1. Trang chủ
  2. » Địa lý

Báo cáo mẫu

25 27 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 0,92 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đa số các học sinh THCS ở các trường sẽ phải đối mặt với một lượng bài tập lớn khi bước vào các khối lớp THCS nên tỉ lệ học sinh trì hoãn thực hiện nhiệm vụ học tập là cao và nguyên nh[r]

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

TRƯỜNG THCS VÀ THPT ĐINH THIỆN LÝ

Ở TP HCM TRONG VIỆC HOÀN THÀNH

Trang 2

THÔNG TIN VỀ ĐỀ TÀI

Tên đề tài Thực trạng và giải pháp khắc phục tâm lý trì hoãn của học sinh THCS tại

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Với lòng biết ơn sâu sắc, tôi xin trân trọng cảm ơn Cô Trương Thị Ngọc Mai, Thầy Phan Văn Duy, Thầy Tạ Văn Hảnh và thầy Tô Sanya Minh Kha đã hỗ trợ và tạo điều kiện giúp chúng tôi thực hiện khảo sát ở các đối tượng các đối tượng học sinh ở các loại hình trường học đã đề ra

Chúng tôi xin cám ơn Thầy Nguyễn Trương Nhật Sinh đã hỗ trợ tư vấn phần thực hiện giải pháp

Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Thầy Lê Thành Vĩnh đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện nghiên cứu

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các bạn Nguyễn Cao Nhân, Nguyễn Hoàng Thanh Trúc đã hỗ trợ chúng tôi thực hiện đề tài

Trang 4

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Trong học tập, tâm lý trì hoãn luôn là một trong những vấn đề phổ biến và cản trở hiệu quả học tập cũng như dẫn đến tâm lý căng thẳng cho học sinh Tuy vậy, vẫn chưa có một nghiên cứu nào tìm hiểu chuyên sâu về vấn đề này ở Việt Nam và chưa có giải pháp nào thực sự triệt để để giải quyết vấn đề này Mục tiêu chính của nghiên cứu này là để khảo sát thực trạng trì hoãn nhiệm vụ học tập của học sinh Trung học Cơ Sở (THCS) ở Thành phố Hồ Chí Minh (TP.HCM) từ đó xây dựng giải pháp khắc phục vấn đề này Phương pháp nghiên cứu điều tra bảng hỏi đã được thực hiện để thu thập phản hồi của học sinh THCS tại TP HCM (4 khối: 6, 7, 8, 9) và sau đó dữ liệu thu được sẽ đem đi phân tích bằng phần mềm SPSS Statistics 22 Kết quả cho thấy mức độ trì hoãn của học sinh THCS ở TP HCM là tương đối cao (từ 1 đến 6 lần/tháng), nguyên nhân gây nên tâm lý này là do học sinh không có hứng thú với nhiệm vụ được giao, chưa biết lập kế hoạch và chưa biết quản lý thời gian, công việc học tập hiệu quả Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng, khi trì hoãn nhiệm vụ học tập thì học sinh phải tăng tốc độ xử lý công việc và chính việc này dẫn tới hậu quả học sinh phải chịu tâm lý căng thẳng Đồng thời, nhóm nghiên cứu cũng nhận định được rằng, đa số học sinh đồng ý giải pháp để khắc phục tâm lý trì hoãn là phải lập kế hoạch học tập chi tiết cho bản thân, từ đó một giải pháp đã được nhóm thiết kế dựa trên nền tảng là một ứng dụng di động giúp học sinh lập kế hoạch học tập và quản lý kế hoạch, có tích hợp phần tăng cường tạo hứng thú với nhiệm vụ được giao cho học sinh

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU 1

1.1.Ý NGHĨA - MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU: 1

1.2.NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI: 1

1.3.ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU: 1

1.4.CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.5.GIẢ THUYẾT KHOA HỌC 2

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2

2.1.NỀN TẢNG NGHIÊN CỨU: 2

2.2.LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU: 4

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 5

3.1PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRA BẰNG BẢNG HỎI 5

3.2.PHƯƠNG PHÁP CHỌN MẪU NGHIÊN CỨU: 6

3.3.PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH VÀ XỬ LÝ SỐ LIỆU: 6

3.4.PHƯƠNG PHÁP NHÓM CÁC NGHIÊN CỨU LÍ THUYẾT 6

3.5.PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM KHOA HỌC: 6

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 6

4.1.TỔNG QUAN VỀ DỮ LIỆU KHẢO SÁT 6

4.2.MỨC ĐỘ TRÌ HOÃN NHIỆM VỤ HỌC TẬP 7

4.3.KHẢO SÁT NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN TÂM LÝ TRÌ HOÃN ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS TRÊN TP.HCM 8

4.4.PHÂN TÍCH HẬU QUẢ CỦA TÂM LÝ TRÌ HOÃN ĐỐI VỚI HỌC SINH THCS TRÊN TP.HCM9 4.5.KHẢO SÁT CÁCH GIẢI PHÁP GIẢI QUYẾT KHI SẮP TRỄ HẠN CỦA HỌC SINH THCS 10

4.6.KHẢO SÁT CÁC GIẢI PHÁP ĐỂ KHẮC PHỤC TÂM LÝ TRÌ HOÃN CỦA HỌC SINH THCS 11

4.7.GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC TÂM LÝ TRÌ HOÃN 12

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 14

5.1.KẾT LUẬN: 14

5.2.HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA ĐỀ TÀI: 14

TÀI LIỆU THAM KHẢO 15

Trang 6

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU

1.1.Ý nghĩa - mục đích nghiên cứu

Trong đời sống hiện này, tâm lý trì hoãn của học sinh về các nhiệm vụ học tập là một

vấn đề phổ biến Theo số liệu thống kê của trang Verywell - Hoa Kì, có tới 70-95% học sinh

mắc chứng trì hoãn [1]

Các nhà khoa học chỉ ra rằng những người có thói quen trì hoãn thường có mức độ căng thẳng cao hơn nhiều so với mức độ hạnh phúc Bên cạnh đó, việc chần chừ còn làm giảm năng suất làm việc cũng như mức độ hiệu quả của sản phẩm được tạo ra bởi vì nó làm tiêu tốn thời gian vô ích cũng như để một lượng lớn công việc bị dồn về mà không được giải quyết Khi nhiệm vụ học tập bị trì hoãn sẽ tạo ra tâm lý tiêu cực: nghĩ rằng mình không đủ khả năng làm bài tập này nữa; hay tích cực một cách sai lầm: suy nghĩ rằng mình có đủ thời gian làm các công việc này Điều đó dẫn đến không chỉ tâm lý của người thực hiện công việc

sẽ trở nên tồi tệ hơn mà công việc thì lại không được giải quyết [2]

Nhiều người nói rằng họ làm việc tốt hơn dưới áp lực của thời hạn Nhưng nghiên cứu chỉ ra rằng điều này hiếm khi đúng [3]

Ngày nay, khi mà học sinh đang phải đối mặt với một lượng bài tập ngày càng tăng thì việc giải quyết tâm lý trì hoãn cho học sinh là một việc rất cần thiết và cấp bách bởi lẽ nếu để tâm lý trì hoãn nảy sinh ở học sinh thì sẽ học sinh sẽ phải đối mặt với tất nhiều hậu quả như đã nêu ở trên Chính vì vậy, nghiên cứu này ra đời để tìm hiểu về thực trạng và nguyên nhân, từ đó đề xuất giải pháp khắc phục tâm lý trì hoãn của học sinh THCS ở TP HCM trong việc hoàn thành nhiệm vụ học tập nhằm giảm tình trạng căng thẳng và nâng cao hiệu quả trong học tập

Kết quả nghiên cứu này mang ý nghĩa về mặt lý luận lẫn thực tiễn Về mặt lý luận, nghiên cứu này góp phần làm sáng tỏ nguyên nhân, thực trạng học sinh THPT trì hoãn trong học tập, cũng như kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu về sau liên quan đến lĩnh vực giáo dục trung học, sư phạm và tâm lý phát triển; về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp thêm thông tin để các nhà quản lý giáo dục trong hoạt động điều hành và cải cách giáo dục ở Việt Nam

1.2 Nhiệm vụ của đề tài:

- Nhiệm vụ 1: Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân của việc học sinh THCS ở TP HCM

trì hoãn nhiệm việc học tập

- Nhiệm vụ 2: Đề xuất giải pháp khắc phục tâm lý trì hoãn của học sinh THCS ở TP

HCM

1.3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu:

- Đối tượng nghiên cứu : Tâm lý trì hoãn hoàn thành nhiệm vụ học tập ở học sinh THCS

tại Thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi nghiên cứu : Học sinh cấp THCS ở các trường công lập và ngoài công lập

trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh

o Phạm vi thời gian : Tháng 4 – tháng 11/2019

Trang 7

1.4 Câu hỏi nghiên cứu

- Mức độ và nguyên nhân tâm lý trì hoãn của học sinh THCS ở TP HCM như thế nào?

- Sự giống và khác trong mức độ , nguyên nhân trì hoãn ở hai loại hình trường khác nhau

(công lập và ngoài công lập), giữa các khối lớp và giữa hai giới tính nam – nữ như thế nào?

- Hậu quả của việc trì hoãn nhiệm vụ học tập ảnh hưởng như thế nào đến học sinh?

- Làm thế nào để khác phục được tâm lý trì hoãn trong việc hoàn thành nhiệm vụ của học

sinh THCS?

1.5 Giả thuyết khoa học

Đa số các học sinh THCS ở các trường sẽ phải đối mặt với một lượng bài tập lớn khi

bước vào các khối lớp THCS nên tỉ lệ học sinh trì hoãn thực hiện nhiệm vụ học tập là cao

và nguyên nhân dẫn đến tâm lý trì hoãn của học sinh là vì khả năng quản lý thời gian, xử lý

công việc học tập của bản thân học sinh là chưa tốt

Đa số các trường ngoài công lập tổ chức học 2 buổi/ngày, trong chương trình học có

tăng cường các bộ môn giáo dục kỹ năng sống nói chung và kỹ năng quản lý thời gian nói

riêng Do đó, học sinh ở trường ngoài công lập, quản lý thời gian đã luôn là một kĩ năng

được phát triển từ rất sớm Vì vậy, học sinh học ở trường ngoài công lập sẽ ít có tâm lý trì

hoãn hơn là ở trường công lập

Ngoài ra, khi xét về mặt giới tính, không có nhiều điểm khác biệt liên quan đến việc

có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ học tập đúng hạn trong tâm lý của học sinh nam - nữ

THCS [4] Do đó, nhóm cho rằng học sinh nữ và học sinh nam có mức độ trì hoãn ngang

bằng nhau

Cuối cùng, xu hướng trì hoãn sẽ tăng dần theo các khối lớp từ lớp 6 đến lớp 9 do bài

tập ngày càng tăng cao về độ khó cũng như số lượng Từ đó dẫn đến việc một lượng công

việc lớn bị tồn đọng lại, làm cho đa số học sinh luôn trong tâm lý căng thẳng, làm giảm chất

lượng làm việc của phần lớn học sinh đồng thời giảm chất lượng sản phẩm tạo ra do phải

giải quyết nhiều vấn đề trong một lúc

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2.1 Nền tảng nghiên cứu:

2.1.1.Cơ sở lý luận

2.1.1.1 Tâm lý trì hoãn

Theo T A Pychyl trong cuốn Giải quyết vấn đề Trì hoãn: Sự trì hoãn là sự chậm trễ

tự nguyện của một hành động có tính chất dự định mặc dù biết rằng sự chậm trễ này có thể

gây hại cho cá nhân về mặt thực hiện nhiệm vụ hoặc thậm chí là cá nhân cảm nhận như thế

nào về nhiệm vụ hoặc bản thân Sự trì hoãn, trái ngược với các hình thức chậm trễ khác, đó

là sự tự nguyện và gần như cố tình quay lưng lại với một hành động mà chúng ta dự định

thực hiện ngay cả khi chúng ta biết rằng chúng ta có thể hành động theo ý định của mình

ngay lập tức Không có gì ngăn cản chúng ta hành động kịp thời ngoại trừ sự miễn cưỡng

của chính chúng ta để hành động [5]

Theo một nghiên cứu về Tiên đề tâm lý của sinh viên về tâm lý trì hoãn của các nhà

nghiên cứu C Beswick, E Rothblum and L Mann tại đại học Flinders Trì hoãn là thói quen

phá hoại, tạo khó khăn trong học tập, sự nghiệp và cuộc sống cá nhân [6]

Trang 8

Qua tất cả các nghiên cứu từ trước đến nay về tâm lý trì hoãn, các nhà nghiên cứu tâm lý đã nhận ra rằng sự trì hoãn trong công việc học tập không chỉ đơn giản là “Việc hôm nay chớ để ngày mai” mà thực chất là sự thất bại trong việc kiểm soát bản thân, hay chần chừ, lảng tránh, tự dối lừa chính mình rằng còn nhiều thời gian để hoàn thành công việc, mặc cho hạn chót đang cận kề và hậu quả có ra sao [2]

Từ các nghiên cứu trên về trì hoãn, định nghĩa mà nhóm đưa ra là trì hoãn là một hành động tự nguyện chần chừ và dời kế hoạch thực hiện dù biết mình hoàn toàn có đủ khả năng theo lập tức theo ý mình nhưng lại miễn cưỡng không thực hiện vì những lý do riêng Đây là sự thất bại trong quản lý thời gian, quản lý công việc gây hại cho khả năng làm việc hiệu quả và sức khỏe mỗi cá nhân

2.1.1.2 Học sinh THCS

Học sinh THCS là học sinh có độ tuổi từ 12 đến 15 tuổi Khi bước vào lứa tuổi THCS, học sinh sẽ có nhiều thay đổi về mặt học tập: có nhiều bộ môn hơn, mỗi bộ môn có một giáo viên, chương trình, tài liệu, hình thức học tập trên lớp phức tạp hơn; kinh nghiệm thực tế ngoài nhà trường, sự giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa được mở rộng hơn [1] nên tâm lý

trì hoãn sẽ xuất hiện nhiều ở khối này Đồng thời nếu xem lại nghiên cứu A Cross Sectional Study on Procrastination: Who Procrastinate More? của tiến sĩ Bilge Uzun Özer ở Thổ Nhĩ

Kỳ thì ta có thể thấy sau khi khảo sát 2 khối học sinh: khối Trung Học và Đại học, bà đã kết luận rằng học sinh Đại học trì hoãn (61%) nhiều hơn học sinh Trung học (53%) từ đó ta có thể nhận thấy tâm lý trì hoãn của học sinh tăng dần theo cấp học [7] Tâm lý trì hoãn bắt đầu xuất hiện nhiều ở đối tượng học sinh THCS nên khi tìm ra giải pháp triệt để khắc phục vấn

đề trì hoãn ngay từ khối lớp này, học sinh sẽ có đủ khả năng để vận dụng tiếp phương pháp

Xử lý trì hoãn cho các khối học cao hơn như THPT hay Đại Học

Hơn nữa, theo điều 27 - luật giáo dục - 2005, “Giáo dục tiểu học nhằm giúp học sinh hình thành những cơ sở ban đầu cho sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản để học sinh tiếp tục học trung học cơ sở.” vì vậy lượng bài tập chưa quá nhiều để học sinh cấp tiểu học hình thành tâm lý trì hoãn Ngoài ra, trong

độ tuổi này (6-10) học sinh đang trong quá trình hình thành nhận thức Nhóm không chọn cấp THPT vì theo điều 27-luật giáo dục-2005 có quy định : Giáo dục trung học phổ thông nhằm giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp,

có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển [8]tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động Vì vậy nên ta có thể thấy vai trò của cấp THPT là củng cố và phát triển các kiến thức từ cấp THCS vì vậy nhóm hướng tới giải quyết tâm lý trì hoãn ngay tại khối THCS để đặt nền tảng không trì hoãn cho học sinh ngay từ đầu [8]

Về tâm lý học tập của học sinh THCS: Hứng thú học tập, sự quan tâm đến các vấn

đề nhà trường của học sinh tuổi thiếu niên có phần bị giảm sút Điều này thực sự gây nên sự

lo lắng cho thầy cô giáo và cha mẹ học sinh THCS Theo N K Makarova sự giảm sút hứng thú học tập diễn ra mạnh nhất ở học sinh các lớp đầu bậc học [9] Nguyên nhân và các yếu tố

gây ảnh hưởng đến hiện tượng này là:

+ Về mặt lý luận, theo thuật ngữ của A N Leonchiev, đây là “ sự chối bỏ nội tâm với trường học”: trường học không còn là “trung tâm” đời sống tinh thần đối với trẻ lứa tuổi

Trang 9

này; những động cơ vốn trước đây đã kích thích học sinh học tập ở bậc tiểu học, chẳng hạn như thích đến trường, phấn khích khi được điểm cao , đến lúc này đã được thoả mãn; còn những động cơ mới, đáp ứng với điều kiện học tập ở trường THCS và đặc điểm lứa tuổi thiếu niên lại chưa được hình thành [10]

+ Trẻ thiếu niên luôn có xu hướng với các hoạt động tích cực để minh chứng cho tính người lớn của mình và để nhận được những tình cảm tôn trọng từ phía mọi người xung quanh Nhưng đáng tiếc, những dạng hoạt động này lại ít diễn ra trong trường học và các phương thức thực thi chúng thì trẻ lại không được học Trẻ phải tìm kiếm cơ hội khẳng định bản thân ở các dạng hoạt động diễn ra ngoài nhà trường và vì thế, các hoạt động này thu hút trẻ hơn, so với các giờ học trên lớp [11]

2.1.2 Cơ sở thực tiễn

Trên thực tế, những thói quen liên quan đến sự trì hoãn khiến bạn không đạt hiệu quả cao trong năng suất học tập và còn ảnh hưởng đến sức khỏe Việc trì hoãn bài tập được giao

sẽ làm bài tập bị dồn đọng lại, khiến bạn phải thức khuya, làm bài, học dồn, … Việc này là

rất có hại cho sức khỏe cũng như làm giảm hiệu quả thực hiện công việc [2]

Vì trên lý thuyết, chúng ta luôn luôn có xu hướng trì hoãn những nhiệm vụ lớn nhất thường cũng là những nhiệm vụ có giá trị cao nhất Có một số kỹ thuật mà bạn có thể áp dụng để vượt qua hay ít nhất là kiểm soát sự trì hoãn của mình Ta luôn có những nguyên do gây ra sự trì hoãn nên để giải quyết thì ta phải giải quyết từ ngọn ngành [12]

Ngoài ra, theo quan sát trực tiếp của nhóm trong học tập hiện tại, tâm lý trì hoãn là một trong những nguyên nhân chính khiến học sinh nộp bài trễ hạn, giảm số lượng và chất lượng sản phẩm tạo ra và gây ra khó khăn trong làm việc nhóm Tuy nhiên, đến hiện tại vẫn chưa có một giải pháp thật sự hiệu quả và triệt để để giải quyết tâm lý trì hoãn nói riêng và quản lý thời gian nói chung

2.2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu A Cross Sectional Study on Procrastination: Who Procrastinate More?

của Tiến Sĩ Bilge Uzun Özer ở đại học Bahçeşehir (2011) về tần suất trì hoãn công việc của các lứa tuồi trung học, đại học, sinh viên tốt nghiệp (độ tuổi từ 15 đến 32) cho thấy, học sinh THCS trì hoãn ít nhất sau đó đến học sinh tốt nghiệp và trì hoãn nhiều nhất là nhóm học sinh Đại học [7]

Nghiên cứu Psychological Antecedents of Student của nhóm nghiên cứu gồm

Beswick, G., Rothblum, E D., & Mann (1988) kiểm chứng 3 lời giải thích cho việc trì hoãn

đó là: sự thiếu quyết đoán trong xử lý công việc; niềm tin phi lý về giá trị bản thân; lòng tự trọng thấp [6]

Nghiên cứu: Examining Behavioral Processes in Indecision: Decisional Procrastination and Decision-Making Style kiểm tra các qui trình hành vi trong sự thiếu

quyết đoán, kết luận rằng những người trì hoãn cao hơn thường có thói quen chần chừ trong việc ra quyết định _ Trích trong Nhật kí nghiên cứu về tâm lý năm 2000 của Joseph R Ferrari

Trang 10

là quan trọng và khó khăn _ Trích trong Nhật kí nghiên cứu về tâm lý năm 2000 của Joseph

R Ferrari và Diance Tice [14]

Tất cả các nghiên cứu vừa liệt kê đều chỉ nêu hậu quả, cũng như thực trạng và nguyên nhân của tâm lý trì hoãn ở con người Nhóm kế thừa ý tưởng này để nghiên cứu thực trạng

và nguyên nhân tâm lý trì hoãn của học sinh THCS ở TP.HCM (Việt Nam) Từ cơ sở đó, nhóm đề xuất giải pháp để khắc phục thực trạng trên

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để tìm hiểu thực trạng học sinh THCS ở TP HCM trì hoãn nhiệm vụ học tập, nhóm tiến hành sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó phương pháp điều tra bằng bảng hỏi là phương pháp chủ đạo, các phương pháp nghiên cứu còn lại (phương pháp chọn mẫu nghiên cứu; phương pháp phân tích và xử lý số liệu; phương pháp nghiên

cứu lý thuyết; phương pháp thực nghiệm khoa học) là các phương pháp bổ trợ

3.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Quy trình thiết kế bảng hỏi được thực hiện như sau:

Đầu tiên, nhóm thực hiện phỏng vấn một số bạn học sinh để xác định những nguyên nhân ban đầu và những hậu quả ban đầu

Sau đó, nhóm tiến hành thiết kế nội dung các câu hỏi trong bảng hỏi Các câu hỏi nhóm đưa ra được dựa trên các tiêu chí: phục vụ được mục tiêu nghiên cứu của đề tài, khoa học và dễ hiểu để người trả lời phản hồi chính xác nhất và cuối cùng là phải ngắn gọn để tránh làm cho người trả lời cảm thấy chán nản dẫn tới việc phản hồi không chính xác Các câu hỏi được đặt ra nhằm để thực hiện 2 nhiệm vụ của đề tài đó là khảo sát thực trạng trì hoãn của học sinh THCS từ đó đề xuất giải pháp Đồng thời, có một số câu hỏi như: “Nguyên nhân dẫn đến trì hoãn hoàn thành nhiệm vụ học tập là gì?” thì được đặt ra 7 lý do thường nảy sinh khi trì hoãn mà cuốn “23 thói quen chống lại sự trì hoãn” của tác giả J S Scott đưa ra; câu hỏi “Cách giải quyết của bạn khi sắp trễ hạn thực hiện công việc học tập là gì?” thì nhóm đặt câu hỏi dựa trên các biện pháp quản lý công việc từ cuốn “Nghệ thuật quản lý thời gian” của Brian Tracy đưa ra nhằm làm các câu hỏi đưa ra mang tính khoa học và gần gũi nhất với học sinh Để mọi học sinh đều hiểu rõ nội dung của bản hỏi, định nghĩa của tâm lý trì hoãn được nhóm đặt ngay đầu bảng hỏi để đối tượng tham gia trả lời có thể tham khảo

Ngoài ra, mỗi bảng khảo sát nhóm thiết kế đều có một bảng nhỏ ở góc để điền “số”

và “mã khảo sát” nhằm phân biệt phiếu khảo sát từ các đối tượng trường khác nhau Phiếu khảo sát của nhóm được các chuyên gia: cô Trương Thị Ngọc Mai và thầy Tô Sanya Minh Kha (giảng viên trường Đại học Tôn Đức Thắng) nhận xét và chỉnh sửa sao cho phù hợp nhất với nghiên cứu

Tiếp theo, phiếu khảo sát được thực nghiệm trên 10 đối tượng khác nhau để kiểm tra chất lượng của phiếu khảo sát Nếu có lỗi sai hoặc có những câu hỏi mang đến sự hiểu nhầm, không đạt mục tiêu của việc khảo sát thì sẽ được điều chỉnh Cuối cùng, sau khi việc thực nghiệm được hoàn tất nhóm tiến hành tham khảo ý kiến chuyên gia để kiểm tra chất lượng của bảng hỏi rồi được phát và thu phiếu khảo sát từ các đối tượng trường rồi bắt đầu phân tích thực trạng và xây dựng nền tảng giải pháp khắc phục tâm lý trì hoãn ở học sinh THCS

Bảng hỏi được dự định phát cho 4 trường Sau khi kiểm tra, sàng lọc tổng số phiếu

đã thu thập và phân tích được là 836 phiếu

Trang 11

Giải pháp được nhóm đưa ra từ kết quả sau khi khảo sát và thống kê thực trạng tâm

lý trì hoãn của học sinh THCS Những nguyên nhân, biện pháp khắc phục tâm lý trì hoãn

mà người trả lời đưa ra sẽ là nền tảng cho giải pháp của nhóm

3.2 Phương pháp chọn mẫu nghiên cứu:

Nhóm sẽ chia đối tượng khảo sát thành 2 loại hình trường: trường công lập và trường ngoài công lập Từ đó, ở mỗi loại hình, nhóm sẽ chọn ngẫu nhiên 2 trường để khảo sát và so sánh số liệu Các trường được mã hóa bằng các ký hiệu T1, T2, C1, C2

1 T1 2- T1-01 01 là phiếu đầu tiên, các phiếu tiếp theo tăng dần Trường ngoài

công lập

2 T2 2-T2-01 01 là phiếu đầu tiên, các phiếu tiếp theo tăng dần

3 C1 1- C1-01 01 là phiếu đầu tiên, các phiếu tiếp theo tăng dần Trường công

lập

4 C2 1-C2-01 01 là phiếu đầu tiên, các phiếu tiếp theo tăng dần

3.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:

Để xử lý số liệu, nhóm sử dụng phần mềm SPSS Statistics 22 để thống kê và phân tích số liệu thu được từ khảo sát

3.4 Phương pháp nhóm các nghiên cứu lí thuyết

Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa các văn bản, tài liệu lí luận về tâm lý trì

hoãn

3.5 Phương pháp thực nghiệm khoa học:

Phân tích, đưa ra và thực nghiệm giải pháp sẽ thực hiện vào giai đoạn 2

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1 Tổng quan về dữ liệu khảo sát

Bảng 4.1 Số học sinh tham gia khảo sát phân theo nhóm trường

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Số lượng %

Trang 12

sinh của trường T2 Số học sinh được khảo sát được chia đều ở tất cả các khối lớp khoảng 25% ( Lớp 6 là 23.4%, lớp 7 là 23.9%, lớp 8 là 25.7%, lớp 9 là 26.9% )

Số học sinh nữ tham gia khảo sát chiếm 48.6%, con số này với học sinh nam là 58.8% Có 5 học sinh không điền đầy đủ thông tin giới tính

4.2 Mức độ trì hoãn nhiệm vụ học tập

Biểu đồ 4.1 Tỉ trọng mức độ trì hoãn theo các trường Biểu đồ 4.2 Mức độ trì hoãn của học sinh THCS

Trong tổng số 836 học sinh, thì có tới 378 học sinh chiếm khoảng 45% nói mức độ trì hoản thường là “Từ 1 đến 3 lần/Tháng” Trong khí đó 18.9% học sinh trả lời là “Từ 4 đến

6 lần/Tháng”, điều đó thể hiện mức độ trì hoãn là khá thường xuyên

Ở trường T1, trong số 413 học sinh được khảo sát thì có 207 bạn trả lời việc trì hoãn nhiệm vụ học tập lặp lại từ 1 tới 3 lần trên một tháng, chiếm khoảng 50% tổng số bạn học sinh được hỏi, 19.1% học sinh trì hoãn với mức 4 đến 6 lần/tháng Ở trường T2, trong số 70 học sinh được khảo sát thì có 21 bạn trả lời việc trì hoãn nhiệm vụ học tập “Từ 4 đến 6 lần/Tháng” chiếm khoảng 30%; có khoảng hơn 27% học sinh trả lời mức độ trì hoãn xảy ra

“từ 1 đến 3 lần/Tháng” Ở trường C1, trong số 196 học sinh được khảo sát thì có 67 bạn trả lời việc trì hoãn nhiệm vụ học tập chưa bao giờ xảy ra chiếm khoảng 34.2%; có khoảng hơn 50% học sinh trả lời mức độ trì hoãn xảy ra từ 1 đến 6 lần trên một tháng Ở trường C2, trong

số 203 học sinh được khảo sát thì có 92 bạn trả lời việc trì hoãn nhiệm vụ học tập thường

“Từ 1 đến 3 lần/Tháng” chiếm khoảng 45%; “Từ 4 đến 6 lần/Tháng” chiếm khoảng 18%

Từ số liệu thu được của 4 trường trên với 2 loại trường khác nhau (công lập và ngoài công lập) Nhóm nhận thấy ở cả 4 trường khảo sát, học sinh đều đa số trì hoãn từ 1 đến 3 lần/Tháng và 4 đến 6 lần/Tháng Từ đây, nhóm kết luận, thực trạng trì hoãn nhiệm vụ học tập ở học sinh THCS tại TP HCM tập trung chủ yếu vào khoảng 1 đến 6 lần/Tháng và không

có sự khác biệt ở các trường Do mức độ trì hoãn khá thường xuyên nên cần có những biện pháp triệt để để khắc phục vấn đề này.

Ngày đăng: 28/01/2021, 11:55

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w