Giáo án chuyên đề ngữ văn 12 kì 1: THỂ KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12 QUA HAI TÁC PHẨM: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ( NGUYỄN TUÂN) VÀ AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? ( HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG) Thời lượng : 04 tiết (tiết theo PPCT 45,46,47,48)
Trang 1THỰC HIỆN CHUYÊN ĐỀ DẠY HỌC
THỂ KÍ HIỆN ĐẠI VIỆT NAM TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN 12
QUA HAI TÁC PHẨM: NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ( NGUYỄN TUÂN) VÀ AI ĐÃ ĐẶT TÊN
CHO DÒNG SÔNG? ( HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG) Thời lượng : 04 tiết (tiết theo PPCT 45,46,47,48)
I.MỤC TIÊU CHUYÊN ĐỀ
1.Kiến thức: Học xong chủ đề này, học sinh cần phải:
- Biết được đặc trưng của kí là tái hiện sự thật một cách sinh động dựa vào những liên tưởng, tưởng tượng bất ngờ, tài hoa của tác giả Ngôn ngữ kí giàu hình ảnh và đẫm chất thơ Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả, thường là cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo Tùy bút và bút kí là những tiểu loại thuộc thể kí
- Hiểu được: Vẻ đẹp đa dạng của con sông Đà (hung bạo, trữ tình) và người lái đò (trí dũng, tài hoa) trên trang văn Nguyễn Tuân, cùng với vốn từ ngữ dồi dào, biến hóa; câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu hình ảnh và nhịp điệu; những ví von so sánh, liên tưởng, tưởng tượng
độc đáo bất ngờ của văn bản Người lái đò sông Đà
Tình yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của Hoàng Phủ Ngọc Tường dành cho sông Hương, cho xứ Huế thân yêu và cũng là cho Đất nước, cùng với ngôn ngữ phong phú giàu hình ảnh, bộc
lộ cảm xúc, sử dụng nhiều biện pháp tu từ như so sánh, ẩn dụ, nhân hóa qua văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông?.
2.Kĩ năng:
-Rèn kĩ năng phân tích và cảm thụ văn bản kí theo đặc trưng thể loại
-Vận dụng những hiểu biết về thể kí Việt Nam vào đọc hiểu những văn bản tương tự ngoài chương trình, SGK
3.Thái độ:
-Đồng cảm, trân trọng tình yêu sự đắm say của Nguyễn Tuân đối với thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc Tổ quốc; tình yêu say đắm của HPNT về sông Hương, về
xứ Huế
-Bồi đắp thêm tình yêu quê hương đất nước, yêu nền văn hóa quê hương, dân tộc trong mỗi HS
4 Năng lực hướng tới:
- Năng lực thu thập thông tin và giải quyết những tình huống đặt ra trong các văn bản
- Năng lực đọc – hiểu kí hiện đại Việt Nam theo đặc điểm thể loại
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về ý nghĩa của văn bản
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về nội dung và nghệ thuật của văn bản
II TRỌNG TÂM - PHƯƠNG PHÁP :
1.Trọng tâm : Vẻ đẹp của con sông Đà vừa "hung bạo" vừa "trữ tình" cùng hình ảnh giản dị
và kì vĩ của người lái đò trên dòng sông ấy trong tùy bút Người lái đòsông Đà(Nguyễn Tuân);Vẻ đẹp dòng sông Hương trong bút kí Ai đã đặt tên cho dòng sông (HPNT) và tình
yêu, niềm tự hào tha thiết, sâu lắng của tác giả dành cho dòng sông quê hương
Trang 22.Phương pháp: Đàm thoại (Phát vấn phát hiện, lí giải minh họa, tìm tòi).
Nêu vấn đề, thảo luận nhóm, bình giảng, đọc sáng tạo
III CHUẨN BỊ
1.Chuẩn bị cụ thể:
* GV: SGK, SGV, thiết kế giáo án, tài liệu tham khảo, thiết bị PowerPoint
* HS: Đọc kĩ văn bản , trả lời câu hỏi chuẩn bị bài SGK
2.Nội dung tích hợp: Tích hợp tiếng Việt, Làm văn, Đọc văn
IV TIẾN TRÌNH TỔ CHỨC DẠY HỌC:
1 Ổn đ ịnh Điểm danh
2 Kiểm tra bài cũ :
3 Bài mới
HOẠT ĐỘNG CỦA THẦY VÀ
Tiết 1 HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
GV trình chiếu những tranh ảnh
liên quan đến sông Đà, sông
Hương, hoặc chiếu một đoạn
phim liên quan đến các tác giả
Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc
Tường.Từ đó, giáo viên giới
thiệu vào chuyên đề dạy học,
giới thiệu lí do và thời lượng
thực hiện chuyên đề
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH
THÀNH KIẾN THỨC MỚI
- GV giới thiệu nhanh (trình
chiếu) cho HS nắm vài nét nổi
bật về đặc điểm thể kí
- HS lắng nghe và lĩnh hội
– GV tổ chức cho HS nhớ lại và
trình bày những nét cơ bản về
Học sinh cảm nhận và dần tạo tâm thế hứng thú
A.TÌM HIỂU CHUNG THỂ KÍ
I Đặc điểm:
- Kí là một trong những thể loại của văn học viết về cuộc đời thực tại, người thật, việc thật, đòi hỏi sự trung thực, chính xác
- Nổi bật lên trong tác phẩm kí chính là tính chủ quan, chất trữ tình sâu đậm của cái tôi tác giả (thường là những cái tôi phong phú, uyên bác, tài hoa, độc đáo), do vậy ngôn ngữ kí thường giàu hình ảnh và đẫm chất thơ
II Một số thể kí thường gặp
1 TUỲ BÚT: Thuộc thể kí
– Nét nổi bật ở tuỳ bút là tính chủ quan, chất trữ tình rất đậm Nhân vật chính là “cái tôi” của nhà văn
- Qua việc ghi chép những con người và sự kiện cụ thể, có thực, nhà văn chú trọng bộc lộ cảm xúc, suy tư và nhận thức, đánh giá của mình về con người và cuộc sống hiện tại
2 BÚT KÍ:
– Là một thể kí có quy mô tương ứng với truyện ngắn, không
sử dụng hư cấu vào việc phản ánh hiện thực
– Bút kí ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn
đã tìm hiểu nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó
Trang 3tác giả NT (đã được học ở
CTNV 11)
– Gọi 1 HS đọc phần TD
HS Tái hiện kiến thức và trình
bày
HD HS đọc hiểu VB
–Gv hướng dẫn HS cần đọc kĩ,
vừa đọc vừa suy ngẫm và cảm
nhận mạch văn, giọng điệu,
ngôn ngữ cực kì biến hoá của
Nguyễn Tuân Sau khâu đọc,
GV gọi 1 vài HS phát biểu cảm
nhận chung về các hình tượng
nổi bật trong đoạn trích, về văn
phong Nguyễn Tuân
- GV dẫn dắt và nêu câu hỏi:
trong hành trình chuyến đi gian
khổ và hào hứng đến miền Tây
Bắc của Tổ quốc, dọc theo dải
sông Đà, Nguyễn Tuân đã
quan sát và ghi lại những biểu
hiện hùng vĩ và hung bạo nào
của sông Đà?
- HS chỉ cần tìm các biểu hiện
mà chưa cần đi sâu phân tích
- GV đặt câu hỏi Thảo luận
nhóm 5p:Phân tích sự tài hoa
của nhà văn trong việc thể
hiện tính hung bạo của con
sông Đà?
-Học sinh làm việc theo nhóm,
GV nhận xét, bổ sung ý
B Tác phẩm “Người lái đò sông Đà”- Nguyễn Tuân
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- (1910- 1987) quê ở Thanh Xuân, Hà Nội Ông sinh ra trong một gia đình nhà nho khi Hán học đã tàn
- Năm 1945, đến với CM, tự nguyện dùng ngòi bút phục vụ hai cuộc kháng chiến của dân tộc
- Là nhà văn lớn, một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp Là người góp phần thúc đẩy thể tùy bút, bút kí văn học đạt tới trình độ nghệ thuật cao; làm phong phú thêm ngôn ngữ văn học dân tộc;
- Phong cách tài hoa, uyên bác và độc đáo
- Những tác phẩm chính: Vang bóng một thời(1940), Sông Đà
(1960)
- Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật
2 Tác phẩm
- Tập Sông Đà: SGK tr 185.
- Tùy bút Người lái đò sông Đà: được in trong tập Sông Đà
(1960)
II Đọc- hiểu văn bản
1 Hình tượng sông Đà:
Hiện lên trên trang văn NT như một nhân vật có hai tính cách
trái ngược:
a/ Hung bạo, dữ dằn:
- Hình ảnh: đá dựng vách thành, những đoạn đá chẹt lòng sông như cái yết hầu; cảnh nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè; những hút nước sẵn sàng
nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào; những thạch
trận, phòng tuyến sẵn sàng ăn chết con thuyền và người lái
đò; …
- Quan sát công phu, tìm hiểu kĩ càng để khắc họa sự hung bạo trên nhiều dạng vẻ: lòng sông hẹp, như chiếc yết hầu bị
đá bờ sông chẹt cứng; ghềnh Hát Loóng hàng cây số của một thế giới đầy gió gùn ghè, đá giăng đến chân trời và sóng bọt tung trắng xóa Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu Âm thanh thác nước như oán trách, như khiêu khích, chế nhạo, như rống lên Những trùng vi thạch trận sẵn sàng nuốt chết con thuyền và người lái
- Mượn ở các ngành, các bộ môn trong và ngoài nghệ thuật
để làm nên hàng loạt so sánh liên tưởng, tưởng tượng kì lạ, bất ngờ: Hình dung một cảnh tượng rất đỗi hoang sơ bằng
cách liên tưởng đến hình ảnh của chốn thị thành, có hè phố, có khung cửa sổ trên “cái tầng nhà thứ mấy nào vừa tắt phụt
đèn điện” Tả cái hút nước quãng Tà Mường Vát: nước thở và
Trang 4-GV đặt tiếp vấn đề: Vậy
theo em nhà văn đã tìm thấy
thứ vàng nào của con sông Đà
nói riêng và thiên nhiên Tây
Bắc nói chung đằng sau
những biểu hiện hung bạo kia
của sông Đà?
- HS phát hiện, trả lời, GV chốt
- GV dẫn dắt và nêu câu hỏi:
Dựa vào văn bản em hãy chứng
minh:
Từ những điểm nhìn (gốc độ)
khác nhau, Nguyễn Tuân đã
có những phát hiện thật tinh tế
và miêu tả một cách tài hoa
những vẻ đẹp trữ tình đa dạng
của dòng sông?
- HS thảo luận cặp đôi, trả lời,
GV nhận xét, chốt ý, diễn giảng
thêm: Như vậy có thể khẳng định
Nguyễn Tuân đã rất công phu khi tìm
hiểu và miêu tả những vẻ đẹp đa
dạng của sông Đà Trên cả hai khía
cạnh hung bạo và trữ tình của con
sông, ta đều thấy người nghệ sỹ
Nguyễn Tuân đã dồn nhiều tâm huyết
và tài năng của mình để khắc họa
những đặc tính, những vẻ đẹp của
con sông đã “ăn đời ở kiếp” với
người dân Tây Bắc.
- Đánh giá về Nguyễn Tuân và
tài năng của ông trong việc tái
hiện con sông Đà ở hai nét:
Hung bạo và trứ tình?
Tiết 2
kêu như cửa cống cái bị sặc, ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào Lấy hình ảnh “ô tô sang số nhấn ga” trên “quãng đường mượn cạp ra ngoài bờ vực” để ví von với cách chèo thuyền.
Tưởng tượng về cú lia ngược của chiếc máy quay từ đáy cái hút
nước, cảm thấy có một cái thành giếng “xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày” Dùng lửa để tả nước “nó rống lên như ngàn con trâu mọng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa”
->Biểu tượng về sức mạnh dữ dội và vẻ đẹp hùng vĩ của thiên nhiên đất nước Nguyễn Tuân là bậc kì tài trong lĩnh vực sử dụng ngôn từ (sự phá cách mà ngoại trừ các tay bút thực sự tài hoa, không ai làm nổi)
=>Đó là vẻ đẹp hùng vĩ và tiềm năng thủy điện to lớn của sông Đà Khi nghĩ đến những “tuyếc - bin thủy điện”, có lẽ nhà văn đã dự cảm được vị trí, vai trò của sông Đà trong sự nghiệp xây dựng đất nước
b/Trữ tình, thơ mộng:
-Trên máy bay nhìn xuống: So sánh: Con sông Đà tuôn dài, tuôn dài như một áng tóc trữ tình… đốt nương xuân Câu thơ
bằng văn xuôi cụ thể hoá vẻ đẹp sông Đà: thơ mộng, dịu dàng, rực rỡ, diễm lệ
-Nhìn sông Đà qua nhiều thời gian, không gian khác nhau:
Mùa xuân: Xanh ngọc bích; Mùa thu: lừ lừ chín đỏ.Nước
sông Đà hiện lên rõ nét và gợi cảm, biến hoá kỳ ảo
-Nhìn sông Đà như một cố nhân: ánh nắng loang loáng như
trong thơ Đường Con sông vui như…Đằm đằm ấm ấm như
gặp lại cố nhân Con sông Đà đầy chất thơ, vui vẻ, ấm
áp-câu văn đẹp trong sáng, gợi cảm
-Đi thuyền trên những dòng nước yên tĩnh, thơ mộng: Nương
ngô, cỏ tranh, đàn hươu thơ ngộ, ngơ ngác Âm thanh: tiếng còi sương, tiếng cá đập nước Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử, hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích Chất thơ tình tứ của
Tản Đà -> Bằng liên tưởng độc đáo, sáng tạo nhà văn cho ta thấy vẻ hoang sơ, tự nhiên của sông Đà Những câu văn của Nguyễn Tuân như những giai điệu êm ái, trữ tình
=> Qua hình tượng sông Đà, NT thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa Cảm nhận và miêu tả sông Đà, NT đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và độc đáo Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự
Trang 5- GV giới thiệu nhanh về chân
dung và cuộc sống của người lái
đò
- GV gợi: Trong đoạn trích
Nguyễn Tuân đã bằng cách nào
để khắc họa và làm nổi bật
người lái đò sông Đà?
- HS trả lời, Gv nhận xét và diễn
giảng thêm: Để làm nổi bật vẻ
đẹp người lái đò, tác giả đã
sáng tạo một đoạn văn tràn đầy
không khí trận mạc, đã tượng
tượng ra một cuộc chiến đấu ác
liệt giữa người lái đò với “bầy
thủy quái sông Đà” nham hiểm
và quỷ quyệt.
- GV nêu vấn đề: Cuộc thủy
chiến diễn ra như thế nào?
Phần thắng thuộc về ai?
- HS suy nghĩ bám văn bản trả
lời, theo PHT, GV nhận xét,
trình chiếu bổ sung ý theo bảng
bên
-GV: Yếu tố nào làm nên chiến
thắng của người lái đò?
- Theo em, ông lái đò có mang
những phẩm chất của người
nghệ sĩ tài hoa? (Đối với bất cứ
công việc gì, khi đạt tới một
trình độ khéo léo, điêu luyện,
xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế
độ mới.
2 Hình tượng người lái đò sông Đà
-Chân dung: tuổi 70, cái đầu quắc thước, thân hình cao to
và gọn quánh như chất sừng mun, giọng nói ào ào như thác nước…Khoẻ mạnh, rắn chắc in đậm dấu ấn nghề nghiệp.
-Cuộc sống: Làm nghề chở đò đã 10 năm liền, xuôi ngược
trên sông Đà đã hơn 100 lần, giữ tay lái chính độ 60 lần, trí nhớ đóng đanh vào con sông Đà Gắn bó và dày dạn kinh
nghiệm với nghề chèo đò vượt thác sông Đà
- Cuộc thủy chiến :
Thạch trận Sông Đà Ông lái đò
* Vòng vây thứ nhất
+ Bốn cửa tử một cửa sinh nằm lập lờ phía tả ngạn
+Âm thanh: mặt nước hò
la vang dậy, tiếng hỗn chiến của nước, của thác đá
+ Sóng đánh miếng đòn độc hiểm nhất
Vòng vây thứ nhất tả
kỹ nhất, dài nhất- sông, thác, đá cực mạnh, ác, vừa thách thức, doạ nạt, vừa đánh đòn cực hiểm
- Hai tay giữ mái chèo, nén vết thương, kẹp chặt cuống lái; tiếng chỉ huy ngắn
gọn, tỉnh táo.Dũng cảm, bình tĩnh
* Vòng vây thứ hai
Tăng thêm nhiều cửa tử
để đánh lừa; dòng thác hùm beo dâng hồng hộc
tế mạnh
Tả ngắn hơn, chúng không hò reo ghê gớm như trước nữa, cũng không giữ thế chủ động
Đổi chiến thuật, nắm
chắc binh pháp- tự tin;
thuộc quy luật phục kích, nắm chặt bờm sóng , ghì cơng lái , bám luồng nước phóng vào cửa sinh, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo, đứa thì ông đè sấn mà chặt đôi
ra-linh hoạt.
* Vòng vây thứ 3
số cửa ít, luồng chết dàn ra hai bên phải, trái
Động từ: vút,
xuyên-tả độ nhanh, mạnh
của con thuyền- Táo bạo
-Yếu tố làm nên chiến thắng:
+Sự ngoan cường, lòng dũng cảm, ý chí quyết tâm vượt qua những thử thách khốc liệt của cuộc sống ở người lái đò-> như
Trang 6con người sẽ bộc lộ nét tài hoa
rất đáng ngưỡng mộ và trân
trọng…)
-Từ đó, nhận xét về vẻ đẹp của
con người lao động trên trang
văn NT?
- Qua thiên tùy bút này, em có
nhận xét gì về tài năng nghệ
thuật của Nguyễn Tuân?
- Hs đọc Ghi nhớ, SGK tr 193
một viên tướng trí dũng vô song;
+ Sự hiểu biết, kinh nghiệm chèo đò vượt thác và sự khéo léo, điêu luyện của ông lái đò - một tay lái tài hoa-> Nghệ sỹ tài
hoa
=>Từ cuộc chiến đấu ác liệt với thác dữ sông Đà, từ sự bình dị của người lái đò sau chiến thắng, có thể thấy Nguyễn Tuân
đã khẳng định và ngợi ca vẻ đẹp của những người lao động bình thường, âm thầm, giản dị nhưng chính họ đã làm nên kì tích trong cuộc chiến với thiên nhiên hung dữ , đây chính là
chất vàng mười của Tây Bắc Qua đây, nhà văn muốn phát
biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu
mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày
3 Nghệ thuật
- Những ví von, so sánh, liên tưởng, tưởng tượng độc đáo, bất ngờ và rất thú vị
- Từ ngữ phong phú, sống động, giàu hình ảnh và có sức gợi cảm cao
- Câu văn đa dạng, nhiều tầng, giàu nhịp điệu, lúc thì hối hả, gân guốc, khi thì chậm rãi, trữ tình, …
-> Phong cách tài hoa, uyên bác và độc đáo của Nguyễn Tuân
4 Tổng kết
Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam
Tiết 3
HD HS tìm hiểu phần tiểu dẫn
- Trên cơ sở đã chuẩn bị bài ở
nhà, học sinh đưa ra những ý cơ
bản nhất về tác giả
-GV nhận xét, bổ sung, chốt ý
-Xác định xuất xứ, Vị trí của
văn bản?
C Tác phẩm “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”- HPNT
I Tìm hiểu chung
1 Tác giả
- Hoàng Phủ Ngọc Tường sinh năm 1937 tại Huế
- Là một trí thức yêu nước, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực
- Ông là một trong những nhà văn chuyên về thể loại bút ký
- Sáng tác của ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và tính trữ tình, giữa nghị luận sắc bén với suy tư đa chiều, hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm và tài hoa
2 Tác phẩm:
a Bút ký ban đầu có tên là Hương ơi e phải mày chăng ?, được viết tại Huế ngày 04/01/1981, in trong tập Ai đã đặt tên cho dòng sông ? NXB Thuận Hoá, 1986 Sau này in lại trong
“Tuyển tập Hoàng Phủ Ngọc Tường” năm 2002
- Vị trí văn bản: là một đoạn trích trong bài bút kí dài về dòng
Trang 7-Xác định bố cục văn bản và
nêu đại ý mỗi đoạn?
-Xác định chủ đề tác phẩm?
Hướng dẫn HS đọc - hiểu văn
bản
- Sông Hương vùng thượng
nguồn được tác giả miêu tả như
thế nào?
- Những hình ảnh, chi tiết,
những liên tưởng và thủ pháp
nghệ thuật nào cho thấy nét
riêng trong lối viết kí của tác
giả?
- GV dẫn dắt và nêu câu hỏi:
Nhà văn đã hình dung về sông
Hương như thế nào khi nó ở
“giữa cánh đồng Châu Hóa đầy
hoa dại”? Từ đó hãy phát hiện
điều thú vị trong cách cảm nhận
của Hoàng Phủ Ngọc Tường về
thủy trình con sông khi nó bắt
đầu về xuôi?
- HS phát hiện, trả lời
- GV gợi mở: Vẻ đẹp cũng
như hành trình đến với người
tình đích thực của “người gái
đẹp” sông Hương được khắc
sông Hương thơ mộng của xứ Huế
b Bố cục:
- Đoạn 1: Từ đầu đến “dưới chân núi Kim Phụng”; Sông Hương vùng thượng lưu là dòng chảy có mối quan hệ sâu sắc với dãy Trường Sơn
- Đoạn 2: Từ “Phải nhiều thế kỷ” đến “Quê hương xứ sở”: Sông Hương những mối quan hệ với kinh thành Huế
- Đoạn 3: Còn lại: Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc đời và thi ca
c Chủ đề:
- Tình yêu và lòng tự hào tha thiết, lắng sân dành cho dòng sông quê hương, cho xứ Huế và càng làm cho đất nước văn hiến từ nghìn xưa
- Sông Hương là biểu tượng cho vẻ đẹp của cảnh và người đất kinh thành
II Đọc - hiểu văn bản:
1 Sông Hương – hành trình đến với đất Huế
a Sông Hương ở thượng nguồn
+ Sông Hương tựa như “một bản trường ca của rừng già” với nhiều tiết tấu hùng tráng, dữ dội: khi “ rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn”, lúc “ mãnh liệt vượt qua ghềnh thác”, khi “ cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực sâu”, lúc “ dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng”.
+ Sông Hương hiện ra tựa “Cô gái Digan phóng khoáng và man dại” với một “bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng”.
+ Sông Hương “mang một sắc đẹp dịu dàng và trí tuệ, trở thành người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở
-> Nghệ thuât nhân hóa ,sông Hương thành một sinh thể sống động Nhà văn cảm nhận rằng sông Hương không chỉ nên thơ,
mà còn là khởi nguồn cho một vùng không gian văn hóa Huế
b
Sông Hương ở ngoại vi thành Huế:
- Sông Hương như “người gái đẹp nằm ngủ mơ màng” giữa
cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại được người tình mong đợi vừa đánh thức, từ đây thủy trình của sông Hương khi nó bắt đầu về xuôi tựa như “một cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình lãng mạn nhuốm màu cổ tích
- Hiểu biết về địa lí đã giúp tác giả miêu tả tỉ mỉ về sông Hương với hình ảnh:
+“Chuyển dòng một cách liên tục, vòng giữa khúc quanh đột
Trang 8họa như thế nào dưới ngòi bút
tài hoa của nhà văn? Hiệu quả
thẩm mỹ của lối viết đó?
- HS tái hiện, phân tích, GV
nhận xét, chốt ý Củng cố tiết 3,
để tiến hành tiết 4
Tiết : 4
- GV hỏi: Đến với thành phố
Huế, sông Hương được nhà văn
miêu tả như thế nào? Có gì đặc
biệt trong cách miêu tả ấy?
(gợi:đọc văn bản, tìm hiểu
những chi tiết nhà văn miêu tả
về tâm trạng? dáng điệu?dòng
chảy của sông Hương?)
- HS đọc thầm phát hiện và
phân tích:
- GV tiếp tục gợi: Tác giả lý giải
dòng chảy lững lờ của sông
Hương như thế nào?
- HS suy nghĩ trả lời:
- GV hỏi: sông Hương trước khi
ra biển cả có điểm gì đặc biệt ?
- HS phát hiện:
ngột, uốn mình theo những đường cong thật mềm”, “ dòng sông mềm như tấm lụa, với những chiếc thuyền xuôi ngược chỉ bé bằng con thoi”.
+ Cảnh đẹp như bức tranh có đường nét, có hình khối:“Nó trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách, với những điểm cao đột ngột như Vọng Cảnh, Tam Thai, Lưu Bảo”.
+ Vẻ đẹp đa màu mà biến ảo, phản quang màu sắc của nền
trời Tây Nam thành phố: “sớm xanh , trưa vàng, chiều tím”.
+ Sông Hương lại có vẻ đẹp trầm mặc mang màu sắc triết lí,
cổ thi khi chảy dưới chân những rừng thông u tịch với những lăng mộ âm u mà kiêu hãnh của các vua chúa triều Nguyễn, khi đi trong âm hưởng ngân nga của tiếng chuông chùa Thiên Mụ
=>Hoàng Phủ Ngọc Tường Không chỉ tái hiện một cách chân thực dòng chảy tự nhiên trên bản đồ địa địa lí của dòng sông
mà quan trọng hơn nhà văn đã biến thủy trình ấy thành một hành trình của người con gái đẹp, duyên dáng và tình tứ Đó chính là cảm nhận riêng, độc đáo và thi vị của tác giả về sông Hương trước khi nó chảy vào lòng thành Huế
c Sông Hương trong lòng thành phố Huế :
- Sắp đến thành phố tâm trạng: Sông Hương “vui tươi hẳn lên
vì gặp thành phố như đến được với điểm hẹn tình yêu
- Dáng điệu: “nét thẳng”, “đường cong” : “ như một tiếng
“vâng” không nói ra của tình yêu.
- Dòng chảy: trôi đi thật chậm: điệu slow tình cảm dành
riêng cho Huế.
-> Sông Hương mang dáng nét của người con gái xứ Huế: dịu
dàng và mềm mại
- Dùng kiến thức địa lý để lý giải: “những chi lưu ấy cùng với hai hòn đảo nhỏ trên sông đã làm giảm hẳn lưu tốc của dòng nước, khiến cho sông Hương khi đi qua thành phố đã trôi đi chậm thật chậm cơ hồ chỉ còn là một mặt hồ yên tĩnh”
- Dùng cách lí giải bằng trái tim: Sông Hương điệu chảy
lững lờ vì nó qúa yêu thành phố của mình, nó muốn được nhìn ngắm nhiều hơn nữa: chậm rãi, ngập ngừng như có
“những vấn vương của một nỗi lòng” không nỡ rời xa thành
phố
-Về phương diện văn hóa: “Sông Hương đã trở thành một
người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya…, toàn bộ nền âm nhạc
cổ điển Huế đã được hình thành trên mặt nước của dòng sông này”.
Trang 9-GV HDHS tiểu kết:Rút ra nhận
xét của em về sông Hương khi
chảy vào thành Huế? Phát hiện
của tác giả về nét riêng biệt của
dòng sông cho thấy điều gì
trong tình cảm của tác giả với
Huế và với sông Hương?
- HS nhận xét, GV chốt ý, diễn
giảng: So sánh sông Hương với
sông Xen của Paris, sông Đa-nuýp
của Bu-đa-pét- những tên sông đã trở
thành linh hồn của thủ đô các nước,
thành biểu tượng văn hóa của quốc
gia- thể hiện lòng tự hào của nhà văn
về sông Hương và kinh thành Huế
- GV đặt câu hỏi: Trong lịch sử
dân tộc sông Hương hiện lên
với những vẻ đẹp đáng trân
trọng, nhà văn đã phát hiện và
lí giải những vẻ đẹp đó như thế
nào?
- HS phát hiện và lí giải, GV
nhận xét, chốt ý
-GV : Nhận xét của em về dòng
sông Hương ở phương diện lịch
sử dân tộc ?
- HS nhận xét, đánh giá, GV
chốt ý
- GV gợi ý HS tìm hiểu tiếp:
Trong đời thường được Hoàng
Phủ Ngọc Tường phát hiện và lí
giải vẻ đẹp sông Hương như thế
- Đổi dòng rẽ hướng Đông Tây, để gặp lại Huế Dường như
sông Hương không muốn xa thành phố: nhớ lại một điều gì
đó chưa kịp nói Nó đột ngột đổi dòng rẽ ngặt sang hướng Đông Tây để gặp lại thành phố ở góc Bao Vinh… khúc quanh này thật bất ngờ…” Đấy là nỗi vương vấn, cả một chút lẳng
lơ kín đáo của tình yêu” Sông Hương trở lại “để nói một lời thề trước khi về biển cả”
=>Sông Hương êm dịu, mềm mại, như một cô gái Huế tài hoa, dịu dàng mà sâu sắc; đa tình mà kín đáo; lẳng lơ nhưng rất mực chung tình Sông Hương mang vẻ đẹp tự nhiên trong vóc dáng cô gái kiều diễm
=>Thể hiện lòng tự hào của tác gỉa về sông Hương và kinh thành Huế Tình yêu con sông đã làm cho ngòi bút tác giả thăng hoa Đó là những nét bút dịu dàng, tình tứ, đắm say của cái TÔI tài hoa, mê đắm Hoàng Phủ Ngọc Tường
2 Sông Hương trong mối quan hệ với lịch sử dân tộc, với cuộc đời và thi ca:
a Với lịch sử dân tộc:
- Nó gắn liền với những thế kỉ vinh quang của đất nước từ
thuở còn là dòng sông biên thuỳ xa xôi của đất nước các vua Hùng Là dòng Linh Giang (dòng sông thiêng) ghi dấu những
thế kỷ vinh quang thuở các Vua Hùng
- Là dòng sông bảo vệ biên thuỳ “dòng sông Viễn Châu đã chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía nam của tổ quốc Đại Việt qua những thế kỷ trung đại”.
- Từng soi bóng “kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ.”
- “Nó sống hết lịch sử bi tráng của thế kỷ XIX với máu của những cuộc khởi nghĩa.”
- Thế kỉ 20 Sông Hương đi vào thời đại “cách mạng tháng Tám bằng những chiến công rung chuyển” Để rồi sau đó nó
lại tiếp tục có mặt trong những năm tháng bi hùng nhất của lịch sử dân tộc với cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước với
cuộc “nổi dậy tổng tiến công tết Mậu Thân 1968”
->Sông Hương mang vẻ đẹp của một bản hùng ca ghi dấu bao chiến công oanh liệt của lịch sử dân tộc là nhân hứng lịch sử
b Sông Hương với cuộc đời, thi ca và âm nhạc:
- Với cuộc đời thường:
- Khi nghe lời gọi của Tổ quốc: “nó biết cách tự hiến đời mình làm một chiến công”,
- Khi “trở về với cuộc sống đời thường” Sông Hương tự
Trang 10- HS phát hiện , lý giải, GV chốt
- GV nêu vấn đề: Vì sao sông
Hương lại có thể trở thành dòng
sông thi ca, là nguồn cảm hứng
bất tận cho người nghệ sỹ?
- HS trao đổi cặp đôi, trả lời,
GV nhận xét, chốt ý
- GV gợi ý HS tiếp tục tìm hiểu:
Bài tùy bút kết thúc bằng câu
hỏi “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?”, em hãy cho biết Hoàng
Phủ Ngọc Tường đã trả lời câu
hỏi này như thế nào?
- HS trả lời:
- GV hỏi: Đặt tiêu đề và kết
thúc văn bản bằng câu hỏi tu
từ “Ai đã đặt tên cho dòng
sông?” có ý nghĩa gì?
- HS suy nghĩ trả lời:
- Qua đoạn trích, em có nhận xét
gì về nét riêng trong văn phong
của tác giả?
- GV hướng dẫn HS tổng kết
văn bản Ai đã đặt tên cho dòng
sông? Ghi nhớ: sgk trang 203
nguyện “làm một người con gái dịu dàng của đất nước
-> Sông Hương mang vẻ đẹp giản dị của một người con gái dịu dàng Những thay đổi của dòng sông đã làm nên dáng dấp
và vẻ đẹp của đất nước và con người Việt Nam
- Có một dòng thi ca về sông Hương:
+ “Dòng sông trắng – lá cây xanh” trong thơ Tản Đà.
+ Là nỗi quan hoài vạn cổ trong thơ Bà Huyện Thanh Quan + Là vẻ đẹp hùng tráng “như kiến dựng trời xanh” trong thơ Cao Bá Quát
+ Và nhất là Nguyễn Du: “Hương giang nhất phiến nguyệt-kim cổ hứa đa sầu”.
+Cả cái “Màu thời gian tím ngắt” của Đoàn Phú Tứ, “nhân loại tím” của Trần Dần cũng từ màu tím Sông Hương mà ra -> Sông Hương quả là “ một dòng thơ không lặp lại mình”
- Sông Hương gắn với nhã nhạc cung đình Huế:
+ Có lúc trở thành “Người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya” + Sông Hương là Kiều trong mối quan hệ “Thi trung hữu nhạc”: Đó là “Tứ đại cảnh” trong hai câu thơ: “Trong như tiếng hạc bay qua - Đục như tiếng suối mới sa nửa vời.”
-> Sông Hương là chiếc nôi hình thành nên Nhã nhạc cung đình Huế trên sông.
3.Nhan đề: “Ai đã đặt tên cho dòng sông?”
- Cư dân hai bên bờ nấu nước trăm loài hoa đổ xuống cho dòng sông thơm mãi
-> Lý giải bằng một huyền thoại mỹ lệ, mang màu sắc lãng mạn: con ngưòi muốn đem cái đẹp, tiếng thơm để xây đắp văn hóa, lịch sử, địa lý quê hương mình
=> Khẳng định chính con người đã đặt tên cho dòng sông-Vẻ đẹp vĩnh hằng của sông Hương.Tên bài ký thống nhất với phần kết thúc khắc sâu trong tâm trí người đọc vẻ đẹp của dòng sông và lòng biết ơn với người khai phá miền đất lạ
4 Đặc sắc nghệ thuật:
- Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và tài hoa
- Ngôn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm, câu văn giàu nhạc điệu
- Các biện pháp tu từ ẩn dụ,nhân hóa, so sánh được sử dụng linh hoạt
5 Tổng kết
a Ý nghĩa văn bản:
Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương
b Đọc thêm sgk tr 204