Nguyên tắc chủ đạo của cải cách bộ máy nhà nước được đề ra trước tiên tại Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xH hội do Đại hội VII của Đảng 1991 thông qua và
Trang 1hực hiện đường lối đổi mới toàn diện đất
nước do Đại hội lần thứ VI (1986) của
Đảng đề ra, song song với những cải cách sâu
rộng về kinh tế, công cuộc đổi mới bộ máy nhà
nước nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả của
Nhà nước, đáp ứng các yêu cầu quản lí trong
điều kiện mới được triển khai mạnh mẽ
Quan điểm chung là phải xây dựng bộ máy
nhà nước vừa bảo đảm tính kế thừa vừa thể
hiện những nhận thức mới phù hợp với yêu cầu
phát triển đất nước trong giai đoạn mới
Nguyên tắc chủ đạo của cải cách bộ máy nhà
nước (được đề ra trước tiên tại Cương lĩnh xây
dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ
nghĩa xH hội do Đại hội VII của Đảng (1991)
thông qua và sau này được Đại hội VIII (1996)
chuẩn hoá) là: "Nhà nước Việt Nam thống
nhất ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp
với sự phân công rành mạch ba quyền đó" hay
“Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự
phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà
nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp,
hành pháp, tư pháp”.(1) Nói cụ thể hơn, đó là:
"Quyền lực cao nhất của Nhà nước tập trung
vào Quốc hội nhưng có sự phân công, phân
nhiệm giữa Quốc hội, Chính phủ, Toà án nhân
dân tối cao và Viện kiểm sát nhân dân tối cao
để mỗi cơ quan thực thi có hiệu lực chức năng,
quyền hạn của mình theo các quy định của
Hiến pháp, với sự phối hợp, cộng tác chặt chẽ
tạo nên sức mạnh tổng hợp của quyền lực nhà nước".(2)
Hiến pháp năm 1992 đH thiết kế lại bộ máy nhà nước với những đổi mới căn bản như thành lập lại Uỷ ban thường vụ Quốc hội, lập Chủ tịch nước cá nhân thay cho chế định Chủ tịch nước tập thể (Hội đồng Nhà nước), đổi tên gọi Hội đồng bộ trưởng thành Chính phủ với những chức năng, nhiệm vụ và các mối quan
hệ được thiết kế lại phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước Về cơ bản, bộ máy nhà nước tại Hiến pháp năm 1992 đH được đổi mới căn bản đáp ứng bước đầu các yêu cầu quản lí trong thời kì đổi mới
Tuy vậy, bộ máy nhà nước được quy định tại Hiến pháp năm 1992 và các luật tổ chức ban hành tiếp sau đó vẫn còn nhiều vấn đề đH
được nêu ra nhưng chưa được giải quyết dứt
điểm Hơn nữa, trong quá trình gần 10 năm tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước cũng đH có nhiều vấn đề mới phát sinh đòi hỏi phải xử lí Trước tình hình đó, việc tiếp tục kiện toàn bộ máy nhà nước nhằm đáp ứng tốt hơn yêu cầu công cuộc đổi mới, xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là hết sức cần thiết Hội nghị lần thứ 7 Ban chấp hành trung ương
Đảng khoá VIII (tháng 8/1999) chỉ rõ: “Tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, nhất là bộ
T
* Viện nghiên cứu nhà nước và pháp luật
PGS.TS Bùi Xuân Đức *
Trang 2máy hành chính nhà nước còn cồng kềnh,
nhiều đầu mối, tầng nấc trung gian Chức
năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và chế độ trách
nhiệm của nhiều cơ quan và người đứng đầu
chưa thật rõ, còn chồng chéo, cơ chế vận hành
và nhiều mối quan hệ còn bất hợp lí ”, cần
thiết phải “tổ chức việc nghiên cứu sửa đổi, bổ
sung một số vấn đề về tổ chức bộ máy các cơ
quan nhà nước liên quan đến Hiến pháp 1992
và các luật tổ chức các cơ quan nhà nước”.(3)
Nghị quyết của Quốc hội khoá X, kì họp thứ 6
về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm
2000 ghi nhiệm vụ xem xét thông qua nghị
quyết sửa đổi, bổ sung một số điều về tổ chức
bộ máy nhà nước của Hiến pháp năm1992
Mục đích của việc sửa đổi, bổ sung một số
điều của Hiến pháp năm 1992 về tổ chức bộ
máy nhà nước là nhằm đáp ứng yêu cầu đổi
mới bộ máy nhà nước, bảo đảm cho bộ máy
nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, khắc phục
tình trạng chồng chéo, làm rõ hơn sự phân
công, phối hợp, phân cấp thực hiện các chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cơ quan
nhà nước; tăng cường dân chủ XHCN, quyền
làm chủ của nhân dân, nâng cao chất lượng
chế độ dân chủ đại diện thông qua hoạt động
của Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp;
góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước, tạo
điều kiện về tổ chức và cơ chế hữu hiệu để
chống tham nhũng; tiếp tục tăng cường và đổi
mới sự lHnh đạo của Đảng đối với Nhà nước
Với mục tiêu và những định hướng lớn đó, tại
kì họp thứ 10 (từ 20/11 đến 25/12/2001) Quốc
hội nước Cộng hoà xH hội chủ nghĩa Việt Nam
khoá 10 đH thông qua Nghị quyết về việc sửa
đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm
1992 trong đó có các sửa đổi, bổ sung về tổ
chức bộ máy nhà nước
Nội dung chính của những sửa đổi, bổ sung gồm:
1 Về Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội
Vị trí, vai trò của Quốc hội trong bộ máy nhà nước Việt Nam tiếp tục được khẳng định như cũ Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hoà xH hội chủ nghĩa Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu cũng như thảo luận không phải không có ý kiến khác về vấn đề này như muốn coi Quốc hội không phải
là cơ quan tập trung tất cả quyền lực nhà nước
mà chỉ là cơ quan quyền lực về lập pháp Giữ quy định như trên là để thể hiện đặc thù của chính thể XHCN Về cơ bản, tổ chức, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc, các
uỷ ban của Quốc hội được quy định trong Hiến pháp là phù hợp
Sửa đổi, bổ sung về Quốc hội chủ yếu làm
rõ hơn một số chức năng, quyền hạn của Quốc hội Đó là:
- Sửa quy định tại điểm 4 Điều 84 "Quốc hội phân bổ ngân sách nhà nước " thành
"Quốc hội phân bổ ngân sách trung ương " Theo quy định cũ, Quốc hội phân bổ ngân sách nhà nước bao gồm cả ngân sách trung
ương và ngân sách địa phương Điều này không phù hợp với việc phân cấp quản lí tài chính, ngân sách và không thực tế trong điều kiện hoạt động hiện nay của Quốc hội Nay quy định lại Quốc hội chỉ quyết định phân bổ ngân sách trung ương (tức quyết định phương
án phân bổ ngân sách trung ương cho từng bộ, ngành và mức bổ ung ngân sách cho từng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) vừa để bảo
Trang 3đảm tính thống nhất của chính sách tài chính
quốc gia, vừa tạo điều kiện cho hội đồng nhân
dân ở địa phương quyết định thực chất hơn về
ngân sách của địa phương mình
- Bổ sung quy định tại điểm 5 Điều 84:
Việc Quốc hội quyết định chính sách tôn
giáo của Nhà nước Đây là nội dung thuộc
thẩm quyền của Quốc hội: Quốc hội quyết
định những chính sách cơ bản về đối nội, đối
ngoại của đất nước " (Điều 83) Trong khi
Điều 84 quy định quyền hạn của Quốc hội về
quyết định các chính sách tài chính, tiền tệ
quốc gia, chính sách dân tộc thì nội dung
này chưa ghi rõ Nay bổ sung cho đầy đủ và
thống nhất
- Bổ sung quy định tại điểm 7 Điều 84 việc
Quốc hội "bỏ phiếu tín nhiệm đối với những
người giữ các chức vụ do Quốc hội bầu hoặc
phê chuẩn" Bổ sung này nhằm làm rõ hơn cơ
chế chịu trách nhiệm của các chức danh trên
trước Quốc hội Theo quy định của Hiến pháp
thì các chức danh do Quốc hội bầu hoặc phê
chuẩn như Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội,
Thủ tướng, phó Thủ tướng, chánh án Toà án
nhân dân tối cao, viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tối cao, bộ trưởng, thủ trưởng cơ
quan ngang bộ đều chịu trách nhiệm trước
Quốc hội Hình thức trách nhiệm là miễn
nhiệm, bHi nhiệm Tuy nhiên, Quốc hội chỉ
thực hiện thẩm quyền này khi có đề nghị của
những chức danh được quy định (như Chủ tịch
nước, Thủ tướng ) mà chưa có cơ chế trực
tiếp Đều này làm hạn chế vai trò giám sát của
Quốc hội Trong khi đó ở hầu hết các nước
trên thế giới và cả ở Việt Nam theo Hiến pháp
năm 1946, nghị viện đều thực hiện quyền bỏ
phiếu tín nhiệm (hay bất tín nhiệm) đối với
Chính phủ, Thủ tướng và các bộ trưởng ở
nhiều nước, nghị viện còn xét xử đàn hạch phế truất cả tổng thống Quy định bổ sung này tạo cơ sở cho Quốc hội có thể trực tiếp tiến hành sát hạch, tỏ thái độ đối với những chức danh thuộc đối tượng giám sát của mình Luật tổ chức Quốc hội mới ban hành sau đó (Điều 12
và 88) quy định chi tiết thêm: Uỷ ban thường
vụ Quốc hội trình Quốc hội bỏ phiếu tín nhiệm
đối với những người giữ các chức do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn; xem xét trình Quốc hội
bỏ phiếu tín nhiệm khi có kiến nghị của ít nhất 20% tổng số đại biểu hoặc kiến nghị của Hội
đồng dân tộc, uỷ ban của Quốc hội Trong trường hợp không được quá nửa tổng số đại biểu Quốc hội tín nhiệm thì cơ quan hoặc người đH giới thiệu để bầu hoặc đề nghị phê chuẩn có trách nhiệm trình Quốc hội xem xét, quyết định việc miễn nhiệm, bHi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức Thực chất đây là cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm vì không tiến hành theo thủ tục thường kì mà chỉ xảy ra khi có sự không tán thành hoạt động của chức danh đó Đây là sự bổ sung cần thiết
để Quốc hội chủ động thực hiện chế tài trong quá trình giám sát, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của hoạt động này của Quốc hội Riêng việc bỏ phiếu tín nhiệm (hay bất tín nhiệm) đối với Chính phủ dẫn đến có thể giải tán Chính phủ thì bổ sung lần này cũng chưa
có quy định cụ thể gì thêm, mặc dù theo Hiến pháp thì: "Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội " (Điều 109) thì cũng cần ghi rõ hình thức và cách thức chịu trách nhiệm đó
- Bổ sung quy định tại điểm 13 Điều 84 về quyền của Quốc hội "phê chuẩn hoặc bHi bỏ
điều ước quốc tế do Chủ tịch nước kí" Bổ sung này là phù hợp vì việc kí kết các điều ước quốc
tế liên quan đến quyền, lợi ích của đất nước,
Trang 4chủ quyền quốc gia, do đó phải được thực hiện
theo quy trình chặt chẽ Chủ tịch nước kí kết
điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước với
người đứng đầu Nhà nước khác thì cần phải
được Quốc hội phê chuẩn hoặc bHi bỏ
- BHi bỏ điểm 8 Điều 91 quy định cho Uỷ
ban thường vụ Quốc hội, trong thời gian Quốc
hội không họp "phê chuẩn đề nghị của Thủ
tướng Chính phủ về việc bổ nhiệm, miễn
nhiệm, cách chức phó Thủ tướng, bộ trưởng và
các thành viên khác của Chính phủ và báo cáo
với Quốc hội tại kì họp gần nhất" Lí do là
trong bộ máy nhà nước ở nước ta, Uỷ ban
thường vụ Quốc hội là cơ quan thường trực của
Quốc hội, ngoài những chức năng riêng là bảo
đảm tổ chức các hoạt động của Quốc hội còn
được Quốc hội giao (thay Quốc hội) thực hiện
một số thẩm quyền của Quốc hội giữa hai kì
họp, trong đó có thẩm quyền nêu trên Đây là
thẩm quyền được coi là truyền thống của cơ
quan thường trực của Quốc hội đH được ghi
nhận và thực hiện thường xuyên từ Hiến pháp
năm 1959 Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy đây
là thẩm quyền quan trọng không nên giao cho
cơ quan nào khác mà phải do Quốc hội thực
hiện Mặt khác, thời gian giữa hai kì họp
không dài, do vậy việc bổ nhiệm, miễn nhiệm,
cách chức những người giữ các chức danh này
không nhất thiết phải tiến hành trong thời gian
Quốc hội không họp
Trong quá trình tranh luận cũng có ý kiến
cho rằng nên giữ lại thẩm quyền này của Uỷ
ban thường vụ Quốc hội để bảo đảm tính kịp
thời, linh hoạt trong việc tổ chức bộ máy hành
chính nhà nước vốn cần phải như vậy, thậm chí
có thể giao cho cả Chủ tịch nước, Thủ tướng
Chính phủ thực hiện Thực tiễn tổ chức bộ máy
nhà nước ở nước ta cũng như các nước nói
chung đều cho thấy sự cần thiết phải có cơ chế thay đổi linh hoạt, kịp thời đối với những người lHnh đạo các bộ phận của bộ máy hành chính nhà nước Còn nếu muốn bảo đảm chặt chẽ hơn thì quy định trách nhiệm của các cơ quan hoặc người được giao đó, thay vì chỉ báo cáo Quốc hội tại kì họp gần nhất, phải trình Quốc hội phê chuẩn
- Sửa đổi, bổ sung điểm 9 Điều 91 quy
định cho Uỷ ban thường vụ Quốc hội "trong thời gian Quốc hội không họp, quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh khi nước nhà
bị xâm lược và trình Quốc hội phê chuẩn tại kì họp gần nhất" theo hướng việc quyết định chiến tranh là thẩm quyền tối cao của Quốc hội Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ thực hiện khi Quốc hội không thể họp được và phải báo cáo Quốc hội xem xét, quyết định tại kì họp gần nhất
2 Về Chủ tịch nước Trong bộ máy nhà nước Việt Nam Chủ tịch nước là người đứng đầu Nhà nước, thay mặt nước Cộng hoà xH hội chủ nghĩa Việt Nam
về đối nội và đối ngoại Về cơ bản, những quy
định của Hiến pháp năm 1992 về Chủ tịch nước là phù hợp, chỉ có một số sửa đổi, bổ sung liên quan đến những thay đổi trong thẩm quyền của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội nêu trên
- Bỏ quy định Chủ tịch nước bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức phó Thủ tướng, bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban thường vụ Quốc hội vì Uỷ ban thường vụ Quốc hội không còn quyền phê chuẩn đề nghị của Thủ tướng Chính phủ về vấn đề đó nữa (điểm 4 Điều 103)
- Bỏ thẩm quyền của Chủ tịch nước quy
Trang 5định tại điểm 7 Điều 103 về đề nghị Uỷ ban
thường vụ Quốc hội xem xét lại nghị quyết của
Uỷ ban thường vụ Quốc hội tuyên bố tình
trạng chiến tranh khi nước nhà bị xâm lược Lí
do là vì tại lần sửa đổi, bổ sung này, Hiến pháp
đH quy định lại điểm 9 Điều 91 theo hướng
việc tuyên bố chiến tranh là thẩm quyền của
Quốc hội, Uỷ ban thường vụ Quốc hội chỉ
được thực hiện quyền này khi Quốc hội không
thể họp được và phải báo cáo Quốc hội xem
xét, quyết định tại kì họp gần nhất (điểm 9
Điều 91), nghĩa là quyết định tuyên bố tình
trạng chiến tranh của Uỷ ban thường vụ Quốc
hội chỉ có tính chất tình thế trong khi chờ
Quốc hội quyết định Do vậy, không cần thiết
phải giữ lại quyền đó trong chế định Chủ tịch
nước nữa
- Quy định rõ hơn thẩm quyền của Chủ
tịch nước trong việc ban bố tình trạng khẩn
cấp: Trước đây, Hiến pháp quy định cả Uỷ ban
thường vụ Quốc hội và Chủ tịch nước đều có
quyền ban bố tình trạng khẩn cấp Nay, Chủ
tịch nước căn cứ vào nghị quyết của Uỷ ban
thường vụ Quốc hội công bố tình trạng khẩn
cấp; trong trường hợp Uỷ ban thường vụ Quốc
hội không thể họp được thì ban bố tình trạng
đó Cũng có ý kiến cho rằng việc ban bố tình
trạng khẩn cấp trong cả nước hoặc từng địa
phương chỉ nên quy định cho Chủ tịch nước
thực hiện là đủ, vì đó là vấn đề không quan
trọng như quyết định chiến tranh và hoà bình
hay tổng động viên Để Chủ tịch nước ban bố
vừa kịp thời vừa thể hiện sự long trọng
- Quy định rõ hơn quyền của Chủ tịch
nước về phong hàm, cấp đại sứ, hàm cấp Nhà
nước trong các lĩnh vực khác, quyết định tặng
thưởng giải thưởng Nhà nước (điểm 9); trình
Quốc hội phê chuẩn điều ước quốc tế đH trực
tiếp kí
3 Về Chính phủ Chính phủ là thiết chế đH được đổi mới căn bản tại thời điểm thông qua Hiến pháp năm
1992 Về cơ bản, những quy định về tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ là phù hợp Lần này có một vài sửa đổi, bổ sung nhỏ như về thẩm quyền của Chính phủ trong việc
đàm phán, kí kết điều ước quốc tế nhân danh Nhà nước (trừ trường hợp quy định cho Chủ tịch nước) bên cạnh việc đàm phán, kí kết, phê duyệt, gia nhập điều ước quốc tế nhân danh Chính phủ vẫn tiến hành như trước Sửa đổi quan trọng hơn cả là việc quy định lại vị trí, vai trò của các cơ quan thuộc Chính phủ theo hướng: Trong số các cơ quan thuộc Chính phủ cần rà soát để lĩnh vực nào phải do bộ quản lí thì thành lập bộ, còn những lĩnh vực khác thì giao về các bộ quản lí đa ngành, đa lĩnh vực
đảm nhiệm Cơ quan nào nếu xét thấy thật cần thiết thì mới giữ lại chỉ để giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc thực hiện quản lí nhà nước Các cơ quan này không ban hành văn bản quy phạm pháp luật nữa Vì vậy, tại
Điều 116 bỏ quy định về thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ Việc kí ban hành các văn bản loại này từ nay (theo Quyết định số 40/2002/QĐ-TTg ngày 8/3/2002 của Thủ tướng Chính phủ) được giao cho bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
4 Về toà án nhân dân
Tổ chức và hoạt động của toà án nhân dân
được quy định trong Hiến pháp năm 1992, về cơ bản là phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ trong tình hình hiện nay Hiến pháp không có sửa đổi,
bổ sung gì còn Luật tổ chức toà án nhân dân sửa đổi có sửa đổi, bổ sung một số điểm về tổ
Trang 6chức, thẩm quyền xét xử của toà án các cấp
như bỏ quy định về chế độ cử hội thẩm nhân
dân ở Toà án nhân dân tối cao vì ở đây chỉ xét
xử phúc thẩm mà thường không cần có sự
tham gia của hội thẩm nhân dân; giao cho Toà
án nhân dân tối cao quản lí các toà án địa
phương và toà án quân sự về tổ chức; bỏ Uỷ
ban thẩm phán Toà án nhân dân tối cao
5 Về viện kiểm sát nhân dân
Thay đổi quan trọng nhất trong tổ chức và
hoạt động của viện kiểm sát nhân dân là từ nay
không thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật đối với các cơ quan, tổ chức và
công dân (công tác kiểm sát chung) nữa mà
chỉ còn thực hành quyền công tố và kiểm sát
hoạt động tư pháp Hoạt động kiểm soát việc
tuân theo pháp luật của cơ quan nhà nước, tổ
chức kinh tế - xH hội và công dân trên thực tế
đH và đang được thực hiện bởi các cơ quan nhà
nước khác như Quốc hội, hội đồng nhân dân,
Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ
Việc quy định lại chức năng của viện kiểm
sát nhân dân như vậy nhằm phân công rõ ràng
hơn chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan nhà
nước, tạo điều kiện cho viện kiểm sát nhân dân
tập trung thực hiện tốt hơn chức năng công tố,
kiểm sát các hoạt động tư pháp là những lĩnh
vực quan trọng hiện còn nhiều hạn chế Trong
tương lai, nếu ở nước ta cũng nghiên cứu giao
cho toà án quyền giám sát hoạt động bắt, giam
và điều tra của các cơ quan điều tra thì chức
năng của viện kiểm sát sẽ còn thu hẹp nữa
Do có sự thay đổi về chức năng này của
viện kiểm sát nhân dân nên bỏ quy định viện
trưởng viện kiểm sát nhân dân địa phương chịu
trách nhiệm báo cáo trước hội đồng nhân dân
về tình hình thi hành pháp luật ở địa phương và
chỉ còn chịu trách nhiệm báo cáo công tác trước hội đồng nhân dân và trả lời chất vấn của các đại biểu
Để tập trung vào thực hiện chức năng công
tố và kiểm sát hoạt động tư pháp, Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân sửa đổi đH bỏ chức danh "điều tra viên" ở viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh
6 Về cơ quan chính quyền địa phương
Có thể nói vấn đề đổi mới tổ chức và hoạt
động của cơ quan chính quyền địa phương hiện nay đang nổi lên bức xúc hơn cả Đó là vấn đề xác định mô hình tổ chức mới phù hợp
về chính quyền các cấp ở đô thị, nông thôn, cơ
sở Đặc biệt là vấn đề thành lập uỷ ban nhân dân, xác định lại các mối quan hệ giữa các cơ quan chính quyền trong một cấp, giữa các cấp chính quyền với nhau và giữa chính quyền địa phương với các cơ quan nhà nước ở trung
ương Tuy nhiên, Hiến pháp năm 1992 đH dành vấn đề này để quy định trong đạo luật có liên quan Hiện tại đạo luật mới về tổ chức chính quyền địa phương vẫn còn đang trong giai đoạn soạn thảo Các cơ quan chính quyền
địa phương (hội đồng nhân dân và uỷ ban nhân dân) vẫn đang được tổ chức và hoạt động theo những quy định cũ với nhiều bất cập Hi vọng tình hình này sẽ sớm được khắc phục./
(1).Xem: “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xH hội”, Nxb Sự thật, H.1991;
“Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII”, Nxb Chính trị quốc gia, H.1996, tr.129
(2) Phát biểu của Tổng bí thư Đỗ Mười tại kì họp thứ 11 Quốc hội khoá VIII (24/3/1992) Trong cuốn: Đỗ Mười
“Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới vì chủ nghĩa xH hội”; Nxb Sự thật, H.1993, tr.69
(3) Văn kiện Hội nghị trung ương 7 khoá VIII, Nxb Chính trị quốc gia, H.1999