Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển cương lĩnh 1991) do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Từ nay đến giữa thể kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Để thực hiện thành công mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt một trong các phương hướng cơ bản là: “ Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường” . Đây không chỉ là sự tiếp tục đường lối và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đ
Trang 1CHUYÊN ĐỀ 2
CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC THEO ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triểncương lĩnh 1991) do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xácđịnh: “Từ nay đến giữa thể kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấnđấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo địnhhướng xã hội chủ nghĩa” Để thực hiện thành công mục tiêu trên, toàn Đảng,toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường,phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức,quán triệt và thực hiện tốt một trong các phương hướng cơ bản là: “ Đẩymạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế trithức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”1 Đây không chỉ là sự tiếp tục đường lối
và chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH) đã được xác định
ở các kỳ đại hội trước đây, mà còn thể hiện sự nhạy bén và phát triển sángtạo của Đảng ta trong việc nhận thức và vận dụng học thuyết kinh tế Mác –Lênin vào điều kiện cụ thể của đất nước trong bối cảnh mới
I CÔNG NGHIỆP HOÁ - HIỆN ĐẠI HOÁ, KINH TẾ TRI THỨC VÀ SỰ CẦN THIẾT PHẢI GẮN KẾT HAI QUÁ TRÌNH NÀY
1 Công nghiệp hoá, hiện đại hoá
1.1 Quan điểm về công nghiệp hoá, hiện đại hoá trong thời kỳ đổi mới
Từ khi bước vào công cuộc đổi mới năm 1986, cùng với việc từngbước phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, giảiphóng các lực lượng sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới cơ chếquản lý, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, Đảng và Nhà nước ta ngày càngxác định rõ quan điểm mới về công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Quan điểm ấy là kết quả tổng kết thực tiễn, rút ra từ những bài họccủa mấy thập kỷ trước đây, kết hợp với sự nghiên cứu, học hỏi kinh nghiệm
và kiến thức của thế giới và thời đại
Hội nghị Trung ương VII của Đảng (1994) đã chỉ rõ: “Công nghiệp
1 Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiện ĐH XI, Nxb CTQG, H.2011, Tr 75
Trang 2hoá hiện đại hoá là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sảnxuất kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao đọng thủcông là chính, sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động, cùng với côngnghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triểncủa công nghiệp và tiến bộ khoa học – công nghệ, tạo ra năng suất lao động
xã hội cao”1
Coi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta trong thời kỳđổi mới là một cuộc cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực củađời sống kinh tế, xã hội, Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII (1996), khithông qua đường lối đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, Đảng ta nhấnmạnh, mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là: “ Xây dựng nước tathành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh
tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp với trình độ phát triển của lựclượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vữngchắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh.”2
Kết thúc thế kỷ 20, bước vào thế kỷ 21, bối cảnh trong nước và quốc
tế tiếp tục có những thay đổi mau chóng Báo cáo chính trị tại Đại hội Đạibiểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng nhận định: “Thế kỷ 21 sẽ tiếp tục cónhiều biến đổi Khoa học và công nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt Kinh tế trithức ngày càng có vai trò nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sảnxuất”3
Từ nhận định đó Đại hội IX của Đảng ta xác định: “ Con đường côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa cónhững bước tuần tự, vừa có bước nhảy vọt phát huy những lợi thế của đấtnước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ tiên tiến, đặc biệt làcông nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càngnhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học
và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”4
1.2 Những đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở
1 ĐCSVN, VK Đảng thời kỳ đổi mới, Về phát triển kinh tế - xã hội, Nxb CTQG, H 2005,Tr 235.
2 ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ VIII, Nxb CTQG, H.1996, tr.80.
3 ĐCSVN, VKĐHĐ toàn quốc lần thứ IX, Nxb CTQG, H.2001, tr.64.
4 VKĐHĐIX, Tr.91.
Trang 3Việt Nam hiện nay.
Công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nộidung, hình thức, qui mô, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược Nhữngnét đặc thù này được thể hiện khái quát ở một số điểm chủ yếu sau đây:
Thứ nhất: Qua trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta là quá trình rộng lớn, phức tạp và toàn diện Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các
lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đituần tự và bước đi nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và pháttriển theo chiều sâu, kết hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất củacác tác nhân tham gia quá trình Mục tiêu của công nghiệp hoá, hiện đại hoámang tính bao trùm rất cao, theo đó đén năm 2020 nước ta cơ bản trở thànhmột nước công nghiệp theo hướng hiện đại, nhưng mục tiêu xa hơn là nước
ta trở thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, xã họi công bằng, dân chủ, vănminh”
Thứ hai: Trong bối cảnh toàn cầu hoá và cách mạng khoa học – công nghệ đang diễn ra mạnh mẽ nước ta không thể chờ thực hiện xong công nghiệp hoá rồi mới tiến hành hiện đại hoá, mà phải tiến hành đồng thời và đồng bộ công nghiệp hoá và hiện đại hoá như một quá trình thống nhất Có
thể nhìn nhận quá trình này từ hai mặt thống nhất với nhau: Một mặt, đó làquá trình xây dựng nền công nghiệp hiện đại, tức là tạo nền tảng vật chất, kỹthuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế; Mặt khác, đó là quá trình cải cáchthể chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung, quan liêubao cáp, sang kinh tế thị trường và hội nhập Công nghiệp hoá gắn với hiệnđại hoá là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nướctrong khu vực và trên thế giới, nha nh chóng đưa nước ta tiến kịp các nướctrong khu vực, họi nhập vào sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới
Thứ ba: Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta cần và có thể được “rút ngắn” Việc cần được “rút ngắn” ở đây là đòi hỏi khách quan
của nhiệm vụ thoát khỏi tình trạng tụt hậu phát triển Bên cạnh đó, bối cảnhtrong nước và quốc tế cho phép nước ta có thể “rút ngắn” quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá Về cơ bản cách để nước ta có thể thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” bao gồm hai mặt: Một mặt, đạt và duy trì
Trang 4một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn các nước đi trước liên tục trong mộtthời gian dài để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ so với các nước
đó (thực chất là tăng tốc để đuổi kịp); Mặt khác, lựa chọn và áp dụng một
phương thức công nghiệp hoá, hiện đại hoá cho phép bỏ qua một số bước đivón là bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, đẻ đạt tới một nền kinh tế cótrình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường, bước đi và giảipháp CNH để đi nhanh tới hiện đại) Hai mặt này không đối lập mà thốngnhất với nhau và đang tiếp tục được làm sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta
Thứ tư: Ở nước ta quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá có quan hệ chặt chẽ với quá trình phát triển kinh tế tri thức Trong thời gian qua tại
không ít các diễn đàn và công trình nghiên cứu khoa học, mối quan hệ giữacông nghiệp hoá, hiện đại hoá với kinh tế tri thức đã từng bước được làm rõ
Về đại thể, có mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức, mới có khảnăng thay đổi phương thức và đẩy nhanh tốc độ công nghiệp hoá, hiện đạihoá Hay nói cách khác phát triển kinh tế tri thức tạo điều kiện cho việc thựchiện mô hình công nghiệp hoá, hiện đại hoá “rút ngắn” ở nước ta Ngược lại,việc thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội để đi vào phát triểnkinh tế tri thức
1.3 Những thuận lợi và khó khăn của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt nam.
Bối cảnh trong nước và quốc tế ngày nay hàm chứa nhiều thuận lợinhững cũng đặt ra không ít khó khăn đối với quá trình công nghiệp hoá, hiệnđại hoá ở Việt Nam Những thuận lợi và khó khăn này tồn tại đan xen vớinhau, có thể chuyển hoá cho nhau Việc phân định một cách tương đối vànhận thức rõ những thuận lợi, khó khăn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trongviệc hoạch định mục tiêu, bội dung và phương pháp tiến hành công nghiệphoá, hiện đại hoá cũng như việc thực hiện các nhiệm vụ trong thực tế Về đạithể, những thuận lợi và khó khăn được khái quát ở một số nội dung sau:
1.3.1 Thuận lợi
- Thứ nhất: Sau 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta có những thay
Trang 5đỏi mạnh mẽ, thể hiện ở những cái mới như:
+ Cấu trúc kinh tế mới Cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch
hoá tập trung, nền kinh tế thuần nhất một thành phần khép kín, được thaybằng nền kinh tế nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế Vaitrò và chức năng mới của Nhà nước, xã hội năng động hơn, các yếu tố cấuthành hệ thống kinh tế - xã hội được kết nối chặt chẽ hơn
+ Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ cao liên tục trong
nhiều năm, với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp,tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ
+ Thế phát triển mới: Việt Nam thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh tế,
qua hệ thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN, ASEM,APEC, WTO
+ Động lực phát triển mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới,
mạnh mẽ như cạnh tranh thị trường, sự mở rộng các cơ hội, sức mạnh củatinh thần dân tộc trong cuộc đua tranh phát triển
+ Lực lượng, chủ thế phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát
triển: Nhà nước, nhân dân, đội ngũ doanh gia, tri thức, quản trị được nângcao, các yếu tố bên ngoài vốn, công nghệ - kỹ thuật, thị trường, tri thức trởthành lực lượng thúc đẩy phát triển quan trọng
- Thứ hai: Bối cảnh quốc tế với những ưu thế nổi trội bao gồm: Toàn
cầu hoá kinh tế, phát triển kinh tế tri thức, hoà bình, ổn định và hợp tác cùngphát triển giữa các quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình côngnghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam
Trong bối cảnh đó Việt Nam đã và đang theo đuổi và thực hiện chínhsách chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực,nâng cao hiện quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xãhội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc vănhoá dân tộc, bảo vệ môi trường Việc tham gia vào các quá trình liên doanh,liên kết, hợp tác song phương và đa phương, hợp tác khu vực và quốc tế củanước ta góp phần phát huy hữu hiệu lợi thế so sánh của đất nước, thu hútđược những nguồn lực dồi dào về vốn, kỹ thuật, công nghệ, tri thức, kỹ năngcủa thế giới cho đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá Ben cạnh đó việc
Trang 6tham gia toàn cầu hoá kinh tế cũng tạo động lực cho việc đẩy mạnh nhữngcải cách trong nước theo hướng hiện đại phù hợp với khung khổ chung củaquốc tế.
- Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn, Việt Nam có thể tận
dụng được những lợi thế của “nước đi sau” Bên cạnh việc thu hút nhữngnguồn lực vật chất và trí tuệ quan trọng như nêu trên, các nước đi sau nhưViệt Nam còn có thể học hỏi kinh nghiệm phong phú về công nghiệp hoá,hiện đại hoá của các nước đi trước Một lợi thế nữa của nước đi sau là chúng
ta dế chuyển đổi cơ cấu, vì không lệ thuộc vào những cơ sở vật chất đã có(các phí tổn không phải là quá lớn để thay đổi những cái cần thay đổi) Điềunày tạo dễ dàng cho chúng ta bắt tay vào phát triển kinh tế theo các địnhhướng cơ cấu đã lựa chọn bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu vùng lãnh thổ và
cơ cấu thành phần kinh tế
- Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm ở trung tâm vùng
kinh tế năng động Đông Nam Á Thuận lợi cho việc giaolưu và hội nhậpkinh tế quốc tế; nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phongphú để phát triển một số ngành công nghiệp quan trọng Đặc biệt nước ta cólực lượng lao động dồi dào, cơ cấu trẻ, năng lực trí tuệ con người Việt Namkhông thua kém các nước, tiếp thu nhanh các tri thức mới, dễ đào tạo có khảnăng sáng tạo Những yếu tố trên tạo nên lợi thế quan trọng trong cạnh tranhquốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để phát triển những ngành , nhữnglĩnh vực hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn
1.3.2 Khó khăn
- Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc, hiệu quả
và sức cạnh tranh chưa cao, trình dộ phát triển lực lượng sản xuất thấp, cơcấu kinh tế chuyển dịch chậm, lậc hậu và còn nghiêng về hướng nội… lànhững đặc tính của nền kinh tế nước ta sau 25 năm đổi mới Thể chế kinh tếthị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mới chỉ đang hình thành, chưa đồng
bộ và chưa vận hành tốt, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng và chưa cótính khuyến khích cao Nói một cáhc ngắn gọn nền kinh tế nước ta đang pháttriển, đang chuyển đổi Thực tế này là khó tranh khỏi đói với một quốc giađang phát triển, có tính tạm thời và được khắc phụ dần trong quá trình đổi
Trang 7mới, tuy nhiên nó đang là một trở ngại lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá trong môi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay Trong đó tháchthức đặt ra là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước trong khuvực và trên thế giới.
- Tuy bối cảnh quốc tế thể hiện 3 xu thế nổi trôi như đã nêu trên đây,song tình hình thế giới luôn có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, chứađựng những yếu tố khó lường Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào quátrình toàn cầu hoá, đặt nền kinh tế Việt nam trước những khó khăn do cạnhtranh gay gắt, sự dễ bị tổn thương trước các cú xốc từ bên ngoài và nhữngảnh hưởng mặt trái khác và những ảnh hưởng "mặt trái" khác của toàn cấuhoá kinh tế hiện nay Nếu chúng ta không có chính sách và biện pháp để hạnchế và vượt qua những khó khăn trên thì chúng có thể có những tác độngmang tính phá huỷ ghê gớm kéo lùi tiến trình phát triển của đất nước trongnhiều năm
- Là nước tiến hành công nghiệp hoá muộn, Việt Nam gặp phải nhữngkhó khăn của nước đi sau Khó khăn rõ nét là chúng ta phải ở thế bất lợitrong cạnh tranh quốc tế do năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp hàmlượng vốn và trí tuệ trong sản phẩm không cao lại thường bị động trong việctuân thủ các luật lệ quốc tế Bên cạnh đó, trong quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá, nước ta phải đối mắt với những vấn đề tài nguyên môi trường,dân số và công ăn việc làm ngày càng gay gắt Mức độ suy kiệt tài nguyênthiên nhiên cùng với sự xuống cấp của môi trường sống là hệ quả của côngnghiệp hoá, hiện đại hoá trên qui mô toàn cầu, nhưng người gánh chịu lại chủyếu là các nước chậm phát triển, trong đó có nước ta, đó là một khó khănkhông thể lường hết được Nó làm cho chi phí của công nghiệp hoá, hiện đạihoá tăng lên đáng kể, đồng thời làm giảm tính bền vững của quá trình này.Trong khi đó sự gia tăng của dân số của lực lượng lao động nhanh hơn tốc độtăng việc làm Ở nước ta đây là một bài toán chưa có lời giải hữu hiệu
2 Kinh tế tri thức
2.1 Quan niệm về kinh tế tri
* Quan niệm trên thế giới về kinh tế tri thức
Trên thế giới hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về
Trang 8kinh tế tri thức, có thể phân loại một cách tương đối các cách hiểu khác nhau
về kinh tế tri thức vào ba cách tiếp cận sau:
- Cách hiểu kinh tế tri thức dựa trên khía cạnh hẹp về tri thức Có hai
cách:
+ Hiểu "tri thức" với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức với khoa học
và công nghệ, hoặc đôi khi còn coi "tri thức" chủ yếu là cuộc cách mạngkhoa học và công nghệ hiện đại, trong đó 4 công nghệ trụ cột là công nghệthông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ không gian
vũ trụ Cách hiểu này khá phổ biến ở Mỹ vào cách đay khoảng 7, 8 năm,như có thể thấy qua các tài liệu của thượng nghị viện Mỹ (2000) Một sốnước như Ấn Độ, Philippin cũng đã có lúc chấp nhận cách hiểu này
+ Cách tiếp cận ngành - Tách biệt nền kinh tế quốc dân thành hai bộphận là khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ
Theo quan niệm này khu vực kinh tế tri thức bao gồm các ngành đượcgọi là các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại của OECD) Hai khu vựckinh tế này hoạt động với những cơ chế, qui luật và kết quả khác hẳn nhau.Nền kinh tế tri thức phát triển tới trình độ càng cao khi các ngành kinh tế dựatrên tri thức chiếm phần ngày càng lớn trong nền kinh tế Có hai cột mốc chothấy nền kinh tế đã chuyển sang giai đoạn kinh tế tri thức:
Một là, Tỷ trong của khu vực công nghiệp và nông nghiệp lên đến
điểm cực đại và ngày càng giảm đi Điểm mốc này đã xuất hiênở các nướctiên tiến nhất cách đây khoảng 30 năm
Hai là, Tỷ trọng của các ngành dựa trên tri thức lớn hơn 70% (theo
phân loại của OECD 1996)
- Cách tiếp cận rộng
Cách tiếp cận này dựa trên cách hiểu rộng về tri thức: Tri thức baogồm mọi hiểu biết của con người đối với bản thân và thế giới OECD đãphân ra 4 loại tri thức quan trọng là biết cái gì, biết tại sao, biết như thế nào,biết ai Kinh tế tri thức không chỉ có nguồn gốc từ sự tiến bộ vượt bậc củacác công nghệ mới mà là kết quả tập hợp của ba nhóm nguyên nhân trực tiếptác động tương tác lẫn nhau bao gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật; nền kinh tếtoàn cầu hoá và cạnh tranh quyết liệt; và các biến đổi văn hoá, chính trị, tư
Trang 9tưởng của chủ nghĩa tư bản hiện đại Cách tiếp cận nà cũng có hai nhánh tiếpcận tương tự nhau:
+ Từ khía cạnh lực lượng sản xuất: Kinh tế tri thức là trình độ pháttriển cao của lực lượng sản xuất Cách hiểu này nhấn mạnh kinh tế tri thứcchỉ là một nấc thang phát triển của lực lượng sản xuất, không liên quan tớimột hình thái kinh tế - xã hội mới (xem các tài liệu của Đặng Hữu, 2001 vàNguyễn Cảnh Hổ, 2000)
+ Từ khía cạnh sự đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế Cáchquan niệm này diễn giải định nghĩa của OECD đã nêu ở trên theo đúngnghĩa đen của nó, tức là tri thức hay cụ thể hơn là những hoạt động sản xuất,truyền bà và sử dụng tri thức, đã vượt qua vốn và lao động để trở thànhnguồn lực chi phối mọi hoạt động tạo ra của cải trong nền kinh tế tri thức.Trong đó tri thức là một khái niệm rất rộng bao trùm mọi hiểu biết của conngười
- Cách tiếp cận bao trùm Theo cách tiếp cận này kinh tế tri thức thực
chất lf một loại môi trường kinh tế - văn hoá - xã hội mới có những đặc tínhphù hợp và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việ học hỏi, đổi mới và sáng tạo.Trong môi trường đó, tri thức tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọngnhất đóng góp vào sự phát triển kinh tế và hàm lượng tri thức được nâng caotrong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội Do vậy cốt lõi của việc pháttriển một nền kinh tế tri thức, không chỉ đơn thuần là phát triển khoa học -công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mới, sáng tạo thể hiện trongcách nghĩ, cách làm của mọi tác nhân kinh tế, xã hội để tạo thuận lợi nhấtcho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi tri thức, mọi loại hiểu biết củaloài người, cũng như xây dựng và phổ biến các năng lực tri thức nội sinh
Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạnphát triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tớimột giai đoạn phát triển mới của xã hội nói chung Cách tiếp cận này ngàycàng dành được nhiều sự ủng hộ (xem các tài liệu của Ngân hàng thế giới
1998, Bộ Công nghiệp, Giáo dục và Tài nguyên Australia, 1999, 2000)
* Cách tiếp cận của Việt Nam về kinh tế tri thức
Ở Việt nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước vấn đề kinh tế tri
Trang 10thức đã được giới các nhà khoa học, những người hoạch định chính sách, cácnhà quản lý đưa bán luận khá nhiều Kinh tế tri thức được nhìn nhận dướinhiều góc độ khác nhau, với những tầm mức và phạm vi khác nhau
Trong không ít hội thảo, hội nghị, người ta đã bàn đến không ít cácđịnh nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức, tuy nhiên trong các vă bản chínhthức của đảng và nhà nước, chưa có văn bản nào nêu ra định nghĩa về kinh
tế tri thức Mặc dù vậy trong số các định nghĩa về kinh tế tri thức được bànđến, dường như có một định nghĩa nổi lên và được công nhận bởi nhiềungười Đó là định nghĩa của OECD và APEC nêu ra năm 2000 Định nghĩa
rằng: " Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử
dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự tăng trưởng, tạo của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế".
2.2 Đặc trưng của kinh tế tri thức
Thứ nhất, tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế.
Trong kinh tế tri thức, của cải tạo ra dựa vào tri thức nhiều hơn là dạưvào tài nguyên thiên nhiên và sức lao động cơ bắp, tuy nhiên vốn và cácnguồn lực khác vẫn là những yếu tố rất cơ bản, khong thể xenm nhẹ Kinh tếtri thức được đặc trưng bởi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng pháttriển ngày càng mạnh các ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vàotri thức: đó là các ngành công nghiệp công nghệ thông tin, công nghiệp congnghệ cao, các ngành dịch vụ dựa vào sử lý thông tin, tài chính ngân hàng,giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát triển công nghệ và ứng dụng trực tiếp đẻtạo ra sản phẩm Do vậy tổng giá trị sản phẩm tăng nhanh, nhưng tổng tiêuhao nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư hầu như không tăng mấy số lượngngườilao động trong khu vực sản xuất vật phẩm hàng hoá có xu hướng ngày càng
ít đi, trong khi số người làm việc ở các văn phòng hiện đại đa chức năng vàlàm công việc sử lý thông tin ngày càng tăng và sẽ chiếm tỷ lệ rất lớn trong
cơ cấu tổng thể của lực lượng lao động xã hội
Hai là, kinh tế tri thức có tốc độ hoạt động và đổi mới nhanh.
Trong nền kinh tế công nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh chủ yếu
là bằng cách tối ưu hoá, tức là hoàn thiện cái đã có để giảm chi phí sản xuất;còn trong kinh tế tri thức thì quyết định năng lực cạnh tranh chủ yếu là sự
Trang 11sáng tạo ra cái mới có chất lượng cao hơn, thời gian đi tới tiêu dùng nhanhhơn Kinh tế phát triển là do sáng tạo, không ngừng đổi mới công nghệ, đổimới sản phẩm Vòng đời công nghệ và vòng đời sản phẩm từ lúc mới nảysinh phát triển, chín muồi đến tiêu vòng ngày càng rút ngắn; tốc độ đổi mớicủa các doanh nghiệp và của toàn bộ nền kinh tế ngày càng nhanh Do đókinh tế tri thức có tốc độ hoạt động rất nhanh Làm việc và kinh doanh theotốc độ của tư duy Trong kinh tế tri thức, sáng tạo trở thành động lực chủ yếucủa phát triển.
Các doanh nghiệp luôn luôn đổi mới, số doanh nghiệp dựa vào sángchế, công nghệ mới, sản phẩm mới, nhất là doanh nghiệp khoa học haydoanh nghiệp sáng tạo tăng lên nhanh chóng; số doanh nghiệp không đổi mới
bị phá sản rất nhiều; số chõ làm việc cũ mất đi nhiều, nhưng số chỗ làm việcmới được tạo ra còn nhiều hơn và tổng số chỗ làm việc không ngừng tănglên Như thế nền kinh tế tri thức là nền kinh tế có rất nhiều biến động và có
cả nhiều rủi ro Có người gọi kinh tế tri thức là nền “kinh tế rủi ro”, “kinh tếmạo hiểm” (dám chấp nhận mạo nhận đầu tư vào sản phẩm mới, lĩnh vựcmới để phát triển)
Ba là, mạng thông tin trở thành cơ sở hạ tầng quan trọng nhất.
Nhờ có mạng thông tin, tri thức được quảng bá rộng rãi đến mọingười; mạng gắn kết mọi người, mọi tổ chức với nhau, rút ngắn thời gian,xoá khoảng cách không gian; các hoạt đọng sản xuất kinh doanh trở nên sôiđộng, nhanh nhạy, sản xuất gắn chặt với thị trường; tổ chcứ quản lý có hiệuquả, hiệu lực hơn, thúc đẩy phát triển dân chủ công khai, minh bạch Mạngthông tin trở thành cở sở hạ tầng quan trọng nhất của nền kinh tế.Nhiềungười gọi kinh tế tri thức là “kinh tế thông tin” Có xã hội thông tinmới có kinh tế tri thức
Bốn là, Kinh tế tri thức là nền kinh tế học tập.
Mọi người có điều kiện thuận lợi để học tập suốt đời, không ngừngphát triển tri thức, nâng cao kỹ năng, phát triển sức sáng tạo, thích nghi với
sự phát triển, thúc đẩy đổi mới Xã hội học tập là nền tảng của kinh tế trithức Trong thời đại bùng nổ về thông tin, sự phát triển như vũ bão của cáchmạng khoa học - công nghệ hiện đại đòi hỏi con người phải không ngừng
Trang 12học tập, cập nhật kiến thức, sáng tạo tri thức mới, công nghệ mới, đồng thờiphải chủ động theo kịp sự đổi mới và có khả năng thúc đẩy sự đổi mới Mặtkhác con người phải học và tự học suốt đời mới thích ứng linh hoạt với sựbiến đổi hết sức mau lẹ của của môi trường và điều kiện làm việc mới Vìvậy, xã hội học tập trở thành một đặc trưng, một yếu tố quan trọng của nềnkinh tế tri thức
Năm là, kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoá.
Quá trình phát triển khoa học và công nghệ, phát triển kinh tế tri thứccùng với quá trình phát triển kinh tế thị trường, phát triển thương mại thếgiới và quá trình toàn cầu hoá là những quá trình đi liền với nhau, tác đọngqua lại và thúc đẩy nhau phát triển Sự sản sinh ra, truyền bá, sử dụng tri thứckhông thể chỉ nằm trong biên giới quốc gia kinh tế tri thức ra đời trong điềukiện nền kinh tế thế giới toàn cầu hoá; bất cứ ngành sản xuất, dịch vụ nàocũng đều dựa vào nguồn cung ứng từ nhiều nước và được tiêu thụ trên toànthế giới Người ta thường gọi nền kinh tế tri thức là nền kinh tế toàn cầu hoánối mạng, hay là nền kinh tế toàn cầu dựa vào tri thức
Sáu là, kinh tế tri thức là nền kinh tế phát triển bền vững.
Trong kinh tế tri thức, các công nghệ mới được sử dụng phổ biến, nhất
là các công nghệ sạch, tiêu hao ít nguyên liệu, năng lượng, lại công nghệ môitrường để bảo vệ, cải thiện môi trường, cho nên kinh tế tri thức ít gây hại chomôi trường, bảo vệ được thiên nhiên Nhờ trình độ dân trí cao, nhờ sử dụngmột cách phổ biến các tri thức mới trong mọi hoạt động, từ qui hoạch, chiếnlược, kế hoạch đến các hoạt động sản xuất kinh doanh, tổ chức quản lý, đờisống hàng ngày, mọi người luôn có ý thức gìn giữ, bảo vệ các giá trị củathiên nhiên, của truyền thống văn hoá, biết kết hợp hài hoà lợi ích trước mắt
và lợi ích lâu dài, bảo đảm được yêu cầu phát triển bền vững
2.4 Thực tiễn hành động về phát triển kinh tế tri thức ở Việt Nam 2.4.1 Những việc đã làm được
Đánh giá theo những đặc trưng của kinh tế tri thức, trong gần 20 nămđổi mới vừa qua, Việt nam đã đạt được những kết quả, thể hiện chủ yếu nhưsau:
- Thứ nhất tăng trương kinh tế cao liên tục trong nhiều năm, cơ cấu
Trang 13kinh tế chuyển dịch theo chiều hướng tiến bộ.
Mười năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2001
-2010 là giai đoạn đất nước ta thực sự đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hộinhập quốc tế, đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng Kinh tếtăng trưởng nhanh, đạt tốc độ bình quân 7,26%/năm Tổng sản phẩm trongnước (GDP) năm 2010 so với năm 2000 theo giá thực tế gấp 3,26 lần; thungân sách, kim ngạch xuất khẩu gấp 5 lần
Cơ cấu kinh tế ngành có sự chuyển dịch tương đối rõ nét theo hướngcông nghiệp hóa, hiện đại hóa; tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụtăng Cơ cấu lao động bước đầu có sự chuyển đổi tích cực gắn liền với quátrình chuyển dịch cơ cấu kinh tế Tỷ trọng các ngành nông, lâm, thủy sản -công nghiệp và xây dựng - dịch vụ năm 1991 là: 40,5% - 23,8% - 35,7%,năm 2009 là: 20,7% - 40,2% - 39,1% Trong tổng lao động xã hội, lao độngnông nghiệp năm 1991 chiếm 72%, năm 2009 còn 51,8%1
- Thứ hai: Xây dựng thể chế kinh tế thị trường tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của mọi thành phần kinh tế, đặc biệt khu vực kinh tế tư nhân
Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng
hệ thống pháp luật kinh tế thị trường, cải cách tổ chức và hoạt động bộ máynhà nước, tăng cường năng lực, tính năng động, tinh thần trách nhiệm củađội ngũ, công chức, chú trọng hỗ trợ các doanh nghiệp mới và tạo cuộc sốngtốt hơn cho người dân; cơ cấu lao động thay đổi với sự từng bước gia tăngcủa lực lượng lao đọng sử lý thông tin,làm dịch vụ, di chuyển sản phẩm làmvăn phòng
Đặc biệt, trong những năm gần đây, với sự ra đời của Luật Doanhnghiệp, khu vực kinh tế tư nhân đã có bước phát triển mạnh Trung bìnhhàng năm có khoảng 20 000 doanh nghiệp dân doanh thành lập mới, với sốvốn đăng ký đầu tư hơn 40.000 tỷ đồng và giải quyết việc làm cho hơn 1triệu lao động các doang nghiệp dân doanh đã tham gia vào hầu hết cácngành, các lĩnh vực của nền kinh tế, với tổ chức sản xuất kinh doanh linh1
Trang 14hoạt, nỗ lực cải tiến công nghệ, tăng năng suất lao động, thâm nhập thịtrường Tình hình đó càng đòi hỏi phát triển thị trường hàng hoá, thị trườngvốn, thị trường sức lao động, thị trường bất động sản, thị trường khoa học -công nghệ góp phần làm tăng qui mô thị trường hoá nền kinh tế nước ta.
- Thứ ba, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế
Các quan hệ kinh tế song phương, đa phương của Việt nam khôngngừng được mở rộng thông qua việc ký kết và tham gia vào các hiệp định vàdiễn đàn như: ký hiệp định khung với liên minh Châu Âu EU(1992); thamgia Khu vực Thương mại Tự do ASEAN (1996); tham gia Diễn đàn Hợp tácKinh tế Châu Á - Thái Bình Dương APEC (1998); ký hiệp định thương mạiViệt Nam - Hoa Kỳ (2000) và chính thức gia nhập WTO (2007)
Kết quả là cho đến nay, lần đầu tiên thiết lập được mối quan hệ bìnhthường với tất cả các nước lớn, các nhóm nước và trung tâm kinh tế, tàichính lớn trên thế giới Điều này đã góp phần đnág kể cho phát triển kinh tếnhư: tiếp cận một khối lượng lớn vốn FDI, ODA; tiếp nhận chuyển giao côngnghệ, tăng năng suất lao động, tăng năng suất lao động; có nguòn vốn để xoáđói giảm nghèo; mở rộng thị trường tiêu thụ, tăng kim ngạch xuất khẩu, tăng
vị thế của nước ta trên trường quốc tế Nước ta đang từng bước phát triểnmột mắt khâu trong mạng lưới sản xuất - kinh doanh toàn cầu, trong đó cónhững hoạt động liên quan đến việc sản sinh và truyền bá kinh tế tri thức
- Thứ tư, từng bước hình thành kết cấu hạ tầng kinh tế then chốt cho phát triển kinh tế tri thức.
Mạng thông tin là một trong những yếu tố quan trọng nhất của việc xãhôi và kinh tế tri thức Trong những năm qua nhờ những nỗ lực trong thựchiện Chương trình quốc gia về công nghệ thông tin từ năm 1995 và chiếnlược đẩy mạnh phát triển lĩnh vực viễn thông, mang thong tin ở nước ta dãđược mở rộng và phát triển nhanh chóng, viễn thông được đánh giá là mộttrong những lĩnh vực có tốc độ phát triển nhanh nhất của nền kinh tế nước tahiệ nay Hiện nay mạng lưới thông tin của nền kinh tế đã được tự động hoáhoàn toàn, với 100% các hệ thống chuyển mạch số và chuyền dẫn số trảirộng trên toàn quốc và kết nói với quốc tế
Một loạt các dịch vụ bưu chính, viễn thông và Internet đã được tạo lập
Trang 15và mở rộng để đáp ứng nhu cầu của khách hàng, phục vụ hoạt động sản xuấtkinh doanh, quản lý nhà nước, gáo dục, y tế, nghiên cứu, giải trí, giao tiếp
2.4.2 Những việc có thể làm được nhưng chưa làm được
Cũng đánh giá theo những đặc trưng chủ yếu của kinh tế tri thức, trongnhững năm qua, có những việc chúng ta có thể làm được và làm tốt hơn,nhưng chưa làm được thể hiện chủ yếu là:
Thứ nhất: Chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp và chưa được cải thiện nhiều
Chất lượng tăng trương kinh tế chưa cao thể hiện ở hiệu quả của nềnkinh tế còn thấp, năng lực cạnh tranh của các ngành kinh tế còn yếu, chuyểndịch cơ cấu kinh tế còn chậm và chênh lệch về thu nhập giữa các bộ phậndân cư có xu hướng gia tăng, môi trường đầu tư chưa ổn định, năng lực quảnlým điều hành của bộ máy hành chính còn nhiều yếu kém làm tăng đáng kểchi phí giao dịch và chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh Việc tiếp tục theođuổi phương thức tăng trưởng chủ yếu dựa vào lợi thế so sánh tĩnh, tăng vốnđầu tư trong nhiều năm qua khó có thể bảo đảm được mức tăng trưởng caotrong dài hạn, nhất là trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế
- Thứ hai: nền kinh tế và thể chế thị trường còn non yếu, thiếu sót và méo mó.
Hệ thống kinh tế thị trường ở nước ta, nhiều mặt, nhiều lĩnh vực chưatheo kịp diễn biến thực tế của hoạt động kinh tế, chưa đầy đủ, chưa đồng bộ,mâu thuẫn, chồng chéo, không minh bạch và nhất là năng lực thực thi phápluật yếu Cải cách hành chính diễn ra chậm chạp, khiến cho năng lực hỗ trợcủa nền hành chính cho phát triển kinh tế bị hạn chế nghiêm trọng, thậm chítrong nhiều trường hợp các thủ tục hành chính rườm rà, lạc hậu còn gây cảntrở cho công cuộc phát triển Một số thị trường quan trọng chỉ mới được hìnhthành những đã có nhiều méo mó như thị trường khoa học - công nghệ
Thứ ba: Quá trình chuẩn bị và hội nhập kinh tế quốc tế chưa mạnh và chưa đồng đều
Nhận thức của các cấp, các ngành về toàn cầu hoá và hội nhập kinh tếquốc tế còn chậm, thiếu thống nhất và quyết tâm cao Việc chỉ đạo thực hiệncòn chệch choạc, thiếu nhất quán, chưa có kế hoạch tổng thể để điều hành;