Có thể tham khảo một số định nghĩa về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới:Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga quy định về chứng cứ như sau: Chứng cứ tron
Trang 2VŨ VĂN ĐỔNG
CHÚNG CỨ VÀ VẤN DỂ CHÚNG MINH TRONG Bộ LUẬT TÔ TỤNG DÂN s ự■ ■ ■ ■
Chuyên ngành : Luật dân sự
Trang 3LỜ I C A M Đ O A N
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các s ố liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công b ố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ LUẬN VÃN
Vũ Văn Đồng
Trang 4chứng minh trong tố tụng dân sự Việt Nam
Chương 2: CÁC QUY ĐỊNH VỂ CHÚNG c ứ VÀ CHÚNG MINH 2 9
TRONG BỘ LUẬT T ố TỤNG DÂN s ự
2.1 Quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc chứng minh 29
2.3 Trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc cung 43
cấp chứng cứ
2.4 Trách nhiệm của các người tham gia tố tụng khác 44
Chương 3: THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN 47
THIỆN CHÊ ĐỊNH CHỨNG c ứ VÀ CHỨNG MINH TRONG BỘ LUẬT T ố TỤNG DÂN s ự
3.1 Thực trạng pháp luật về chứng cứ và chứng minh trong tố 47
Trang 5M Ở Đ Ầ U
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Năm 1989 ủ y ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự; tiếp đến năm 1994 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế; năm 1996 ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án lao động Ba Pháp lệnh trên đã phần nào đáp ứng đòi hỏi bức thiết trong tố tụng phi hình sự và là cơ sở cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình Tuy vậy, các quy phạm pháp luật của ba pháp lệnh trên dần đã lộ rõ hạn chế, mâu thuẫn Đặc biệt, trong vấn đề chứng cứ và chứng minh không có quy phạm nào chuẩn hóa khái niệm chứng cứ và chứng minh, và không quy định đầy đủ về chế định này, điều đó gây khó khăn trong sử dụng, đánh giá chứng
cứ làm ảnh hưởng không nhỏ trong việc giải quyết vụ án
Thực tiễn đặt ra cần phải có một Bộ luật Tố tụng dân sự hoàn thiện hơn, ngày 15 tháng 6 năm 2004 Quốc hội đã ban hành Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam Bộ luật có phạm vi điều chỉnh rất rộng, bao gồm nhiều quan hệ pháp luật tố tụng thuộc nhiều lĩnh vực như dân sự, hôn nhân, kinh tế, lao động
và thi hành án
Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 đến nay vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau cần phải sáng tỏ như:
Vê lý lu ậ n : Đã có nhiều cách hiểu khác nhau thậm chí trái ngược nhau
về chứng cứ và chứng minh Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định tới 20 điều luật, từ Điều 79 đến Điều 98
V ề thực tiễn : Trong công tác xét xử ở mỗi Tòa án, Viện kiểm sát,
luật sư có cách vận dụng khác nhau, đánh giá về nguồn và xác định chứng
Trang 6cứ và vấn đề chứng minh còn khác nhau Điều đó đã dẫn đến cùng một vụ
án, cùng một loại chứng cứ, có chung cơ sở chứng minh mà mỗi Tòa án lại
xử một kiểu, mỗi Viện kiểm sát, Luật sư có quan điểm, nhìn nhận trái ngược nhau
Từ thực trạng trên, với mong muốn nghiên cứu để làm sáng tỏ một cách đầy đủ cả về lý luận và thực tiễn về chứng minh và chứng cứ trong các vụ
việc dân sự, tác giả chọn đề tài: "Chứng cứ và vân đề chứng minh trong Bộ
luật T ố tụng dân sự ” làm luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ của mình.
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trước khi có Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, mọi thủ tục tố tụng phi hình sự đều thực hiện theo ba Pháp lệnh trên Bởi vậy, một số bài viết, luận văn được nghiên cứu dựa theo các Pháp lệnh đó Từ khi Bộ luật Tố tụng dân sự
có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2005 vấn đề chứng minh và chứng cứ
mới chỉ có một số bài viết như "C hế định chứng cứ và chứng minh trong Bộ
luật T ố tụng dân sự" tác giả Thạc sĩ Nguyễn Công Bình, Tạp chí Nhà nước và
Pháp luật số 02 năm 2004; "Một vài suy nghĩ về chứng cứ trong Bộ luật T ố
tụng dân sự" tác giả Tưởng Duy Lượng, Tạp chí Tòa án số 20, 21/2004 Những
bài viết trên mới chỉ giải quyết một vài khía cạnh về chứng minh và chứng cứ, chứ chưa nghiên cứu một cách toàn diện hệ thống
3 Phạm vi nghiên cứu đề tài
Với phạm vi của một luận văn thạc sĩ luật học tác giả chưa có đủ điều kiện nghiên cứu hết các vấn đề chứng cứ và chứng minh trong tất cả các vụ việc dân sự theo phạm vi điều chỉnh của Bộ luật Tố tụng dân sự, vì vậy tác giả chỉ nghiên cứu chuyên sâu về chứng cứ và chứng minh trong phạm vi các vụ
án dân sự truyền thống (dân sự và hôn nhân gia đình), còn trong các lĩnh vực khác tác giả hy vọng sẽ có cơ hội thực hiện đầy đủ nội dung của chế định này trong các công trình nghiên cứu sau này
Trang 74 Phương pháp nghiên cứu đê tài
Luận văn được nghiên cứu theo phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và một số phương pháp cụ thể như: Lịch sử phân tích, so sánh, chứng minh, tổng hợp và phương pháp xã hội, phương pháp khảo sát thăm dò v.v
5 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu một cách có hệ thống toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn của chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự Từ mục đích này, nhiệm vụ của luận văn là:
- Nghiên cứu đưa ra những vấn đề lý luận cơ bản nhất, giúp cho việc nhận thức một cách rõ nét về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự
- Từ việc nghiên cứu những hạn chế, bất cập, vướng mắc trong thực tiễn đề xuất những kiến nghị trong việc hoàn thiện các quy định về chứng cứ
6 Những kết quả nghiên cứu mới của luận văn
- Xây dựng khái niệm khoa học về chứng cứ và khái niệm chứng minh trong tố tụng dân sự
- Chỉ ra những đặc trưng của chứng cứ trong tố tụng dân sự
- Chỉ ra những bất cập của luật thực định và những vướng mắc về chứng cứ và chứng minh trong thực tiễn cần phải giải quyết và nêu những kiến nghị cho việc hoàn thiện pháp luật về vấn đề này
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 10 tiết
Trang 8về hoạt động thực tiễn.
Cơ sở về lý luận: Quan điểm vật chất sinh ra không bao giờ mất đi, mà
nó chỉ chuyển hóa từ dạng này sang dạng khác và mọi sự vật, hiện tượng có mối liên hệ phổ biến Từ đó, các tài liệu, sự kiện, hiện vật được coi là chứng
cứ cũng là một dạng vật chất, nó phản ánh vào đầu óc con người và lưu lại trong đầu óc, trí nhớ
Do vậy, nếu đương sự muốn chứng minh quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại, phải cung cấp cho Tòa án và các cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền những chứng cứ mà Bộ luật Tố tụng dân sự coi đó là một trong các nguồn của chứng cứ Để làm rõ sự thật khách quan khi thụ lý vụ việc dân sự, Tòa án phải làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến vụ kiện như:
Trang 9Có thể tham khảo một số định nghĩa về chứng cứ trong Bộ luật Tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới:
Bộ luật Tố tụng dân sự Liên bang Nga quy định về chứng cứ như sau: Chứng cứ trong vụ án dân sự là những gì được thu thập theo trình tự, thủ tục
do pháp luật quy định mà Tòa án căn cứ vào đó để xác định có hay không có các tình tiết làm cơ sở cho những yêu cầu hay sự phản đối yêu cầu của các bên cũng như những tình tiết khác có ý nghĩa để giải quyết đúng đắn vụ án
Chứng cứ có thể thu thập được từ lời giải thích của các bên, của người
có quyền và nghĩa vụ liên quan, lời khai của người làm chứng, thư chứng và vật chứng, ghi âm và ghi hình, kết luận của người giám định
Bộ luật Tố tụng dân sự Nhật Bản định nghĩa: "Chứng cứ là một tư liệu thông qua đó một tình tiết được Tòa án công nhận và là một tư liệu, cơ sở thông qua đó Tòa án được thuyết phục là một tình tiết nhất định tồn tại hay không"
Ở Việt Nam, khái niệm chứng cứ được xây dựng dựa trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những quan điểm khoa học về chứng cứ trong pháp luật tố tụng dân sự ở các nước Xuất phát từ thực tế khách quan của chứng cứ không
lệ thuộc vào ý thức con người; đánh giá chứng cứ trong mối liên hệ biện chứng, mỗi chứng cứ đều có nguồn gốc dẫn đến sự hình thành nên nó, sự tồn tại của chứng cứ luôn liên quan đến nhau Từ đó Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam định nghĩa về chứng cứ như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cá nhân, cơ quan, tổ chức khác giao nộp cho Tòa án
Trang 10hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ để xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự (Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự).
Có thể hiểu chung: chứng cứ là những gì có thật được thu thập theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự dùng để làm căn cứ giải quyết đúng đắn vụ án
Xem xét chứng cứ xuất phát từ thực tế khách quan của chính bản thân
nó chứ không lệ thuộc vào ý thức của con người
Trong mối liên hệ biện chứng, nhìn nhận và xem xét chứng cứ trong sự
vận động, phát triển và toàn diện Trong thế giói khách quan, mỗi chứng cứ đều
có nguồn gốc hình thành ra nó Sự tồn tại của chứng cứ không ở dạng tĩnh lặng, bất động, riêng lẻ mà chúng có sự liên quan lẫn nhau
Theo quan điểm của tác giả, tại Điều 81 Bộ luật Tố tụng dân sự định nghĩa về chứng cứ đã đặt cơ sở quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện lý luận chứng cứ Tuy vậy, cụm từ "chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật" không phản ánh đúng bản chất của chứng cứ Bản chất chứng cứ là những
sự kiện, tình tiết liên quan đến vụ việc dân sự, nó tồn tại trong thế giới vật chất có thể dưới dạng các dấu vết phi vật chất, liên quan đến các tình tiết của vụ án phản ánh vào bộ não con người và từ đó phản ánh lại Ví dụ, lời khai của đương sự, người làm chứng sau khi biết được, hay chứng kiến được ghi lại bằng văn bản và việc ghi lại lời khai của đương sự, người làm chứng phải phản ánh đúng sự thật khách quan và phải được thực hiện theo pháp luật thủ tụng tố tụng luật dân sự thì mới được coi là chứng cứ
Chứng cứ tồn tại khách quan dưới nhiều hình thức khác nhau, con người
có thể phát hiện, cất giữ, thu thập, bảo quản, bảo vệ chứ không tự tạo ra nó
Trang 11Bởi vậy, cụm từ "những gì có thật" nên thay bằng cụm từ "những gì phản ánh sự thật khách quan" khoa học và hợp lý hơn Từ đó có thể hiểu chứng cứ như sau:
Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì phản ánh sự thật khách quan liên quan đến vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết, được đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức thu thập và giao nộp cho Tòa án hoặc do Tòa án thu thập '*■ theo trình tự, thủ tục mà Bộ luật này quy định mà Tòa án dùng làm căn cứ đ ể xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp hay không, cũng như những tình tiết khác cần thiết cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc dán sự.
1.1.2 Đặc điểm của chứng cứ
a) Tính khách quan của chứng cứ
Chứng cứ trước hết là những gì có thật tồn tại khách quan không phụ thuộc vào ý thức chủ quan của con người Đương sự và các cơ quan tiến hành
tố tụng không được tạo ra chứng cứ, nếu vậy tính khách quan sẽ không còn;
do đó không thể coi là chứng cứ Một sự kiện, tình tiết tồn tại khách quan được khai thác và sử dụng nó là chứng cứ do con người phát hiện tìm kiếm và thu thập chứng cứ, con người nghiên cứu và đánh giá để sử dụng nó
b) Tính liên quan của chứng cứ
Tính liên quan: Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998:
"Tính liên quan là sự liên hệ, dính dáng nhau ở một hay một số tính chất"
Tính liên quan trong vụ việc dân sự được hiểu là các tình tiết, sự kiện có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp tới vụ việc dân sự mà Tòa án đang giải quyết
Chứng cứ là những sự kiện, tình tiết, tài liệu tổn tại khách quan và có liên quan đến vụ việc mà Tòa án cần giải quyết Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam quy định cụ thể các loại nguồn của chứng cứ, tuy nhiên Tòa án phải chọn lọc và đánh giá những gì có liên quan đến vụ việc mà thôi Tính liên quan của chứng cứ có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp Mối quan hệ trực tiếp là mối quan
Trang 12hệ dựa vào đó có thể xác định được ngay những tình tiết cần chứng minh Mối liên hệ gián tiếp là qua khâu trung gian mới tìm được tình tiết, sự kiện có gắn với vụ án Tuy nhiên, cho dù là trực tiếp hay gián tiếp thì cũng phải có mối quan hệ nội tại, có mối quan hệ nhân quả Từ việc đánh giá rõ tình tiết liên quan, Tòa án có thể xác định đúng chứng cứ cần sử dụng để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự mà không để xảy ra trường hợp thừa sự kiện nhưng không chuẩn về chứng cứ, hoặc không đầy đủ chứng cứ.
c) Tính hợp pháp của chứng cứ
Các tình tiết, sự kiện được coi là chứng cứ phải được thu thập, bảo quản, xem xét, đánh giá, nghiên cứu theo thủ tục luật định, có như vậy mới bảo đảm giá trị chứng minh Trước hết, chứng cứ phải được pháp luật thừa nhận, các tình tiết, sự kiện chỉ được coi là chứng cứ khi mà pháp luật tố tụng dân sự quy định nó được rút ra từ một trong các loại nguồn của chứng cứ Vật chứng phải luôn là vật gốc, có tính đặc định, liên quan đến vụ việc dân sự thì mới có giá trị pháp lý Vì vậy, Tòa án không chỉ thu thập đúng trình tự mà phải bảo quản, giữ gìn, đánh giá chứng cứ một cách đầy đủ, toàn diện để đảm bảo đúng đắn tính hợp pháp của chứng cứ
- Phải được giao nộp trong một thời hạn hợp pháp (Bộ luật Tố tụng dân
sự đang để trống quy định này)
- Phải được công bố công khai theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự
- Quá trình thu thập chứng cứ của các chủ thể không được vi phạm pháp luật Nếu vi phạm pháp luật thì nó không có giá trị chứng minh, không được sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án
Trang 131.1.3 Phân loại chứng cứ
Trên thực tế, chứng cứ thường được phân thành các loại khác nhau
Có nhiều cách phân loại, song phổ biến là dựa vào ba căn cứ sau:
- Dựa vào nguồn thu nhận chứng cứ: Chứng cứ được phân ra chứng cứ theo người và chứng cứ theo vật Chứng cứ theo người là chứng cứ được lấy từ lời khai của đương sự, người làm chứng, từ kết luận của giám định viên
Chứng cứ theo vật được Tòa án thu thập từ những vật khác nhau và giấy tờ, tài liệu có liên quan
- Căn cứ vào hình thức tạo thành chứng cứ mà chia ra làm chứng cứ gốc và chứng cứ thuật lại: Chứng cứ gốc là những sự kiện thực tế đầu tiên về
sự kiện cần chứng minh Thông tin đó có liên quan trực tiếp đến sự kiện cần chứng minh
Chứng cứ thuật lại là những chứng cứ được sao chép lại từ những chứng
cứ khác Giữa chứng cứ thuật lại và chứng cứ gốc là một khâu trung gian
- Căn cứ vào mối liên hệ giữa chứng cứ với những sự kiện cần chứng minh: Chứng cứ được chia ra thành chứng cứ trực tiếp và chứng cứ gián tiếp
Chứng cứ trực tiếp là những sự kiện, tình tiết, tin tức mà qua đó Tòa án
có thể xác định ngay được mức độ đúng, sai các yêu cầu của đương sự Ví dụ, bản di chúc có chữ ký của người chết, hoặc hợp đồng mua bán tài sản có chữ
ký của các bên
Chứng cứ gián tiếp là chứng cứ có vai trò, ý nghĩa quan trọng trong mối quan hệ đối với việc sử dụng chứng cứ trong hoạt động chứng minh Chứng cứ gián tiếp khi được so sánh sử dụng trong mối liên hệ với các chứng
cứ khác tạo cơ sở nhận định đầy đủ, toàn diện các tình tiết, sự kiện giúp Tòa
án có kết luận giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự
Trang 14/ 1.1.4 Nguồn của chứng cứ
Nguồn chứng cứ trong tố tụng dân sự là nguồn được thu thập, cung cấp theo trình tự Bộ luật Tố tụng dân sự và được liệt kê tại Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự Bởi vậy, nếu không có nguồn chứng cứ sẽ không có chứng cứ chứng minh để giải quyết vụ việc dân sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự thì nguồn của chứng cứ bao gồm: "Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được; các vật chứng; lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng; kết luận giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; tập quán; kết quả định giá tài sản; các nguồn khác
mà pháp luật có quy định" (Điều 82 Bộ luật Tố tụng dân sự) Có thể hiểu
nguồn của chứng cứ là nơi chứa đựng chứng cứ Nguồn tồn tại ở hai dạng chủ
yếu là con người, vật và tài liệu
Tòa án chỉ có thể thu thập chứng cứ qua các nguồn chứng cứ Bất kỳ loại chứng cứ nào cũng phải nằm trong một loại nguồn chứng cứ nhất định; nhưng không có nghĩa là khi tìm đến một nguồn chứng cứ nào đó thì nhất định trong đó sẽ chứa đựng chứng cứ, vì vậy sẽ phạm sai lầm trong đánh giá, sử dụng
Ví dụ, vật chứng do đương sự cung cấp cho Tòa án là nguồn nhưng là vật chứng làm giả, gian dối thì không thể coi là vật chứng được; hay kết luận giám định là nguồn chứng cứ nhưng kết luận giám định sai thì không thể có chứng cứ được
Theo Bộ luật Tố tụng dân sự Việt Nam, có các loại nguồn cụ thể như sau:
- Các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được
Các tài liệu đó phải là bản chính hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận Bản chính
có thể là bản gốc hoặc bản được dùng làm cơ sở lập ra các bản sao Các tài liệu nghe được, nhìn được phải xuất trình kèm theo văn bản xác định xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự liên quan tới cuộc thu âm, thu hình đó Các tài liệu này có thể là băng ghi âm, đĩa ghi hình, phim ảnh Nếu đương sự
Trang 15không xuất trình được các văn bản nêu trên thì tài liệu nghe, đọc, nhìn được
mà đương sự giao nộp không thể được coi là chứng cứ
- Các vật chứng
Vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc dân sự Do vậy, vật chứng phải luôn có tính đặc định liên quan đến vụ việc dân sự thì mới cógiá trị pháp lý Vì vậy, Tòa án không chỉ thu thập vật chứng theo trình tự luậtđịnh mà phải bảo quản, giữ gìn để bảo đảm giá trị đặc định của vật chứng Nếu đương sự cung cấp vật chứng, Thẩm phán phải lập biên bản miêu tả chi tiết hình thức cũng như đặc tính lý hóa của sự vật, đặc biệt dấu vết thể hiện trên vật chứng đó Đối với vật không thể di chuyển được thì phải xem xét tại chỗ; vật mau hỏng phải xem xét kịp thời và phản ánh đầy đủ trong quá trình xem xét như ghi biên bản, chụp hình, ghi hình để lưu
- Lời khai của đương sự
Đương sự là người có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự, họ tham gia trực tiếp vào quan hệ pháp luật đang có tranh chấp được giải quyết tại Tòa án Lời khai của đương sự dựa trên trí nhớ về sự kiện, tình tiết nên thường mang tính chủ quan Tâm lý trong lòi khai của đương sự thường thiên về bảo vệ cái quyền lọi cá nhân, nên khi xem xét yếu tố này Tòa án thận trọng khi đánh giá
Lời khai của đương sự có thể bằng văn bản hay ghi âm, ghi hình theo đúng trình tự và ký tên của mình Lưu ý tuổi của đương sự khi lấy lời khai
- Lời khai của người làm chứng
Người làm chứng là người biết rõ những thông tin liên quan đến vụ kiện nhưng lại không có quyền lợi trong việc việc đó, vì vậy lời khai của người làm chứng thường thể hiện yếu tố khách quan hơn Có thể do một số yếu tố nào đó như bị dụ dỗ, bị mua chuộc, bị đe dọa, hành hung mà đưa ra những lời khai sai lệch, thiếu chính xác Lời khai của người làm chứng theo quy định phải được ghi bằng văn bản hoặc ghi âm, ghi hình, nhưng phải ký tên xác nhận
Trang 16- K ết luật giám định
Người giám định: Là người có kiến thức chuyên môn cần thiết trong lĩnh vực khoa học, nghệ thuật, văn học, kỹ thuật hoặc nghề thủ công làm việc tại cơ quan giám định tư pháp
Kết luận giám định: Là một kết luận có cơ sở khoa học được đưa ra sau khi đã nghiên cứu những vấn đề theo quyết định trưng cầu giám định của Tòa án mà một hoặc các bên đương sự có yêu cầu Kết luận giám định phải được thực hiện đầy đủ quy định mà Pháp lệnh Giám định tư pháp quy định (Điều 35 Pháp lệnh Giám định tư pháp)
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, nếu cần kết luận của cơ quan chuyên môn để làm sáng tỏ một tình tiết, sự kiện nào đó Theo yêu cầu của một bên đương sự hoặc theo thỏa thuận của các bên đương sự, Thẩm phán
ra quyết định trưng cầu giám định Kết luận giám định chính xác có tầm quan trọng rất lớn Ví dụ, vụ kiện tranh chấp về thừa kế Bản di chúc bị tố cáo là giả mạo, nếu xác định của cơ quan giám định tư pháp là giả hay không, nó quyết định toàn bộ vụ án Bởi vậy, các kết luận giám định có thể được giám định lại, giám định bổ sung ở các cơ quan có chức năng giám định khác
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ
Kết quả xem xét thẩm định tại chỗ, nếu việc thẩm định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định và phải có chữ ký của các thành viên tham gia thẩm định Cụ thể, Tòa án đến tận nơi có sự việc để làm việc cùng có đại diện của cơ quan sở tại có thẩm quyền Tòa án phải báo cho đương sự biết trước để họ chứng kiến việc xem xét, thẩm định
- Tập quán là nguồn của chứng cứ
Tập quán là thói quen đã thành nếp trong đời sống xã hội, trong sản xuất
và được công chúng thừa nhận Đối với một tập quán được coi là chứng cứ trong một vụ án cụ thể thì Thẩm phán phải yêu cầu đương sự trình bày rõ
Trang 17nguồn gốc của tập quán đó và chứng minh tập quán đó bằng cách ghi nhận nó bằng văn bản thể hiện việc cả cộng đồng dân cư nơi có tập quán đó thừa nhận, như xác nhận vào văn bản cả cộng đồng dân cư và được chứng thực cũng như xác nhận của ủ y ban nhân dân cấp xã nơi có tập quán đó được thừa nhận
ữỳ Thực chất, phong tục, tập quán chỉ là cơ sở để đánh giá chứng cứ Bởi
lẽ, nó không có giới hạn cụ thể, rạch ròi, ở một mức độ nào đó nó có tính ước lệ
và suy đoán Ví dụ, ở một cộng đồng dân cư, tính cục bộ tại địa phương đó dẫn đến vì giúp cho một cá nhân nào đó mà cộng đổng dân cư có thể ký và xác thực vào văn bản mà việc này vẫn không trái với đạo đức xã hội Tóm lại, về cơ bản, tập quán không được trái với các nguyên tắc của pháp luật và đạo đức xã hội
và đương nhiên tập quán đó chưa được khái quát để cụ thể hóa trong luật
- Kết quả định giá tài sản
Định giá có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án Định giá có thể do đương sự yêu cầu, hay tự Tòa án nhận thấy cần định giá
Kết quả định giá là nguồn của chứng cứ nên việc định giá do Hội đồng định giá được lập thành văn bản và thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật
Tố tụng dân sự
Khi định giá tài sản, Hội đồng định giá tiến hành định giá riêng từng tài sản Để xác định đúng giá trị tài sản của vụ việc dân sự phải căn cứ vào mức phố biến giá cả thị trường địa phương tại thời điểm định giá mà có vật, tài sản cần định giá
1.2 KHÁI NIỆM CHÚNG MINH TRONG T ố TỤNG DÂN s ự
1.2.1 Thê nào là chứng minh trong tô tụng dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 178:
"Chứng minh là dùng lý lẽ, suy luận, bằng cứ để chỉ rõ điều gì đó đúng hay không đúng"
Trang 18Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẩng, 2003, tr 192 ghi: "Chứng minh là làm cho thấy rõ là có thật, là đúng bằng sự việc hoặc bằng lý lẽ".
Mỗi vụ việc dân sự phát sinh tại Tòa án thường chứa đựng những mâu thuẫn nhất định giữa các bên đương sự nên rất phức tạp Để giải quyết được vụ việc dân sự thì mọi vấn đề phải được làm rõ trước khi Tòa án quyết định giải quyết vụ việc dân sự
Chứng minh là hoạt động chi phối kết quả giải quyết vụ việc dân sự Bản chất của hoạt động chứng minh của các chủ thể tố tụng không chỉ thể hiện ở chỗ xác định các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà còn thể hiện ở chỗ phải làm cho mọi người thấy rõ là có thật, là đúng với thực tế Do đó, các phương thức được các chủ thể chứng minh sử dụng rất đa dạng Nhưng để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ của chứng minh, các chủ thể chứng minh bao giờ cũng phải chỉ
ra được tất cả các căn cứ pháp lý và thực tiễn liên quan đến vụ việc dân sự
Chứng minh trong tố tụng dân sự có ý nghĩa xác định rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự, đảm bảo việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Chứng minh là biện pháp duy nhất để tìm ra sự thật khách quan của vụ việc dân sự
Thông qua hoạt động chứng minh, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và các chủ thể khác thấy rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự được giải quyết Đối với các đương sự, chứng minh là vấn đề rất quan trọng để các đương sự bảo
vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ, trên cơ sở đó thuyết phục Tòa bảo vệ Trước Tòa án, nếu đương sự không chứng minh được thì quyền và lợi ích hợp pháp của
họ có thể sẽ không được Tòa án bảo vệ Trên thực tế, Tòa án có thể sai lầm trong việc xác định, đánh giá chứng cứ, Tòa không làm sáng tỏ được các tình tiết của
vụ việc dân sự Điều đó dẫn đến việc giải quyết không đúng với sự thật, đương sự không được bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp Chứng minh không chỉ có ý nghĩa đối với việc giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự của Tòa án, mà còn có ý nghĩa bảo đảm cho đương sự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Trang 19Thực chất của hoạt động chứng minh bao gồm việc cung cấp, thu thập chứng cứ cùng các hoạt động nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ của đương sự và Tòa án nhằm có cơ sở giải quyết bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và của Nhà nước Từ đó có định nghĩa về chứng minh như sau:
Chứng minh trong tố tụng dân sự là hoạt động tố tụng của các chủ thể tô' tụng trong việc cung cấp, thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ đ ể xác định sự thật khách quan của vụ việc dân sự.
1.2.2 Quá trình chứng minh
Chứng minh được diễn ra suốt trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, như hoạt động cung cấp, thu thập, xác định, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại Tòa án Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể phải thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy đinh Kết quả giải quyết vụ việc dân sự phụ thuộc phần lớn vào việc chứng minh; vì vậy, trong quá trình này đòi hỏi phải thận trọng, tỷ mỷ và có đủ thời gian để đạt kết quả tốt nhất
Theo quy định tại Điều 165, 175 Bộ luật Tố tụng dân sự thì ngay khi khởi kiện vụ án, đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh bằng việc nguyên đơn gửi kèm theo đơn khởi kiện là các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu của mình; bị đơn, người có nghĩa vụ liên quan nhận được thông báo về việc thụ lý vụ án phải gửi cho Tòa án văn bản ghi ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện và chứng cứ kèm theo Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự, đương sự có quyền và nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho Tòa án (Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tại phiên tòa, các bên đương sự tham gia tranh luận để chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình, thời gian tranh luận của
họ không hạn chế (Điều 233 Bộ luật Tố tụng dân sự) Khi có kháng cáo, người kháng cáo phải gửi cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ bổ sung (nếu có) để chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ và hợp pháp (khoản 3 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Trang 20Chứng minh diễn ra trong suốt quá trình giải quyết vụ việc dân sự Hoạt động chứng minh bao gồm nhiều hoạt động khác nhau của các chủ thể
tố tụng Trong đó, hoạt động cung cấp, thu thập, nghiên cứu và đánh giá chứng cứ tại phiên tòa của các chủ thể là chủ yếu và mang tính quyết định:
- Cung cấp chúng cứ: Là nghĩa vụ chủ yếu do đương sự giao nộp cho Tòa án, đương sự muốn làm rõ được yêu cầu hay phản đối yêu cầu của họ là
có căn cứ hợp pháp thì trách nhiệm của họ là phải cung cấp, giao nộp chứng
cứ cho Tòa án để chứng minh
Việc cung cấp chứng cứ còn có thể do cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp
- Thu thập chứng cứ là trách nhiệm của các đương sự, một số trường hợp Tòa án thu thập Việc thu thập, cung cấp và giao nộp chứng cứ phải đúng hạn, nhanh chóng và kịp thời
- Nghiên cứu và đánh giá là giai đoạn cuối cùng của hoạt động chứng minh Nó là một quá trình lôgíc nhằm xác định giá trị chứng minh và sự phù hợp của các chứng cứ - sự phù hợp của chứng cứ ở đây là sự phù hợp giữa những tình tiết, sự kiện đã thu thập được với thực tế khách quan Thông qua nghiên cứu và đánh giá chứng cứ, Tòa án xác định đối tượng chứng minh và sắp xếp các sự kiện theo một trình tự nhất định Việc suy đoán chứng cứ có thể được sử dụng trong quá trình đánh giá chứng cứ, nhưng việc suy đoán này phải dựa trên các chứng cứ khác hoặc trên tổng thể các chứng cứ có trong hồ
sơ chứ không được theo nhận thức chủ quan của người đánh giá
Theo Điều Bộ luật Tố tụng dân sự, trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thập chứng cứ và họ có yêu cầu thì Thẩm phán có thể tiến hành một hoặc một số biện pháp thu thập chứng cứ Khi áp dụng các biện pháp thu thập chứng cứ, Thẩm phán phải ra quyết định bằng văn bản, trừ việc lấy lời khai của đương sự, người làm chứng theo quy định của Điều 95, Điều 96
Bộ luật Tố tụng dân sự Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện,
Trang 2117 TRƯỚNG ĐẠi H O ClÚ Àl ha nòi THƯ VI ỆN
1.2.3 Chủ thể của hoạt động chứng minh
Chứng minh làm rõ các sự kiện, tình tiết của vụ việc dân sự để giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Nhưng ở đây phải xác định ai thực hiện việc chứng minh? Ai là người đứng ra để thu thập, giao nộp, nghiên cứu đánh giá chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự?
Trong tố tụng dân sự, đương sự tham gia tố tụng là chủ thể trung tâm Tuy vậy, hoạt động chứng minh không chỉ đi tìm chứng cứ cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của đương sự mà còn phải làm rõ được tất cả các vấn đề liên quan đến vụ việc dân sự Tòa án có nhiệm vụ giải quyết Khi đưa ra yêu cầu, đương sự không chỉ phải đưa ra những tình tiết, sự kiện dựa vào đó mà họ yêu cầu, mà còn đưa ra cả những căn cứ pháp lý của các yêu cầu Khi quyết định giải quyết vụ việc dân sự, trong bản án, quyết định giải quyết vụ việc dân sự của mình Tòa án cũng phải chỉ rõ quyết định được dựa trên những căn cứ thực
tế và căn cứ pháp lý nào
Vấn đề xác định rõ chủ thể chứng minh, quyền và nghĩa vụ của họ như thế nào? Vì mỗi chủ thể tham gia tố tụng dân sự đều xuất phát từ những mục đích, nhiệm vụ khác nhau nên quyền và nghĩa vụ của họ cũng khác nhau Trong đó, xác định nghĩa vụ chứng minh thuộc về đương sự, người đại diện của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và Tòa án trong việc làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ án dân sự
Chủ th ể chứng minh trong tố tụng dân sự gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức khác và Tòa án Trong đó, đương sự có nghĩa vụ chủ
Trang 22yếu đ ể chứng minh cho yêu cầu hay phản đối yêu cầu của mình theo trình tự thủ tục quy định trong Bộ luật T ố tụng dân sự.
Theo quy định tại các điều 06, 58, 63 64, 74, 79, 117, 118, 165, 230 của Bộ luật Tố tụng dân sự, chủ thể của hoạt động chứng minh bao gồm đương sự và Tòa án cũng như cá nhân, cơ quan, tổ chức, người bảo vệ quyền lợi cho đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự, việc cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của mình thuộc về đương sự Đây là một trong những nguyên tắc xuất phát từ quyền tự định đoạt của đương sự đối với việc khởi kiện Đương sự có yêu cầu phải có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh yêu cầu đó là hợp pháp Ngược lại, nếu đương sự phản đối yêu cầu của người khác thì phải đưa ra chứng cứ để phản đối Nghĩa vụ chứng minh đặt ra cho cả hai bên đương sự, bên khỏi kiện, bị kiện và người có quyền và nghĩa vụ liên quan
Bộ luật Tố tụng dân sự đề cao vai trò, trách nhiệm chứng minh của đương sự Mỗi bên đương sự tham gia tố tụng đều phải chứng minh tất cả các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự mà trên cơ sở đó họ đưa ra yêu cầu hay phản đối yêu cầu cầu của người khác Trước hết, nguyên đơn phải chứng minh, phải đưa ra các chứng cứ để được Tòa án xem xét chấp thuận thụ lý vụ việc dân sự Sau đó bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan mới phải chứng minh bằng việc đưa ra chứng cứ phản đối lại yêu cầu của nguyên đơn (khoản 1, 2 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Ngoài các đương sự, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác cũng phải chứng minh (khoản 3 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tuy không có quyền và lợi ích gắn liền với vụ việc dân sự như đương sự, nhưng các cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện yêu cầu Tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của người khác nếu không thực hiện nghĩa vụ chứng minh thì sẽ dẫn đến sự bất lợi cho các đương sự
Trang 23Đối với người đại diện hợp pháp của đương sự, trong Bộ luật Tố tụng dân sự không có quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ chứng minh của họ Nhưng tại Điều 74 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định người đại diện của đương
sự thay mặt đương sự nên quyền và nghĩa vụ của họ được hình thành trên cơ
sở của đương sự Bởi vậy, người đại diện cho đương sự nào thì họ có nghĩa vụ chứng minh của đương sự đó Người đại diện theo pháp luật, người đại diện do Tòa án chỉ định thực hiện các nghĩa vụ chứng minh cho đương sự họ đại diện Người đại diện theo ủy quyền của đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ chứng minh của đương sự trong phạm vi ủy quyền
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự là luật sư, trợ giúp viên, chuyên viên trợ giúp pháp lý (theo Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006) tham gia tố tụng với mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự cũng có quyền và nghĩa vụ chứng minh (khoản 2 Điều 64 Bộ luật Tố tụng dân sự) Ngoài việc giúp đương sự về mặt pháp lý thì người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự chứng minh bằng việc đưa ra các chứng cứ, lý lẽ để chứng minh cho các yêu cầu hoặc phản đối các yêu cầu là có cơ sở
Tòa án là chủ thể có nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải chứng minh để làm rõ phán quyết của mình Ví dụ, đối với trường hợp đương
sự không thể thu thập được chứng cứ thì có thể yêu cầu Tòa án có thể tiến hành thu thập chứng cứ (khoản 2 Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự) Tòa án thực hiện việc đánh giá, công bố công khai chứng cứ trước khi sử dụng (Điều 96, Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự) Mặt khác, Tòa án phải chỉ rõ cơ sở của quyết định giải quyết vụ việc dân sự Như vậy, việc chứng minh của Tòa án mang tính hỗ trợ cho việc chứng minh của đương sự và phục vụ cho việc giải quyết
vụ việc đúng đắn của Tòa án
Việc thực hiện đúng và đầy đủ quyền và nghĩa vụ chứng minh của một chủ thể có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả giải quyết vụ việc dân sự Do vậy, Bộ
Trang 24luật Tố tụng dân sự quy định các chủ thể chứng minh phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện nghĩa vụ chứng minh của họ.
1.2.4 Đối tượng chứng minh trong tố tụng dân sự
Trong Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, trang 274 ghi: Đối tượng, được hiểu: 1- Cái người ta nhằm tới để tìm hiểu, hành động
Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Đà Nẵng, năm 2003, trang 328 ghi: Đối tượng là người, vật, hiện tượng mà con người nhằm vào trong suy nghĩ và hành động
Trong tố tụng dân sự, đối tượng chứng minh là một vấn đề hết sức quan trọng, do đó khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án phải xác định được tất
cả các tình tiết, sự kiện liên quan, những tình tiết này là đối tượng chứng minh trong việc việc dân sự
Đối tượng chứng minh là tổng hợp những tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự, dùng nó làm cơ sở giải quyết vụ kiện dân sự
Các quan hệ cần giải quyết trong các vụ việc dân sự rất đa dạng nên các tình tiết, sự kiện cần phải xác định trong các vụ việc dân sự cụ thể rất phong phú
Do vậy, trong quá trình giải quyết, Tòa án phải xác đinh những tình tiết, sự kiện nào cần phải chứng minh Để xác định được đối tượng chứng minh của mỗi vụ việc dân sự, Tòa án phải dựa vào yêu cầu hay phản đối của đương sự Đương sự dựa vào tình tiết, sự kiện nào để có yêu cầu, hay phản đối yêu cầu Nói tóm lại, đối tượng chứng minh bao gồm những tình tiết, sự kiện khẳng định của bên có yêu cầu và tình tiết, sự kiện có tính phủ định của bên phản lại yêu cầu liên quan đến vụ việc dân sự cần xác định trong việc giải quyết vụ việc dân sự
Để giải quyết đúng được các vụ việc dân sự theo quy định tại khoản
1, 2 Điều 79 Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự phải đưa ra các chứng cứ để chứng minh cho yêu cầu đó là hợp pháp Đương sự phản đối yêu cầu của người khác phải chứng minh sự phản đối đó là có cãn cứ và phải đưa ra
Trang 25chứng cứ Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho việc khởi kiện, yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Ngoài đối tượng chứng minh bao gồm các sự kiện phải chứng minh như đã phân tích ở trên, Bộ luật Tố tụng dân sự quy định tại Điều 80 vể những tình tiết, sự kiện có tính rõ ràng thì không phải chứng minh như: tình tiết sự kiện mọi người đều biết; những tình tiết, sự kiện đã được xác định trong bản án, quyết định của Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền; những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản được công chứng, chứng thực hợp pháp Đối với những tình tiết, sự kiện mọi người đều biết thì không phải chứng minh Tuy nhiên, tất cả các tình tiết, sự kiện không phải chứng minh phải được Tòa án thừa nhận Ví dụ, sự thừa nhận của đương sự phía bên này đối với yêu cầu của đương sự phía bên kia đã miễn nghĩa vụ chứng minh đối với bên có yêu cầu M ột trong vấn đề thuộc bản chất của chứng minh là làm cho đương sự bên kia thấy được sự tồn tại của tình tiết, sự kiện liên quan đến vụ việc dân sự để họ thừa nhận hay không thừa nhận
1.2.5 Các phương tiện chứng minh trong tố tụng dân sự
Theo Từ điển tiếng Việt, Nhà xuất bản Giáo dục, 1998, trang 610,
phương tiện được hiểu: "cái dùng đ ể tiến hành công việc gì" Mỗi vụ việc dân
sự đều có đối tượng chứng minh riêng Yiệc sử dụng phương tiện chứng minh nào trong vụ việc dân sự là tùy thuộc vào những tình tiết, sự kiện thuộc đối tượng chứng minh của vụ việc dân sự cần giải quyết Một số công cụ thường được thực hiện như lấy lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng, kết luận của cơ quan giám định gọi là phương tiện chứng minh
Phương tiện chứng minh là những công cụ do pháp luật quy định được
sử dụng đ ể làm rõ các tình tiết, sự kiện của vụ việc dân sự thông qua các chủ thể chứng minh.
Trang 26Để đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn, Bộ luật Tố tụng
dân sự quy định những phương tiện chứng minh cụ thể để các chủ thể sử dụng
làm công cụ chứng minh cho mình: Các tài liệu đọc được phải là bản chính,
các tài liệu nghe được, nhìn được phải có văn bản xác định xuất xứ; các vật
chứng, lời khai của đương sự; người làm chứng phải được ghi lại dưới một
hình thức nhất định theo luật định
Khi yêu cầu Tòa án giải quyết một vụ việc dân sự cụ thể, các đương sự
và Tòa án có thể dùng nhiều phương tiện chứng minh
Điều 85 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định rõ:
2 Trong trường hợp đương sự không thể tự mình thu thậpđược chứng cứ và có yêu cầu thì thẩm phán có thể tiến hành một
hoặc một số biện pháp sau đây để thu thập chứng cứ:
a) Lấy lời khai của đương sự, người làm chứng;
b) Trưng cầu giám định;
c) Quyết định định giá tài sản;
d) Xem xét, thẩm định tại chỗ;
đ) ủy thác thu thập chứng cứ;
e) Yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được hoặc hiện vật khác liên quan đến việc
giải quyết vụ việc dân sự
1.3 MỘT SỐ NÉT KHÁI QUÁT VỂ LỊCH s ử HÌNH THÀNH CÁC QUY ĐỊNH VỂ CHÚNG c ứ VÀ CHÚNG MINH TRONG T ố TỤNG DÂN s ự VIỆT NAM
1.3.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1989
Sau khi Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nước Việt Nam
dân chủ cộng hòa ra đời Thời kỳ chính quyền cách mạng còn non trẻ, nền tư
pháp của nước ta bắt đầu hình thành, việc ban hành các văn bản quy phạm
Trang 27pháp luật rất khó khăn, nhưng nhận thức được vai trò, ý nghĩa của pháp luật trong đời sống xã hội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 90/SL ngày 10-10-1945 cho phép áp dụng luật lệ của chế độ cũ trừ những điều khoản trái với nền độc lập và dân chủ của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Sau khi Hiến pháp đầu tiên (1946) của nước ta ra đời thì nguyên tắc cơ bản về quyền và nghĩa vụ của công dân đã được chính thức ghi nhận tại chương II Hiến pháp 1946
Ngày 5-12-1957, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 141/HCIP quy định
về tổ chức và phân công trong nội bộ Tòa án quy định: "Đối với những vụ án dân
sự, ông chánh án có nhiệm vụ điều tra lập hồ sơ vụ án " Như vậy, việc thu thập chứng cứ trong giai đoạn đầu tiên hình thành chế định điều tra vụ án dân sự được xác định, nghĩa vụ thu thập chứng cứ lập hồ sơ vụ án hoàn toàn thuộc về Tòa án
mà đại diện là người đứng đầu Tòa án Ngày 29-4-1960, Tòa án nhân dân tối cao ban hành Thông tư số 690/DS về đường lối xử lý cụ thể về việc ly hôn có quy định " bác đơn hay hoãn xử đều phải trên cơ sở điều tra thận trọng "
Khi Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ban hành Hiến pháp năm 1959, sau thời gian ngắn Quốc hội đã ban hành hai văn bản luật quan trọng, đó là Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 1960 và Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960
Tại Điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân ngày 14-7-1960 quy định: "Các Tòa án nhân dân là những cơ quan xét xử của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa Tòa án nhân dân xét xử những vụ án hình sự và dân sự trừng trị những kẻ phạm tội và giải quyết những việc tranh chấp về dân sự trong nhân dân" Trong Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân ngày 15-7-1960 có quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân; tại khoản g Điều 3 quy định: "Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố, hoặc tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng liên quan đến lợi ích nhà nước và của nhân dân Thông tư số 2386-NCPL ngày 19-12-1961 của Tòa án nhân dân tối cao quy định:
<
V
Trang 28Trong bản án sơ thẩm dân sự phải chỉ ra: nguyên đơn yêu cầu được giải quyết những quyền lợi cụ thể gì và nêu ra những bằng chứng gì làm căn cứ - ý kiến của bị đơn đối với lời thỉnh cầu của bên nguyên đơn: có chấp nhận hay là không lời thỉnh cầu ấy, hoặc chỉ chấp nhận đến mức độ nào thôi, dẫn những bằng chứng gì làm căn
- Tích chất của cuộc hôn nhân (tự do lấy nhau hay bị ép buộc); quá trình chung sống và đối xử với nhau ;
- Động cơ xin ly hôn của người kiện và động cơ đoàn tụ của người bị kiện;
- Tình hình con cái và tài sản;
- Gia đình, đoàn thể, thôn xóm, chính quyền địa phương đã giúp đỡ hòa giải như thế nào, ý kiến của đoàn thể và dư luận của nhân dân hiện nay
Nhận được đơn xin ly hôn, Tòa án tiến hành điều tra sơ bộ ngay để nắm tình hình và bắt tay vào việc hòa giải kịp thời Trong quá trình hòa giải sẽ bổ sung tài liệu điều tra
Đề án năm 1964 của Tòa án nhân dân tối cao về hướng tổ chức các Tòa
án địa phương quy định cụ thể về nghĩa vụ chứng minh của đương sự: "Trong các
Trang 29vụ kiện về dân sự, các bên đương sự có trách nhiệm chứng minh các yêu cầu của mình và đề xuất chứng cứ Nếu các chứng cứ do các bên đương sự xuất trình chưa đầy đủ thì Tòa án sẽ yêu cầu họ xuất trình các chứng cứ bổ sung "
Thông tư số 06/TĐ-TC ngày 25-2-1974 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn việc điều tra trong tố tụng dân sự có quy định rõ hơn:
Các đương sự (nguyên đơn, bị đơn và người dự sự) có quyền
đề xuất những yêu cầu và có nhiệm vụ trình bày những chứng cứ, lý
lẽ để chứng minh những yêu cầu và bảo vệ những quyền lợi hợp pháp của mình
Trong trường hợp Viện kiểm sát nhân dân khởi tố vụ kiện về dân sự để bảo vệ những quyền lợi của Nhà nước, của tập thể và của nhân dân, Tòa án nhân dân cũng phải yêu cầu Viện kiểm sát nhân dân cung cấp những tài liệu căn cứ cần thiết
Nhiệm vụ của Tòa án nhân dân là phải kiểm tra kỹ lưỡng những chứng cứ mà các đương sự đã đề xuất cần thiết để làm sáng tỏ sự thật.Trong bản hướng dẫn về trình tự xét xử sơ thẩm về dân sự kèm theo Thông tư số 96-NC/PL ngày 08-02-1977 của Tòa án nhân dân tối cao quy định: "Để bảo vệ những quyền lợi của mình các đương sự phải có nhiệm vụ đề xuất chứng cứ, nhưng Tòa án nhân dân không được phép chỉ dựa vào các lời khai của đương sự và những giấy tờ mà họ xuất trình làm căn cứ cho việc xét
xử mà phải dùng mọi biện pháp cần thiết để làm sáng tỏ sự thật"
Người đưa ra bằng chứng giả mạo phải chịu phí tổn giám định đó, nhưng nếu bằng chứng đó không phải là giả mạo thì đương sự đã tố cáo phải chịu phí tổn giám định
1.3.2 Giai đoạn từ 1990 đến 2004
Ngày 29-11-1989, ủ y ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh thù tục giải quyết các vụ án dân sự Có thể xem đây là bước thay đổi, phát triển
Trang 30rõ nét của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam Điều 3 Pháp lệnh thủ tục giải
quyết các vụ án dân sự quy định rõ về nghĩa vụ cung cấp, thu thập chứng cứ:
"Đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích của mình
Tòa án có nhiệm vụ xem xét mọi tình tiết của vụ án và khi cần thiết có thể thu
thập thêm chứng cứ để bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được chính xác"
Tại khoản 3 Điều 20 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự xác
định: "Các đương sự có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, "
Khoản 3 điều 34 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ghi
nhận: "Người khởi kiện phải làm đơn ghi rõ họ tên, địa chỉ của mình, của bị
đơn và của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; nội dung vụ việc, yêu cầu
của mình và những tài liệu, lý lẽ chứng minh cho những yêu cầu đó"
Quyền và nghĩa vụ của người đại diện được ủy quyền được quy định
tại Điều 23 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự: "Người đại diện
được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của đương sự trong phạm
vi được ủy quyền"; khoản 3 Điều 25 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án
dân sự quy định: "Người bảo vệ quyền lợi của đương sự có nghĩa vụ sử dụng
các biện pháp do pháp luật quy định để góp phần làm sáng tỏ sự thật của vụ
án; giúp đương sự về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của họ"
Khoản 3 Điều 28 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy
định trường hợp Viện kiểm sát khởi kiện vì lợi ích chung: "Nếu Viện kiểm sát
khởi tố vụ án thì Viện kiểm sát có nhiệm vụ cung cấp chứng cứ"
Các quy định về thủ tục thu thập chứng cứ của Tòa án đã được pháp
điển hóa thành một chương riêng quy định về "điều tra vụ án" gồm 3 điều:
Điều 38, Điều 39, Điều 40 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự
Điều 38: Việc điều tra trước khi hòa giải, xét xử
1 Để chuẩn bị cho việc hòa giải, xét xử, tùy trường hợp Tòa
án tiến hành các việc sau:
Trang 31d) Trưng cầu giám định;
d) Yêu cầu các cơ quan chuyên môn định giá hoặc thành lập Hội đồng định giá tài sản có tranh chấp
2 Viện kiểm sát có yêu cầu Tòa án hoặc tự mình trưng cầu giám định hoặc điều tra xác minh những vấn đề cần làm sáng tỏ
trong vụ án
Điều 39 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự có quy định:
"Nếu cần điều tra ở ngoài địa hạt của mình thì Tòa án có thể ủy thác cho Tòa
án nơi cần tiến hành điều tra Tòa án được ủy thác có nhiệm vụ thực hiện ngay
ủy thác và thông báo kết quả cho Tòa án đã ủy thác"
Điều 40 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự quy định xem
xét bằng chứng bị tố cáo là giả mạo
1 Đương sự đưa ra bằng chứng bị tố cáo là giả mạo được rút lại bằng
chứng đó; nếu đương sự không rút mà bằng chứng đó có ý nghĩa quan trọng
đối với việc giải quyết vụ án thì Tòa án trưng cầu giám định
Theo Thông tư liên ngành số 09/TT-LN ngày 01-10-1990 của Tòa án
nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Tư pháp, hướng dẫn thi
hành một số quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự:
1 Khi Viện kiểm sát khởi tố vụ án thì Viện kiểm sát có trách nhiệm cung cấp các tài liệu cần thiết đối với việc giải quyết vụ
án cho Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ án
Trang 32Trong trường hợp Viện kiểm sát khởi tố vụ án, nếu thấy cần thiết thì Tòa án có thể tiến hành điều tra thu thập thêm chứng cứ Tòa án có thể trao đổi với Viện kiểm sát để Viện kiểm sát cung cấp thêm tài liệu hoặc rút quyết định khởi tố.
1.3.3 Giai đoạn từ 2005 đến nay
Bộ luật Tố tụng dân sự được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 15-6-2004, có hiệu lực
từ ngày 01-01-2005 Tại chương VII, từ Điều 79 đến Điều 98 của Bộ luật Tố tụng dân sự k ế thừa và phát triển của pháp luật hiện hành về chứng cứ và chứng minh, đồng thời quy định nhiều điểm mới tiến bộ, Tòa án không tự làm thay cho các đương sự trong việc thu thập chứng cứ, các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho Tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình
là có căn cứ hợp pháp
Ngày 17-9-2005 Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ban hành Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP về hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về "chứng minh và chứng cứ" Nghị quyết đã
hướng dẫn cụ thể, rõ hơn về quy định về chế định chứng minh và chứng cứ
trong Bộ luật Tố tụng dân sự gồm các điều: 6, 7, 79, 81, 83, 84, 85, 86, 87, 88,
89, 90, 91, 92, 93, 94, 166, 244, 255 và 312
Nghị quyết số 04/2005/NQ-HĐTP ban hành một số mẫu văn bản tố tụng dân sự, cụ thể: Biên bản giao nhận chứng cứ; quyết định xem xét, thẩm định tại chỗ; quyết định trưng cầu giám định; quyết định định giá tài sản quyết định ủy thác thu thập chứng cứ
Tóm lại, lịch sử hình thành các quy định về chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự nước ta trải qua một thời gian rất dài, phát triển ngày càng cao hơn và pháp điển hóa cao nhất tại Chương VII Bộ luật Tố tụng dân
sự đã quy định về chế định chứng cứ và chứng minh
Trang 33Chương 2
CÁC QUY ĐỊNH VỂ CHỨNG c ứ VÀ CHÚNG MINH
TRONG BỘ LUẬT T ố TỤNG DÂN s ự
2.1 QUYỀN VÀ NGHĨA v ụ CỦA ĐƯƠNG s ự TRONG VIỆC CHÚNG MINH
2.1.1 Cung cấp chứng cứ
Bộ luật Tố tụng dân sự đã khẳng định quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự Điều 6 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định về việc cung cấp chứng
cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, trong đó xác định:
1 Các đương sự có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ cho tòa án và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp
Cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác có quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, chứng minh như đương sự
Pháp luật tố tụng dân sự đặt ra nghĩa vụ chứng minh cho đương sự do quan hệ dân sự là quan hệ cá nhân riêng tư của các bên, do các bên tự quyết định, tự giải quyết là chủ yếu và chỉ khi các bên không tự giải quyết được, họ mới yêu cầu Tòa án hỗ trợ Mặt khác, các bên đương sự là người hiểu rõ vụ việc của mình nhất, thường biết rõ tài liệu, chứng cứ liên quan đến vụ việc của mình có những gì, còn hay không còn, đúng hay không đúng và đang ở đâu
Do đó, khi các bên đưa tranh chấp của họ ra Tòa án, thì tòa án là trọng tài giúp các bên giải quyết tranh chấp một cách khách quan và đúng pháp luật Tòa án không thể làm thay, chứng minh cho đương sự với những yêu cầu của họ Thời gian qua, trong một số vụ án đương sự không hiểu về nghĩa vụ của mình về việc tự chứng minh nên đã không hợp tác với Tòa án, gây cản trở cho quá trình giải quyết vụ việc dân sự Có người không đến tòa khi tòa triệu tập để lấy
Trang 34lời khai, không tham gia vào buổi định giá, hòa giải, đối chất, không cho tòa xem xét đối tượng tranh chấp.
Ví dụ: Vụ án đòi nợ tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh - Hà Nội
N guyên đơn là anh Nguyễn Văn Lan thường trú tại thị trấn Đông Anh, huyện
Đ ông Anh Bị đơn là bà Hoàng Thị Hải trú tại Nam Hồng - Đông Anh - Hà
N ội Sự việc bà Hải ký vay nợ 20.000.000đ và mua anh Lan chiếc xe máy; anh
L an đã làm đơn khởi kiện, Tòa án nhân dân huyện Đông Anh thụ lý giải quyết, Tòa án làm giấy triệu tập lần đầu bà Hải có mặt và phản đối giấy vay
n ợ trong việc mua xe, và bảo xe đang đi không phải của anh Lan và khẳng định không phải chữ ký của bà Tòa án nhân dân huyện đã làm giấy triệu tập rất nhiều lần nhưng bà Hải đều vắng mặt không có lý do: Vì vậy, việc lấy lời khai, hòa giải và đối chất đều không thực hiện được Lý do bà Hải đưa ra là Tòa án phải có nhiệm vụ chứng minh chữ ký của bà và chứng minh xe máy của anh Lan (xe máy không phải chính chủ của anh Lan mà của người khác anh Lan đã mua chỉ viết giấy trao tay) Hiện nay, bà Hải đã tẩu tán chiếc xe máy
A nh Lan đã đề nghị Tòa áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng đối tượng vật - chiếc xe đã không còn Anh Lan đề nghị giám định chữ ký của bà Hải tại Viện Khoa học hình sự - Bộ Công an nhưng bà Hải không cho lấy mẫu chữ ký Vụ án từ khi khởi kiện đến nay đã hơn 01 năm vẫn trong vòng bế tắc
Trong trường hợp đương sự cố tình không cung cấp chứng cứ, không chấp hành đúng theo yêu cầu của Tòa án mà Bộ luật Tố tụng dân sự quy định thì đương sự đó phải xử lý thế nào? Trong Bộ luật Tố tụng dân sự chưa có quy định cụ thể về chế tài để áp dụng
Nếu Tòa án chỉ căn cứ vào các chứng cứ do một bên cung cấp và các tài liệu đã thu thập được để xét xử trong một số vụ án cụ thể là không khả thi
Có quan điểm cho rằng, nếu đương sự không cho xem xét, định giá, giám định thì cần có biện pháp cưỡng chế đối với bên không hợp tác với tòa án, để bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ được đầy đủ và việc xử lý đúng đắn Đối với
Trang 35vấn đề này, pháp luật đã dành cho đương sự quyền lựa chọn phương án hành động có lợi (như cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình hay phản đối yêu cầu của người khác) hoặc phương án không hợp tác sẽ gây bất lợi cho mình (không cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình )
là quy định hợp lý tác động đến hành vi ứng xử của công dân
Việc quy định đương sự phải chịu hậu quả về việc chứng minh của mình vừa bảo đảm quyền tự định đoạt của đương sự vừa nâng cao trách nhiệm cho đương sự
2.1.2 Thu thập, giao nộp và bảo vệ chứng cứ
Xuất phát từ nghĩa vụ của đương sự trong việc cung cấp chứng cứ cho Tòa án để chứng minh cho yêu cầu của mình, Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân sự
đã quy định quyền và nghĩa vụ của đương sự trong việc giao nộp chứng cứ cho Tòa án Do đó, bất kỳ đương sự nào đang quản lý chứng cứ mà không giao nộp cho Tòa án hoặc không nộp đầy đủ chứng cứ cho tòa án thì cũng phải chịu hậu quả của việc không nộp hoặc nộp không đầy đủ, trừ trường hợp pháp luật
có quy định khác Giao nộp chứng cứ chỉ là một hành vi cụ thể trong việc thực hiện nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh cho yêu cầu của đương sự
Trong một số trường hợp đặc biệt như liên quan đến bí mật nhà nước, thuần phong mỹ tục của dân tộc, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của đương sự thì chứng cứ vẫn phải được giao nộp cho Tòa án (phải có trong hổ sơ vụ án) để Tòa án có cơ sở giải quyết đúng đắn vụ việc dân sự Tòa án không công bố công khai các chứng
cứ này như quy định tại khoản 2, Điều 97 Bộ luật Tố tụng dân sự
Trước đây, pháp luật không có quy định cụ thể việc thu thập giao nộp chứng cứ, nên khi đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức giao nộp chứng cứ cho Tòa án, các thẩm phán tiếp nhận đưa vào trong hồ sơ mà không có biên bản và không thể hiện rõ tài liệu hồ sơ đó từ đâu đến; do ai thu thập, do ai nộp Từ
Trang 36đó mà đã gây khó khăn cho việc sử dụng, đánh giá các tài liệu đó, có tài liệu đã
bị thất lạc mà không biết Chính vì vậy tại khoản 2 Điều 84 Bộ luật Tố tụng dân
sự đã quy định rõ trách nhiệm của Tòa án khi tiếp nhận chứng cứ; khi đương sự giao nộp chứng cứ Tòa án phải lập biên bản về việc giao nhận chứng cứ Trong biên bản phải ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ, số bản,
số hàng của tài liệu chứa đựng chứng cứ, thòi gian nhận, chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp; ký nhận và đóng dấu của Tòa án Biên bản phải lập thành
02 bản, một bản giao cho đương sự, một bản lưu giữ trong hồ sơ vụ việc dân sự
Sở dĩ việc giao nộp chứng cứ phải làm theo đủ thủ tục nêu trên là nhằm không bị đánh tráo, giả mạo, sửa chữa, thất lạc hoặc hành vi thủ tiêu chứng cớ Đồng thời, nó đảm bảo giá trị pháp lý trong quá trình sử dụng Thực tế, do thói quen trước đây, trong một số vụ án Tòa án đã không viết biên bản giao nộp chứng cứ,
mà còn yêu cẩu đương sự phải cung cấp chứng cứ gốc Nếu hồ sơ án bị mất cắp,
bị hỏa hoạn thì quyền và lợi ích của đương sự không còn bằng chứng coi như mất hết Chính vì vậy, tòa phải làm biên bản; khi giao nộp tài liệu chỉ yêu cầu đương sự nộp bản phô tô, hoặc công chứng (đối chiếu với bản gốc và trả cho đương sự đưa bản gốc về), khi cần tòa yêu cầu đương sự cung cấp lại bản gốc
Trong quá trình thu thập chứng cứ có trường hợp đương sự không thể
tự mình thu thập được; đương sự phải có văn bản đề nghị tòa án thu thập
1 Trong trường hợp đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà vẫn không thể tự mình thu thập được thì có thể yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ nhằm bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng đắn
Đương sự yêu cầu Tòa án tiến hành thu thập chứng cứ phải làm đơn ghi rõ vấn đề cần chứng minh; chứng cứ cần thu thập; lý do
vì sao tự mình không thu thập được; họ, tên, địa chỉ của cá nhân, tên, địa chỉ của cơ quan, tổ chức đang quản lý, lưu giữ chứng cứ cần thu thập đó (khoản 1 Điều 94 Bộ luật Tố tụng dân sự)
Trang 37Nếu biết bị đơn có hành vi tẩu tán tài sản tranh chấp trong vụ án thì nguyên đơn có thể yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; nhưng nguyên đơn phải chứng minh bị đơn có hành vi tẩu tán tài sản đó Trong vụ án ly hôn: Nguyên đơn là chị Trần Thị Hồng, sinh năm 1962 - bị đơn anh Nguyễn Tiến Thành, sinh năm 1965 trú tại khối 5, thị trấn Nghèn, huyện Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh Tài sản, con cái, tình cảm, nợ nần là những vấn đề quan tâm để đưa ra giải quyết Chị Hồng là nạn nhân của bạo hành trong gia đình (vũ lực và tinh thần); lấy nhau có hai con Nguyễn Thu Hiền, sinh năm 1989, và Nguyễn Thị Quỳnh Trang, sinh năm 2003; khi sinh con gái út anh Thành thường xuyên đánh đập vợ, bài bạc, rượu chè, trai gái Tài sản vợ chồng từ bàn tay trắng khi lấy nhau sau đó đã khấm khá Bị chồng đánh đập, dùng tài sản tích lũy đánh bạc, chị Hồng làm đơn xin ly hôn, được Tòa án nhân dân huyện Can Lộc thụ lý; biết vợ nộp đơn ly hôn anh Thành đuổi vợ và con đi khỏi nhà, chị Hồng phải đi nếu không bị đánh đập
Trong thời gian chị Hồng nộp đơn xin ly hôn đến khi đưa ra xét xử gần
05 tháng; thời gian này chị Hồng đã làm đơn đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, kê biên tài sản Nhưng chị Hồng không chứng minh được, Tòa
án hướng dẫn chị Hồng về nhờ Công an xã giải quyết, nhưng công an xã chỉ
xử lý về an ninh còn kê biên tài sản không làm vì không có thẩm quyền Khi
vụ án đưa ra xét xử tài sản trong nhà anh Thành đã tẩu tán gần hết (bởi trong các lần hòa giải, lấy lời khai anh Thành không thừa nhận) Đây là một thực tế tồn tại đã gây thiệt hại cho nguyên đơn Nên chăng, nếu việc tranh chấp tại địa phương ở cách xa trụ sở Tòa án, nếu có nguy cơ tẩu tán hay hủy hoại tài sản đương sự yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp tạm thời; pháp luật buộc đương sự phải chứng minh là việc đó có thực mà đương sự chưa chứng minh được, Tòa
án cần có công văn gửi về địa phương nơi có tài sản tranh chấp (hoặc điện báo cho cơ quan, địa phương) hoặc ủy thác kịp thời cho Tòa án nơi xảy ra tranh chấp để bảo vệ ngay bằng chứng, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra