thức và kĩ năng để biết cách viết bài văn, kết cấu chặt chẽ, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; thể hiện được những tư tưởng, tìn[r]
Trang 1ĐỀ KHẢO SÁT CHẤT LƯỢNG ĐẦU NĂM
NĂM HỌC 2018-2019
I MỤC TIÊU
1 Kiến thức:
Kiểm tra, đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng được quy định trong chương trình Tiểu học, THCS, trọng tâm là chương trình cuối lớp 5, đầu năm học lớp 6, cụ thể là đánh giá tổng hợp các năng lực đọc – hiểu và tạo lập văn bản của học sinh
2 Kỹ năng và năng lực:
- Đọc – hiểu văn bản
- Tạo lập văn bản (viết đoạn văn tự sự và viết bài văn miêu tả)
3 Thái độ:
- Chủ động, tích cực trong việc lựa chọn hướng giải quyết vấn đề một cách hợp lý nhất
- Tự nhận thức, đánh giá được năng lực học tập của bản thân
II HÌNH THỨC
- Tự luận
- Thời gian: 120 phút
III MA TRẬN
NỘI DUNG
MỨC ĐỘ NHẬN THỨC
TỔNG CỘNG
Nhận biết
Thông hiểu
Vận dụng thấp
Vận dụng cao
I ĐỌC HIỂU:
- Ngữ liệu: Văn bản văn
học dân gian, cụ thể văn
bản “Thánh Gióng”.
-Tiêu chí lựa chọn ngữ
liệu: Một đoạn trích văn
bản văn học dân gian, cụ
thể trong văn bản “Thánh
Gióng”.
- Xác định phương thức biểu đạt trong đoạn văn
-Chỉ ra được mục đích
kể trong đoạn trích
-Giải thích được nghĩa từ
“phúc đức”.
-Nhận xét
về “hai vợ chồng ông lão” trong
đoạn trích
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
2 câu 1.0 điểm 10%
1 câu 1.0điểm 10%
1 câu 1,0 điểm 10%
4 câu 3,0 điểm 30%
II TẠO LẬP VĂN BẢN
-Tự sự
Viết một đoạn văn tự
sự có cấu
Trang 2-Miêu tả
trúc hoàn chỉnh
Viết một bài văn miêu tả
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
1 câu 2.0 điểm 20%
1 câu 5.0 điểm 50%
2 câu 7.0 điểm 70%
Tổng
Số câu
Số điểm
Tỉ lệ
2 câu 1.0 điểm 10%
1 câu 1.0 điểm 10%
2 câu 3.0 điểm 30%
1 câu 5.0 điểm 50%
6 câu
10 điểm 100%
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRƯỜNG LONG HOÀ Đề khảo sát chất lượng đầu năm Năm học 2018-2019
Môn: Ngữ văn 6
Trang 3Thời gian làm bài: 120 phút
(Không kể chép đề)
I.PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Tục truyền đời Hùng Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức Hai ông bà ao ước có một đứa con Một hôm bà ra đồng trông thấy một vết chân rất to, liền đặt bàn chân mình lên ướm thử để xem thua kém bao nhiêu Không ngờ về nhà bà thụ thai và mười hai tháng sau sinh một cậu bé mặt mũi rất khôi ngô Hai vợ chồng mừng lắm Nhưng lạ thay ! Đứa trẻ cho đến khi lên ba vẫn không biết nói, biết cười, cũng chẳng biết đi, cứ đặt đâu thì nằm đấy.”
(Thánh Gióng, SGK Ngữ văn 6, tập 1, NXBGD Việt Nam 2002, trang 19)
Câu 1.(0.5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính trong đoạn văn trên
Câu 2.(0.5 điểm) Hãy cho biết đoạn văn được kể với mục đích gì ?
Câu 3.(1.0 điểm) Em hiểu thế nào về từ “phúc đức” trong câu “Tục truyền đời Hùng
Vương thứ sáu, ở làng Gióng có hai vợ chồng ông lão chăm chỉ làm ăn và có tiếng là phúc đức.”
Câu 4.(1.0 điểm) Em có nhận xét như thế nào về “hai vợ chồng ông lão” trong đoạn trích
trên ?
II/PHẦN LÀM VĂN ( 7.0 điểm)
Câu 1.(2.0 điểm) Dựa vào văn bản “Thánh Gióng”, em hãy viết một đoạn văn ngắn nêu ý
nghĩa hình tượng của Thánh Gióng.
Câu 2.(5.0 điểm) Ngôi trường Tiểu học đã gắn bó sâu sắc với tuổi thơ em, em hãy tả lại
ngôi trường yêu dấu đó.(7 điểm)
-Hết-Duyệt của BGH Duyệt của Tổ CM Giáo viên ra đề
Võ Văn Đệ Trương Văn Nghĩa
TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ
TRƯỜNG LONG HOÀ
ĐÁP ÁN
Đáp án đề khảo sát chất lượng đầu năm Năm học 2018-2019
Môn: Ngữ văn 6
Trang 4
I.
Đọc
hiểu
3 Hiền lành, tốt bụng / hiền lành, lương thiện, làm nhiều việc tốt /… 1.0 4
Chăm chỉ làm việc, phúc đức, luôn ao ước có một đứa con/
siêng năng, chăm chỉ, hiền lành, tốt bụng, ước mơ có một đứa con/ lương thiện, phúc đức, nhân hậu/ …
1.0
II.
Phần
làm
văn
1
Dựa vào văn bản “Thánh Gióng”, em hãy viết một đoạn văn
ngắn nêu ý nghĩa hình tượng của Thánh Gióng, 2.0
b Xác định đúng vấn đề nghị luận: viết đoạn văn ngắn nói về
tài năng của Thánh Gióng
0,25
c Triển khai hợp lí nội dung đoạn văn: Học sinh biết kết hợp
kiến thức và kĩ năng về bài văn tự sự để biết cách viết bài văn, kết cấu chặt chẽ, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết Có thể viết đoạn văn theo gợi ý sau:
-Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng chống giặc ngoại xâm
-Sinh ra từ một người mẹ nông dân nghèo
-Gióng đã chiến đấu bằng tất cả tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc
-Tượng trưng cho sức mạnh của tinh thần đoàn kết toàn dân, đó còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, bằng cả vũ khí thô sơ (tre) và hiện đại (roi sắt)
1.0
0.25 0.25 0.25
0.25
d Sáng tạo: có quan điểm riêng, suy nghĩ mới mẻ, phù hợp với
những chuẩn mực về đạo đức, pháp luật
0.25
e Chính tả, ngữ pháp: đảm bảo các quy tắc về chính tả, ngữ
pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt
0.25
2 Ngôi trường Tiểu học đã gắn bó sâu sắc với tuổi thơ em, em hãy
a Đảm bảo được cấu trúc một bài văn miêu tả, có mở bài, thân bài, kết bài.
0.25
b.Xác định đúng vấn đề miêu tả: Tả ngôi trường Tiểu học đã
gắn bó sâu sắc với tuổi thơ em
0.25
c Triển khai vấn đề miêu tả thành một bài văn; kết hợp kiến thức và kĩ năng để biết cách viết bài văn, kết cấu chặt chẽ, kết hợp lí lẽ và dẫn chứng, văn viết có cảm xúc, diễn đạt trôi chảy, bảo đảm tính liên kết; thể hiện được những tư tưởng, tình cảm sâu sắc của mình Học sinh có thể viết bài theo định hướng sau:
- Giới thiệu tên trường, trường nằm ở đâu.
4.0
0.25
Trang 5- Trường xây được xây dựng vào thời gian nào.
- Tả bao quát về ngôi trường
+Trường được xây dựng bằng gì? Mái lợp, tường, nền?
(Trường xây bằng xi măng Mái lợp ngói đỏ tươi Đầu năm học, trường thường được quét vôi và sơn lại các cửa nên trông cứ như mới Nền được lát gạch hoa rất sạch sẽ.)
+ Địa điểm: cao ráo, khang trang hay ẩm thấp
- Tả ngôi trường với những chi tiết nổi bật.
+Cảnh dãy lớp học (chạy dài thẳng tắp, trang trí giống nhau, dãy bàn học ngay ngắn, thứ tự, gợi lên những khuôn mặt thân quen )
+Cảnh dãy phòng làm việc: phòng thầy (cô) hiệu trưởng, phòng giáo viên, phòng chức năng
+Sân trường: hàng cây, các bồn hoa, cột cờ sừng sững, sân trường rộng, khu vườn trường xinh xắn
- Cảnh sinh hoạt của học sinh: trước buổi học, trong giờ học,
sau giờ học
- Nêu cảm nghĩ: yêu mến ngôi trường, góp phần xây dựng
trường lớp sạch đẹp
0.25 0.75
0.25
0.5 0.5 0.5 0.5 0.5
d Sáng tạo: Có cách diễn đạt độc đáo, có thể sáng tạo thêm một
số tình tiết miễn sau chặt chẽ, hợp lý, thuyết phục
0.25
e Chính tả, dùng từ, đặt câu: đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ
pháp, ngữ nghĩa tiếng Việt
0.25
Lưu ý:
1 Hướng dẫn chấm chỉ nêu những nội dung cơ bản, mang tính định hướng Giám khảo cần hết sức linh hoạt khi vận dụng Hướng dẫn chấm Cẩn trọng và tinh
tế khi đánh giá bài làm của thí sinh; trân trọng những bài có ý kiến và giọng điệu riêng Chấp nhận các cách kiến giải khác nhau, kể cả không có trong Hướng dẫn chấm, miễn là hợp lí, có sức thuyết phục.
2 Chỉ cho điểm tối đa khi làm bài đạt được cả yêu cầu về kiến thức và kĩ năng.
Trang 61.Dựa vào văn bản “Thánh Gióng”, em hãy viết một đoạn văn ngắn nêu ý nghĩa hình
tượng của Thánh Gióng, đồng thời cho biết sự thật lịch sử được phản ánh trong tác phẩm
là gì ?
Trong truyền thuyết Thánh Gióng, Thánh Gióng là hình tượng tiêu biểu của người anh hùng chống giặc ngoại xâm Chàng được sinh ra từ một người mẹ nông dân nghèo, điều này chứng tỏ Gióng sinh ra từ nhân dân, do nhân dân nuôi dưỡng Gióng đã chiến đấu bằng tất cả tinh thần yêu nước, lòng căm thù giặc của nhân dân Sức mạnh của Gióng không chỉ tượng trưng cho sức mạnh
Trang 7của tinh thần đoàn kết toàn dân, đó còn là sức mạnh của sự kết hợp giữa con người và thiên nhiên, bằng cả vũ khí thô sơ (tre) và hiện đại (roi sắt) Từ truyền thống đánh giặc cứu nước, nhân dân ta đã thần thánh hoá những vị anh hùng trở thành những nhân vật huyền thoại, tượng trưng cho lòng yêu nước, sức mạnh quật khởi
Bên cạnh giá trị biểu tượng, tác phẩm cũng có một số sự thật lịch sử Thời kì lịch sử được phản ánh trong tác phẩm là thời đại Hùng Vương Trên cơ sở một nền kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước đã khá phát triển, người dân Văn Lang đã tạo nên cả một nền văn minh rực rỡ, đồng thời cũng luôn luôn phải chống giặc ngoại xâm phương Bắc để bảo vệ đất nước Bên cạnh việc cấy trồng lúa nước, nhân dân thời bấy giờ đã có ý thức chế tạo vũ khí chống giặc từ chất liệu kim loại (bằng sắt) Truyền thuyết cũng phản ánh: trong công cuộc chống ngoại xâm, từ xa xưa, chúng ta
đã có truyền thống huy động sức mạnh của cả cộng đồng, dùng tất cả các phương tiện để đánh giặc.