích tình hình tài sản và nguồn vốn 138

6.3.3 Đánh giá mức độ độc lập tự chủ về mặt tài chính 147

6.3.4 Đánh giá tình hình thừa thiếu vốn 149

6.3.5 Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh 151

6.3.6 Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn 154

6.3.7 Đánh giá khả năng thanh toán thông qua các hệ số cơ bản 158

TÀI LIỆU THAM KHẢO 162

PHỤ BIỂU 163

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

Khi nền kinh tế phát triển, các mối quan hệ kinh tế này sinh trong quá trình sản xuất kinh doanh ngày càng phức tạp, đòi hỏi công tác thu thập và xử lý thông tin ngày càng nâng cao cả về số lượng và chất lượng Nhằm đáp ứng nhu cầu về nâng cao chất lượng công tác quản trị doanh nghiệp các nội dung “Phân tích kinh doanh” được nghiên cứu và tổng hợp phục vụ cho các nhà quản lý và các đối tượng quan tâm

Môn Phân tích kinh doanh là môn học trong khung chương trình đào tạo của các ngành khối kinh tế của trường Đại học Lâm Nghiệp Mục tiêu của môn học nằm trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản và kỹ năng tổng hợp, tính toán, phân tích các vấn đề về yếu tố nguồn lực: lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động và kết quả sản xuất kinh doanh của một đơn vị sản xuất Bài giảng môn Phân tích kinh doanh được tổ chức biên soạn nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình giảng dạy của trường Đại học Lâm nghiệp Bài giảng bao gồm 6 chương nhằm phục vụ cho công tác giảng dạy, nghiên cứu của giảng viên, sinh viên của khối ngành kinh tế thuộc các hệ đào tạo chính quy, vừa làm vừa học, liên thông trường Đại học Lâm nghiệp Phạm vi phân tích kinh doanh của bài giảng tập trung vào phân tích hoạt động kinh doanh trong đơn vị sản xuất

Bài giảng Phân tích kinh doanh do tập thể tác giả bộ môn Tài chính kế toán biên soạn, bao gồm:

- ThS Võ Thị Phương Nhung biên soạn chương 2, chương 4 và chương 6;

- ThS Trần Hoàng Long biên soạn chương 1, chương 3 và chương 5

Trong quá trình nghiên cứu, biên soạn tập thể các tác giả đã có nhiều cố gắng để bài giảng đảm bảo được tính khoa học, hiện đại và gắn liền với thực tiến Việt Nam Tuy nhiên, bài giảng không thể tránh khỏi những thiếu sót về mặt nội dung và hình thức Tập thể tác giả kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các nhà khoa học, các thầy giáo, cô giáo và sinh viên trong quá trình sử dụng để bài giảng được hoàn thiện hơn

Nhóm tác giả

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA PHÂN TÍCH KINH DOANH

1.1 Đối tượng và nhiệm vụ phân tích kinh doanh (PTKD)

1.1.1 Khái niệm phân tích kinh doanh

Sản xuất là cơ sở tồn tại và phát triển của xã hội loài người Sản xuất xã hội

đã trải qua nhiều phương thức, nhiều thời đại khác nhau, song đều chịu sự tác động của nhiều yếu tố chủ quan, khách quan Mặc dù đặc điểm kinh tế cũng như trình độ phát triển sản xuất xã hội ở mỗi nơi mỗi thời đại là khác nhau, nhưng dù

ở đâu và lúc nào con người cũng luôn tìm kiếm một phương thức hoạt động có trí tuệ hơn, đem lại nhiều lợi ích hơn nhằm hướng đến một đời sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt hơn Từ nhu cầu đó, con người trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh luôn phải quan sát thực tế, phải tích cực tư duy, phải thường xuyên tổng hợp và phân tích các mặt hoạt động của mình

Phân tích kinh doanh có đồng thời với các hoạt động kinh doanh của con người Nhưng lúc ban đầu nó chỉ là những phép cộng trừ đơn giản và được tiến hành ngay trong công tác hạch toán Khi hoạt động kinh doanh phát triển, yêu cầu quản lý kinh doanh ngày càng cao và phức tạp thì phân tích hoạt động kinh doanh cũng ngày càng phát triển để đáp ứng yêu cầu đó Từ chỗ đơn giản chỉ là phân tích lỗ lãi của từng thương vụ, sau phát triển phân tích các yếu tố hoạt động kinh doanh và lỗ lãi của từng đơn vị, bộ phận hoạt động kinh doanh, đến nay việc phân tích hoạt động kinh doanh còn được thực hiện không chỉ phạm vi doanh nghiệp, mà đã mở rộng đến vùng kinh tế, toàn bộ nền kinh tế

Phân tích kinh doanh luôn gắn liền với mọi hoạt động kinh doanh của của doanh nghiệp như những hoạt động tự giác và có ý thức cao của con người Tuy nhiên, trong điều kiện kinh doanh với quy mô và trình độ khác nhau, công việc phân tích cũng tiến hành khác nhau

Phân tích kinh doanh mang nhiều tính chất khác nhau và phụ thuộc vào đối tượng cũng như các giải pháp quản lý mà ta áp dụng Phân tích hoạt động kinh doanh là quá trình nghiên cứu để phân tích toàn bộ quá trình và kết quả hoạt động kinh doanh ở doanh nghiệp, nhằm làm rõ chất lượng hoạt động kinh doanh

và các nguồn tiềm năng cần được khai thác, trên cơ sở đó đề ra các phương án

và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh ở doanh nghiệp với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận

Trang 11

Như vậy, phân tích kinh doanh đã hình thành như một hoạt động độc lập với hệ thống lý luận độc lập và trở thành một môn khoa học độc lập Hoạt động kinh doanh luôn được tiến hành thường xuyên liên tục rất phong phú và phức tạp Muốn thấy được một cách đầy đủ sự phát triển của các hiện tượng, quá trình kinh doanh Từ đó, thấy được thực chất hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, phải đi sâu nghiên cứu kết quả và mối quan hệ qua lại của các số liệu, tài liệu bằng những phương pháp khoa học

Phân tích kinh doanh là việc phân chia các hiện tượng, các quá trình và

các kết quả hoạt động kinh doanh thành nhiều bộ phận cấu thành, trên cơ sở đó, dùng các phương pháp liên hệ, so sánh, đối chiếu và tổng hợp lại nhằm rút ra tính quy luật và xu hướng phát triển của các hiện tượng nghiên cứu

1.1.2 Đối tượng phân tích kinh doanh

Phân tích kinh doanh là công cụ cung cấp thông tin để điều hành hoạt động kinh doanh cho các nhà quản trị doanh nghiệp và đồng thời cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng bên ngoài Những thông tin này thường không có sẵn trong báo cáo tài chính hoặc trong bất cứ tài liệu nào ở doanh nghiệp Để có những thông tin này người ta phải thông qua quá trình phân tích

Trong điều kiện kinh doanh chưa phát triển, thông tin cho quản lý chưa nhiều, chưa phức tạp nên công tác phân tích được tiến hành chỉ là các phép tính cộng trừ đơn giản Nền kinh tế ngày càng phát triển, những đòi hỏi về quản lý kinh tế quốc dân không ngừng tăng lên Để đáp ứng nhu cầu của quản lý kinh doanh ngày càng cao, phức tạp, phân tích hoạt động kinh doanh được hình thành

và ngày càng phát triển với hệ thống lý luận độc lập

Với tư cách là môn khoa học độc lập, phân tích hoạt động kinh doanh có đối tượng riêng Trong phạm vi nghiên cứu của mình nó là một hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng là một hiện tượng xã hội đặc biệt

Đối tượng của phân tích kinh doanh là: “Đánh giá toàn bộ quá trình sản

xuất kinh doanh và hướng đến kết quả hoạt động kinh doanh, với sự tác động của các nhân tố ảnh hưởng và được biểu hiện thông qua các chỉ tiêu kinh tế cụ thể”

Phân tích kinh doanh có mối liên hệ mật thiết với các môn khoa học kinh tế

khác như: Các môn kinh tế ngành, thống kê, kế toán, tài chính, kế hoạch, định

mức kinh tế - kỹ thuật Khi tiến hành phân tích phải có sự liên hệ với các môn

khoa học khác để nghiên cứu, phân tích được sâu sắc và toàn diện hơn Nhiều

vấn đề khi phân tích không thể tách rời với sự tác động qua lại của các môn khoa học khác

Trang 12

1.1.3 Nội dung và nhiệm vụ phân tích kinh doanh

1.1.3.1 Nội dung phân tích kinh doanh

Nội dung cơ bản của phân tích kinh doanh bao gồm:

- Phân tích kết quả sản xuất trong doanh nghiệp: phân tích quy mô sản xuất, tốc độ tăng trưởng sản xuất, chất lượng sản phẩm ;

- Phân tích tình hình sử dụng các yếu tố sản xuất: phân tích tình hình sử dụng lao động, tài sản cố định, vật tư ;

- Phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm: Tình hình thực hiện kế hoạch giá thành và kế hoạch hạ giá thành ;

- Phân tích tình hình tiêu thụ và lợi nhuận của doanh nghiệp;

- Phân tích tình hình tài chính của doanh nghiệp

1.1.3.2 Nhiệm vụ phân tích kinh doanh

Để trở thành một công cụ của công tác quản lý hoạt động kinh doanh, là cơ

sở cho việc ra quyết định kinh doanh đúng đắn, phân tích kinh doanh có những nhiệm vụ sau:

* Kiểm tra và đánh giá kết quả kinh doanh thông qua các chỉ tiêu kinh tế:

Nhiệm vụ trước tiên của phân tích là đánh giá và kiểm tra khái quát giữa kết quả kinh doanh đạt được so với mục tiêu kế hoạch, dự toán, định mức đã đặt ra để khẳng định tính đúng đắn và khoa học của chỉ tiêu đã xây dựng trên một số mặt chủ yếu của quá trình hoạt động kinh doanh

Ngoài quá trình đánh giá trên, phân tích cần xem xét đánh giá tình hình

chấp hành các quy định, thể lệ thanh toán, trên cơ sở pháp lý, luật pháp trong nước và quốc tế

Thông qua quá trình kiểm tra, đánh giá, ta có được cơ sở định hướng để nghiên cứu sâu hơn ở các bước tiếp theo, làm rõ các vấn đề cần quan tâm

* Xác định các nhân tố ảnh hưởng của các chỉ tiêu và tìm các nguyên nhân gây nên ảnh hưởng của các nhân tố đó:

Biến động của các chỉ tiêu là do ảnh hưởng trực tiếp của các nhân tố tác động tới chỉ tiêu gây nên Cho nên phải xác định, lượng hoá được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố tới chỉ tiêu và những nguyên nhân tác động vào nhân tố

đó Chẳng hạn, khi nghiên cứu chỉ tiêu doanh thu kinh doanh, các nhân tố làm cho doanh thu thay đổi như: sản lượng dịch vụ, chính sách giá thay đổi Vậy các nguyên nhân ảnh hưởng tới sản lượng dịch vụ có thể là nhu cầu của khách hàng

Trang 13

tăng, có thể là do số lượng dịch vụ tăng lên, có thể là việc đáp ứng tốt hơn nhu

cầu của khách hàng do công nghệ phát triển, có thể do doanh nghiệp đầu tư thêm

trang thiết bị để mở rộng sản xuất Còn nhân tố giá thay đổi, có thể là do chính

sách của Nhà nước, sự lựa chọn mức cước phí của ngành trong khung Nhà nước quy định thay đổi

* Đề xuất giải pháp nhằm khai thác triệt để tiềm năng và khắc phục những tồn tại của quá trình hoạt động kinh doanh:

Phân tích hoạt động kinh doanh không chỉ đánh giá kết quả không chỉ dừng lại ở việc xác định các nhân tố ảnh hưởng và các nguyên nhân mà trên cơ sở đó phát hiện ra các tiềm năng cần phải khai thác và những khâu còn yếu kém tồn tại, nhằm đề ra các giải pháp, biện pháp phát huy hết thế mạnh, khắc phục những tồn tại của doanh nghiệp

* Xây dựng phương án kinh doanh căn cứ vào mục tiêu đã định:

Quá trình kiểm tra và đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp biết được tiến độ thực hiện, những nguyên nhân sai lệch xảy ra, ngoài ra còn giúp cho doanh nghiệp phát hiện những thay đổi có thể xảy ra tiếp theo Nếu kiểm tra và đánh giá đúng đắn sẽ giúp cho doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp và đề ra các giải pháp tiến hành trong tương lai

Định kỳ doanh nghiệp phải tiến hành kiểm tra và đánh giá hoạt động kinh

doanh trên tất cả các góc độ, đồng thời căn cứ vào điều kiện tác động của môi

trường bên ngoài hiện tại và tương lai để xác định vị trí của doanh nghiệp trên

thị trường để định hướng, để xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp Nhiệm

vụ của phân tích nhằm xem xét, dự báo, dự đoán sự phát triển của doanh nghiệp trong tương lai, hoạch định các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường

1.1.4 Các nhân tố ảnh hưởng trong phân tích kinh doanh

1.1.4.1 Khái niệm nhân tố

Trong phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, khái niệm nhân tố được thường xuyên sử dụng để chỉ điều kiện tất yếu làm cho quá trình kinh tế

nào đó có thể thực hiện đuợc Nhân tố là những yếu tố bên trong của mỗi hiện

tượng, quá trình và mỗi biến động của nó tác động trực tiếp hay gián tiếp đến

Ví dụ: Doanh thu bán hàng phụ thuộc vào lượng hàng bán ra, giá cả và cơ cấu mặt hàng với cơ cấu mặt hàng có giá bán ra khác nhau Và các yếu tố kể trên

lại chịu tác động bởi nhiều yếu tố khách quan, chủ quan khác nữa

Trang 14

Trong phân tích, nguyên nhân và kết quả không phải là cố định bởi vì nghiên cứu một hiện tượng kinh doanh, một quá trình kinh doanh nào đó thì cái này có thể là nguyên nhân nhưng khi nghiên cứu một quá trình kinh doanh khác thì nguyên nhân đó lại trở thành kết quả Có khi nguyên nhân và kết quả hợp với nhau làm cho nguyên nhân biểu hiện thành kết quả và ngược lại

1.1.4.2 Phân loại nhân tố

Trong quá trình phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, có rất nhiều nhân tố Việc xác định nhân tố nào là tuỳ thuộc vào đặc điểm của hiện tượng, quá trình kinh doanh Tuy vậy vẫn có thể phân các nhân tố như sau :

* Theo nội dung kinh tế bao gồm:

- Nhân tố thuộc điều kiện kinh doanh (số lao động, vật tư, tiền vốn) các

nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô kinh doanh;

- Nhân tố thuộc về kết quả kinh doanh, các nhân tố này thường ảnh hưởng dây chuyền từ khâu cung ứng đến sản xuất tiêu thụ từ đó ảnh hưởng đến kết quả tổng hợp kinh doanh như: nhân tố giá cả hàng hóa, lượng hàng hóa sản xuất, tiệu thụ

* Theo tính tất yếu của nhân tố bao gồm:

- Nhân tố chủ quan là những nhân tố tác động đến hoạt động kinh doanh tuỳ thuộc vào sự nỗ lực chủ quan của chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh Những nhân tố này như trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, trình độ khai thác các nhân tố khách quan của doanh nghiệp (giá thành sản phẩm, mức hao phí, thời gian lao động);

- Nhân tố khách quan là những nhân tố phát sinh và tác động như một yêu

cầu tất yếu ngoài sự chi phối của chủ thể tiến hành hoạt động kinh doanh Kết quả hoạt động của một doanh nghiệp có thể chịu tác động bởi các nhân tố khách quan như: môi trường kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học kỹ thuật và ứng dụng, luật pháp, chế độ chính trị chính sách kinh tế xã hội của Nhà nước Các nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa, giá cả chi phí, giá cả dịch vụ thay đổi, thuế suất, lãi suất, suất tiền lương tối thiểu hay trung bình cũng thay đổi theo

Việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh theo sự tác động của các nhân

tố chủ quan và khách quan, giúp doanh nghiệp đánh giá đúng những nỗ lực của bản thân và tìm hướng tăng nhanh hiệu quả hoạt động kinh doanh

Trang 15

* Theo tính chất của nhân tố bao gồm:

- Nhân tố số lượng là những nhân tố phản ánh quy mô, điều kiện hoạt động kinh doanh như: số lượng lao động, vật tư, tiền vốn, sản lượng doanh thu

- Nhân tố chất lượng là những nhân tố phản ánh hiệu suất hoạt động kinh doanh như: giá thành một sản phẩm, năng suất lao động

Việc phân tích hoạt động kinh doanh theo chỉ tiêu số lượng và chỉ tiêu chất lượng giúp cho việc đánh giá phương hướng, đánh giá chất lượng và giúp cho việc xác định trình tự đánh giá các nhân tố khi sử dụng phương pháp loại trừ trong phân tích hoạt động kinh doanh

* Theo xu hướng tác động của các nhân tố phân ra:

- Nhân tố tích cực là những nhân tố có tác động tốt hay làm tăng độ lớn của kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh

- Nhân tố tiêu cực là những nhân tố có tác động xấu hay làm giảm quy mô của kết quả hoạt động kinh doanh

Trong phân tích cần xác định xu hướng và sự bù trừ về độ lớn của các loại nhân tố tích cực và tiêu cực để xác định ảnh hưởng tổng hợp của tất cả các loại nhân tố đến chỉ tiêu phân tích Phân tích kết quả hoạt động kinh doanh theo hướng tác động của các nhân tố tích cực và tiêu cực giúp cho doanh nghiệp chủ động thực hiện các biện pháp để phát huy những nhân tố tích cực, tăng nhanh kết quả hoạt động kinh doanh Đồng thời cũng hạn chế tới mức tối đa những nhân tố tiêu cực, có tác động xấu đến quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Nhân tố có nhiều loại như đã nêu ở trên, nhưng cần chú rằng khi phân loại phải tuỳ thuộc vào mối quan hệ cụ thể của nhân tố với chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, có những nhân tố trong mối quan hệ với chỉ tiêu này là loại nhân tố này, nhưng trong mối quan hệ với chỉ tiêu khác trở thành nhân tố khác Chẳng hạn: Doanh thu là chỉ tiêu phân tích khi đánh giá, phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, nhưng lại là chỉ tiêu nhân tố khi phân tích chỉ tiêu lợi nhuận hoạt động kinh doanh

1.2 Các phương pháp phân tích kinh doanh

1.2.1 Phương pháp so sánh

So sánh là một phương pháp được sử dụng rất rộng rãi trong phân tích kinh doanh Sử dụng phương pháp so sánh trong phân tích là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hoá có cùng một nội dung, một tính chất

Trang 16

tương tự để xác định xu hướng và mức độ biến động của các chỉ tiêu đó Nó cho phép chúng ta tổng hợp được những nét chung, tách ra được những nét riêng của các hiện tượng kinh tế đưa ra so sánh, trên cơ sở đó đánh giá được các mặt phát triển hay các mặt kém phát triển, hiệu quả hay kém hiệu quả để tìm các giải pháp nhằm quản lý tối ưu trong mỗi trường hợp cụ thể Vì vậy, để tiến hành so sánh cần phải thực hiện những vấn đề cơ bản sau đây:

* Lựa chọn tiêu chuẩn để so sánh:

Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu được lựa chọn để làm căn cứ so sánh, được gọi là kỳ gốc so sánh Tùy theo mục đích nghiên cứu mà lựa chọn kỳ gốc so sánh cho thích hợp Các gốc so sánh có thể là:

- Số liệu của năm trước (năm trước, quý trước, tháng trước): So sánh số liệu kỳ này với kỳ trước nhằm đánh giá tốc độ tăng trưởng, xu hướng phát triển của các chỉ tiêu;

- Các số liệu dự kiến (kế hoạch, dự đoán, định mức): So sánh các số liệu thực hiện với số liệu dự kiến nhằm đánh giá tình hình thực hiện so với mục tiêu đề ra;

- Các chỉ tiêu trung bình của ngành, của khu vực kinh doanh; nhu cầu hoặc đơn đặt hàng theo hợp đồng đã ký với khách hàng nhằm khẳng định vị trí của các DN và khả năng đáp ứng nhu cầu của thị trường;

- So sánh số liệu của doanh nghiệp mình với số liệu của doanh nghiệp tương đương, điển hình hoặc doanh nghiệp thuộc đối thủ cạnh trang giúp ta đánh giá được mặt mạnh yếu của doanh nghiệp

Các chỉ tiêu của kỳ được chọn để so sánh với kỳ gốc được gọi là chỉ tiêu kỳ thực hiện và là kết quả kinh doanh đã đạt được hoặc có thể là chỉ tiêu kế hoạch hướng đến tương lai

* Ðiều kiện có thể so sánh được:

Ðể thực hiện phương pháp này có ý nghĩa thì điều kiện kiên quyết là các chỉ tiêu được sử dụng trong so sánh phải đồng nhất Trong thực tế, chúng ta cần quan tâm cả về thời gian và không gian của các chỉ tiêu và điều kiện có thể so sánh được giữa các chỉ tiêu kinh tế

- Về thời gian: Là các chỉ tiêu được tính trong cùng một khoảng thời gian hạch toán và phải thống nhất trên 3 mặt sau:

+ Phải phản ánh cùng nội dung kinh tế;

+ Các chỉ tiêu phải cùng sử dụng một phương pháp tính toán;

+ Phải cùng một đơn vị tính;

- Về mặt không gian: Yêu cầu các chỉ tiêu đưa ra phân tích cần phải được

quy đổi về cùng quy mô và điều kiện kinh doanh tương tự như nhau

Trang 17

Ví dụ: Nghiên cứu chỉ tiêu lợi nhuận trước thuế của 2 doanh nghiệp (DN)

A và B DN A có lợi tức là 100 triệu đồng và DN B là 50 triệu đồng Nếu nhìn vào kết quả đó mà chúng ta vội vàng kết luận rằng DN A đạt hiệu quả kinh doanh gấp 2 lần DN B thì chưa có cơ sở vững chắc, cho dù cùng thời gian kinh doanh như nhau Nhưng, nếu đi sâu nghiên cứu và biết thêm quy mô về vốn hoạt động của DN A và DN B, giả sử vốn hoạt của DN A gấp 4 lần vốn hoạt động của DN B thì kết luận trên sẽ không đúng, mà ngược lại có thể DN B có hiệu quả hơn DN A chứ không phải DN A hiệu quả hơn DN B

* Kỹ thuật so sánh:

Ðể đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, người ta thường sử dụng các kỹ thuật

so sánh sau:

- So sánh bằng số tuyệt đối:

+ Số tuyệt đối: Là số biểu hiện qui mô, khối lượng của một chỉ tiêu kinh tế

ở điều kiện thời gian và không gian nhất định Ta thường gọi là trị số của chỉ tiêu kinh tế Nó là cơ sở để tính toán các loại chỉ tiêu khác;

+ So sánh bằng số tuyệt đối: Là so sánh giữa trị số của chỉ tiêu kinh tế kỳ phân tích so với kỳ gốc Kết quả so sánh biểu hiện biến động khối lượng, quy

mô của các hiện tượng kinh tế

- So sánh bằng số tương đối: Là kết quả của phép chia, giữa trị số của kỳ phân tích so với kỳ gốc của các chỉ tiêu kinh tế Kết quả so sánh biểu hiện tốc độ phát triển của các hiện tượng kinh tế

- So sánh mức biến động tuyệt đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung:

Là kết quả so sánh của phép trừ giữa trị số của kỳ phân tích với trị số kỳ gốc đã được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô chung

-

Trị số chỉ tiêu

kỳ gốc

điều chỉnh

- So sánh mức biến động tương đối điều chỉnh theo hướng quy mô chung:

Là kết quả so sánh của phép chia giữa trị số của kỳ phân tích với trị số kỳ gốc đã được điều chỉnh theo hệ số của chỉ tiêu phân tích có liên quan theo hướng quyết định quy mô chung

Trang 18

Mức biến động tương

Trị số chỉ tiêu kỳ phân tích Trị số chỉ tiêu kỳ gốc x Hệ số điều chỉnh

Ví dụ: Để minh họa ta sẽ phân tích chi phí tiền lương của lao động giữa

thực hiện với kế hoạch đặt trong mối quan hệ với kết quả kinh doanh thông qua chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ sản phẩm tại một doanh nghiệp với số liệu thu thập như sau:

Từ bảng trên ta lập bảng tính toán số liệu như sau:

hoạch

Thực hiện

So sánh

Số tuyệt đối (trđ)

Tốc độ tăng/giảm (%)

2 Doanh thu tiêu thụ (trđ) 1.000 1.200 +200 + 20

- So sánh mức biến động tuyệt đối:

+ So sánh số tuyệt đối về Tổng quỹ lương thực tế so với kế hoạch:

110 - 100 = 10 (triệu đồng) + So sánh số tuyệt đối về chỉ tiêu doanh thu tiêu thụ giữa thực tế và kế hoạch ta có:

1.200 – 1.000 = 200 (triệu đồng)

- So sánh theo số tương đối:

+ Số tương đối hoàn thành kế hoạch quỹ lương: 100 110 %

Có thể đưa ra nhận xét như sau:

- Tổng quỹ lương tăng 10% so với kế hoạch, tương ứng mức tăng 10 triệu đồng;

- Tổng doanh thu tiêu thụ tăng 20% so với kế hoạch, tương ứng mức tăng

200 triệu đồng

Trang 19

Nếu xét riêng chỉ tiêu chi phí lương thực tế so với kế hoạch DN đã vượt chi 10% tương ứng 10 triệu đồng

Nếu xét chỉ tiêu tổng quỹ lương trong mối quan hệ với doanh thu tiêu thụ trong năm cho ta thấy, tốc độ tăng doanh thu tiêu thụ nhanh hơn tốc độ tăng chi phí lương là 10% (120% - 110%) Để thấy rõ việc chi lương này có hợp lý hay không, ta phải tính mức biến động tương đối của chỉ tiêu chi phí lương giữa thực

tế so với kế hoạch được điều với hệ số tăng của quy mô tiêu thụ như sau:

Mức biến động chi phí lương = 110 - (100 x 120%)

= 110 - 120 = -10 (triệu đồng) Như vậy, kết quả mức độ biến động tương đối có điều chỉnh trên cho ta thấy,

so với kế hoạch, thực tế số tiền đã tiết kiệm được trong chi trả lương là 10 triệu đồng Trong điều kiện như mục tiêu kế hoạch đề ra, doanh thu thực hiện 1.200 triệu đồng thì tiền lương thực tế phải chi trả là 120 triệu đồng, nhưng thực tế DN chỉ trả 110 triệu đồng, do đó DN đã tiết kiệm được 10 triệu đồng quỹ lương Qua đây mới cho ta thấy rõ được thực chất tình hình chi trả lương của DN

* Một số loại số tương đối thường dùng:

Có nhiều loại số tương đối, tùy theo yêu cầu của phân tích mà sử dụng cho phù hợp, cụ thể như sau:

+ Số tương đối kế hoạch: Bao gồm số tương đối nhiệm vụ kế hoạch và số

tương đối hoàn thành kế hoạch;

+ Số tương đối kết cấu:

So sánh số tương đối kết cấu thể hiện chênh lệch về tỉ trọng của từng bộ phận chiếm trong tổng số giữa kỳ phân tích với kỳ gốc của chỉ tiêu phân tích Nó phản ánh biến động bên trong của chỉ tiêu

Ví dụ: Có tài liệu phân tích về kết cấu lao động ở 1 doanh nghiệp như sau:

Như vậy, cùng với sự biến động của tổng số lao động thì kết cấu lao động cũng thay đổi, tỷ trọng công nhân sản xuất giảm từ 90% xuống còn 85%, tỷ trọng nhân viên quản lý tăng từ 10 lên 15% Xu hướng thay đổi này không tạo điều kiện tăng năng suất lao động tại doanh nghiệp

Trang 20

+ Số tương đối động thái:

Biểu hiện sự biến động về tỷ lệ của chỉ tiêu kinh tế qua một khoảng thời gian nào đó Nó được tính bằng cách so sánh chỉ tiêu kỳ phân tích với chỉ tiêu kỳ gốc Chỉ tiêu kỳ gốc có thể cố định hoặc liên hoàn, tùy theo mục đích phân tích Nếu kỳ gốc cố định sẽ phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu kinh tế trong khoảng thời gian dài Nếu kỳ gốc liên hoàn phản ánh sự phát triển của chỉ tiêu kinh tế qua 2 thời kỳ kế tiếp nhau

Ví dụ: Có tài liệu về doanh thu qua các năm ở 1 doanh nghiệp như sau:

Năm

Doanh thu (triệu đồng) 1.000 1.200 1.380 1.518 1.593,9

Số tương đối động thái kỳ

có xu hướng chậm dần qua các năm

+ So sánh bằng số bình quân: Số bình quân biểu hiện tính chất và đặc trưng chung về mặt số lượng nhằm phản ánh đặc điểm chung của một bộ phận hay một tổng thể chung nào đó có cùng một tính chất

1.2.2 Phương pháp phân tích chi tiết

Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướng khác nhau Thông thường trong phân tích phương pháp chi tiết được thực hiện theo những hướng sau:

- Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu: Các chỉ tiêu biểu hiện kết quả hoạt động kinh doanh bao gồm nhiều bộ phần cấu thành Chi tiết các chỉ tiêu theo các bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng của các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả đạt được Với ý nghĩa đó, phương pháp chi tiết theo bộ phận cấu thành được sử dụng rộng rãi trong phân tích mọi mặt kết quả kinh danh

Trong phân tích kết quả sản xuất nói chung, chỉ tiêu giá trị sản lượng (hay giá trị dịch vụ trong xây lắp, trong vận tải, du lịch…) thường được chi tiết theo các bộ phận có ý nghĩa kinh tế khác nhau Chẳng hạn, giá trị sản lượng công

Trang 21

nghiệp cần được chi tiết thành các bộ phận: giá trị thành phẩm làm bằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp, làm bằng nguyên vật liệu của doanh nghiệp, làm bằng nguyên vật liệu của người đặt hàng, giá trị của dụng cụ tự chế, giá trị của sản phẩm dở dang Trong xây dựng, trước hết cần chi tiết thành các phần xây dựng

và lắp đặt cấu kiện, sau đó trong phần xây dựng cần chi tiết các phần: Đổ bê tông, xây tường, thu dọn đất, những phần việc thuộc về mộc…

Trong phân tích giá thành, tổng giá thành sản phẩm được chi tiết theo giá thành của từng loại sản phẩm sản xuất Trong mỗi loại sản phẩm, giá thành được chi tiết theo các yếu tố của chi phí sản xuất

Trong phân tích tiêu thụ, doanh số hay tiêu thụ (hay giá trị sản lượng hàng hoá thực hiện) được chi tiết theo doanh số từng mặt hàng - những bộ phận cấu thành doanh số đó…

- Chi tiết theo thời gian: Kết quả kinh doanh bao giờ cũng là kết quả của một quá trình Do nhiều nguyên nhân chủ quan hoặc khách quan, tiến độ thực hiện quá trình đó trong từng đơn vị thời gian xác định thường không đồng đều Chi tiết theo thời gian sẽ giúp ích cho việc đánh giá kết quả kinh doanh được sát, dùng và tìm được các giải pháp có hiệu quả cho công việc kinh doanh Tùy đặc tính quá trình kinh doanh, tuỳ nội dung kinh tế của chỉ tiêu phân tích và tùy mục đích phân tích khác nhau có thể lựa chọn khoảng thời gian và chỉ tiêu phải chi tiết cho phù hợp Ví dụ: Trong sản xuất công nghiệp, có thể chi tiết sản lượng, sản xuất theo tháng, quý trong năm hoặc tuần kì trong tháng để nghiên cứu tính đều đặn của sản xuất, trong thương nghiệp cũng có thể chi tiết như thế

để nghiên cứu nhịp độ mua vào, bán ra của cửa hàng; Trong sản xuất nông nghiệp, xây dựng du lịch có thể chi tiết theo mùa vụ để có kế hoạch sử dụng tiềm năng của doanh nghiệp trong từng thời gian trong năm Cũng có thể nghiên cứu đồng thời nhịp điệu của các chỉ tiêu liên quan với nhau như: lượng mua vào bán ra, lượng vốn được cấp (huy động) với khối lượng công việc xây lắp hoàn thành… để đánh giá đúng đắn nhịp điệu thực hiện các mục tiêu kinh doanh

- Chi tiết theo địa điểm: Kết quả kinh doanh được thực hiện bởi các phần xưởng, tổ đội sản xuất… hay các cửa hàng, trạm, trại, xí nghiệp trực thuộc doanh nghiệp Việc chi tiết này nhằm đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, phạm vi và địa điểm khác nhau, nhằm khai thác các mặt mạnh và khắc phục các mặt yếu kém của các bộ phận và phạm vi hoạt động khác nhau Một số ưu điểm của phương pháp phân tích này bao gồm:

Trang 22

+ Một là, đánh giá kết quả thực hiện hạch toán kinh doanh nội bộ Trong trường hợp này, tùy chỉ tiêu khoán khác nhau có thể chi mức thực hiện khoán ở các đơn vị có cùng nhiệm vụ như nhau Chẳng hạn nếu khoán chi phí (riêng chi phí vật chất và cả tiền lương và chi phí quản lý phân xưởng…) thì chỉ tiêu cần chi tiết là mức hao phí (vật chất hoặc chi phí nói chung) trên một đơn vị sản phẩm hoặc công việc, nếu áp dụng cách khoán gọn thì chỉ tiêu cần chi tiết là mức lợi nhuận bình quân trên một đồng vốn hoặc một lao động…;

+ Hai là, phát hiện các đơn vị tiên tiến hoặc lạc hậu trong việc thực hiện các mục tiêu kinh doanh Tuỳ mục tiêu đề ra có thể chon các chỉ tiêu chi tiếp phù hợp về các mặt: năng suất, chất lượng, giá thành…;

+ Ba là, khai thác các khả năng tiềm tàng về sử dụng vật tư lao động, tiền vốn, đất đai… trong kinh doanh

1.2.3 Phương pháp loại trừ

Trong phân tích kinh doanh, để có cơ sở đánh giá, nhận xét đúng thì vấn đề quan trọng và rất được quan tâm nghiên cứu là các nguyên nhân và nhân tố ảnh hưởng và lượng hóa được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả kinh doanh Phương pháp thường được sử dụng để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của các nhân tố là phương pháp loại trừ

Loại trừ là phương pháp nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân

tố đến kết quả kinh doanh, bằng cách khi xác định sự ảnh hưởng của từng nhân

tố này thì loại trừ ảnh hưởng của nhân tố khác Chẳng hạn, khi phân tích chỉ tiêu tổng doanh thu tiêu thụ sản phẩm có thể quy về sự ảnh hưởng của hai nhân tố:

- Lượng hàng hóa bán ra được tính bằng đơn vị tự nhiên (cái, chiếc ) hoặc đơn vị trọng lượng (tấn, tạ, kg );

- Giá bán ra của một đơn vị sản phẩm hàng hoá tiêu thụ được tính bằng đơn

vị tiền tệ

Cả hai nhân tố trên cùng đồng thời ảnh hưởng đến tổng doanh thu, nhưng

để xác định mức độ ảnh hưởng của một nhân tố này phải loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác Muốn vậy có thể thực hiện bằng hai cách sau đây:

- Cách thứ nhất: Có thể dựa vào phép thay thế sự ảnh hưởng lần lượt từng

nhân tố và được gọi là phương pháp “Thay thế liên hoàn”;

- Cách thứ hai: Có thể đưa trực tiếp vào mức biến động của từng nhân tố và

được gọi là phương pháp “Số chênh lệch”

Trang 23

* Phương pháp thay thế liên hoàn:

Với phương pháp “thay thế liên hoàn”, chúng ta có thể xác định được ảnh hưởng của các nhân tố thông qua việc thay thế lần lượt và liên tiếp các nhân tố

để xác định trị số của chỉ tiêu khi nhân tố đó thay đổi Khi thực hiện phương pháp này cần quán triệt các nguyên tắc sau:

- Thiết lập mối quan hệ toán học của các nhân tố ảnh hưởng với chỉ tiêu phân tích theo một trình tự nhất định, từ nhân tố số lượng đến nhân tố chất lượng; trong trường hợp có nhiều nhân tố số lượng hay chất lượng thì nhân tố chủ yếu xếp trước đến nhân tố thứ yếu;

- Lần lượt thay thế, nhân tố số lượng được thay thế trước rồi đến nhân tố chất lượng; nhân tố được thay thế thì lấy giá trị thực tế, nhân tố chưa được thay thế thì giữ nguyên kỳ gốc; nhân tố đã được thay thế thì lấy giá trị thực tế, cứ mỗi lần thay thế tính ra giá trị của lần thay thế đó; lấy kết quả tính được trừ đi kết quả lần thay thế trước nó ta xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó (kết quả lần thay thế trước của lần thay thế đầu tiên là so với kỳ gốc);

- Tổng đại số mức ảnh hưởng của các nhân tố phải bằng đối tượng phân tích (là số chênh lệch giữa kỳ phân tích và kỳ gốc)

Có thể cụ thể các nguyên tắc trên thành các bước như sau:

Giả sử có 3 nhân tố ảnh hưởng là: a,b,c đều có quan hệ tích số với chỉ tiêu phân tích A (chỉ tiêu kết quả) và nhân tố a phản ánh lượng tuần tự đến c phản ánh về chất theo nguyên tắc đã trình bày ta thiết lập được mối quan hệ như sau:

Bước 1: Xác định đối tượng phân tích: Là mức chênh lệch giữa chỉ tiêu kỳ

phân tích so với chỉ tiêu kỳ gốc:

1.b

1.c0Thế lần 3: a

1.b

1.c1

Trang 24

Thế lần cuối cùng chính là các nhân tố ở phân tích được thay thế toàn bộ nhân

tố ở kỳ gốc Như vậy, có bao nhiêu nhân tố ảnh hưởng thì có bấy nhiêu lần thay thế

Bước 3: Xác định các nhân tố ảnh hưởng:

Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến đối tượng phân tích bằng cách lấy kết quả thay thế lần sau trừ đi kết quả lần thay thế trước nó ta xác định được mức độ ảnh hưởng của nhân tố đó (kết quả lần thay thế trước của lần thay thế đầu tiên là so với kỳ gốc) cụ thể:

- Ảnh hưởng của nhân tố a:

là các bước 2 và 3 trong phương pháp thay thế liên hoàn được thay thế bằng một bước là xác định ảnh hưởng của nhân tố đó đến chỉ tiêu phân tích trong phương pháp số chênh lệch:

- Ảnh hưởng của nhân tố a: ΔA

Ví dụ: Phân tích doanh thu trong mối quan hệ với khối lượng và giá cả của

1 loại sản phẩm tiêu thụ:

Trang 25

Bảng số liệu về tình hình tiêu thụ của đơn vị

So sánh

Số tuyệt đối

Tốc độ tăng/giả

- Doanh thu D, năm trước D0 và năm nay D1;

- Khối lượng tiêu thụ Q, năm trước Q0 và năm nay Q1;

- Giá bán đơn vị: P, năm trước P0 và năm nay P1;

D(p) = Q1.P1 – Q1.P0 = 1.250 x 96 - 1.250 x 100 = - 5.000 (1.000 đồng)

- Tổng hợp ảnh hưởng của 2 nhân tố:

ΔD = ΔDQ + ΔDp = (+ 25.000) + (- 5.000) = + 20.000 (1.000 đồng)

Trang 26

Nhận xét:

Doanh thu năm nay tăng so với năm trước 20 triệu đồng tương ứng với tỷ

lệ tăng là 20% Việc tăng doanh thu là kết quả của hai nhân tố ảnh hưởng:

+ Do khối lượng tiêu thụ năm nay tăng 25% tương ứng với mức tăng là 250 sản phẩm so với năm ngoái, đây là nhân tố làm cho doanh thu của doanh nghiệp tăng 25.000 (1.000 đồng) Nguyên nhân có thể là doanh nghiệp đã tổ chức và quản

lý tốt công tác tiêu thụ, maketing sản phẩm… Đây là một thành tích của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần tìm hiểu kỹ nguyên nhân để phát huy thành tích này; + Do giá bán đơn vị sản phẩm trong năm nay giảm 4% so với năm trước, tương ứng với mức giảm là 4 (1.000 đ/sp) khiến cho doanh thu của doanh nghiệp giảm 5.000 (1.000 đồng) Nguyên nhân có thể là do doanh nghiệp giảm được giá thành sản xuất sản phẩm nên đã hạ giá bán sản phẩm - đây là một thành tích của doanh nghiệp; việc hạ giá bán có thể là do chất lượng sản phẩm giảm sút…

Doanh nghiệp cần đi sâu tìm hiểu kỹ các nguyên nhân là thành tích hay khuyết điểm để từ đó có các biện pháp phù hợp…

1.2.4 Phương pháp tương quan hồi quy

1.2.4.1 Phương pháp hồi quy đơn

Mối liên hệ giữa chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thường có quan hệ tỷ lệ thuận hoặc quan hệ tỷ lệ nghịch

* Trường hợp tồn tại mối quan hệ tỷ lệ thuận giữa chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích:

Đây là mối quan hệ theo một hướng xác định giữa chỉ tiêu nhân tố với chỉ tiêu phân tích Trường hợp này sử dụng hàm hồi quy dạng Yx = a + b.x

Trong đó:

Yx: Chỉ tiêu phân tích;

x: Chỉ tiêu nhân tố;

a, b: Các tham số

Kết hợp với n lần quan sát, ta có: S = ∑ (Y - Yx )2  min

Lấy đạo hàm riêng theo a và b ta có hệ phương trình chuẩn tắc xác định các tham số a, b

Trang 27

Trong đó:

Yi: Chỉ tiêu phân tích;

xi: Chỉ tiêu nhân tố

Ví dụ: Một đơn vị xây dựng công thức phân tích chi phí hoạt động kinh

doanh theo 2 yếu tố định phí (chi phí cố định) và biến phí (chi phí biến đổi) Đơn vị đã thu thập n lần quan sát thực nghiệm với x - sản lượng sản phẩm dịch vụ; y - tổng chi phí hoạt động kinh doanh tương ứng Tổng chi phí định phí của đơn vị đáp ứng trong phạm vi phù hợp từ 60.000 đến 100.000 sản phẩm dịch vụ mỗi năm

Giả sử sau khi tính toán, xác định các tham số a, b ta xác định được công thức phân tích:

Y = 900.000 + 20x Căn cứ vào công thức phân tích, kết hợp với phạm vi phù hợp sản lượng sản phẩm dịch vụ sản xuất cung cấp, có thể xây dựng kế hoạch linh hoạt phân tích chi phí hoạt động kinh doanh tương ứng với từng mức độ hoạt động

Bảng tính toán tổng chi phí kinh doanh

Qua bảng phân tích cho thấy:

- Sản lượng sản phẩm dịch vụ tăng hoặc giảm thì tổng chi phí kinh doanh cũng tăng hoặc giảm theo cùng một tỷ lệ nhất định;

- Nếu đơn vị cần sản xuất cung cấp sản lượng sản phẩm dịch vụ bao nhiêu thì lúc đó có thể xác định tổng chi phí kinh doanh tương ứng Giả sử đơn vị dự kiến sản xuất cung cấp 85.000 sản phẩm dịch vụ, khi đó tổng chi phí cho hoạt động kinh doanh sẽ là: Y = 900.000 + 20 x 85.000 = 2.600.000 (1.000 đồng)

Trang 28

* Trường hợp tồn tại quan hệ nghịch giữa chỉ tiêu phân tích với chỉ tiêu nhân tố:

Có nghĩa là chỉ tiêu nhân tố có quan hệ thuận với đại lượng nghịch đảo của chỉ tiêu phân tích Trong trường hợp này có thể sử dụng hàm tương quan hồi quy có dạng: Yx = a + b/x

Kết hợp với n lần quan sát, ta có: S = ∑ (Y - Yx )2  min

Lấy đạo hàm riêng theo a và b ta có hệ phương trình chuẩn tắc xác định các tham số a, b

Yi = a + b/xi Trong đó:

Yi : Chỉ tiêu phân tích;

xi : Chỉ tiêu nhân tố

1.2.4.2 Phương pháp hồi quy bội

Phân tích hồi quy bội được sử dụng phương trình hồi quy bội nhằm để dự đoán ước tính nhiều biến độc lập

Phương trình có dạng:

Y = a + b1x1 + b2x2 + + bnxnTrong đó:

Y là biến số phục thuộc cần dự đoán;

a là hệ số;

x1,x2, …, xn là biến số độc lập;

b1 b2 bn là hệ số của biến số độc lập;

1.2.5 Phương pháp liên hệ

Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ với nhau giữa các mặt, các

bộ phận Để lượng hoá các mối quan hệ đó, trong phân tích kinh doanh sử dụng các cách liên hệ phổ biến như liên hệ cân đối, liên hệ trực tuyến và liên

hệ phi tuyến

- Liên hệ cân đối có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa 2 mặt của các yếu

tố và quá trình kinh doanh: Giữa tổng số vốn và tổng số nguồn vốn; giữa nhu cầu và khả năng thanh toán; giữa thu với chi và kết quả kinh doanh Mối liên

hệ cân đối vốn có về lượng của các yếu tố dẫn đến sự cân bằng cả về mức biến động (chênh lệch) về lượng giữa các mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh

Trang 29

- Liên hệ trực tuyến: Là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích Chẳng hạn, lợi nhuận có quan hệ cùng chiều với sản lượng sản phẩm dịch vụ tiêu thụ, giá bán có quan hệ ngược chiều với giá thành Trong mối liên hệ trực tuyến này, theo mức phụ thuộc giữa các chỉ tiêu có thể phân thành 2 loại quan hệ chủ yếu:

+ Liên hệ trực tiếp giữa các chỉ tiêu như giữa lợi nhuận với giá bán, giá thành Trong những trường hợp này các mối liên hệ không qua một chỉ tiêu liên quan nào: Giá bán tăng (hoặc giá thành giảm) sẽ làm lợi nhuận tăng ;

+ Liên hệ gián tiếp là quan hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ phụ thuộc giữa chúng được xác định bằng một hệ số riêng

- Liên hệ phi tuyến: Là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ liên

hệ không được xác định theo tỷ lệ và chiều hướng liên hệ luôn luôn biến đổi Trong trường hợp này, mối liên hệ giữa chỉ tiêu phân tích (hàm số) với các nhân

tố (biến số) thường có dạng hàm lũy thừa Để quy về hàm tuyến tính sử dụng các thuật toán như phép Loga, bảng tương quan và chương trình chuẩn tắc Cũng có thể dùng vi phân hàm số của giải tích toán học để xác định ảnh hưởng của các nhân tố đến mức biến động của chỉ tiêu phân tích

1.3 Tổ chức phân tích kinh doanh

1.3.1 Khái quát chung về tổ chức phân tích kinh doanh

Công tác tổ chức phân tích kinh doanh ở doanh nghiệp thường phụ thuộc vào công tác tổ chức kinh doanh ở doanh nghiệp Công tác tổ chức kinh doanh lại phụ thuộc vào loại hình kinh doanh Đặc điểm và điều kiện kinh doanh ở mỗi doanh nghiệp không giống nhau Dó đó, công tác tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh cũng phải tổ chức để phù hợp với hình thức tổ chức kinh doanh

Từ nghiên cứu nội dung và phương pháp phân tích có thể thấy hệ thống phân tích bao gồm các yếu tố có liên hệ chặt chẽ với nhau: chi tiết, so sánh, liên

hệ, loại trừ Nhiệm vụ của tổ chức phân tích kinh doanh là tạo ra mối liên hệ giữa các yếu tố này trong từng nội dung phân tích cụ thể như sản xuất, cung ứng

và tiêu thụ, chi phí, tài chính nhằm đánh giá đúng đắn tình hình kinh doanh của đơn vị và vạch ra những tiềm năng còn có thể khai thác trong kỳ kinh doanh tới Như vậy, tổ chức phân tích chính là vận dụng tổng hợp các phương pháp phân tích để đánh giá đúng kết quả, chỉ những sai lầm và tìm biện pháp sửa chữa thiếu sót trong kinh doanh Đây là một yêu cầu rất cơ bản có ý nghĩa rất thực tiễn đối với người quản lý kinh doanh

Trang 30

Rõ ràng, trong kinh doanh mọi tác phong hay cách nghiên cứu chung chung, đại khái chắc chắn sẽ thất bại Vì vậy, sau khi thấu hiểu nội dung, phương pháp phân tích cần biết lựa chọn nội dung, biết sưu tầm và kiểm tra tài liệu theo nội dung ấn định, xây dựng hệ thống chỉ tiêu và lựa chọn hệ thống phương pháp phân tích thích ứng

Cùng với việc xác định quy trình, mục tiêu phân tích, cần biết tổ chức lực lượng thực hiện quy trình đã nên Tổng hợp lại, tổ chức phân tích có thể quy về những loại công việc chủ yếu như:

- Lựa chọn cách kết hợp với các loại hình phân tích phù hợp với mục tiêu

và nội dung phân tích;

- Tổ chức lượng cán bộ và phương tiện thực hiện mục tiêu phân tích đã nêu;

- Xây dựng quy trình tổ chức phân tích phù hợp với mục tiêu và lực lượng cùng các điều kiện hiện có

Ngoài ra, cũng như mọi mặt tổ chức khác, tổ chức phân tích cần được hoàn thiện thường xuyên nhằm thoả mãn ngày càng đầy đủ hơn những nhu cầu thông tin quản lý kinh doanh Đây là phần khái quát nội dung các khâu công việc chủ yếu

1.3.2 Các loại hình phân tích kinh doanh

Để quản lý kinh doanh, cần kết hợp nhiều loại hình phân tích Trong tổ chức phân tích, cần biết cặn kẽ ý nghĩa và đặc tính của từng loại hình

* Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh:

Căn cứ theo thời điểm của kinh doanh thì phân tích chia làm ba hình thức:

- Phân tích trước khi kinh doanh;

- Phân tích trong kinh doanh;

- Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh

Phân tích trước khi kinh doanh còn được gọi là phân tích tương lai, nhằm

dự báo, dự đoán cho các mục tiêu có thể đạt được trong tương lai Phân tích tương lai được sử dụng nhiều và thích hợp với các doanh nghiệp trong nền kinh

tế thị trường Bởi vì trong cơ chế thị trường toàn bộ các yếu tố đầu vào cũng như các yếu tố đầu ra của doanh nghiệp đều phải tự tính toán, nên họ phải sử dụng các phương pháp phân tích tương lai để nhận thức được tình hình biến động của thị trường từ đó để đề ra các mục tiêu kế hoạch

Phân tích trong kinh doanh còn được gọi là phân tích hiện tại (hay tác nghiệp), là quá trình phân tích cùng với quá trình kinh doanh Hình thức này rất thích hợp cho chức năng kiểm tra thường xuyên nhằm điều chỉnh, chấn chỉnh những sai lệch giữa kết quả thực hiện so với mục tiêu đặt ra

Phân tích sau khi kết thúc quá trình kinh doanh còn gọi là phân tích quá khứ Quá trình phân tích này nhằm định kỳ đánh giá kết quả giữa thực hiện so

Trang 31

với kế hoạch hoặc định mức được xây dựng và xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả đó Kết quả phân tích cho ta nhận thức được tình hình thực hiện kế hoạch của các chỉ tiêu đặt ra và làm căn cứ để xây dựng kế hoạch tiếp theo

* Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo:

Căn cứ theo thời điểm lập báo cáo phân tích chia làm phân tích thường xuyên và phân tích định kỳ

- Phân tích thường xuyên được đặt ra ngay trong quá trình thực hiện kinh doanh, kết quả phân tích giúp phát hiện ngay tình hình sai lệch so với mục tiêu đặt ra của các chỉ tiêu kinh tế, giúp cho doanh nghiệp có biện pháp điều chỉnh, chấn chỉnh các sai lệch này một cách thường xuyên

- Phân tích định kỳ đặt ra sau mỗi kỳ kinh doanh, các báo cáo đã hoàn thành trong kỳ, thường là quý, 6 tháng hoặc năm Phân tích định kỳ được thực hiện sau khi đã kết thúc quá trình kinh doanh Do đó, kết quả phân tích nhằm đánh giá kết quả kinh doanh của từng kỳ và là cơ sở để xây dựng các mục tiêu

kế hoạch kỳ sau

* Căn cứ theo nội dung phân tích:

Căn cứ theo nội dung phân tích chia thành phân tích các chỉ tiêu tổng hợp (phân tích toàn bộ) và phân tích chuyên đề

- Phân tích các chỉ tiêu tổng hợp (phân tích toàn bộ): Là đánh giá toàn bộ các chỉ tiêu nhằm làm rõ kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong mối quan hệ nhân quả giữa chúng cũng như dưới tác động của các yếu tố bên trong, nguyên nhân bên ngoài

Ví dụ: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động tài chính, phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả của khối lượng và chất lượng sản xuất kinh doanh…

- Phân tích chuyên đề (phân tích bộ phận): Là việc tập trung vào một số nội dung trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp cần quan tâm nhằm làm rõ tiềm năng, thực chất của hoạt động kinh doanh để cải tiến và hoàn thiện từng bộ phận đó Ví dụ như: Các yếu tố về tình hình sử dụng lao động, về sử dụng nguyên vật liệu cho sản xuất hoặc tình hình sử dụng vốn Phân tích chuyên đề cũng có thể là phân tích một mặt, một phạm vi nào đó trong quá trình kinh doanh Ví dụ như: ở bộ phận quản lý sản xuất, ở cửa hàng hoặc một bộ phận theo chức năng quản lý nào đó, nhằm đánh giá tình hình thực hiện chức năng quản lý ở bộ phận đó

Tóm lại, việc đạt ra nội dung phân tích phải căn cứ vào yêu cầu, mục tiêu của quá trình quản lý sản xuất kinh doanh đề ra Vì vậy, cần xác định rõ mục tiêu phân tích để lựa chọn thích hợp các loại hình phân tích có hiệu quả thiết thực nhất

Trang 32

1.3.3 Quy trình tổ chức phân tích hoạt động kinh doanh

* Lập kế hoạch phân tích hoạt động kinh doanh:

Xác định trước về nội dung, phạm vi, thời gian và phương pháp phân tích hoạt động kinh doanh

* Sưu tầm và kiểm tra tài liệu:

Ngoài tài liệu về kế hoạch, thống kê, báo cáo kế toán - tài chính… còn phải sưu tầm các tài liệu liên quan như: các văn bản pháp quy, nghị quyết đại hội Đảng, các báo cáo tổng kết Đồng thời phải tiến hành kiểm tra các tài liệu theo cách:

- Kiểm tra tính pháp lý của tài liệu;

- Kiểm tra tính logic;

- Kiểm tra độ chính xác vả về nội dung và kĩ năng

* Xây dựng hệ thống chỉ tiêu và phương pháp phân tích:

Tùy theo nội dung và nguồn tài liệu để xác định các chỉ tiêu phân tích hợp

lý và phương pháp phân tích phù hợp Các chỉ tiêu được lựa chọn phải phải ánh được đầy đủ, toàn diện và đảm bảo chất lượng Phương pháp áp dụng phải tùy thuộc và phương tiện và trình độ của người phân tích

* Viết báo cáo và tổ chức hội nghị phân tích hoạt động kinh doanh:

Báo cáo phân tích là bảng tổng hợp những đánh giá về thực trạng và tiềm năng hoạt động sản xuất kinh doanh được thuyết minh và mô tả bằng bảng biểu

và đồ thị Đồng thời báo cáo phân tích phải đưa ra được những giải pháp khắc phục và định hướng phát triển trong thời gian tiếp theo và phải được góp ý kiến của hội nghị

Trang 33

CÂU HỎI ÔN TẬP

1 Thế nào là phân tích kinh doanh?

2 Hãy trình bày nhiệm vụ và nội dung của phân tích đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?

3 Quy trình tiến hành phân tích kinh doanh?

4 Phân tích kinh doanh được tổ chức như thế nào?

5 Thế nào là nhân tố trong phân tích kinh doanh? Có những loại nhân tố nào?

6 Trình bày nội dung và những vấn đề cần giải quyết khi sử dụng phương pháp phân tích so sánh?

7 Trình bày nguyên tắc sử dụng phương pháp phân tích loại trừ?

8 Trình bày nội dung, phạm vi sử dụng của phương pháp thay thế liên hoàn, phương pháp số chênh lệch?

Trang 34

Chương 2 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ SẢN XUẤT TRONG DOANH NGHIỆP

2.1 Phân tích môi trường kinh doanh, thị trường và chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.1 Phân tích môi trường kinh doanh của doanh nghiệp

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn diễn ra trong một môi trường nhất định, ở đó có các mối quan hệ phức tạp luôn mâu thuẫn với nhau về lợi ích kinh tế, nó có thể sẵn sàng nảy sinh những biến động có thể mang lại thiệt hại cho doanh nghiệp

Song bên cạnh những đột biến xấu cũng luôn nảy sinh những lợi thế, những tiềm năng và cơ hội phát triển cho doanh nghiệp Vì vậy, công tác phân tích môi trường kinh doanh phải được tiến hành thường xuyên để làn căn cứ dự đoán, dự báo những rủi ro và phát hiện những tiềm năng để kịp thời ứng phó và khai thác triệt để tiềm năng của môi trường Có thể phân môi trường kinh doanh thành 2 loại:

- Môi trường vi mô: Bao gồm các yếu tố có liên quan trực tiếp đến hoạt

động kinh doanh của doanh nghiệp: khách hàng, các đối thủ cạnh tranh, các nhà cung cấp, các nhà môi giới kinh doanh và các cư dân trực tiếp…

+ Về khách hàng: Sức mua của khách hàng là nhân tố quan trọng quyết định đến chiến lược sản phẩm và trả lời câu hỏi sản xuất cái gì? Sản xuất bao nhiêu? Sản xuất cho ai sản xuất như thế nào?

Vì vậy, nghiên cứu nhân tố khách hàng cần phải nắm được những thông tin

từ nhiều phía: Nhu cầu của khách hàng cần thoả mãn cái gì? Bao nhiêu? Mức giá nào khách hàng có thể chấp nhận… từ đó có chiến lược kinh doanh đúng và nghệ thuật phục vụ mềm dẻo để đạt hiệu quả cao trong kinh doanh

+ Về phía đối thủ cạnh tranh: Vì mục tiêu lợi nhuận, các doanh nghiệp luôn luôn tìm mọi các (mọi thủ đoạn) để thanh trừ nhau trên thương trường để giành độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh của mình Do đó, nghiên cứu các đối thủ cạnh tranh cũng là nội dung rất quan trọng trong việc hoạch định mục tiêu chiến lược kinh doanh Nghiên cứu đối thủ cạnh tranh là đi xác định những đơn vị nào đang sản xuất kinh doanh những mặt hàng mà doanh nghiệp đang kinh doanh, những đối thủ nào đang thâm nhập hoặc chuẩn bị thâm nhập vào thì trường của doanh nghiệp, tiềm năng của họ ra sao… để từ đó có kế hoạch đối phó kịp thời

Trang 35

+ Về phía nhà cung ứng vật tư: Hoạt động kinh doanh trong cơ chế thị trường ngoài việc phải xác định chính xác chiến lược đầu ra thì tiếp sau đó là nhiệm vụ khai thác nguồn vật tư có thể đáp ứng cho nhiệm vụ kinh doanh (các yếu tố đầu vào) Do đó, phân tích hoạt động kinh doanh phải đề cập tới nội dung đánh giá khả năng cung ứng vật tư, tính ổn định và khả năng biến động nguồn vật tư, thái độ của người cung ứng… để làm cơ sở xây dựng kế hoạch cung ứng

và sử dụng vật tư tiết kiệm

- Môi trường vĩ mô: Bao gồm 5 yếu tố cơ bản:

+ Về dân số: Đây là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu tiêu dùng và

từ đó tác động đến phương án sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp;

+ Về phát triển kinh tế của đất nước: Đây là nhân tố có tác động lớn, nhiều mặt đến môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Yếu tố này có thể trở thành

cơ hội song cũng có thể là nguy cơ cho sự phát triển của doanh nghiệp Các yếu

tố kinh tế chủ yếu bao gồm: tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, lãi suất ngân hàng, chính sách tài chính tiền tệ của đất nước, tình hình việc làm… đặc biệt và thu nhập của người tiêu dùng;

+ Về yếu tố điều kiện tự nhiên: Bao gồm các nguồn lực tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái…;

+ Về yếu tố khoa học kỹ thuật và công nghệ: Sự phát triển khoa học và công nghệ đã tạo điều kiện để phát triển sản xuất: Có khả năng chế tạo ra nhiều sản phẩm có nhiều tính năng tác dụng và chất lượng cao Đồng thời, khi đó người tiêu dùng có thu nhập cao, có nhu cầu tiêu dùng những sản phẩm cao cấp

và chất lượng tốt;

+ Về yếu tố chính trị bản chất của một thể chế chính trị - xã hội được thể hiện qua hệ thống pháp luật, các đường lối phát triển thông qua các chủ trương chính sách của một Nhà nước Trong điều kiện hoạt động theo cơ chế thị trường, bên cạnh những thế mạnh kích thích sản xuất phát triển thì cũng xuất hiện không

ít những mầm mống của sự khủng hoảng, sự lạm phát gia tăng, thất nghiệp và các tệ nạn xã hội phát triển Vì vậy, Nhà nước phải can thiệp đề điểu chỉnh thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách cởi mở để kích thích phát triển nền kinh tế - xã hội

2.1.2 Phân tích thị trường

Căn cứ quan trọng để xác định chiến lược kinh doanh là phải có những thông tin đầy đủ, chính xác về thị trường Thị trường là trung tâm, là mục tiêu, là đối tượng của công tác kế hoạch hóa Việc sản xuất cái gì? Sản xuất bao nhiêu? chỉ có thể được trả lời những thông tim về thị trường

Trang 36

* Nội dung phân tích thị trường bao gồm:

- Xác định thái độ người tiêu dùng Để xác định thái độ người tiêu dùng thông dụng hiện nay người ta tiến hành thăm dò theo phương pháp cho điểm bằng cách: Người ta chọn ra một số tiêu thức: giá cả, thẩm mỹ, độ an toàn rồi cho điểm từ) đến 10, sau đó lại chọn ra những tiêu thức quan trọng và dùng hệ

số để điều chỉnh Sau khi điều tra, tổng hợp nếu tổng số điểm của sản phẩm nào đạt cao nhất thì sản phẩm đó có khả năng cạnh tranh trên thị trường

- Xác định kết cấu thị trường và thị trường mục tiêu của sản phẩm Khi nghiên cứu kết cấu thị trường của sản phẩm, dịch vụ thường bao gồm 4 bộ phận: + Thị trường hiện tại của đối thủ cạnh tranh;

+ Thị trường hiện tại của doanh nghiệp;

+ Thị trường không tiêu dùng tương đối;

+ Thị trường không tiêu dùng tuyệt đối

Để chọn thị trường mục tiêu, người ta thường dùng phương pháp so sánh thông qua sử dụng phương pháp lập bảng để chọn một số tiêu thức cơ bản

+ Khả năng sản xuất và cung ứng trên thị trường hiện tại của doanh nghiệp; + Số cầu của người tiêu dùng về loại sản phẩm của doanh nghiệp;

+ Khả năng tiêu thụ của người tiêu dùng;

+ Thái độ của người tiêu dùng

- Phân tích tăng trưởng và khả năng thâm nhập thị trường:

+ Phân tích và lựa chọn các hướng tăng trưởng theo lĩnh vực kinh doanh Thông thường người ta dùng phương pháp lập ma trận với 2 yếu tố là vị trí cạnh tranh và chu kỳ sống của sản phẩm

Bảng 2.1 Ma trận vị trí cạnh tranh và chu kỳ sống của sản phẩm

Triển khai Tăng

trưởng Trưởng thành Suy thoái Chu kỳ sống của sản phẩm

Trang 37

Trên ma trận có 3 vùng: vùng phát triển tất yếu, vùng phát triển chọn lọc và vùng rút lui Từ kết quả trên, các nhà doanh nghiệp sẽ làm căn cứ lựa chọn hướng tăng trưởng của doanh nghiệp

+ Phân tích tác động của khoa học công nghệ với sự biến động của thị trường + Phân tích tác động của sản phẩm thay thế trên thị trường

2.1.3 Chiến lược kinh doanh

2.1.3.1 Yêu cầu và căn cứ xây dựng chiến lược kinh doanh

* Yêu cầu:

Khi xây dụng chiến lược phải đảm bảo các yêu cầu:

- Tăng cường lợi thế cạnh tranh;

- Đảm bảo an toàn kinh doanh;

- Phải dự đoán được môi trường kinh doanh trong tương lai;

- Phải có chiến lược dự phòng;

- Phải kịp thời nắm bắt thời cơ;

- Phải triệt để sử dụng các nguồn lực hiện có và phù hợp với điều kiện cụ thể

* Căn cứ xây dựng chiến lược:

- Phải căn cứ vào khách hàng;

- Phải căn cứ vào khả năng của doanh nghiệp;

- Phải căn cứ vào đối thủ cạnh tranh

2.1.3.2 Nội dung cơ bản của chiến lược kinh doanh

* Chiến lược tổng quát:

Phát hiện hướng đi với những mục tiêu chủ yếu Nội dung chiến lược tổng quát tập trung vào khả năng sinh lời và thế lực trên thị trường

* Các chiến lược nội bộ bao gồm:

- Chiến lược sản phẩm;

- Chiến lược giá;

- Chiến lược phân phối;

- Chiến lược tiếp thị quảng cáo;

- Chiến lược thị trường, cạnh tranh…

2.1.3.3 Lựa chọn và quyết định chiến lược kinh doanh

* Nguyên tắc thẩm định và đánh giá chiến lược kinh doanh:

- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo bao trùm của doanh nghiệp;

Trang 38

- Chiến lược kinh doanh phải có tính khả thi;

- Chiến lược kinh doanh phải đảm bảo quan hệ biện chứng giữa doanh nghiệp với thị trường về lợi ích;

2.1.3.4 Phương pháp lựa chọn và quyết định chiến lược

Thông thường người ra dùng phương pháp cho điểm theo bước:

- Chọn tiêu chuẩn đánh giá (tiêu thức);

- Cho điểm mỗi tiêu chuẩn theo mục đích và tầm quan trọng của mỗi tiêu chuẩn;

- Chấm điểm từng tiêu chuẩn cho từng phương án;

- So sánh và lựa chọn theo nguyên tắc phương án nào có tổng số điểm cao nhất thì được chọn Tuy nhiên, cần lưu ý các trường hợp sau:

+ Nếu tổng số điểm không đạt hoặc chỉ đạt điểm trung bình trong thanh điểm dự kiến thì không được chọn

+ Trong trường hợp nhiều tiêu chuẩn đạt mức trung bình trở lên nhưng ở mức bằng nhau, trường hợp này phải chọn phương án có điểm tiêu chuẩn đồng đều nhất hoặc chọn phương án có điểm tiêu chuẩn cá biệt đạt cao nhất mà doanh nghiệp quan tâm

2.2 Phân tích kết quả sản xuất

2.2.1 Phân tích về quy mô sản xuất

2.2.1.1 Chỉ tiêu quy mô sản xuất

Kết quả sản xuất của doanh nghiệp thể hiện trước hết về mặt quy mô và được xem xét trên nhiều góc độ khác nhau Về mặt hiện vật, quy mô sản phẩm phản ánh lượng sản phẩm, dịch vụ mà doanh nghiệp đã thực hiện trong kỳ theo từng loại bao gồm cả số sản phẩm, dịch vụ đã hoàn thành và số còn dở dang chưa hoàn thành

Các chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất có thể được đánh giá bằng ba loại thước đo khác nhau:

Trang 39

- Thước đo hiện vật: Biểu hiện bằng số lượng sản phẩm, số tấn, mét, cái, kg…;

- Thước đo bằng giờ lao động: Biểu hiện bằng số giờ lao động định mức để hoàn thành khối lượng sản phẩm Hai loại thước đo trên có ưu điểm là cho ta thấy rõ ngay kết quả của khối lượng sản xuất là bao nhiêu số lượng hiện vật cụ thể, cũng như cho ta thấy phải đầu tư hết bao nhiêu thời gian để hoàn thành khối lượng sản xuất đó

Nhược điểm khi đánh giá bằng hai thước đo trên là nếu doanh nghiệp sản xuất và tiêu thụ nhiều loại sản phẩm thì việc tổng hợp để đánh giá kết quả chung, cũng như thực hiện quá trình trao đổi trên thị trường là vấn đề phức tạp

Do đó, trong phân tích, khi đánh giá kết quả hoạt động chung người ta thường

sử dụng thước đo giá trị

- Thước đo giá trị: Biểu hiện khối lượng sản xuất bằng tiền, được gọi là giá trị sản xuất, được phản ánh ba chỉ tiêu sau:

+ Giá trị sản xuất: Là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền, phản ánh toàn bộ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trực tiếp hữu ích của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định (thường là 1 năm) Bất kể sản phẩm dịch vụ đó hoàn thành hay chưa hoàn thành

+ Giá trị hàng hóa: Là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền của khối lượng sản phẩm

mà doanh nghiệp đã hoàn thành, có thể tiêu thụ trên thị trường

2.2.1.2 Phương pháp phân tích:

* Đánh giá chung các chỉ tiêu kết quả sản xuất:

Tiến hành tính toán và so sánh giữa kỳ phân tích và kỳ gốc của chỉ tiêu phản ánh quy mô sản xuất bằng số tương đối và số tuyệt đối, từ đó đưa ra nhận xét về quy mô sản xuất

Ví dụ: Phân tích chung biến động quy mô sản xuất của doanh nghiệp có tài

liệu như sau:

Trang 40

Chỉ tiêu Kỳ gốc Kỳ phân tích

3 Chi phí sản xuất kinh doanh (triệu đồng) 3.500 3.600

Cho thấy, nhìn chung, mặc dù chỉ tiêu giá trị sản xuất giảm đi, nhưng chỉ tiêu giá trị hàng hóa lại tăng lên cho thấy thành tích của doanh nghiệp trong sản xuất

* Đánh giá chỉ tiêu giá trị sản xuất trong mối liên hệ với chi phí đầu tư:

Để đánh giá được chính xác tình hình biến động chỉ tiêu giá trị sản xuất cần đánh giá kết hợp với các điều kiện thực hiện chỉ tiêu này Nếu trong kỳ có sự biến động về chi phí sản xuất để thực hiện chỉ tiêu này thì ta sử dụng phương pháp so sánh có liên hệ với chi phí đầu tư

Mức biến động tuyệt đối: 1 0 1

I

V Q V

Trong đó:

Q0, Q1: Là giá trị sản xuất của 2 kỳ;

V0, V1: Là chi phí đầu tư cho sản xuất của 2 kỳ;

Kết quả tính toán sẽ phản ánh đúng thực chất việc thực hiện kế hoạch về chỉ tiêu này do giá trị sản xuất kế hoạch đã được điều chỉnh lại theo mức chi phí sản xuất kinh doanh

Ngày đăng: 29/01/2021, 03:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn Công (2016). Phân tích kinh doanh. Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Văn Công
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2016
2. Phạm Văn Dược (2008). Phân tích hoạt động kinh doanh. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: Phạm Văn Dược
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2008
3. Phạm Thị Gái (2004). Phân tích hoạt động kinh doanh. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: Phạm Thị Gái
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2004
4. Nguyễn Thị My, Phan Đức Dũng (2006). Phân tích hoạt động kinh doanh. Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Thị My, Phan Đức Dũng
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2006
5. Nguyễn Năng Phúc (2007). Phân tích kinh doanh. Nxb Tài chính, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Năng Phúc
Nhà XB: Nxb Tài chính
Năm: 2007

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w